Điện hạt nhân: Khi nào mới thành hiện thực ở Ninh Thuận?
Vì sao Việt Nam lỡ hẹn giấc mơ điện hạt nhân ?
Ai cũng biết là Việt Nam bị lệ thuộc vào điện than lên đến 54% tổng sản lượng đầu năm 2025, thuỷ điện thì tuỳ vào thời tiết gặp đúng hạn hán thì áp lực vẫn là đốt than đá lên xả bụi gây ô nhiễm môi trường.
Còn bánh vẽ năng lượng 'tái tạo' kia chỉ là màn kịch greenwashing để bán mấy gói thầu mua tua-bin điện gió, tấm pin mặt trời từ các nhà cung cấp Đức, Đan Mạch, Trung Quốc - mỗi gói vay ưu đãi từ ngân hàng Pháp sẽ chảy vòng qua Hà Nội rồi qua tay nhà thầu thân hữu được chỉ định sau đó vẫn sẽ bán cho Việt Nam một sự lệ thuộc 20-30 năm về vận hành, nhân sự, bảo dưỡng, sửa chữa đắt bằng 1/3 chi phí ban đầu.
Vậy con đường cuối cùng là điện hạt nhân thì sao?
Mặc dù tao cũng có định kiến do tiếp xúc với bài học từ Chernobyl hoặc Fukushima giống tụi mày.
Điện hạt nhân đúng là có "sạch" hơn so với nhiệt điện than , gần như không thải ra khí CO2 - thứ gây ra hiệu ứng nhà kín.
Một viên nguyên liệu Uranium nhỏ chỉ bằng đầu ngón tay có thể cung cấp năng lượng ngang hàng với 500 lít dầu, 17.000 mét khối khí đốt tự nhiên hoặc một tấn than đá nhờ ưu điểm tuyệt đối với mật độ năng lượng (energy density) cực cao.
Nguyên lý cũng không đến nỗi phức tạp.
Người ta dùng một neutron bắn vào hạt nhân của một nguyên tử nặng, thường là Uranium-235.
Vụ va chạm này làm hạt nhân vỡ ra thành các hạt nhân nhẹ hơn, đồng thời giải phóng một năng lượng nhiệt khổng lồ và vài neutron mới.
Những neutron mới này lại tiếp tục bắn vào các hạt nhân Uranium-235 khác, tạo ra một phản ứng dây chuyền (chain reaction) có kiểm soát. Nhiệt lượng sinh ra từ phản ứng này được dùng để đun sôi nước, tạo ra hơi nước áp suất cực lớn. Hơi nước này làm quay tua-bin, và tua-bin làm quay máy phát điện.
Về cơ bản, nhà máy điện hạt nhân là một nhà máy nhiệt điện dùng lò phản ứng hạt nhân thay cho lò đốt than hay khí.
Nhưng đời đéo đẹp như trong phim Anime tuổi teen.
Đổi được cái giá cho nguồn năng lượng "sạch" , "vĩnh cửu" kia là đống "chất thải hạt nhân" chủ yếu là các thanh nhiên liệu đã qua sử dụng.
Xử lý được chúng vẫn còn gặp rào cản về kỹ thuật lẫn đạo đức , hiện quy trình chuẩn gồm ba bước:
1.Lưu trữ ướt (Wet Storage): Ngay sau khi được lấy ra khỏi lò phản ứng, các thanh nhiên liệu được ngâm trong những bể nước lớn, gọi là bể bơi làm mát (cooling pool), thường nằm ngay tại khuôn viên nhà máy.
Nước vừa có tác dụng làm nguội, vừa là một lớp chắn phóng xạ hiệu quả . Chúng sẽ nằm ở đây trong vài năm.
2.Lưu trữ khô (Dry Storage): Sau khi đã nguội bớt trong bể bơi, các thanh nhiên liệu được chuyển vào những thùng chứa khổng lồ, kiên cố làm bằng thép và bê tông, gọi là thùng chứa khô (dry cask). Các thùng này được niêm phong và đặt tại một khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt, cũng thường là trong khuôn viên nhà máy .
