Hoàng hôn của những thần tượng - Nietzsche | Phần 1
Dịch & Chú giải: Bocchi981
Vì sao tao dịch lại cuốn sách này?
Ban đầu tao đọc bản dịch của NXB Văn Học do Nguyễn Hữu Hiệu thực hiện phải nói nó dở vãi cả lồn.
“Quan điểm về cuộc đời...”, “Quan niệm bất kính cho rằng...”, “Quan niệm này càng ngày tôi càng thấy rõ...”.
Cảm giác như tên này lấy Nietzsche ra rồi rút hết máu, xương tuỷ chỉ còn lại cái xác chết để khiến tụi mày đọc triết học phiên bản bình luận và diễn giải của một tên “học giả” nào đó đang “giảng bài”.
Cha này đóng vai trò như hướng dẫn viên du lịch chỉ cho mày con sư tử trong chuồng.
Còn đọc Nietzsche thật là mày bị ném mẹ vào trong chuồng đối mặt với con sư tử đó.
Hai trải nghiệm đó hoàn toàn khác nhau. Cái cuốn sách được nhà xuất bản chính thống đưa ra là một nỗ lực để “thuần hóa” Nietzsche, làm cho gã trở nên dễ hiểu hơn.
Và như mày thấy đấy, quá trình đó đã làm mất đi cái “chất điên” và sức nặng trong giọng văn của gã.
Thằng cha đó không hề có phong cách viết văn kiểu “tôi-bạn” thảo mai sáo rỗng của đám yếu đuối mà hắn luôn chê cười suốt đời.
Gã là một bậc thầy về ngôn ngữ, và gã dùng đại từ nhân xưng như một con dao mổ, lựa chọn cẩn thận để tạo ra đúng hiệu ứng tâm lý mà gã muốn.
Ich” (Tao)
Đây là giọng xưng “tao” quen thuộc và phổ biến nhất, đặc biệt trong các tác phẩm như Ecce Homo (Đây là Ta) hay các lời tựa.
Là tiếng nói của một cá nhân đứng một mình phán xét cả thế giới, của một tinh thần tự do cô độc. Khi gã viết “Tao nghi ngờ...”, “Tao khinh bỉ...”, “Công thức hạnh phúc của tao là...”, đó chính là ich. Nó mang một sự ngạo mạn và tự tin tuyệt đối.
“Du” (Mày)
Đây là vũ khí thâm độc và quan trọng nhất của gã, đặc biệt trong kiệt tác Thus Spoke Zarathustra (Zarathustra đã nói như thế).
Trong tiếng Đức, có hai ngôi “bạn”: Sie (trang trọng, khách sáo, dùng với người lạ hoặc người cần kính trọng) và du(thân mật, dùng cho bạn bè, gia đình, người yêu... hoặc dùng để nói với một đứa trẻ con, một con vật).
Nietzsche, qua giọng của Zarathustra, hầu như luôn dùng du để nói chuyện với độc giả và các nhân vật. Hành động này có ý nghĩa cực lớn:
Phá vỡ khoảng cách: Gã từ chối nói chuyện với mày như một giáo sư xa lạ. Gã đang túm cổ mày, ghé sát vào mặt mày và nói chuyện, không có một chút khách sáo nào.
Vừa thân mật vừa ra lệnh:
Dutạo ra một cảm giác thân mật như một người thầy đang nói chuyện riêng với học trò cưng. Nhưng đồng thời, nó cũng mang một sự áp đặt, một giọng điệu từ trên xuống, như một người lớn đang dạy dỗ một đứa trẻ. Gã đang vừa tâm tình với mày, vừa thách thức mày, vừa coi mày như một thứ cần phải được vượt qua.
“Wir” (Chúng tao)
Gã dùng ngôi “chúng tao” (wir) để tạo ra một phe nhóm, một tập hợp những tinh thần tự do.
