r/VietTalk

r/VietTalk

User's avatar
Discover more from r/VietTalk
The vietnamese philosopher.
Over 7,000 subscribers
Already have an account? Sign in

Nhã Nam: Mổ xẻ công ty gầy dựng bằng bong bóng nợ, quyền lực và sự im lặng

Nhã Nam - "Nhã" trong khiếm nhã, nhục nhã và "Nam" trong "Nam mô A di đà Phật"...?

fillapdesehules's avatar
Bocchi981's avatar
fillapdesehules and Bocchi981
Jul 22, 2025

Thế giới trở nên tồi tệ hơn không phải vì những kẻ khốn nạn mà là bởi sự im lặng của những người có trách nhiệm nhưng chọn câm họng liếm giày.

Còn những người lên tiếng thì chà đạp xuống vũng bùn làm gương cho mọi kẻ có ý chí chống đối.

Nhìn vào vụ việc ở Nhã Nam mày sẽ thấy gì?


Một màn che lấp tội ác của kẻ dâm đãng xem phụ nữ như công cụ thoả mãn cơn thèm khát hứng tình nhưng lại ở vị thế vừa có tiền vừa có quyền.

Bài này có 3 phần liên kết chặt chẽ với nhau.

Phần 1: Tại sao một kẻ quấy rối tình dục dễ dàng trắng án?

Phần 2: Mối quan hệ đỡ đầu chính trị giữa cha vợ và con rể trong vụ PMU-18?

Phần 3: Mô hình kinh doanh dựa trên số lượng > chất lượng , một công ty như thế sẽ sụp vì độc giả ngừng mua sách như thế nào?

Tao cũng sẽ mổ xem đống nợ tài chính, mô hình kinh doanh, dự đoán kịch bản bản vỡ nợ dựa trên khoản tồn kho 82 tỷ, khoản nợ BHXH 5 tỷ, khoản cho vay nội bộ đáng ngờ 45 tỷ, và lượng tiền mặt chỉ 4 tỷ để cho mày thấy rằng, họ dùng tiền nợ ngắn hạn của nhân viên, nhà cung, ngân hàng để tài trợ cho các tài sản dài hạn, rủi ro và kém thanh khoản của mình và khả năng vỡ nợ.

BBC - NHÃ NAM BÁO CÔNG AN, TỐ TIẾN SĨ ĐẶNG HOÀNG GIANG 'VU KHỐNG' Ông  Nguyễn Nhật Anh (hiện đã tạm thôi giữ chức Tổng giám đốc Công ty cổ phần

Tại sao hắn thoát tội dễ như vậy?

Công an biết rõ hành vi những vẫn ra phán quyết là “không cấu thành tội phạm”.

Tao đọc mấy cái dòng dưới đây mà thấy lạnh người vì sự vô cảm, công lý đúng là một diễn viên thật.

bà B.T.H. (làm việc tại Công ty Nhã Nam từ năm 2015 đến ngày 1/4/2024) cũng gửi đơn tố cáo ông Nguyễn Nhật Anh lên Công an thành phố Hà Nội.

Đơn vị phụ trách xác minh đơn của bà H. là Công an quận Cầu Giấy (cũ) đã kết luận hành vi của ông Nhật Anh không cấu thành tội phạm, do đó không phân công giải quyết đối với đơn của bà H..

Ngày 26/6, Cơ quan An ninh điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc này.

Thế là hắn thoát tội , thậm chí còn lấy Fanpage do Công ty mình sở hữu 57% đăng vào 0h30 ngày 18-4-2024 với lời biện hộ trắng trợn không thể ngửi nổi rằng

Sau đó nó nhanh chóng được gỡ đi, nhưng ngay từ cái giọng văn là thấy được đây là

“tao xin lỗi vì bị phát hiện, tao chỉ ‘yêu quý quá trớn’ thôi có làm gì đâu”

Trước khi ngửi ra mùi tại sao hắn vẫn được coi là “chưa cấu thành tội phạm” thì mày nên biết trong luật pháp hiện nay có kẽ hở.

Không phải là do “mập mờ”. Mà nằm ở việc những người viết luật chủ yếu tập trung vào một tội lỗi chỉ có thể chứng minh bằng vật chất, hữu hình.

Hàng lậu có vật chứng là container hàng hoá.

Trốn thuế có bằng chứng là sổ sách, giao dịch ngân hàng.

Mọi tội lỗi đều được thiết kế làm sao cho chúng trở nên “xác chết” vật lý, có thể mổ xẻ, cân đo đong đếm được nhưng quấy rối tình dục là một chuyện khác.

Đó là “xác chết” tâm lý, pháp luật không hề có công cụ nào để khám nghiệm một vết sẹo trong tâm lý con người vì không ai đọc được suy nghĩ của ai hết.

Nhà viết luật vô tình hay hữu ý đã thiết kế nên một cái bẫy 'mập mờ pháp lý' tinh vi.

Nó nằm ở chữ ở chữ "sự đồng thuận" (consent) và. "bối cảnh" (context).

Kẻ tấn công sẽ luôn nói rằng đó là "hiểu lầm", "trêu đùa", hay thậm chí là nạn nhân "cũng có ý".

Làm sao để chứng minh trước toà rằng một nụ cười của nạn nhân lúc đó là nụ cười của sự sợ hãi, chứ không phải sự mời gọi?

Làm sao để chứng minh một sự im lặng là sự tê liệt vì sốc, chứ không phải là sự đồng tình?

Gánh nặng chứng minh (burden of proof) bị đẩy toàn bộ về phía nạn nhân, yêu cầu họ phải trình ra bằng chứng cho một thứ vô hình: trạng thái tinh thần của họ tại thời điểm bị tấn công. Đây là một yêu cầu phi lý và tàn nhẫn.

Và cơ quan điều tra đáng lý phải là bảo vệ sự thật lẫn công lý lại trở thành vũ khí tâm lý có chủ đích.

Những kẻ có tiền lẫn quyền lực sẽ dùng quá trình điều tra như một cuộc chiến bào mòn ý chí.

Hắn không cần phải chứng minh mình vô tội , chỉ cần làm cuộc hành trình đòi công lý của nạn nhân trở nên đắt đỏ, nhục nhã và kiệt quệ đến mức phải bỏ cuộc.

Hệ thống này vận hành bằng cơ chế như sau.

Một là biến nạn nhân thành bị cáo.

Tức là kẻ hành hung sẽ chuyển từ hành vi của kẻ quấy rối tình dục sang mổ xẻ lý lịch, đời tư thậm chí thói quen ăn mặc và các mối quan hệ quá khứ của nạn nhân.

Đoán xem ai thực hiện?

Chính là đội ngũ pháp lý với những luật sư đắt tiền đến từ trường luật, hãng luật danh tiếng. Họ sẽ bao lo trọn gói cho đến khi đối phương ngã gục vì án phí, tiền luật sư, giấy tờ, thời gian đi lại hầu toà quá lớn phải xin rút đơn.

Họ sẽ bắt đầu với những câu hỏi tưởng chừng là khách quan nhưng lại là con dao đâm thẳng vào tim nạn nhân như:

"tại sao cô lại ở lại sau giờ làm việc với sếp?".

"Cô đã từng uống rượu với đồng nghiệp khác chưa?"

"Bộ váy hôm đó có gợi cảm quá không?"

Mỗi câu hỏi này có chủ đích , không phải để tìm ra sự thật mà là gieo rắc sự nghi ngờ vào chính nhân cách của nạn nhân trong mắt điều tra viên, thẩm phán và cả công chúng lẫn người thân.

Mục đích ở đây là bẻ lái câu chuyện (narrative) từ kẻ hung thủ thành:

"cô ta cũng không phải dạng vừa đâu".

Hai là tra tấn bằng chi tiết. Đây là đòn độc ác nhất.

Họ sẽ bắt nạn nhân ngồi kể lại chi tiết vụ việc không chỉ một lần để khẩu cung mà sẽ hàng chục lần, hết lần này đến lẫn khác trong các buổi lấy lời khai (deposition) kéo dài hàng giờ đồng hồ.

Nó không nhằm mục đích làm rõ sự việc mà là một chiến thuật có tên "phá hủy ký ức sang chấn" (trauma memory destruction).

Ký ức về một sự kiện đau thương đến cảm xúc cá nhân nó chưa bao giờ tuyến tính, nhất quán như một cuốn phim. Nó rời rạc, lộn xộn đôi khi có những khoảng trống.

Mỗi giờ kể lại , mỗi lần ngồi trước điều tra viên nó sẽ có sự khác biệt nhỏ.

Và đây sẽ là lúc luật sư của kẻ hành hung chộp lấy thời cơ, phóng đại chúng lên và la làng rằng:

“Cô ta đã nói dối! Lời khai của cô ta mâu thuẫn!".

Họ biến phản ứng tâm lý hoàn toàn tự nhiên của một người bị tổn thương thành bằng chứng chống lại chính họ.

Việc bắt nạn nhân hồi tưởng lại cơn ác mộng của mình một cách trần trụi, lặp đi lặp lại, trước mặt những kẻ không hề có thiện chí, chính là một hình thức quấy rối lần thứ hai (secondary victimization).

Thứ ba là cô lập - bào mòn ví tiền.

Thằng có quyền này sẽ dắt cả đội quân luật sư , trợ lý , hãng luật để kéo dài vụ kiện rồi đệ đơn hết lần này tới lần khác.

Liên tục trì hoãn các phiên điều trần khiến chi phí pháp lý dội lên vượt quá túi tiền của nạn nhân.

Đồng thời tạo ra một môi trường độc hại nơi làm việc , khiến những nhân chứng đáng lẽ phải đứng ra đối chiếu lại sợ hãi không dám lên tiếng vì sợ bị trù dập không được thăng tiến, thưởng lương, đối xử bất công bằng với nạn nhân từ đó tạo ra một môi trường cô lập họ hoàn toàn.

Không chỉ đấu tranh với kẻ thủ phạm mà phải đương đầu với một hệ thống được tiếp sức bằng tiền bạc, quyền lực và sự im lặng bởi người tốt.

Điều này xảy ra ở khắp nơi trên thế giới ngay cả ở Mỹ , dữ liệu pháp lý chứng minh một hiện thực đau đớn.

Theo báo cáo của National Women's Law Center từ Quỹ Phòng vệ Pháp lý TIME'S UP đã chỉ ra một sự thật kinh hoàng: hơn 7 trong 10 người (72%) lên tiếng về quấy rối tình dục tại nơi làm việc phải đối mặt với một hình thức trả đũa nào đó.