Đây là giải pháp lưu trữ tạm thời trong vài chục đến cả trăm năm. Hầu hết chất thải hạt nhân trên thế giới hiện đang ở trong tình trạng này.
3.Lưu trữ vĩnh viễn (Permanent Disposal): Đây là mục tiêu cuối cùng nhưng cũng là thứ gây tranh cãi nhất.
Ý tưởng là chôn vĩnh viễn chất thải phóng xạ sâu hàng trăm mét dưới lòng đất, trong các cấu trúc địa chất ổn định như đá granite, để cô lập nó khỏi môi trường trong hàng trăm ngàn năm .
Cho đến nay, Phần Lan là quốc gia duy nhất trên thế giới đang xây dựng một kho chứa địa chất sâu (deep geological repository) như vậy, mang tên Onkalo .
Chưa có một quốc gia nào có một kho chứa vĩnh viễn đi vào hoạt động hoàn chỉnh. Đây chính là gánh nặng để lại cho các thế hệ tương lai.
Đó là chưa kể đến việc, muốn xây một cái nhà máy điện hạt nhân mày có 5 lựa chọn và nó đi kèm với những thoả hiệp chính trị, kinh tế, quân sự và công nghệ.
Đầu tiên là Nga với Rosatom - công ty duy nhất không bị châu Âu cấm vận thậm chí có nhà máy điện khắp nơi trên thế giới.
Từng chào hàng lò phản ứng nước áp lực VVER (Pressurized Water Reactor), cụ thể là các dòng VVER-1000 và VVER-1200.
Rosatom không chỉ bán lò phản ứng mà là một gói dịch vụ trọn đời 60-100 năm gồm: xây dựng, cung cấp nhiên liệu, vận hành, bảo trì, và thậm chí nhận lại nhiên liệu đã qua sử dụng.
Giá xây có thể rẻ, thậm chí bằng không nhưng cái giá ở đây là nó bán cho mày cái xe nhưng phải đi kèm xăng đặc thù chỉ có độc quyền nó bán.
Quặng Uranium thô có thể mua từ nhiều nơi như Kazakhstan, Canada, Úc. Nhưng quặng thô giống như múc nước từ dưới giếng lên mà không lọc đun sôi, khử trùng không thể uống được ngay.
Mày phải chuyển đôi và "làm giàu uranium" vì trong tự nhiên thứ mày đào lên được chỉ là đồng vị U-238 để lấy ra được U-235 thực sự phù hợp làm nguyên liệu. Cái này trong sách Vật lý phổ thông tao nhớ ko lầm có nhắc tới.
Rosatom của Nga kiểm soát tới 44% năng lực làm giàu uranium trên toàn cầu , biến thành nút khắt cổ chai khiến Mỹ và Châu Âu vẫn phải nhập uranium từ Nga bấp chấp đang có chiến tranh Ukraine và lệnh cấm vận.
Việc phát triển một nhà cung cấp nhiên liệu thay thế cho lò VVER mất rất nhiều năm và tiền bạc , có chơi thì có chịu.
Nó cần có hàng ngàn bộ phận chuyên dụng. Không phải nước nào cũng sản xuất được như thùng lò phản ứng, máy tạo hơi nước chỉ có vài công ty gần như độc quyền trên thế giới.
Nhà thầu ban đầu bán cho mày cái xe nhưng chỉ có phép mày lắp linh kiện, phụ cấp và nâng cấp tương thích với hệ sinh thái của nó.
Mày không thể lấy đồ của Rosatom lắp cho lò Westinghouse được.
Việc vận hành nhà máy hạt nhân đồng nghĩa là phải đào tạo chuyên gia, nhân sự chuyên nghiệp bài bản đúng theo pipeline, tiêu chuẩn nhà thầu.
Việc chuyển giao kiến thức và tự chủ vận hành cũng mất rất lâu và tốn tiền trước khi thực sự nắm được cách nhà máy đó hoạt động.