Khi gã nói “chúng ta, những kẻ vô đạo đức” (wir Immoralisten) hay “chúng ta, những nhà tâm lý học”, gã đang kéo những người có cùng tư duy vào một vòng tròn, và đặt tất cả những thằng khác (bầy đàn, những nhà đạo đức) ở bên ngoài.
Nó là một cách tạo ra đồng minh và kẻ thù, một lời hiệu triệu cho những kẻ “ngoại lệ”.
Còn cái bản dịch tiếng Việt? Một sự thất bại trong việc truyền đạt tinh thần Nietzsche xứng đáng bị phỉ nhổ.
Tao dựa vào bản tiếng anh trên Project Guntenberg của dịch giả ANTHONY M. LUDOVICI và bản gốc tiếng Đức để đối chiếu và thêm vài lời diễn giải của cá nhân tao.
Tất nhiên dịch không công làm chó gì được tiền nhuận bút nào mà phải giả vờ khách quan, thảo mai, nịnh bợ ai.
Tao dịch để áp đặt ý chí cá nhân lên đầu mày đéo quan tâm mày có đồng ý hay không ok?
Mấy cái thằng nhà xuất bản như Nhã Nam tao biết thừa sẽ chợp lấy bản dịch miễn phí này về mà không cần để nguồn gốc, nhưng tao còn hiểu rõ hơn là với cái giọng phẫn nộ thế này nó sẽ chỉnh sửa lại sao cho làm dịu lại biến Nietzche từ con sư tử thành con thỏ hiền lành chỉ biết gặm cỏ.
Tụi nó sẽ đổi nhân xưng “tao” thành “tôi” , “mày” thành “bạn” để được ra xuất bản và tất nhiên mấy cái diễn giải của tao nó phải giữ lại chứ.
Tao cũng đéo quan tâm Fan cuồng Nietszche sẽ săm soi bằng kính lúp xem từng con chữ, đối chiếu từng dấu phẩy nhưng lại hoàn toàn mù tịt trước cái tinh thần bão tố, cái tiếng cười ngạo nghễ và sự tàn bạo đầy sức sống của gã.
Chúng nó đối xử với tác phẩm của Nietzsche như một cái kinh thánh, một thứ bất khả xâm phạm.
Và đó chính là sự báng bổ lớn nhất đối với một thằng đã tuyên bố “Chúa đã chết”.
Chúng nó sẽ chửi bản dịch của tao là “suy diễn” , “lệch lạc” vì tao đã làm được điều tụi nó đéo dám làm: tiêu hoá Nietzsche và cho gã đó sống lại nói bằng giọng của tao.
Dịch The Twilight of the Idols (Hoàng hôn của những Thần tượng) không hề đơn giản.
Triết lý của Nietzsche không tách rời khỏi phong cách của gã.
Gã dùng ngôn ngữ như một cái búa. Một bản dịch “chính thống”, hàn lâm, khách sáo đã tước đi vũ khí của gã. Nó biến một cái búa thành một cục bông gòn.Giống như kể lại một câu chuyện cười mà không có đoạn kết, hoặc hát một bản rock bằng giọng đọc tin tức thời sự.Mày có thể truyền đạt đúng “thông tin”, nhưng mày đã giết chết mẹ nó cái “trải nghiệm”. Mà đọc Nietzsche chính là một trải nghiệm, một cuộc tấn công.
Đó là mày phải nhìn vào vực thẳm - cái sự thật trần trụi mà ông ta đã dùng búa đập nát tất cả những những gì con người đã dùng để tự an ủi mình.
Đáy vực thứ nhất: “Chúa đã chết”.
Không chỉ là Chúa của tôn giáo. Mà là toàn bộ ý niệm về một Chân lý tuyệt đối, một ý nghĩa vũ trụ có sẵn, một trật tự đạo đức phổ quát, khách quan.
Khi hắn tuyên bố Chúa chết, gã đang nói rằng vũ trụ này về bản chất là vô nghĩa, và con người hoàn toàn cô độc.