Một nghiên cứu khác của chính EEOC (Cơ quan Cơ hội Việc làm Bình đẳng) còn đẩy con số này lên 75%, họ thường nhận được khiếu nại về việc trả đũa lên đến 52%.

Hệ thống pháp lý tưởng chừng là nơi để bảo vệ nạn nhân lại là một thất bại thậm chí dùng để trừng phạt người lên tiếng.

Một vụ kiện quấy rối tình dục ở California có thể tiêu tốn từ 30.000 đến 200.000 đô la [4]. Các luật sư có thể tính phí từ 100 đến 600 đô la mỗi giờ.

Mức dàn xếp trung bình cho các vụ kiện này chỉ vào khoảng 53.000 đô la tức là im lặng đổi lấy tiền.

Nghe có vẻ lớn nhưng nó không đủ bù đắp cho những tổn thương tinh thần , quan trọng nhất chi phí pháp lý khổng lồ để đạt được nó.

Mỗi vụ kiện dài nhiều năm biến cuộc sống nạn nhân thành một địa ngục trần gian, trong khi hung thủ chỉ cần ký một tấm séc từ ngân sách công ty là có thể đổi lấy sự im lặng khỏi vòng lao pháp lý.

Đừng nói với tao điều bất công này là lẽ tự nhiên, một điều bình thường?

Không, đây là 1 hệ thống được thiết kế để người bị áp bức chỉ có thể ngậm miệng hoặc chịu thua vì không đấu nổi đồng đôla xanh lá.

Và những buổi lấy lời khai (Deposition) theo Advocate, một ấn phẩm dành cho luật sư, đã hướng dẫn các luật sư cách chuẩn bị cho thân chủ của mình trong các vụ kiện quấy rối, thừa nhận rằng "bị đơn, kẻ quấy rối, có quyền có mặt" trong buổi lấy lời khai.

Họ khuyên các luật sư nên trấn an thân chủ rằng "ở đó để bảo vệ cô ấy; sẽ không để cô ấy ở một mình một phút nào".

Mày có nhìn ra được gì ở đây không?

Chính nước Mỹ - vùng đất hứa về tự do, minh bạch nhưng một tạp chí chuyên ngành phải viết chỉ dẫn cách bảo vệ nạn nhân khỏi quy trình pháp lý đã cho thấy chúng được thiết kế để tổn thương khiến nạn nhân ngã gục.

Mày tưởng tượng một cô gái/chàng trai bị quấy rối giờ ra khai đối diện với kẻ hành hung mình xem có đau đớn , nhục nhã không?

Quy trình buộc nạn nhân phải sống lại cơn ác mộng của mình, không phải để tìm sự thật, mà để tìm ra một kẽ hở trong lời kể của họ và phá hủy sự tín nhiệm của họ.

Ngay ở châu Âu có tới 45-55% phụ nữ trong EU đã từng trải qua một hình thức quấy rối tình dục nào đó kể từ năm 15 tuổi theo báo cáo của Cơ quan Liên minh Châu Âu về các Quyền Cơ bản (FRA).

Nhưng cũng rất ít người báo cáo vụ việc này lên cơ quan công quyền để xử lý , đưa hung thủ ra ánh sáng. Nên thực tế có khi còn cao hơn.

Vì sao?

Như đã nói, khoảng cách giữa trải nghiệm thực tế và những báo cáo trên giấy A4 là cả vực thẳm về mất niềm tin.

Người ta không báo cáo vì họ biết trước rằng hệ thống sẽ không đứng về phía họ, rằng họ sẽ bị trả đũa, bị nghi ngờ, và bị bào mòn.

Ở Ấn Độ, dù đã có Đạo luật POSH (Ngăn chặn, Cấm và Xử lý Quấy rối Tình dục) từ năm 2013, thực tế vẫn đầy rẫy vấn đề.

Số lượng khiếu nại tại các công ty lớn đã tăng 79% trong 5 năm qua, cho thấy nhận thức tăng lên.

59% công ty vẫn chưa thành lập Ủy ban Khiếu nại Nội bộ (ICC) theo luật định

Ius Laboris chỉ ra rằng đạo luật POSH "không cung cấp bất kỳ biện pháp bảo vệ hoặc phòng ngừa dứt khoát nào" chống lại việc trả đũa và trù dập người khiếu nại và nhân chứng.

Luật pháp tồn tại trên giấy, nhưng cơ chế bảo vệ thực thi thì vô hiệu.

Có vụ nào để đối chiếu không? Không những một mà là vô vàn bi kịch chưa bao giờ được cất tiếng khóc.

Bi kịch của nữ diễn viên Hàn Quốc Jang Ja-yeon,

Xin dành một phút tưởng niệm cho linh hồn cô an nghỉ.

Sao nữ “Vườn sao băng” từng bị ép triệt sản để đi tiếp khách | VOV.VN

Cô cất cánh sau vai diễn trong phim "Vườn sao băng" nhưng đã tự kết liễu cuộc đời mình vào tháng 3 năm 2009.

Nhưng đây không phải là một vụ tự tử vì trầm cảm thông thường.

Cô đã để lại một bức thư tuyệt mệnh dài 7 trang, một tài liệu mà sau này được gọi là "danh sách của Jang Ja-yeon".

Trong đó, cô kể chi tiết việc bị người quản lý của mình, Kim Sung-hun, ép buộc phải phục vụ tình dục cho khoảng 31 nhân vật cấp cao trong giới truyền thông, kinh doanh và chính trị.

Cô bị lạm dụng hơn 100 lần. Đó là trên mặt báo viết giảm nhẹ đi, tao đéo giữ thái độ đó nữa. Cô bị hãm hiếp và sử dụng như búp bê tình dục để thoã mãn những kẻ có tiền , có quyền.

Cái chết của cô và bức thư tuyệt mệnh đã gây ra một cơn địa chấn dư luận.

Nhưng đây chính là lúc cỗ máy "tra tấn" và "chèn ép" mà chúng ta đã nói bắt đầu vận hành một cách công khai.

Cuộc điều tra ban đầu của cảnh sát đã diễn ra một cách hời hợt.

Trong số hàng chục cái tên được nêu trong danh sách, chỉ có 10 người bị điều tra và cuối cùng, tất cả đều được tuyên trắng án với lý do "thiếu bằng chứng"

Chỉ có người quản lý của cô và một người khác bị kết án, nhưng với tội danh nhẹ hơn là bạo hành và phỉ báng, không phải tội danh tấn công tình dục.

Sự bất công này đã khiến công chúng phẫn nộ.

Hàng trăm ngàn người đã ký vào đơn kiến nghị gửi lên Nhà Xanh, yêu cầu tái điều tra vụ án . Áp lực dư luận buộc chính quyền phải mở lại cuộc điều tra vào năm 2018.

Nhưng kết quả cuối cùng vẫn là một cái tát vào mặt công lý.

Tháng 5 năm 2019, Bộ Tư pháp Hàn Quốc chính thức tuyên bố khép lại vụ án, không tái điều tra thêm nữa.

Lý do họ đưa ra là dù tài liệu của Jang Ja-yeon để lại "có căn cứ để tin tưởng", nhưng "không phải tất cả nội dung đều đáp ứng được yêu cầu để cấu thành tội phạm" .

Họ thậm chí còn nghi ngờ tính xác thực của danh sách những kẻ lạm dụng, dù cho một nhân chứng quan trọng là nữ diễn viên Yoon Ji-oh đã đứng ra xác nhận.

Jang Ja-yeon đã chết, nhưng hệ thống quyền lực vẫn tiếp tục "tra tấn" cô ngay cả khi cô đã nằm dưới mồ.

Họ phủ nhận lời nói của cô, vô hiệu hóa bằng chứng của cô, và bảo vệ những kẻ đã đẩy cô đến cái chết.

Những kẻ thủ ác vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, tiếp tục cuộc sống quyền lực của mình.

Vụ án của cô là một minh chứng bi thảm và kinh hoàng nhất cho thấy khi một nạn nhân dám thách thức cả một hệ thống được xây dựng để bảo vệ những kẻ có quyền, họ không chỉ đối mặt với kẻ tấn công, mà còn đối mặt với sự thờ ơ, sự bao che và sự tàn nhẫn của chính pháp luật.

Cô không chỉ bị giết bởi những kẻ đã lạm dụng mình, cô còn bị giết bởi sự tuyệt vọng khi nhận ra rằng công lý là một thứ không tồn tại dành cho những người yếu thế như cô.

Đó là cách súc vật đội lớp người sử dụng đồng tiền dơ bẩn để chà đạp lên phẩm giá của một con người rồi sau đó cũng dùng tiền để che như thể mọi chuyện chưa hề xảy ra.

Cái bi kịch hơn nữa là đa phần công chúng không hề nghe, không hề biết chỉ tin rằng toà án và cơ quan điều sẽ mang lại công lý mà không chịu nhìn sâu vào cáhc chúng vận hành không bao giờ nghiêng về phía người yếu thế.

Sự tin tưởng của công chúng vào "công lý" của toà án và cơ quan điều tra không phải là sự ngây thơ tự nhiên.

Nó là một sản phẩm được kiến tạo, một lớp sương mù được phả ra có chủ đích để che đi cỗ máy quyền lực đang vận hành bên dưới.

Tại sao đám đông lại tin?

Thứ nhất, vì tin tưởng là một liều thuốc an thần.

Việc thừa nhận rằng hệ thống được thiết kế để nghiền nát người yếu thế là một sự thật quá kinh khủng.

Nó đồng nghĩa với việc thừa nhận rằng chính bản thân mình, gia đình mình, cũng có thể trở thành nạn nhân bất cứ lúc nào mà không có ai bảo vệ.

Đó là một viễn cảnh gây bất an đến tột cùng.

Thay vì đối mặt với sự thật đáng sợ đó, bộ não con người chọn một con đường dễ dàng hơn: tin vào câu chuyện cổ tích rằng "công lý rồi sẽ được thực thi".

Niềm tin này là một cơ chế phòng vệ tâm lý, giúp người ta tiếp tục sống và làm việc mà không bị nỗi sợ thường trực làm cho tê liệt.

Thứ hai, niềm tin này được nuôi dưỡng và củng cố hàng ngày bởi một hệ sinh thái truyền thông và văn hóa.

Từ phim ảnh, tiểu thuyết cho đến các bản tin thời sự, hình ảnh vị quan tòa thông thái, người cảnh sát tận tụy luôn được tô đậm.

Các vụ án được trình bày như một vở kịch có mở đầu, cao trào và một cái kết có hậu nơi kẻ ác bị trừng trị.