Cái vấn đề xử lý chất thải như đã nói ở trên quá đau đầu Nga là một trong số ít các quốc gia có chính sách nhận lại nhiên liệu đã qua sử dụng từ các lò phản ứng mà họ xây ở nước ngoài. Đối với các quốc gia nhỏ không có năng lực hoặc không gian để lưu trữ chất thải phóng xạ trong dài hạn, đây là một điều khoản hấp dẫn nhưng cũng là một sự ràng buộc vĩnh viễn khác.
Các nước như Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesh, Ai Cập, Hungary đều đang xây hoặc vận hành lò của Rosatom.
Ngay cả châu Âu cũng có hợp tác dưới danh nghĩa công ty TVEL, một công ty con của Rosatom, cung cấp các thanh nhiên liệu có hình lục giác, một thiết kế độc quyền của Nga.
Có tới 19 lò phản ứng kiểu VVER (lò phản ứng nước áp lực do Nga thiết kế) đang hoạt động tại 5 quốc gia EU: Hungary, Slovakia, Bulgaria, Cộng hòa Séc và Phần Lan.
Họ không cắt rời khỏi nguyên liệu uranium từ Nga vì điện hạt nhân chiếm từ 33% đến hơn 50% tổng sản lượng điện của họ tức là Moskva nắm công tắc điện bật tắt tuỳ thích theo tình hình chính trị.
Hungarry đã công khai bỏ phiếu veto (phủ quyết) trong vấn đề Ukraine từ lâu, cũng không lạ vì dự án gây tranh cãi : nhà máy điện hạt nhân Paks II ở Hungary. Thoả thuận này trị giá 12.5 tỷ Euro này được tài trợ tới 80% bằng một khoản vay từ chính phủ Nga nghĩa là tiền từ ngân hàng nga sẽ chảy về chính quốc thông qua ngân hàng.
Thủ tướng Orbán gọi đây là chiến lược để đảm bảo "chủ quyền năng lượng".
Nhưng tao lại thấy giống như một công cụ địa chính trị của Moscow để cắm sâu ảnh hưởng vào lòng EU và NATO.
Ngay cả Mỹ cũng phải miễn trừ trừng phạt cho Rosatom trong dự án này để tránh đẩy Hungary vào thế khó xử hơn.
Lý do là vì di sản Liên Xô để lại dù muốn hay không thì việc thay thế công nghệ nhà máy điện hạt nhân kiểu Soviet này quá tốn kém và đắt đỏ , không thể cắt ngay lập tức.
Nếu mày không thích chơi với Nga Ngố thì vẫn còn 4 lựa chọn dưới đây, cũng bản chất như nhau theo kiểu bán bia kèm lạc.
Nước Mỹ sẽ đem nhà thầu Westinghouse ra bàn đàm phán với con bài chủ lực là lò AP1000, cũng là một dạng lò nước áp lực. , an toàn thụ động (tức là có thể tự làm mát mà không cần can thiệp trong 72 giờ đầu sự cố) và chiếm ít diện tích hơn.
Sau một thời gian chật vật, giờ nó đang trở lại cuộc chơi ở Ba Lan, Ukraine và có các thỏa thuận ở Bắc Âu.
Cũng là cái giá y hệt nhưng đổi từ Moskva sang thủ đô Washington D.C.
Thứ ba là Pháp với con Framatome(trước đây là Areva, thuộc EDF) dạo gần đây thấy nâng cấp quan hệ ngoại giao, có lẽ đang chào hàng Việt Nam mua lò EPR (European Pressurized Reactor).
EPR được thiết kế để trở thành đỉnh cao của an toàn, với lớp vỏ kép, hệ thống dự phòng 4 lớp.
Nhưng thực tế phũ phàng: các dự án EPR ở Phần Lan, Pháp và Anh đều đội vốn khổng lồ và chậm tiến độ nhiều năm trời.
Điều này cho thấy dù công nghệ tốt đến mấy, năng lực thi công và quản lý dự án là một vấn đề chí tử.
Thứ tư là Hàn Quốc với KEPCO - tập đoàn điện lực xứ sở Kim Chi chào hàng mẫu lò APR-1400 , có danh tiếng vang dội khi thắng thầu xây 4 lò ở UAE và vận hành chúng.