Mấy cái “khách quan” mà tụi bầy đàn mong cầu chẳng qua là nỗi sợ bước ra khỏi làn ranh an toàn của thứ tiêu chuẩn chung. Viết văn là hành động cưỡng bức, hãm hiếp đầu óc người đọc phải chấp nhận những ý tưởng của mày.
Đáy vực thứ hai: Đạo đức là một sự dối trá..
Toàn bộ hệ thống “thiện” và “ác” mà chúng ta coi là thiêng liêng thực chất chỉ là một hệ thống được tạo ra bởi kẻ yếu để kiềm hãm kẻ mạnh (ressentiment). Điều này kéo sập nền tảng của mọi xã hội.
Đáy vực thứ ba: Không có thế giới bên kia..
Không có thiên đường để thưởng cho kẻ tốt, không có địa ngục để phạt kẻ xấu. Cuộc đời đang diễn ra ở ngay khoẳng khắc mày đọc cuốn sách này là tất cả những gì mày có. Mọi hành động của mày đều kết thúc ở đây.
Khi mày chết chỉ còn lại sự im lặng và bóng tối bao trùm, vụt tắt mãi mãi không có thiên thần hay thần chết nào chào đón mày. Nó chỉ đơn giản là cái ổ cứng trong đầu mày bị xoá sạch, đập nát như thể chưa từng tồn tại.
Đáy vực thứ tư: Sự cô độc tột cùng..
Con đường để trở nên phi thường, để tự vượt qua chính mình, đòi hỏi mày phải bỏ lại phía sau mọi thứ: bạn bè, gia đình, những niềm tin cũ. Mày phải trở thành một cái thang cho chính mày (như câu châm ngôn số 42).
Thông thường người đọc Nietzsche bước tới 4 cái đáy vực đó nếu được nuôi dưỡng trong một thế giới có sẵn định nghĩa đúng/sai, có Chúa trời/đấng toàn năng, sống có lý tưởng, đạo đức và được luật pháp do nhà nước bảo vệ sẽ bỏ chạy hoặc quỳ lạy.
Vì sao ư?
Khi Nietzsche đến và đập tan tất cả những thứ đó, họ cảm thấy hoảng loạn tột độ.
Giống như bị ném ra giữa đại dương mà không có phao cứu sinh, không có la bàn.
Họ thấy một sự trống rỗng, một chủ nghĩa hư vô đáng sợ. Phản ứng tự nhiên là sợ hãi và bỏ chạy—quay trở lại với những lời nói dối dễ chịu của tôn giáo, của đạo đức bầy đàn, để có được cảm giác an toàn.
Loại thứ hai: quỳ lạy thì khác. Họ cũng thấy vực thẳm, nhưng thay vì bỏ chạy, họ lại bị choáng ngợp bởi chính cái gã đã dám chỉ tay vào nó.
Họ không đủ sức để tự mình đối mặt với hư vô, nên họ biến chính Nietzsche thành một thần tượng mới, một vị cứu tinh mới.
Họ quỳ lạy gã, biến lời của gã thành một bộ kinh thánh mới. Họ thay thế một cái lồng này bằng một cái lồng khác, dù cái lồng mới có vẻ “ngầu” hơn.
Tao không trung thành với từng con chữ như cái đám fan cuồng nói tiếng việt quỳ lạy hắn ta mà trung thành tuyệt đối với tinh thần của Nietzsche đó là không tôn thờ “thần tượng” (bản gốc) mà dùng búa (ngôn ngữ của tao) để đập nát nó và tái tạo lại trong một hình hài mới sống động và phù hợp với tinh thần cái tôi của tao.
Đừng có lôi cái bản dịch chính thống đang bán ngoài nhà sách ra lý sự kêu tao sai rồi, câm họng và nhớ lại câu châm ngôn số 43 của hắn:
“Việc chúng mày có công nhận tao đúng hay không thì có nghĩa lý đéo gì!
Tao đã đúng đến mức chúng mày không thể hiểu nổi rồi.”