Đây không phải là sự phản ánh thực tế, đây là một màn trình diễn (performance) về công lý.

Toà án với những bộ áo choàng, những nghi thức trang trọng, những ngôn từ hoa mỹ, tất cả đều là một phần của vở kịch đó, được thiết kế để tạo ra một ảo ảnh về sự uy nghiêm, khách quan và đáng tin cậy.

Và khi có một vụ việc như của Jang Ja-yeon bị phanh phui, hệ thống sẽ dùng một thủ thuật khác: tạo ra "vật tế thần".

Họ sẽ chỉ trích một vài "con sâu làm rầu nồi canh", một vài cá nhân tha hóa để củng cố niềm tin rằng bản thân cái hệ thống, cái "nồi canh" đó, về cơ bản vẫn tốt.

Họ không bao giờ thừa nhận rằng chính cái nồi đó được thiết kế để nuôi dưỡng sâu bọ.

Sự mù quáng này của công chúng biến nạn nhân thành kẻ đơn độc tuyệt đối.

Nạn nhân không chỉ phải chiến đấu với kẻ thủ ác và một hệ thống pháp lý thù địch, họ còn phải chiến đấu với chính sự thờ ơ và định kiến của xã hội.

Khi họ gào lên rằng "hệ thống bất công", đám đông, vốn được dạy dỗ phải tin vào hệ thống, sẽ nhìn họ như những kẻ gây rối, những kẻ nói quá, hoặc những kẻ có vấn đề về tâm lý. Nỗi đau của họ bị vô hiệu hóa bởi chính niềm tin ngây thơ của những người xung quanh.

Vì vậy, bi kịch cuối cùng không phải là sự tồn tại của cái ác.

Cái ác luôn tồn tại.

Bi kịch cuối cùng là sự tồn tại của một "thiện tâm" mù quáng, một niềm tin vào công lý được kiến tạo bởi chính những kẻ đang chà đạp lên công lý.

Đó là cái lồng vô hình và kiên cố nhất.

Đó là cách hắn dùng quyền lực để biến điều tội ác thành “không có tội”, trừng phạt trí thức như nhà văn Đặng Hoàng Giang bằng điều luật 331 vốn được thiết kế để gông cái án hình sự lên những người đấu tranh cho sự thật.

Hãy đọc kỹ xem , mày sẽ thấy cái gọi là “sai sự thật” để Nhã Nam đặt lên đầu ông Giang rằng “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích tổ chức, cá nhân” thật lố bịch và mơ hồ.

Phía công an không dám không nghe, chỉ kêu là “án hành chính” thôi không đến mức tội hình sự vì nhà văn có quốc tịch Áo. Sẽ có nhiều vấn đề phát sinh vì “bảo hộ công dân” làm bộ ngoại giao phải ra mặt xử lý nếu khởi tố hình sự với công dân có quốc tịch nước ngoài.

Họ tung đòn “tước giấy phép lao động”, đây là đòn cảnh cáo không chỉ đến nhà văn mà đến tất cả những đám còn lại , gọi là “rung cây doạ khỉ” rằng:

“tất cả chúng mày câm mồm đừng có mà động chạm đến bọn tao nếu không muốn bị triệt đường sống”.

Vì sao hắn lại có quyền lực đến thế?

Đáp án là chính là ở vòng quan hệ thân hữu, cái tên ở đây chính là cha vợ - Nguyễn Việt Tiến, Cựu Thứ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải.

Không chỉ là tin đồn thổi mà đã được báo chí chính thống xác nhận cách đây 18 năm trong thời điểm vụ án PMU-18 đang gây bão dư luận.

Ngày 17 tháng 3 năm 2006, báo Tuổi Trẻ và báo Công an Nhân dân đồng loạt đưa tin về việc cơ quan điều tra triệu tập ông Nguyễn Nhật Anh.

Báo Tuổi Trẻ ghi rõ:

"ông Nguyễn Nhật Anh (con rể Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Việt Tiến) đã tiếp tục phải làm việc với cơ quan điều tra để lý giải về nguồn gốc diện tích đất khá lớn của gia đình tại huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương"

Báo Công an Nhân dân cũng xác nhận:

"Cục CSĐT tội phạm về trật tự xã hội đã triệu tập ông Nguyễn Nhật Anh, Giám đốc Công ty Cổ phần văn hóa và Truyền thông Nhã Nam, con rể Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Việt Tiến"

Lúc đó, ông Nhật Anh được triệu tập không phải với tư cách bị can, mà là để "hợp tác điều tra, làm rõ thêm một số nội dung liên quan đến tài sản của vị Thứ trưởng. "

Sau đó ông Tiến bị khởi tố và bắt tạm giam trong đại án PMU-18 nhưng sau quá trình điều tra, đến tháng 3 năm 2008, Viện Kiểm Soát Nhân Dân Tối Cao đã đình chỉ điều tra bị can và tuyên trắng án.

Mày có thấy gì từ một đại án đã xảy ra cách đây 18 năm , điều tra 2 năm rồi tuyên trắng án như thể không có tội gì?

Tao ngửi thấy mùi tiền bẩn và quyền lực bởi những kẻ có chức , có quyền bắt tay ngầm với nhau.

Nó chấn động không phải vì số tiền bị mất, mà vì nó cho cả xã hội thấy một sự thật trần trụi: hệ thống đang bị mục ruỗng từ bên trong.

Ở thời điểm đó, phần lớn tiền sử dụng trong các dự án hạ tầng đến từ vốn vay ODA tức là tiền vay từ nước ngoài (phần lớn là Nhật Bản) để đem đi xây mấy công trình như quốc lộ 18, cầu Bãi Cháy,..vv đống tiền này người đứng ra è cổ trả nợ chính là tụi mày, cái đám đang đi làm đóng thuế để trả nợ công.

Nhưng khi có quyền lực nắm trong tay số tiền quá lớn, Ban quản lý dự án 18 , dưới trướng của Tổng giám đốc Bùi Tiến Dũng (biệt danh Dũng "tổng"), đã biến những dự án này thành một cỗ máy rút ruột. Tiền được rút ra bằng cách nào?

Lập dự án ma, nâng khống chi phí, ép nhà thầu "lại quả", dùng xe công của dự án vào việc riêng như một tài sản cá nhân...

Và dòng tiền xương máu đó đã chảy đi đâu?

Nó không chảy vào những công trình chất lượng. Nó chảy thẳng vào những canh bạc triệu đô. Bùi Tiến Dũng đã nướng hàng triệu USD vào các đường dây cá độ bóng đá quốc tế.

Con số không chỉ dừng ở đó.

Nó còn chảy vào những chiếc xe sang, những bữa tiệc xa hoa, và những mối quan hệ chân dài.

Hình ảnh một quan chức nhà nước, người quản lý tiền vay của quốc gia, lại là một "con bạc triệu đô" đã giáng một đòn chí mạng vào niềm tin của công chúng

Nó biến sự tham nhũng từ một khái niệm trừu tượng thành một hình ảnh lố bịch và đầy thách thức.

Bùi Tiến Dũng không thể một mình làm được chuyện đó. Hắn chỉ là đỉnh của một tảng băng chìm, một hệ sinh thái lợi ích chằng chịt.

Những kẻ thực thi tại PMU-18 tức là đám thuộc cấp của Dũng “tổng” là đám trực tiếp tham gia vào việc lặp chứng từ khống, ký duyệt các khoản chi ma và cùng nhau chia chác. Chúng tất nhiên không quên ăn chia miếng bánh ngọt với cấp lãnh đạo lúc đó là Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải là ông Nguyễn Việt Tiến - cha vợ của Nguyễn Tiến Anh.

Dù sau này ông Tiến được tuyên trắng án, việc ông bị khởi tố và bắt giam đã cho thấy một sự liên đới ở cấp cao nhất của ngành.

Nó gieo rắc một nghi ngờ rằng có một "cái ô" quyền lực đang che chắn cho những sai phạm ở dưới.

Dư luận lúc đó tin rằng có cả một đường dây chạy chức, chạy dự án, và Dũng "tổng" là một mắt xích quan trọng trong đó. Và như mày đã thấy sếp bự nhất đã trắng án sau 2 năm điều tra, sạch sẽ như OMO.

Nhưng điều gây sốc và phẫn nộ nhất lại là sự tha hoá của cơ quan bảo vệ pháp luật.

Khi vụ án bị phanh phui thì chính những si quan công an phụ trách lại dính líu vào đường dây “chạy án”. Bùi Tiến Dũng biết mình đang bị điều tra thì vội vàng đưa hối lộ hàng chục ngàn USD (đây là năm 2006 tức là số tiền cực kỳ lớn) để "chạy tội" cho mình và đồng bọn thông qua một kẻ môi giới có quan hệ thân thiết với lãnh đạo cấp cao của cơ quan điều tra.

Điều này đã làm sụp đổ hoàn toàn niềm tin của người dân. Lực lượng lẽ ra phải đi bắt tội phạm thì lại có người tiếp tay cho tội phạm, biến pháp luật thành một món hàng có thể mua bán.

Truyền thông lúc đó đã tạo ra một áp lực khổng lồ, những nhà báo đóng vai trò như điều tra viên phanh phui ra ra các tình tiết gây sốc về khối tài sản khổng lồ, những canh bạc triệu đô và các mối quan hệ phức tạp của Bùi Tiến Dũng và đồng bọn.

Khi cuộc điều tra càng đào sâu, hệ thống quyền lực bắt đầu phản đòn.

Hai nhà báo kỳ cựu của báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ đã bị bắt và truy tố vì tội "lợi dụng các quyền tự do dân chủ", với cáo buộc đã tiết lộ bí mật điều tra.

Vụ án từ chỗ chống tham nhũng đã biến thành một cuộc đối đầu căng thẳng về tự do báo chí.

Nó chấn động vì nó trả lời cho câu hỏi mà nhiều người dân vẫn âm thầm tự hỏi: Tại sao đường sá kém chất lượng, tại sao các công trình trọng điểm lại chậm tiến độ? PMU 18 đã đưa ra một câu trả lời trần trụi.

Nó không chỉ là thất thoát tiền bạc, mà là sự phản bội lòng tin ở cấp độ cao nhất. Nó cho thấy một "liên minh ma quỷ" giữa quyền lực, tiền bạc và sự im lặng có thể lũng đoạn cả một hệ thống.

Vai trò của Nguyễn Nhật Anh ở đây là gì?