Nhà thầu này được đánh giá là xây dựng đúng hạn, hợp với dự kiến ngân sách so với đối thủ Pháp. Tuy nhiên đang bị vướng vào tranh chấp Pháp lý với Westinghouse về sở hữu trí tuệ, cho thấy công nghệ của họ vẫn có gốc gác từ Mỹ , vừa mới giải quyết xong vụ kiện gần đây.
Cuối cùng là Trung Quốc với CNNC và CGN dùng công nghệ nội địa Hualong One (HPR1000) , đang đẩy mạnh ra thị trường thế giới trong chính sách "go global".
Vốn mạnh và xây dựng nhanh, các lò Hualong One đầu tiên đã vận hành thương mại ở Trung Quốc và đang xây ở Pakistan.
Đây là 5 nhà thầu lớn nhất, nếu Việt Nam quyết định xây thì không phải là một quyết định kỹ thuật hay kinh tế đơn thuần.
Đó là một quyết định địa chính trị.
Mày đang chọn phe.
Mày đang đánh cược an ninh năng lượng của quốc gia vào một mối quan hệ chiến lược với một cường quốc khác. Họ bán cho mày điện, nhưng cái họ nhận lại là sự trung thành và tầm ảnh hưởng.
Cái gọi là "bền vững" của điện hạt nhân phải được nhìn dưới lăng kính này: nó bền vững về mặt cung cấp điện, nhưng nó cũng tạo ra một sự phụ thuộc bền vững không kém.
Điện Hạt nhân Ninh Thuận từng được quy hoạch bài bản vào năm 2009 khi Quốc hội thông qua kế hoạch xây hai nhà máy, một cái hợp tác với Rosatom của Nga và một cái với liên danh Nhật Bản (JAPC).
Việt Nam đã đầu tư rất bài bản cho nhân lực, cử hàng trăm kỹ sư, sinh viên ưu tú sang Nga để đào tạo chuyên sâu về vật lý hạt nhân và vận hành nhà máy.
Kế hoạch là vậy , rầm rộ , tốn kém, chuẩn bị kỹ càng tự dưng đến tháng 11 năm 2016, Quốc hội bấm nút dừng.
Cái lý do "chính thức" mà chính phủ đưa ra, được Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ lúc đó là ông Mai Tiến Dũng công bố, là hoàn toàn vì lý do kinh tế, không phải công nghệ hay an toàn.
Đó là viện cớ lấy vỏ bọc an toàn để dễ giải thích với công chúng nhưng cái sự thật đằng sau còn phức tạp hơn nhiều.
Cụ thể, cái "lý do kinh tế" đó bao gồm mấy điểm:
Tổng chi phí dự kiến cho hai nhà máy đã bị đội lên một cách chóng mặt. Con số ban đầu chỉ khoảng vài trăm nghìn tỷ đồng, nhưng đến năm 2016, nó đã phình to ra, ước tính có thể lên tới 22 tỷ USD , quả là con số khổng lồ so với quy mô nền kinh tế lúc bây giờ.
Nợ công lúc đó tăng nhanh gần sát ngưỡng trần 65% GDP mà Quốc hội cho phép, gánh thêm khoản nợ được xem như rủi ro quá lớn khi đang cần tiền làm những dự án hạ tầng cấp bách hơn như cao tốc Bắc-Nam, sân bay Long Thành (tới giờ mới bắt đầu khởi động).
Giá thành các nguồn năng lượng khác, đặc biệt là năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió và cả khí hóa lỏng (LNG), đã giảm mạnh và trở nên cạnh tranh hơn rất nhiều. Cái viễn cảnh xây một nhà máy hạt nhân cực đắt, mất cả chục năm mới xong không còn hấp dẫn như trước.
Tuy nhiên, đó chỉ là bề nổi của câu chuyện.
Đằng sau cái lý do kinh tế đó là một loạt các yếu tố khác mà người ta không tiện nói ra.
Đầu tiên là thảm hoạ 'kép' vừa sóng thần vừa động đất ở Fukushima năm 2011 làm cả thế giới phải nghĩ lại về sự an toàn của điện hạt nhân.