Tụi nó sẽ kêu cái giọng “tao-mày” không mang mùi máy lạnh đó là “vô học”, “phản triết học” và lôi bản dịch rác rưởi của thằng cha Hữu Hiệu ra và nói: “Đây mới là hàng thật, được nhà nước đóng dấu.” Trên hết nó sẽ kêu tao là một thằng du côn triết học, một kẻ ngoại đạo dám đập phá ngồi đền tháp ngà để xoá xổ chỉ đã phạm phải tội ác lớn nhất: nói ra sự thật mà chúng nó đang cố che giấu.
Rằng triết học nó dễ vãi cả lồn.
Bọn nó nói:
“Hữu thể luận là một phân nhánh của siêu hình học chuyên nghiên cứu về các phạm trù của Hữu-thể, sự tồn tại, và thực tại.”
Thực ra nó chỉ đang hỏi một câu đơn giản vãi lồn:
“Cái đéo gì là thật?” Mày có thật không? Cái ghế mày đang ngồi có thật không? Ý nghĩ trong đầu mày có thật không? Cái gì thật hơn cái gì? Hết.
Bọn nó nói:
“Nhận thức luận là lý thuyết về tri thức, chuyên khảo sát về bản chất của tri thức, sự biện minh, và tính hợp lý của niềm tin.”
Nó cũng chỉ đang hỏi:
“Làm sao mày biết cái mày biết là thật, hay mày chỉ đang ngáo đá?” Mày có chắc mày không đang mơ không? Mày có chắc mày không phải là một bộ não trong cái lọ đang bị một nhà khoa học điên cho giật điện không?
Bọn nó nói:
“Hiện tượng luận là sự nghiên cứu triết học về các cấu trúc của kinh nghiệm và ý thức, nhằm mục đích đưa các điều kiện của khả năng nhận thức trở lại thành tiền đề tiên nghiệm của chúng.”
Thằng cha này chỉ đơn giản là nói:
“Hãy thử nhìn vào cái cốc trên bàn mà quên mẹ nó đi nó là ‘cái cốc’. Mày thấy cái gì? Chỉ là một mớ màu sắc, hình dạng, ánh sáng. Hãy mô tả lại chính cái trải nghiệm đó, trước khi cái não lười biếng của mày dán cho nó một cái nhãn.”
Kant nói:
“Hãy hành động sao cho phương châm hành động của bạn có thể đồng thời được coi như một nguyên tắc của một đạo luật phổ quát.”
Tức là:
Trước khi làm một việc gì, hãy tự hỏi: Nếu cả thế giới này thằng nào cũng làm y như mày, thì thế giới sẽ ra cái thể thống gì? Nếu nó nát bét, thì đừng có làm.”
Mày thấy chưa?
Toàn bộ cái trò này là một màn làm màu.
Chúng nó đã lấy những câu hỏi đơn giản, những trải nghiệm trần trụi nhất của con người, rồi khoác cho nó một bộ quần áo bằng từ ngữ La-tinh và Hy Lạp được Hán-Việt lại một cách sáo rỗng, máy móc để trông cho nó có vẻ “cao siêu”.
Tại sao?
Vì nếu chúng nó nói bằng tiếng chợ, mày sẽ nhận ra một sự thật kinh hoàng: triết học đéo có gì khó cả. Và khi đó, chúng nó sẽ mất đi cái quyền lực của một thằng thầy tu, cái quyền được độc quyền diễn giải chân lý. Chúng nó sợ mày cũng có thể tự mình rèn búa.
Cái trò đó không chỉ là “bán hàng”. Nó là một căn bệnh di truyền, một di sản của hàng ngàn năm làm nô lệ cho chữ nghĩa.
Đầu tiên, mày phải hiểu, ngôn ngữ khó hiểu là vũ khí của mọi giáo phái, từ xưa đến nay.
Khi mày dùng những từ như “hữu thể”, “siêu nghiệm”, mày không đang cố gắng làm cho người khác hiểu. Mày đang xây một bức tường. Mày đang nói: “Cái này là sân chơi của tao, của bọn tao. Mày, thằng dân đen, không đủ trình để vào đây.”