Không phải là vai chính, cũng không phải là kẻ chủ mưu. Hắn ta xuất hiện trong vở kịch này với một vai trò phụ nhưng cực kỳ quan trọng về mặt chiến thuật: một điểm yếu gia đình và là một nghi vấn trên dòng tiền của nhân vật trung tâm lúc đó – cha vợ của hắn, Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến.

Lý do pháp lý trên giấy tờ khiến Nguyễn Nhật Anh bị triệu tập là để "lý giải về nguồn gốc diện tích đất khá lớn của gia đình tại huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương" .

Cơ quan điều tra nghi ngờ rằng khối tài sản này thực chất thuộc về ông Nguyễn Việt Tiến, được mua bằng tiền phi pháp từ các phi vụ ở PMU 18 và được che giấu dưới tên của gia đình con rể.

Nói một cách thẳng thắn, họ nghi ngờ Nguyễn Nhật Anh đóng vai trò là người "đứng tên" hoặc là một mắt xích trong việc hợp thức hóa tài sản cho cha vợ.

Nhưng đó chỉ là bề nổi của tảng băng.

Vai trò thực sự của Nguyễn Nhật Anh trong cuộc chiến quyền lực lúc đó sâu sắc hơn nhiều.

Một, hắn là một quân cờ áp lực.

Việc cơ quan điều tra "sờ" đến con rể của một Thứ trưởng đương nhiệm là một đòn tấn công tâm lý và chính trị cực mạnh.

Nó không chỉ là điều tra một mảnh đất.

Nó là một thông điệp gửi thẳng đến ông Nguyễn Việt Tiến và toàn bộ mạng lưới lợi ích xung quanh ông ta:

"Chúng tôi đang áp sát. Vòng vây đang siết lại. Không có vùng cấm, kể cả gia đình."

Bằng cách nhắm vào điểm yếu tình cảm và gia đình, phe điều tra muốn phá vỡ sự phòng thủ, gây hoang mang và buộc mục tiêu chính phải lộ ra sơ hở.

Hai, hắn là một trạm trung chuyển tiềm năng trên dòng tiền bẩn.

Trong các đại án tham nhũng, tiền hiếm khi ở lại với chủ nhân của nó.

Nó sẽ được "rửa" qua nhiều kênh khác nhau, và người thân trong gia đình luôn là kênh an toàn nhất.

Nguyễn Nhật Anh, với vỏ bọc là một trí thức kinh doanh trong lĩnh vực "sạch" là văn hóa và xuất bản (công ty Nhã Nam), trở thành một đối tượng nghi vấn hoàn hảo.

Việc điều hành một công ty văn hóa có thể tạo ra một bức bình phong lý tưởng để che đậy các giao dịch tài chính bất minh, khác hẳn với thế giới xây dựng hạ tầng đầy bê bối của PMU 18.

Dù không có bằng chứng nào được đưa ra sau đó, nhưng tại thời điểm điều tra, bất kỳ dòng tiền nào chảy từ cha vợ đến con rể đều nằm trong tầm ngắm.

Ba, hắn là một nhân tố khuếch đại cho câu chuyện truyền thông.

Tin tức "Con rể Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến bị triệu tập" lập tức tạo ra một cơn bão dư luận.

Nó khiến cho câu chuyện tham nhũng trở nên kịch tính và dễ hình dung hơn.

Nó vẽ ra một bức tranh về một gia tộc quyền lực cùng nhau hưởng lợi từ tiền của nhà nước.

Vai trò của Nguyễn Nhật Anh, dù chỉ là bị triệu tập để làm rõ, đã góp phần củng cố nhận thức của công chúng về sự nghiêm trọng và tính hệ thống của vụ án.

Hắn vô tình trở thành một bằng chứng sống cho thấy vòi bạch tuộc tham nhũng đã vươn vào tận trong gia đình của quan chức cấp cao.

Sau lần triệu tập gây chấn động đó, vai trò của Nguyễn Nhật Anh trong vụ án mờ dần và không có thêm cáo buộc nào được đưa ra.

Khi mục tiêu chính là ông Nguyễn Việt Tiến cuối cùng được đình chỉ điều tra và tuyên trắng án, các nhánh điều tra phụ liên quan đến người thân như Nguyễn Nhật Anh cũng tự động khép lại.

Hắn là cái bóng của cha vợ mình, bị kéo vào vòng xoáy quyền lực với tư cách là một điểm yếu có thể bị khai thác, một nghi vấn cần được làm rõ, và một nhân vật để hoàn thiện vở kịch lớn về sự sụp đổ niềm tin trong mắt công chúng.

Sự kiện năm 2006, dù kết quả pháp lý ra sao, cũng đã gieo vào văn hóa của Nhã Nam một niềm tin rằng họ có thể vượt qua những khủng hoảng truyền thông và pháp lý lớn nhất. Tấm khiên quyền lực đó không biến mất, nó chuyển hóa thành một sự tự tin thái quá, một cảm giác mình đứng trên dư luận.

undefined

Sau 2006, không chết mà còn sống khoẻ.

Mày hãy nghĩ thử xem giám đốc của một công ty non trẻ như Nhã Nam bị triệu tập để điều tra một đại án lớn như PMU-18 đáng lẽ đã sụp đổ vì mất uy tín, đối tác tháo chạy, ngân hàng siết nợ.

Nhưng nó vẫn sống, vì sao?

Vì cái mác "con rể Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến" lúc này không chỉ là một lời nguyền, mà còn là một cái khiên bảo vệ vô hình.

Khi cha vợ của mày là một nhân vật cấp cao, dù đang gặp sóng gió, thì hệ thống cũng phải dè chừng.

Những cú đánh nhắm vào mày sẽ được cân nhắc kỹ lưỡng hơn, vì nó có thể tạo ra những hệ lụy chính trị không lường trước được.

Mối quan hệ này tạo ra một "sàn an toàn". Người ta có thể tấn công mày, nhưng không thể dễ dàng triệt hạ mày. Sự tồn tại của Nhã Nam sau năm 2006 chính là bằng chứng rõ ràng nhất cho tấm khiên này.

Trong ngành xuất bản ở Việt Nam, một ngành bị kiểm soát chặt chẽ bởi khâu cấp phép và kiểm duyệt, cái khiên này càng trở nên quý giá.

Một NXB non trẻ, không có "ô dù", có thể bị làm khó dễ bởi hàng trăm lý do.

Nhưng một NXB có "vốn chính trị" từ một gia đình quyền lực sẽ có một con đường bằng phẳng hơn. Các thủ tục hành chính có thể "trôi" nhanh hơn.

Những nội dung sách có phần "nhạy cảm" có thể dễ được thông qua hơn. Đây không phải là hối lộ trực tiếp, đây là sự nể nang, là quy luật bất thành văn của một hệ thống vận hành bằng quan hệ.

Mối quan hệ quyền lực không chỉ tạo ra cái khiên phòng thủ, nó còn mở ra những cánh cửa tấn công.

Một gia đình cấp Thứ trưởng có một mạng lưới quan hệ (network) mà người thường không thể mơ tới.

Mạng lưới đó bao gồm các quan chức khác, các doanh nhân lớn, và cả các nhà ngoại giao.

Đây chính là bệ phóng để Nhã Nam vươn ra quốc tế, đặc biệt là với Pháp.

Đại sứ quán các nước khi muốn thúc đẩy văn hóa của họ vào một quốc gia, họ sẽ tìm kiếm những đối tác địa phương có uy tín và năng lực thực thi. Nhã Nam, với sự hậu thuẫn tiềm ẩn, trở thành một lựa chọn lý tưởng.

Họ có năng lực dịch thuật và xuất bản tốt, đồng thời lại có một sự đảm bảo ngầm về mặt chính trị, giảm thiểu rủi ro cho các dự án hợp tác văn hóa của phía nước ngoài.

Việc Đại sứ quán Pháp trao Huân chương Hiệp sĩ Văn học và Nghệ thuật cho Nguyễn Nhật Anh vào năm 2018 phải được nhìn nhận như một nước cờ chiến lược của cả hai bên, chứ không đơn thuần là một sự ghi nhận công lao.

  • Về phía Pháp:

    Đây là một hành động thực thi "quyền lực mềm" (soft power) kinh điển.

    Bằng cách vinh danh người đứng đầu một trong những NXB lớn nhất Việt Nam, chuyên về văn học dịch, Pháp đã củng cố một kênh truyền bá văn hóa cực kỳ hiệu quả.

    Huân chương này biến Nguyễn Nhật Anh từ một đối tác kinh doanh thành một "đồng minh văn hóa". Nó tạo ra một mối liên kết bền chặt, đảm bảo rằng dòng chảy văn hóa Pháp sẽ tiếp tục được ưu tiên tại Việt Nam thông qua Nhã Nam.

  • Về phía Nguyễn Nhật Anh: Đây là tài sản vô giá chứ không đơn thuần là danh hiệu cá nhân.

Khi mày được một cường quốc văn hóa như Pháp công nhận và vinh danh, vị thế của mày đã khác.

Bất kỳ một sự tấn công nào nhắm vào mày ở trong nước cũng sẽ phải dè chừng hơn, vì nó có thể bị diễn giải là một hành động không thân thiện với lợi ích văn hóa của Pháp.

Nó giúp xóa mờ đi cái bóng của vụ PMU 18 trong quá khứ. Thay vì được biết đến là "con rể Thứ trưởng dính líu đại án", giờ đây hắn được biết đến với tư cách một "Hiệp sĩ văn hóa" được quốc tế công nhận.

Nó mang lại cho hắn và Nhã Nam một thứ quyền lực sạch sẽ, quyền lực của tri thức và văn hóa, thứ quyền lực mà tiền bạc và quan hệ chính trị đơn thuần không thể mua được.

Vậy nên, câu chuyện ở đây không phải là một người được cha vợ "dắt tay" chỉ việc.

Mà là một người biết cách tận dụng và chuyển hóa vốn chính trị từ gia đình thành sự miễn nhiễm rủi ro, rồi dùng sự miễn nhiễm đó để xây dựng đế chế kinh doanh, sau đó lại dùng đế chế kinh doanh đó để trao đổi và thu về vốn văn hóa quốc tế, và cuối cùng dùng vốn văn hóa đó để củng cố và bảo vệ ngược lại cho chính đế chế của mình.

Đó là một vòng tròn quyền lực khép kín và cực kỳ tinh vi. Nhưng lại đi bán những sản phẩm tồi tệ và kém chất lượng bằng cách thâu tóm hàng loạt đầu sách ngoại văn độc quyền lại dịch ra bằng thứ tiếng việt hạ cấp, xúc phạm trình độ văn hoá của độc giả.