Dù các quan chức nói không phải vì lý do an toàn, nhưng không thể phủ nhận rằng nỗi lo sợ trong công chúng và cả trong giới chính trị là có thật. Nó tạo ra một áp lực vô hình nhưng cực lớn lên một dự án đầy rủi ro như vậy.
Thứ hai như đã nói chọn nhà thầu là quyết định địa chính trị, tự gắn kết với an ninh năng lượng quốc gia trong 100 năm tới vào Nga-Nhật.
Không chỉ là về tiền mà còn là sự phụ thuộc vào công nghệ, nhiên liệu, chuyên gia và cả những toan tính địa chính trị của họ.
Ba Đình nhìn siêu dự án phức tạp đòi hỏi một năng lực quản lý, giám sát và thi công ở trình độ cực cao khiến họ áp lực.
Các lò EPR ở Châu Âu bị đội vốn, chậm tiến độ lên đến chục năm càng làm tăng hoài nghi về tương lai của nó ở Việt Nam.
Vậy nên cái quyết định dừng đột ngột đó là kết quả của một cơn bão hoàn hảo: chi phí phi mã, nợ công tăng cao, nỗi sợ hãi từ Fukushima, sự trỗi dậy của năng lượng tái tạo và có lẽ là cả một sự tính toán lại về mặt chiến lược.
Dùng lý do "kinh tế" là cách dễ nhất để đóng lại một chương tham vọng nhưng ngày càng trở nên không thực tế.
Còn những sinh viên, kỹ sư được cử sang Nga lại trở thành sự lãng phí tương lai đất nước , trở về với kiến thức chuyên sâu không được áp dụng buộc phải chuyển ngành khác mưu sinh hoặc được bố trí vào các đơn vị khác của ngành điện, nhưng cái giấc mơ vận hành nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của đất nước đã tan thành mây khói.
Quyết định dừng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận không chỉ đơn giản là hủy một công trình.
Nó là việc rút đi một quân cờ chủ lực, một nguồn điện nền (baseload power) ổn định 24/7, khỏi bàn cờ năng lượng quốc gia.
Hậu quả của nó không hiện ra ngay lập tức, nhưng nó âm ỉ và bùng lên dữ dội mỗi khi hệ thống lưới điện bị thử thách.
Ngay sau năm 2016, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng như vũ bão, các khu công nghiệp mọc lên như nấm, và dòng vốn FDI đổ vào ào ạt.
Tất cả những cỗ máy đó đều khát điện.
Nhu cầu điện tăng vọt, không phải 5-6% một năm mà có những năm lên tới 10-12%.
Cái khoảng trống khổng lồ mà hai nhà máy hạt nhân với tổng công suất 4.000 MW để lại bắt đầu hiện ra rõ hơn bao giờ hết.
Để lấp vào chỗ trống đó, Ba Đình đã phải làm gì? Một cuộc chạy đua điên cuồng bắt đầu.
Hướng đi dễ nhất và nhanh nhất là lao vào nhiệt điện than. Hàng loạt nhà máy nhiệt điện than được cấp phép và xây dựng.
Nó giải quyết được bài toán trước mắt, cung cấp nguồn điện nền thay thế.
Nhưng cái giá phải trả là sự phụ thuộc vào than nhập khẩu từ Indonesia, Úc, và một bầu không khí ngày càng ô nhiễm.
Song song đó, một cuộc "cách mạng" năng lượng tái tạo bùng nổ, đặc biệt là điện mặt trời. Các chính sách giá FIT (Feed-in Tariff) hấp dẫn đã tạo ra một cơn sốt đầu tư.
Chỉ trong vài năm, hàng chục nghìn megawatt điện mặt trời và điện gió được lắp đặt.
Nhìn bề ngoài thì rất tuyệt vời, rất xanh. Nhưng đây chính là lúc lưỡi dao hai lưỡi bắt đầu lộ ra.
Năng lượng tái tạo, về bản chất, là không ổn định.
Mặt trời chỉ chiếu ban ngày, gió không phải lúc nào cũng thổi.
Điều này tạo ra một cơn ác mộng cho những người vận hành lưới điện.