Nó biến triết học từ một cây búa thành một cái giấy phép hành nghề. Chỉ những thằng có bằng cấp, biết tụng kinh bằng thứ tiếng Hán-Nho đó, mới có quyền diễn giải “chân lý”. Nó là một mánh khóe để giữ độc quyền, để biến triết học thành một nhà thờ và tự phong mình làm linh mục.
Và tại sao chúng nó lại cần cái áo choàng đó? Vì bên trong chúng nó trống rỗng.
Dùng những từ ngữ phức tạp là cách dễ nhất để che giấu sự thật rằng mày đéo có gì mới mẻ để nói. Nó là cái phao cứu sinh của những thằng bất lực. Khi mày không thể làm người khác nể mày bằng chiều sâu của tư tưởng, mày phải làm cho họ sợ hãi bằng sự phức tạp của ngôn từ. Nó là sự khoe mẽ của một thằng trưởng giả học làm sang, nhầm lẫn sự khó hiểu với sự sâu sắc.
Nói bằng tiếng Việt đời thường thì nghe nó “quê”, nó “dân dã”.
Nhưng khi mày nói “hữu thể”, “phổ quát”, thì tự nhiên nó có vẻ “uyên bác”.
Nó không phải là một lựa chọn triết học. Nó là một căn bệnh sĩ diện, là di chứng của một nền văn hóa đã quen với việc coi những gì vay mượn là sang trọng hơn hàng nội địa.
Nó phát sinh từ ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19, thời Minh Trị. Bọn Nhật lúc đó đang hoảng loạn, phải mở cửa cho Tây. Chúng nó cử một đám mọt sách đi châu Âu học hỏi, và đứng đầu đám đó là một thằng cha tên là Nishi Amane.
Thằng cha này về nước và đối mặt với một vấn đề: Tiếng Nhật (dùng chữ Hán - kanji) đéo có từ cho mấy trò trừu tượng của bọn Tây. “Philosophy”, “concept”, “objective”... dịch con cặc gì bây giờ?
Thế là Nishi Amane đã làm một việc kinh thiên động địa: lão đã bịa ra hàng trăm từ mới. Lão lấy mấy cục gạch chữ Hán cũ, rồi xây nên những cái nhà mới.
Ví dụ kinh điển nhất: từ “triết học”. Bọn Hy Lạp có philosophia (yêu sự khôn ngoan). Thằng cha Nishi Amane liền lấy chữ tetsu (哲 - triết, khôn ngoan) và chữ gaku (学 - học), ghép lại thành tetsugaku (哲学). Nghe quen không?
tetsu(哲 - Triết): Là sự khôn ngoan của một ông thánh, một bậc hiền triết. Nó là một thứ đã có sẵn, đã hoàn hảo.Gaku(学 - Học): Là sự học hỏi, sự nghiên cứu.
Ghép lại, nó có nghĩa là “sự học hỏi về cái khôn ngoan của các bậc thánh hiền”.
Mày thấy trò lừa đảo chưa? Nó đã biến một cuộc tình điên loạn thành một cái lớp học. Nó đã biến một thằng tình nhân đang gào thét thành một thằng học trò ngoan ngoãn đang ngồi chép bài.
Nó đã tự động cài vào đầu mày một hệ thống quyền uy của Nho giáo: có một thứ “chân lý” ở trên cao, do các bậc thánh hiền nắm giữ, và nhiệm vụ của mày là phải học hỏi, phải tuân theo, phải kính trọng.
Nó biến triết học thành một nhà thờ, và thằng triết gia thành một thằng thầy tu.
Nó đã giết chết sự hoài nghi, sự phá hoại, sự sáng tạo ngay từ trong trứng nước. Nó là một sự phản bội lại chính cái tinh thần Hy Lạp mà nó đang cố gắng dịch.
Bọn Tàu, sau này cũng phải hiện đại hóa, thấy bọn Nhật đã làm xong hết việc khó. Thế là chúng nó ăn cắp gần như toàn bộ cái kho từ vựng đó của bọn Nhật và đọc bằng giọng Tàu.