Nhã Nam - "Nhã" trong khiếm nhã, nhục nhã và "Nam" trong "Nam mô A di đà Phật”…?

Bên dưới đây là một trong rất nhiều ví dụ về những bản dịch mà Nhã Nam đã sử dụng thủ pháp mang tên "ăn cắp trí thức" để bao biện cho việc không muốn liên lạc đến dịch giả của bản gốc mà công ty dựa trên đó để phát triển thành một phiên bản riêng biệt để kiếm tiền khách hàng và làm phiền các dịch giả của chính công ty.

Liên kết đến bài tổng hợp một số lần hành nghề của NN trên Facebook.

Việc để credit cái kiểu cho có lệ nhưng không thông báo và cũng không đả động gì đến profit và sale của sách là một cách trục lợi khôn lỏi và khéo léo. "Vì mục đích phát triển chung" ahh moment.

Quy Trình Xuất Bản “Phong Cách” Nhã Nam: Biến Tướng Đáng Khinh

Nếu quy trình xuất bản sách chuẩn mực là một hành trình tỉ mỉ của tri thức và sáng tạo, thì với Nhã Nam, nó chỉ là con đường tắt để tối đa hóa lợi nhuận phi pháp.

Họ bắt đầu bằng việc săn tìm và đàm phán bản quyền.

“Thâu tóm" hàng loạt đầu sách độc quyền là một chiến lược kinh doanh thuần túy: mua thật nhiều, thật nhanh để đối thủ không có gì mà bán. Đây là tư duy của chủ nghĩa tư bản quy mô lớn, không phải tư duy của người làm văn hóa một cách tỉ mỉ.

Khi đã "thâu tóm" được một kho nguyên liệu khổng lồ, họ phải chuyển nó thành sản phẩm càng nhanh càng tốt để thu hồi vốn và tối đa hóa lợi nhuận.

Điều này biến Nhã Nam từ một công ty phát hành trở thành một "nhà máy sản xuất sách". Mà trong một nhà máy, ưu tiên hàng đầu là tốc độ và chi phí, không phải là chất lượng tinh xảo.

Nhã Nam Books N' Coffee, cà phê sách yên ả giữa lòng Sài Gòn

Tiếp đến là dịch thuật. Đây vốn dĩ là công đoạn đắt đỏ và tốn thời gian nhất.

Với những cuốn sách mà họ có thể "nhặt" được bản dịch công khai trên mạng, Nhã Nam nghiễm nhiên bỏ qua hoặc giảm thiểu chi phí dịch giả đáng kể.

Một bản dịch văn học thực thụ đòi hỏi dịch giả phải sống với tác phẩm, phải có thời gian để nghiên cứu, nghiền ngẫm và tìm ra thứ ngôn ngữ tương xứng trong tiếng Việt.

Công việc đó đắt đỏ và tốn thời gian.

Mô hình nhà máy thì ngược lại, nó cần những "thợ dịch" làm việc theo KPI, trả lương theo số chữ và hoàn thành đúng deadline.

Kết quả là những bản dịch "chạy deadline", dịch đúng nghĩa đen nhưng đánh mất toàn bộ cái hồn, cái nhạc điệu, cái phong cách của tác giả gốc.

Nó tạo ra một thứ tiếng Việt lai căng, sáo rỗng, đọc lên nghe "trôi" nhưng thực chất là vô vị. Đó chính là thứ "tiếng Việt hạ cấp".

Sang đến khâu biên tập và hiệu đính, công đoạn này bị coi nhẹ đến mức đáng ngạc nhiên. Biên tập viên làm việc cẩu thả, chỉ đọc lướt cho qua, dẫn đến vô số lỗi. Chất lượng nội dung bị hy sinh trắng trợn để đổi lấy tốc độ và tiết kiệm chi phí nhân sự.

Nó tạo ra quy trình nhanh gọn và sách ra lò cấp tốc.

Tiền được đổ dồn vào thiết kế và chế bản, biến hình thức bên ngoài trở nên bóng bẩy: bìa đẹp, layout sang chảnh.

Mục đích không gì hơn ngoài việc che đi chất lượng nội dung bết bát và thu hút độc giả bằng cái mã bề ngoài, đánh lừa thị giác và tăng khả năng bán hàng bằng hình ảnh hào nhoáng.

Đối với cấp phép xuất bản, đó chỉ đơn thuần là một thủ tục hành chính bắt buộc để cuốn sách có giấy khai sinh hợp pháp. Các cơ quan cấp phép không có nhiệm vụ soi mói chuyện đạo nhái bản dịch hay chất lượng biên tập nội bộ. Nhã Nam nghiễm nhiên hợp pháp hóa sản phẩm của mình, tránh được những rủi ro pháp lý lớn cho toàn bộ cuốn sách.

Trong khâu in ấn, họ luôn tìm nhà in giá rẻ nhất để tối ưu hóa chi phí sản xuất. Chất lượng giấy, mực in thường chỉ ở mức chấp nhận được. Việc này trực tiếp giảm giá thành sản phẩm, và tự khắc tăng biên độ lợi nhuận.

Phát hành và truyền thông là nơi Nhã Nam chi mạnh tay nhất. Marketing rầm rộ, thuê các nhân vật có ảnh hưởng, những người đánh giá sách nói hay nói tốt. Mục tiêu là tạo hiệu ứng đám đông để bán sách nhanh nhất có thể, đẩy doanh số thần tốc, thu hồi vốn và thu lợi nhuận tối đa trong thời gian ngắn.

Cuối cùng là quản lý doanh số và thanh toán bản quyền.

Với tác giả gốc nước ngoài, họ có thể giữ sự minh bạch để tránh kiện tụng quốc tế. Nhưng với dịch giả hay những nguồn bản dịch công khai, Nhã Nam thường né tránh, lờ đi trách nhiệm thanh toán thù lao hay chia sẻ lợi nhuận.

Đây chính là cách tối đa hóa lợi nhuận gộp, biến công sức của người khác thành tiền của mình mà không cần chia sẻ.

Thậm chí, họ còn dùng chiêu này để thử nghiệm thị trường với rủi ro tài chính bằng không.

Những "lợi ích" mà Nhã Nam thu được từ việc bóp méo quy trình xuất bản và "ăn cắp trí thức" đều là lợi ích của kẻ gian lận.

Đó là lợi nhuận khổng lồ trên mồ hôi, nước mắt và trí tuệ của người khác, đẩy nhanh tốc độ kinh doanh mà không cần đầu tư xứng đáng.

Không thể phủ nhận rằng, trong giai đoạn đầu, Nhã Nam đã có công lớn trong việc đưa nhiều tác phẩm tinh hoa của thế giới về Việt Nam với những bản dịch chất lượng.

Nhưng chính vì họ có thể làm tốt, nên sự sa sút một cách có hệ thống về chất lượng biên tập và dịch thuật trong những năm gần đây càng trở nên đáng thất vọng và không thể tha thứ.

Nó cho thấy đây là một sự lựa chọn có chủ đích vì lợi nhuận, chứ không phải là một tai nạn.

Tại sao họ dám làm vậy?

Vì họ có thể.

Vòng tròn quyền lực đã cho họ một vị thế thống lĩnh trên thị trường.

Khi mày là người gần như duy nhất có quyền bán một món hàng đang rất "hot", mày có quyền định đoạt chất lượng của nó.

Người đọc, đặc biệt là độc giả trẻ, không có nhiều lựa chọn. Họ muốn đọc cuốn sách đó, và Nhã Nam là nơi duy nhất bán bản có bản quyền. Họ buộc phải chấp nhận chất lượng bản dịch như nó vốn có.

Cái khiên bảo vệ mà quyền lực tạo ra không chỉ giúp họ miễn nhiễm với rủi ro chính trị, mà còn miễn nhiễm với cả áp lực về chất lượng từ thị trường.

Những lời chỉ trích từ một nhóm độc giả sành sỏi trên mạng xã hội chẳng là gì so với doanh thu khổng lồ từ đám đông đại chúng.

Một NXB nhỏ hơn, nếu bị chỉ trích liên tục về chất lượng dịch thuật, sẽ chết.

Nhưng Nhã Nam thì không. Họ quá lớn để sụp đổ chỉ vì vài lời phàn nàn.

Khi một nhà sản xuất không còn sợ hãi khách hàng của mình, họ sẽ bắt đầu coi thường khách hàng.

Việc bán ra những bản dịch cẩu thả, đầy lỗi, với một thứ văn phong nghèo nàn chính là một sự coi thường ngấm ngầm.

Họ đặt cược rằng phần lớn độc giả hoặc là không đủ sành để nhận ra, hoặc là đủ khao khát đọc tác phẩm gốc đến mức sẵn sàng bỏ qua chất lượng bản dịch.

Họ không sai hoàn toàn.

Nhưng chính sự đặt cược đó là một hành vi xúc phạm đến trí tuệ và trình độ văn hóa của những người đã bỏ tiền ra nuôi sống họ.

Họ đang bán một món ăn được chế biến trong một gian bếp công nghiệp bừa bộn, nhưng lại được dọn ra trên một chiếc đĩa sứ sang trọng có logo của một nhà hàng 5 sao.

Vòng tròn quyền lực tinh vi đó đã tạo ra một con quái vật với:

Một cơ thể kinh doanh khổng lồ, có khả năng thâu tóm những tinh hoa văn hóa của thế giới, nhưng lại tiêu hóa chúng một cách dở dang và thải ra những sản phẩm làm suy kiệt chính nền văn hóa mà nó đang phục vụ.

Nó mang sách đến cho nhiều người hơn, nhưng lại làm giảm đi chất lượng trải nghiệm đọc của từng người.

Đó là một sự đánh đổi tàn nhẫn.

Scandal quấy rối chỉ là giọt nước làm tràn ly, phơi bày một văn hóa doanh nghiệp độc hại, một tư duy trục lợi đã ăn sâu bén rễ. Uy tín Nhã Nam đã và đang sụp đổ, niềm tin độc giả tan vỡ.

Những "lợi thế" bất chính kia, cuối cùng cũng chỉ dẫn đến một cái kết đắng chát cho một "đế chế" từng được ngưỡng mộ.

Liệu bài học này có đủ để họ thay đổi, hay sẽ mãi chìm đắm trong "nhã" của khiếm nhã và "nam" của sự nhục nhã?

Đáp án chính là:

Nhã Nam chọn vực dậy từ đống tro tàn như hoa hồng trên bê tông.