Hãy hình dung thế này: vào một ngày nắng nóng đỉnh điểm, nhu cầu dùng điều hòa tăng vọt. Các nhà máy điện mặt trời đang chạy hết công suất. Nhưng đến khoảng 5-6 giờ chiều, khi mặt trời lặn, hàng nghìn megawatt biến mất khỏi lưới điện chỉ trong một khoảnh khắc, đúng vào lúc nhu cầu sinh hoạt buổi tối của người dân lên cao nhất.
Cú sốc cung-cầu này đẩy lưới điện đến bờ vực sụp đổ.
Khi thời tiết trở nên cực đoan, cái hệ thống vá víu này bộc lộ hết điểm yếu.
Nắng nóng kéo dài và khô hạn khiến các hồ thủy điện, một nguồn điện nền quan trọng khác, cạn trơ đáy. Bão lũ thì buộc các tuabin gió phải ngừng quay.
Lúc này, toàn bộ gánh nặng đổ dồn lên nhiệt điện than.
Nhưng nếu một vài tổ máy than lớn đang trong kỳ bảo trì hoặc gặp sự cố, thì thảm họa thiếu điện là không thể tránh khỏi.
Và khi đó, EVN chỉ có một lựa chọn duy nhất để cứu cả hệ thống: cắt điện luân phiên.
Ưu tiên số một luôn là các khu công nghiệp, các nhà máy FDI, vì đó là mạch máu của nền kinh tế.
Nhưng áp lực là có thật.
Đã có những thời điểm các doanh nghiệp FDI nhận được "thông báo" về khả năng bị tiết giảm công suất.
Còn người dân thì đương nhiên phải gánh chịu. Cái cảnh đang nóng chảy mỡ mà bị cắt điện không còn là chuyện hiếm ở nhiều nơi trong những đợt cao điểm.
Áp lực lên Ba Đình là cực lớn và đến từ hai phía đối nghịch nhau.
Một mặt, họ phải đảm bảo an ninh năng lượng bằng mọi giá để giữ chân FDI và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Mặt khác, họ đã cam kết với thế giới tại COP26 về việc giảm phát thải ròng về 0 vào năm 2050, nghĩa là phải giảm dần sự phụ thuộc vào điện than.
Họ bị kẹt ở giữa.
Tăng điện than thì đi ngược cam kết, mà chỉ dựa vào năng lượng tái tạo thì lưới điện không ổn định.
Cái quyết định năm 2016, nhìn từ góc độ kinh tế ngắn hạn lúc đó có vẻ hợp lý, nhưng về dài hạn, nó đã tước đi của Việt Nam một lựa chọn chiến lược quan trọng.
Nó đẩy đất nước vào một tình thế phải chạy theo để giải quyết các cuộc khủng hoảng năng lượng nhỏ lẻ, thay vì có một kế hoạch tổng thể vững chắc.
Nó để lại một hệ thống điện mong manh hơn, dễ tổn thương hơn trước biến đổi khí hậu, và một bài toán hóc búa cho các nhà hoạch định chính sách mà đến giờ vẫn chưa có lời giải trọn vẹn.
Bây giờ khi cánh cửa mở lại với Quy hoạch điện VIII (PDP8), văn bản định hướng năng lượng quốc gia được phê duyệt năm 2023.
Nhưng nó không được tính trong kế hoạch trước năm 2030 mà chỉ mới ở đoạn sẽ "nghiên cứu, xem xét" để có thể đưa nhà máy điện hạt nhân đầu tiên vào vận hành trong giai đoạn 2035-2040
Tức là 15-20 năm tiếp theo Việt Nam vẫn phải lệ thuộc vào điện than và thuỷ điện ngày càng teo tóp vì khí hậu khó lường.
Dù có chuyển sang LNG thì vẫn là đang bị lệ thuộc vào giá thị trường biến động bởi Mỹ, Úc , Qatar khiến an ninh năng lượng quốc gia VN gặp khủng hoảng nghiêm trọng phải mua thêm từ Lào và Trung Quốc nhằm cân bằng lại nhu cầu ngày một lớn từ FDI muốn "xanh hoá" chuỗi cung ứng và nhu cầu dân sự ngày càng tăng.