Cái nghịch lý cốt lõi của ngành xuất bản là một ngành kinh doanh "văn hóa" nhưng lại sống và chết bởi dòng tiền mặt lạnh lùng.

Mô hình kinh doanh kiểu Nhã Nam dựa trên một nguyên tắc cơ bản: lấy quy mô đè chất lượng, và dùng tốc độ quay vòng vốn để tồn tại.

Dòng tiền chính của họ đến từ doanh thu bán sách, nhưng đây là một dòng tiền cực kỳ trễ nải và đứt gãy.

Khi một cuốn sách được bán tại nhà sách X hay trên sàn Tiki, tiền không về túi Nhã Nam ngay lập tức.

Nó nằm lại ở các kênh phân phối đó, và họ chỉ thanh toán cho Nhã Nam theo chu kỳ công nợ, có thể là 3 tháng, 6 tháng, thậm chí lâu hơn.

Dòng tiền này vừa chậm, vừa khó đoán, vì nó phụ thuộc vào tốc độ bán hàng và sức khỏe tài chính của các đối tác phân phối.

Vậy khi đi vay ngân hàng, họ bị đánh giá rủi ro thế nào? Cực kỳ cao.

Một ngân hàng khi nhìn vào Nhã Nam, họ không thấy nhà xưởng hay máy móc.

Tài sản lớn nhất của Nhã Nam là thứ vô hình: bản quyền sách (intellectual property).

Đây là một cơn ác mộng đối với bộ phận thẩm định rủi ro của ngân hàng.

Làm sao để định giá bản quyền cuốn "Rừng Na Uy"?

Nếu Nhã Nam phá sản, ngân hàng có thể bán lại bản quyền đó cho ai với giá bao nhiêu?

Nó quá mơ hồ.

Vì vậy, ngân hàng sẽ không bao giờ chấp nhận thế chấp chỉ bằng bản quyền sách.

Họ sẽ đòi những tài sản "cứng": bất động sản (văn phòng, đất đai đứng tên công ty hoặc chủ sở hữu), kho hàng (toàn bộ số sách đã in, nhưng sẽ được định giá rất thấp vì sách ế gần như là giấy vụn), và quan trọng nhất là bảo lãnh cá nhân của những người đứng đầu, tức là dùng tài sản cá nhân của chính Nguyễn Nhật Anh và gia đình để đảm bảo cho khoản vay.

Mối quan hệ với một gia đình quyền thế trong quá khứ có thể tạo ra một "uy tín" vô hình, khiến ngân hàng yên tâm hơn, nhưng trên giấy tờ, họ vẫn cần tài sản thật để nắm đằng chuôi.

Bây giờ đến điểm tử huyệt: Dòng tiền khi nào tắc nghẽn là chết?

Cái chết đến từ việc họ sử dụng sai mục đích "tiền nổi" (float).

Tiền nhuận bút trả cho tác giả hay tiền bản quyền trả cho đối tác nước ngoài thường được thanh toán theo chu kỳ 6 tháng hoặc 1 năm.

Trong khoảng thời gian chờ thanh toán đó, Nhã Nam có một cục tiền mặt nhàn rỗi trong tài khoản.

Về mặt kế toán, đây là nợ phải trả, nhưng về mặt dòng tiền, nó đang nằm trong tay họ.

Mày sẽ làm gì khi có 1 đống tiền nợ của người khác nhưng lại hoàn toàn do mày muốn làm gì thì làm?

Đáp án chính là đem đầu tư sinh lời giống như các quỹ đầu tư, ngân hàng, bảo hiểm giữ 1 lượng lớn tiền mặt của người gửi rồi đổ vào trái phiếu, cổ phiếu , mua tài sản có giá trị.

Hãy hình dung như thế này:

Họ cầm cục tiền này, đáng lẽ để trả nợ tác giả, và đầu tư vào một phi vụ mới – ví dụ, trả trước một khoản tiền lớn để mua trọn gói bản quyền của một tác giả nổi tiếng thế giới, hoặc in ồ ạt 50.000 bản một cuốn sách mà họ tin là "bom tấn". Họ đang đánh cược rằng doanh thu từ các cuốn sách khác sẽ về kịp để bù vào cục tiền này trước khi đến hạn trả nhuận bút.

Họ hoàn toàn có thể:

  • Gửi ngân hàng lấy lãi

  • Dùng làm vốn lưu động, trả lương, in ấn

  • Đầu tư ngắn hạn hoặc bù lỗ mảng khác như bất động sản, cổ phiếu, trái phiếu.

Miễn sao khi đến hạn, trả đủ là xong.

Nhưng bản chất là mày đang cầm tiền của người khác mà không hề có quản trị rủi ro, hoàn toàn phụ thuộc vào thằng giám đốc thắng hay thua cược chứ không phải bởi những con cá mập đầu có sạn trên thương trường đầu tư.

Và đây là lúc dòng tiền thu về từ các nhà phân phối và nhà sách trở thành điểm nghẽn chí mạng.

Chỉ cần một trong các nhà bán lẻ lớn (ví dụ Fahasa, Tiki...) gặp khó khăn tài chính và chậm thanh toán công nợ khoảng 2-3 tháng, hoặc "bom tấn" họ vừa in bị "xịt", không bán được và bị trả về hàng loạt, thì kế hoạch của họ sụp đổ.

Tiền không về kịp. Ngày trả nhuận bút cho tác giả đã đến. Họ không có tiền mặt để trả.

Việc vỡ nợ với tác giả trong nước đã là một thảm họa uy tín.

Nhưng vỡ nợ bản quyền với một nhà xuất bản lớn ở Mỹ hay Anh thì đó là án tử.

Họ sẽ bị đưa vào danh sách đen, không một đối tác quốc tế nào dám bán bản quyền cho họ nữa. Đế chế xây dựng trên việc "thâu tóm" bản quyền ngoại văn sẽ sụp đổ từ gốc

Bằng chứng ở đâu cho thấy Nhã Nam đang cầm tiền “float” nhàn rỗi?

Ngày 20/4/2024, giữa cơn bão drama có một bài báo nói về việc “Tổng tài sản Nhã tăng 160 tỷ nhưng nợ người lao động 5 tỷ VND”.

Cập nhật đến tháng 8/2018, vốn điều lệ Nhã Nam đạt 13 tỷ đồng, trong đó, ông Nguyễn Nhật Anh sở hữu 57,19%; ông Vũ Hoàng Giang sở hữu 6,5%; ông Trịnh Văn Cơ sở hữu 7,18% và cổ đông Dương Thanh Hoài nắm giữ 10,08%.

tính đến cuối năm 2023, tổng tài sản Nhã Nam đạt khoảng 161 tỷ đồng, tăng thêm 28 tỷ đồng so với năm 2022.

Tiền và các khoản tương đương tiền có hơn 4 tỷ đồng, khoảng 45 tỷ đồng phải thu nội bộ ngắn hạn; hàng tồn kho hơn 82 tỷ đồng.

Ngoài ra, Nhã Nam đã dành hơn 15 tỷ đồng để đầu tư vào công ty liên kết, liên danh (tức là Azura, Đông Phong)

Kết thúc năm 2023, nợ phải trả Nhã Nam khoảng 118 tỷ đồng, tăng 21 tỷ đồng sau 12 tháng. Bao gồm nợ vay tài chính hơn 66 tỷ đồng; phải trả người bán ngắn hạn 46 tỷ đồng.

Đáng chú ý khi tại ngày 31/12/2023, Nhã Nam còn ghi nhận hơn 200 triệu đồng thuế và các khoản phải nộp nhà nước, phải trả người lao động gần 5 tỷ đồng.

Nghe có vẻ nhỏ nhưng với quy mô công ty 134 người đấy là khoản tiền khổng lồ. Họ đang dùng tiền bảo hiểm xã hội của nhân viên làm vốn lưu động.

Trong kế toán, khoản mục này bao gồm lương, thưởng, các khoản phúc lợi và đặc biệt là bảo hiểm xã hội (BHXH) mà công ty phải đóng cho nhân viên.

Việc nợ lương trực tiếp (tức là không trả tiền vào tài khoản nhân viên đúng hạn) là một dấu hiệu khủng hoảng tiền mặt cấp báo và rất dễ gây biến động lớn trong nội bộ. Nhưng việc chậm đóng hoặc nợ tiền bảo hiểm xã hội lại là một "chiêu" tài chính mà rất nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam sử dụng.

Đây là trò “float” từ tiền nhãn rỗi , nhưng thay vì lấy tiền nhuận bút bây giờ họ đang "float" tiền an sinh xã hội của nhân viên.

Hãy hình dung cơ chế của nó:

Hàng tháng, Nhã Nam vẫn trừ một phần lương của nhân viên để đóng BHXH. Đồng thời, họ có trách nhiệm phải đóng thêm một phần nữa cho người lao động vào quỹ bảo hiểm của nhà nước.

Nhưng thay vì chuyển cục tiền này đi ngay lập tức, họ "tạm giữ" nó lại.

Cục tiền đó, đáng lẽ thuộc về quỹ an sinh của nhà nước để đảm bảo cho tương lai của nhân viên, lại được họ sử dụng như một nguồn vốn lưu động không lãi suất để vận hành kinh doanh: trả tiền in, đặt cọc mua bản quyền sách mới, chi cho marketing...

Tức là nếu trong trường hợp công ty làm ăn thua lỗ hoặc tệ hơn là phá sản thì mấy tiền phúc lợi xã hội đáng lý ra thuộc nhân viên những người làm công ăn lương đúng theo hợp đồng mất trắng.

Vì bên BHXH chưa nhận được tiền mà cơ chế đi đòi thủ tục lằng nhằng mà bên công ty lại kẹt tiền thì phần thiệt chỉ thuộc về người lao động yếu thế.

Họ đang dùng tiền của người khác – trong trường hợp này là tiền phúc lợi của nhân viên do nhà nước quản lý – để đầu cơ cho sự tăng trưởng của chính mình.

Đó là lý do vì sao xảy ra cái nghịch lý tài sản tăng nhanh , nhưng lại nợ tiền công của nhân viên.

?Tài sản tăng" 28 tỷ so với năm 2022 nghĩa là họ vẫn đang không ngừng đổ tiền vào việc "thâu tóm" bản quyền mới, mở rộng kho hàng tồn kho. Họ ưu tiên việc phình to quy mô, chiếm lĩnh thị phần hơn là hoàn thành các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn.

Họ đang ở trong một tình thế kinh điển của nhiều doanh nghiệp tăng trưởng nóng: giàu tài sản nhưng nghèo tiền mặt (asset-rich, cash-poor).

Tiền của họ bị kẹt hết trong các tài sản khó thanh khoản như bản quyền sách hay hàng tồn kho, khiến họ không có đủ tiền mặt để trả các khoản nợ ngắn hạn như nợ BHXH.

Vì sao? Hãy nhìn vào tổng nợ phải trả gồm 118 tỷ VND.

Nợ ngân hàng 66 tỷ là nguồn vốn chính thống. Nhã Nam đang dùng đòn bẩy tài chính rất cao. Trong khi tổng tài sản nghèo nàn khó thanh khoản.

Nợ nhà cung cấp 46 tỷ là chủ nợ lớn thứ hai. Nhã Nam đang chiếm dụng vốn của các đối tác một cách có hệ thống. Các nhà in, các công ty dịch thuật, các nhà cung cấp giấy... đang phải cho Nhã Nam vay một khoản tín dụng khổng lồ, không lãi suất. Nhã Nam đã biến các đối tác trong chuỗi cung ứng của mình thành một ngân hàng bất đắc dĩ.

Và cuối cùng là nợ người lao động 5 tỷ như đã nói, đang xài tiền BHXH của nhân viên làm vốn lưu động.

Giờ nhìn kỹ xem với 161 tổng tài sản có gì nào?

  • Hàng tồn kho (82 tỷ):

    Đây là con số kinh hoàng nhất, chiếm hơn 50% tổng tài sản.

    Nó cho thấy mô hình kinh doanh "lấy số lượng đè chất lượng" đang ở mức báo động.

    82 tỷ tiền mặt đang bị chôn cứng trong những cuốn sách nằm trong kho, chưa biết có bán được hay không.

    Đây là một quả bom nổ chậm.

    Nếu thị trường quay lưng (như đang diễn ra), 82 tỷ này có thể nhanh chóng bốc hơi, biến thành giấy vụn. Ngân Hàng khi thâu tóm đi phát mãi chỉ coi như đống giấy vụn giá có vài xu chứ không phải sách bán 100-200k/cuốn.

  • Phải thu nội bộ ngắn hạn (45 tỷ): Đây là con số đáng ngờ nhất và là trái tim của dòng tiền kinh doanh.

    "Phải thu nội bộ" nghĩa là gì?

    Nghĩa là công ty mẹ Nhã Nam đang cho các công ty con, công ty liên kết hoặc thậm chí là các bên liên quan (có thể là cá nhân trong ban lãnh đạo) vay một khoản tiền khổng lồ lên tới 45 tỷ.

    Dòng tiền đang không tập trung vào hoạt động kinh doanh cốt lõi, mà đang bị rút ra để chảy vào một kênh khác.

    Kênh đó là gì? Có thể là để đầu tư vào một lĩnh vực khác (bất động sản, chứng khoán?) hoặc đơn giản là một cách "rút ruột" công ty một cách hợp pháp trên sổ sách.

    Đây là một lá cờ đỏ chói mà bất kỳ nhà đầu tư hay ngân hàng nào cũng phải đặt dấu hỏi.

    “Tại sao một công ty đang nợ đầm đìa lại cho nội bộ vay một số tiền lớn như vậy?”

  • Tiền mặt (chỉ hơn 4 tỷ): Con số này là một trò đùa bi thảm.

    Một doanh nghiệp có tổng tài sản 161 tỷ và nợ ngắn hạn hàng chục tỷ lại chỉ có 4 tỷ tiền mặt.

    Họ đang sống trên một lằn ranh sinh tử. Chỉ cần một nhà cung cấp lớn đòi nợ, hoặc một khoản vay ngân hàng đến hạn, cỗ máy sẽ lập tức ngừng hoạt động.

    Họ hoàn toàn không có một tấm đệm an toàn nào.

Nhã Nam đã dùng uy tín và quy mô của mình để huy động vốn từ mọi nguồn có thể (ngân hàng, nhà cung cấp, nhân viên) và đổ hết vào hai canh bạc lớn: hàng tồn kho (đặt cược vào thị trường) và các khoản cho vay nội bộ (một canh bạc tài chính bí ẩn).

Họ đã biến các nghĩa vụ phải trả thành nguồn vốn đầu cơ. Họ đang chơi một ván bài cực lớn: dùng nợ ngắn hạn của người khác để tài trợ cho các tài sản dài hạn, rủi ro và kém thanh khoản của mình. Đây là một công thức kinh điển dẫn đến sự sụp đổ.

Vụ lùm xùm quấy rối chỉ là mồi lửa.

Toàn bộ cấu trúc tài chính của Nhã Nam vốn đã là một thùng thuốc súng được nén chặt. Chỉ cần một trong các chủ nợ (nhà cung cấp, ngân hàng) mất kiên nhẫn, hoặc chỉ cần thị trường (độc giả) thực sự quay lưng khiến 82 tỷ hàng tồn kho không thể chuyển hóa thành tiền mặt, thì toàn bộ hệ thống này sẽ phát nổ.

Cuối cùng, lợi nhuận thực sự ít ỏi đến mức nào?

Hãy làm một phép tính nhẩm với một cuốn sách giá bìa 100.000 đồng:

Nhà sách/Sàn TMĐT giữ lại phần chiết khấu lớn nhất, khoảng 40-50%.Trong đó Shopee chiếm đến 85% doanh thu của họ.

Thường thì Shopee cắt khế theo 4 chi phí theo sau đây:

  1. Phí Cố định: Đây là phí hoa hồng cơ bản trên mỗi đơn hàng thành công. Đối với Shopee Mall, nó rơi vào khoảng 2-3%.

  2. Phí Dịch vụ: Đây là các gói "tùy chọn" nhưng gần như bắt buộc để cạnh tranh, ví dụ như Freeship Xtra (miễn phí vận chuyển) hay Hoàn Xu Xtra. Các gói này có thể ngốn thêm 7-8% nữa.

  3. Phí Thanh toán: Mỗi khi khách hàng trả tiền qua thẻ, ví điện tử... Shopee sẽ thu một khoản phí xử lý giao dịch, khoảng 2-4%.

  4. Chi phí Marketing và Trợ giá (Chi phí ẩn): Đây mới là phần chìm. Để bán được hàng, Nhã Nam phải tự bỏ tiền chạy quảng cáo (Shopee Ads), tạo mã giảm giá (voucher), và tham gia các chiến dịch khuyến mãi lớn của sàn (ví dụ: sale 8/8, 9/9...), nơi họ thường phải tự trợ giá sản phẩm của mình để có giá tốt.

Tính tổng lại, một cách thực tế, tổng chi phí mà Nhã Nam phải trả cho sàn và các hoạt động liên quan trên Shopee có thể dao động từ 20% đến 25% trên giá bán của sản phẩm. Nó thấp hơn chiết khấu cho nhà sách, đó là lý do tại sao các NXB đẩy mạnh kênh online, nhưng nó chắc chắn không phải là con số nhỏ.

Bây giờ, hãy làm phép tính nhẩm với một cuốn sách giá bìa 100.000 đồng, với các chi phí ở mức cao để thấy rõ sự khắc nghiệt:

  • Giá bìa: 100.000 đồng

  • Tổng chi phí cho kênh Shopee: Ta lấy mức cao là 25%, tương đương 25.000 đồng.

  • Chi phí in ấn, giấy tờ: Lấy mức cao là 20% giá bìa, tức là 20.000 đồng.

  • Tiền bản quyền cho tác giả/NXB nước ngoài: Lấy mức cao là 10% giá bìa, tức là 10.000 đồng.

  • Chi phí dịch thuật, biên tập, thiết kế bìa: Lấy mức cao là 7% giá bìa, tức là 7.000 đồng.

Vậy, lợi nhuận gộp trước khi tính chi phí vận hành của Nhã Nam là bao nhiêu?

100.000 (Giá bìa) - 25.000 (Shopee) - 20.000 (In ấn) - 10.000 (Bản quyền) - 7.000 (Dịch thuật) = 38.000 đồng.

38.000 đồng này là lợi nhuận gộp. Con số này chưa phải là tiền lãi bỏ túi. Từ đây, Nhã Nam phải dùng nó để trả cho toàn bộ cỗ máy vận hành khổng lồ của mình:

  • Lương cho 134 nhân viên (marketing, kế toán, kho bãi, hành chính...).

  • Tiền thuê văn phòng, kho hàng.

  • Chi phí logistics, vận chuyển hàng từ nhà in về kho.

  • Chi phí marketing tổng thể cho thương hiệu.

  • Các loại thuế.

  • Lãi vay cho khoản nợ ngân hàng 66 tỷ.

Toàn bộ chi phí vận hành này có thể dễ dàng chiếm thêm 25-30% giá bìa nữa (tức 25.000 - 30.000 đồng).

Vậy nên, sau khi trừ hết tất cả, lợi nhuận ròng thực sự mà Nhã Nam thu về cho một cuốn sách giá 100.000 bán trên Shopee có thể chỉ còn lại khoảng 8.000 đến 13.000 đồng.

Điều này lý giải tại sao mô hình kinh doanh của họ bắt buộc phải dựa vào số lượng. Họ phải bán hàng trăm ngàn, hàng triệu bản sách mỗi năm thì mới có thể tồn tại và phát triển.

Họ không thể sống bằng cách làm ít mà tinh được.

Họ phải sống bằng cách làm nhiều và nhanh. Bất kỳ một sự sụt giảm nào về doanh số cũng sẽ đẩy con số lãi mỏng manh này về con số không, hoặc thậm chí là lỗ.

Đây là số tiền Nhã Nam buộc phải trả, dù họ có bán được cuốn sách nào hay không.

  • Lương và bảo hiểm xã hội: Với quy mô khoảng 134 nhân viên, giả sử chi phí trung bình (lương, thưởng, BHXH) cho mỗi người là 20 triệu/tháng. 134 người * 20 triệu/tháng * 12 tháng ≈ 32 tỷ đồng/năm.

  • Lãi vay ngân hàng: Họ nợ 66 tỷ, với lãi suất trung bình khoảng 10%/năm. 66 tỷ * 10% ≈ 7 tỷ đồng/năm.

  • Chi phí thuê văn phòng, kho bãi: Con số này khó đoán, nhưng với quy mô của họ ở Hà Nội, ước tính tối thiểu cũng phải 3-5 tỷ đồng/năm.

  • Chi phí quản lý, marketing, hành chính khác: Các chi phí này rất lớn. Ta ước tính một con số khiêm tốn là 10 tỷ đồng/năm.

Cộng tất cả lại, chi phí cố định tối thiểu để Nhã Nam "thở" trong một năm là khoảng: 32 + 7 + 5 + 10 = 54 tỷ đồng.

Từ phép tính trước, ta biết lợi nhuận gộp (sau khi trừ chi phí in ấn, bản quyền, sàn TMĐT...) trên mỗi cuốn sách là khá mỏng. Để đơn giản hóa, giả sử sau khi trừ hết các chi phí biến đổi, Nhã Nam giữ lại được khoảng 40% giá bìa để trang trải chi phí cố định.

Vậy để kiếm đủ 54 tỷ trang trải chi phí, họ cần một tổng doanh thu là: 54 tỷ / 40% = 135 tỷ đồng/năm.

Đây là con số doanh thu hòa vốn. Bất cứ mức nào dưới con số này đều có nghĩa là họ đang đốt tiền để tồn tại.

Giả sử một độc giả trung thành, một "cá voi" thực sự của Nhã Nam, chi trung bình 3.000.000 đồng/năm để mua sách của họ (một con số khá thực tế cho một người mê sách).

Để đạt được doanh thu hòa vốn 135 tỷ, họ cần bao nhiêu "cá voi"? 135.000.000.000 / 3.000.000 = 45.000 độc giả.

Con số này cho thấy một sự thật đáng kinh ngạc: toàn bộ sự sống của một "đế chế" xuất bản như Nhã Nam có thể phụ thuộc vào một nhóm nòng cốt chỉ khoảng 45.000 người.

Đây không phải là hàng triệu người, mà là một cộng đồng cực kỳ nhỏ, tương đương sức chứa của một sân vận động.

Nếu hiện tại, để có lãi, Nhã Nam đang được nuôi sống bởi một cộng đồng, giả sử là 60.000 - 70.000 "cá voi", thì việc mất đi khoảng 20.000 đến 25.000 người trong số này sẽ đẩy họ xuống dưới ngưỡng hòa vốn và khởi động vòng xoáy tử thần.

Nhưng "cái chết" còn đến nhanh hơn cả con số. Việc mất đi 20.000 độc giả trung thành không chỉ là mất đi 20.000 * 3 triệu = 60 tỷ doanh thu. Nó còn có nghĩa là:

  • Mất đi 20.000 người marketing miễn phí: Những người này sẽ ngừng viết review, ngừng giới thiệu sách.

  • Có thêm 20.000 người anti: Họ không chỉ im lặng, họ sẽ tích cực cảnh báo người khác không mua hàng.

  • Mất đi sự chính danh về văn hóa: Khi những độc giả sành sỏi nhất quay lưng, cái mác "NXB văn hóa" của Nhã Nam sẽ chỉ còn là một cái vỏ rỗng.

Vì vậy, câu trả lời không phải là một con số chính xác.

Nhưng dựa trên những phân tích này, một sự sụt giảm từ 30-40%trong nhóm độc giả hạt nhân là đủ để gây ra một cuộc khủng hoảng tài chính không thể cứu vãn.

Cái "chợ" của họ thực sự rất nhỏ và mong manh. Sức mạnh lớn nhất của họ – một cộng đồng độc giả trung thành và cuồng nhiệt – giờ đây đã trở thành gót chân Achilles chí mạng nhất.

Khi mày nghe mấy câu của đám Seeder kiểu “vắng mợ thì chợ vẫn đông” hay đe doạ kiện ra toà thì đừng run, tụi nó đang sợ đó.

Cái thị trường sách Việt Nam nơi mà phần lớn người dân chỉ biết cầm sách giáo khoa, chỉ có 1 số ít thành phần tri thức trẻ chịu bỏ số tiền 150-300k thậm chí 500-800k cho một cuốn sách mà họ quay lưng thì?

Chết chắc.

Địa chỉ mua sách Nhã Nam - Sách Nhã Nam

Để tao lấy mấy con số liệu ra cho mày nhìn thấy được sự thật chua chát thế nào với Nhã Nam và phần còn lại trên thị trường.

Một người Việt Nam trung bình chỉ đọc khoảng 1.2-1.4 cuốn sách mỗi năm, nếu trừ đi 2.8 cuốn sách giáo khoa. Thậm chí một thống kê khác còn chỉ ra có tới 26% dân số hoàn toàn không đọc sách và 44% chỉ thỉnh thoảng mới đọc.

Đây là một thị trường còi cọc, một nền văn hóa đọc yếu ớt.

Trong cái chợ èo uột đó, ai là người mua hàng thực sự?

Chắc chắn không phải là đám đông 70% (26% + 44%) kia.

Người mua hàng, người nuôi sống cả ngành xuất bản sách dịch như Nhã Nam, chính là cái nhóm tao đã chỉ ra: một bộ phận thiểu số, chủ yếu là người trẻ 9x hoặc Gen Z, có học thức, tập trung ở thành thị, những người sẵn sàng bỏ ra từ 150.000 đến 800.000 đồng cho một cuốn sách mà họ tâm đắc.

Nhóm này tuy nhỏ về số lượng nhưng lại nắm giữ hai thứ quyền lực tối thượng: quyền lực tài chính và quyền lực định hình dư luận.

Nhã Nam Books N' Coffee: Cà phê sách dành cho các "mọt" tại Sài Gòn

Về tài chính, họ là những "cá voi" của thị trường.

Một người trong nhóm này có thể chi cho sách trong một năm nhiều hơn cả trăm người khác gộp lại.

Họ là người mua những ấn bản bìa cứng, những bộ sách (boxset) đắt tiền, những cuốn sách kén độc giả.

Họ chính là nguồn lợi nhuận thực sự, là dòng máu nuôi sống mô hình kinh doanh "lấy sách ngoại văn" của Nhã Nam.

Nhưng quyền lực tài chính không đáng sợ bằng quyền lực định hình dư luận.

Trong một thị trường mà phần lớn người dân không có thói quen tìm hiểu và lựa chọn sách, họ mua sách dựa vào đâu?

Dựa vào review, vào những lời giới thiệu, vào những cuộc thảo luận trên mạng.

Và ai là người tạo ra những cuộc thảo luận đó?

Chính là nhóm "tri thức trẻ" kia.

Họ là những người đọc, người viết review, người tham gia các hội nhóm, người tạo trend.

Họ là đội quân marketing không được trả lương nhưng lại hiệu quả nhất.

Họ có khả năng biến một cuốn sách vô danh thành best-seller, và cũng có khả năng biến một nhà xuất bản uy tín thành trò cười.

Khi Nhã Nam và đám seeder của họ nói "vắng mợ thì chợ vẫn đông", đó là một lời nói dối tự lừa mình.

Họ biết thừa nếu "mợ" (tức nhóm độc giả hạt nhân kia) quay lưng, thì cái "chợ" của họ sẽ sập ngay tức khắc. Đám đông im lặng ngoài kia không mua sách của họ.

Doanh thu của họ đến từ chính những người mà họ đang coi thường.

Và khi họ doạ kiện, đó là hành động của một kẻ đã thua trong cuộc chiến về lý lẽ và chất lượng.

Khi mày không thể dùng sản phẩm tốt để thuyết phục khách hàng, mày phải dùng đến luật sư để bịt miệng họ. Đó là sự thừa nhận thất bại một cách công khai nhất.

Họ sợ những bài phân tích sâu sắc về chất lượng dịch thuật, những bài bóc mẽ lỗi sai, vì những bài viết đó đánh thẳng vào uy tín và làm xói mòn lòng tin của nhóm khách hàng hạt nhân.

Một khi nhóm "tri thức trẻ" này đồng loạt quay lưng, hiệu ứng domino sẽ xảy ra. Họ sẽ ngừng mua, ngừng review, ngừng giới thiệu.

Thay vào đó, họ sẽ chỉ trích, cảnh báo và tẩy chay.

Dòng tiền sẽ cạn kiệt. Uy tín thương hiệu sụp đổ. Các tác giả và NXB nước ngoài khi thấy đối tác của mình bị chính cộng đồng độc giả ruột thịt ruồng bỏ cũng sẽ phải cân nhắc lại.

Cái viễn cảnh đó, không nghi ngờ gì nữa, chính là "chết chắc".

Vòng tròn quyền lực chính trị có thể bảo vệ họ khỏi pháp luật, nhưng không có một quyền lực nào có thể bảo vệ một doanh nghiệp khỏi sự quay lưng của chính những khách hàng nuôi sống nó.

Vậy đọc xong rồi, ngày mai mày đứng trước 1 đầu sách ngoại văn hấp dẫn mới ra lò từ Nhã Nam có mua nữa hay không?

Câu hỏi đó mày tự đi mà trả lời.

Cập nhật mới:

Chỉ khoảng nửa ngày trước khi bài viết phía trên đây được publish trên VietTalk, yêu râu xanh Nguyễn Nhật Anh đã đội mồ trỗi dậy từ cõi chết, và mọi nỗ lực tẩy chay Nhã Nam của cộng đồng và độc giả có vẻ vẫn như chưa đủ “thấm” để có thể đưa sự nghiệp của Nhật Anh xuống lỗ, buồn thay.


Subscribe to r/VietTalk

Launched 10 months ago
The vietnamese philosopher.
Phuchh's avatar
QuangNguyen's avatar
Huan Nguyen's avatar
sophie(ticated)'s avatar
Trang Nhung Nguyen Vu's avatar
354 Likes∙
77 Restacks
Vingroup đang ôm đống nợ 805.820 tỷ VND (31 tỷ đôla) làm con tin để ép cả đất nước phải cứu sống nó.
Đây là màn kịch"tay phải mua, tay trái bán" kinh điển, mày không hề bị ngu khi đám Seeder cười cợt, tao sẽ chứng minh cho mày thấy đó là một sự…
Aug 7, 2025 • Bocchi981
Màn kịch bắt cóc Thủ đô để cứu một Chaebol nửa mùa khỏi phá sản: Vinfast, Chỉ thị 20, Vành Đai 1 có gì liên quan với nhau?
Đây là câu chuyện về một con nợ đầm đìa sẵn sàng làm mọi thứ để sống còn kể cả chà đạp lên người dân và mặt mũi chế độ nuôi nó lớn.
Jul 15, 2025 • Bocchi981
VinSpeed "tay không bắt giặc"mà đòi lấy 61,67 tỷ đôla trong 35 năm không lãi và ai phải gánh nợ cho nó?
Đằng sau mỗi gia sản kếch xù là một tội ác - Honoré de Balzac
Aug 19, 2025 • Bocchi981

Ready for more?

© 2026 Bocchi981 · Privacy ∙ Terms ∙ Collection notice
Start your SubstackGet the app
Substack is the home for great culture