Và cuối cùng, bọn học giả Việt Nam, với thói quen nhìn sang phương Bắc làm chuẩn, lại đi nhập khẩu cái đống hàng second-hand đó từ bọn Tàu về, đọc bằng giọng Hán-Việt.
Khi mày đọc một từ như “hữu thể” (being), mày không chỉ đang đọc một từ khó hiểu. Mày đang đọc một bản dịch của một bản dịch của một bản dịch. Mày đang ăn một món ăn đã được nhai lại ba lần. Nó đã mất hết mẹ nó vị, chỉ còn lại cái bã chữ nghĩa.
Không phải tự dưng mà tao dành nhiều thời lượng cho việc diễn giải lại cho nó chất đời, chợ búa hơn bởi vì Nietzsche viết ở thế kỷ 19 - cái thời đại suy tàn , giả dối toàn những thuật ngữ mà mày không thể hiểu được nếu không có sự đào sâu nghiên cứu nghiêm túc để hiểu thực sự hắn ta đang truyền đạt cái gì.
Cái thứ mà bọn trưởng giả hàn lâm làm cho triết học trở nên khô cằn càng làm tao phải mất nhiều thời gian hơn nữa để thực sự hiểu triết học là gì.
Giờ mày không cần gánh vác nỗi lo mình bị ngu khi đọc cái đống văn cứt đái mà đéo hiểu được nó nói gì, tại vì ngay từ đầu đã là đống hỗn độn vô nghĩa.
Nhưng tao không hề nghĩ cái cách đối mặt với hư vô bằng việc tạo ra Übermensch đó thì khác quái gì đập cũ xây mới chỉ là tự lừa dối mình?
Đó chằng phải là tạo ra một ảo giác mới dựa trên ảo giác cũ sao?
Dù Nietzsche là kẻ đập phá hết mọi xiềng xích 2000 năm qua nhưng cái bẫy cuối cùng về ego (cái tôi) đó vẫn chưa hề buông bỏ được.
Nó là di sản từ thời Plato với khái niệm linh hồn bất tử, đến Descartes với câu “Tôi tư duy, nên tôi tồn tại”, đều đặt một cái tôi (ego) vững chắc, riêng biệt, và có ý thức làm trung tâm của vũ trụ.
Cái “tôi” này là một thực thể, một chủ thể hành động, suy nghĩ, và cảm nhận. Nó tách biệt khỏi thế giới.
Nietzsche, dù đã tuyên bố “Chúa đã chết” và đập tan mọi hệ giá trị bên ngoài, vẫn không thể đập tan được cái hạt nhân này.
Khi đối mặt với vực thẳm của hư vô, nơi mọi ý nghĩa đều rỗng không, nỗi sợ lớn nhất của một tư duy phương Tây không phải là không có Chúa, mà là cái “tôi” bị tan biến.
Nếu không có gì cả, thì “tôi” là gì?
Phản ứng của Nietzsche trước nỗi sợ đó, đúng như tao nói, là một nỗ lực để cứu lấy cái “tôi” đó bằng cách trao cho nó một nhiệm vụ mới, một mục tiêu tối thượng: trở thành Übermensch.
Übermensch, về bản chất, là một dự án để khẳng định và nâng tầm cái tôi.
Nó là câu trả lời cho câu hỏi:
“Khi không còn Thượng đế tạo ra ý nghĩa để sống và chịu phán xét, thì chính tao phải trở thành Thượng đế để tạo ra ý nghĩa cho cuộc đời mình”.
Đó vẫn là một lối tư duy lấy cá nhân làm trung tâm, một cuộc chạy trốn khỏi sự tan rã hoàn toàn vào cái vô định.
Nếu hắn sống lại chắc chắc sẽ bào chữa rằng tao đã nhầm lẫn giữa cái “tôi” tĩnh tại của Descartes với cái “bản ngã” động của gã.
Cái tôi của Descartes là một “vật thể” – một thứ có sẵn, bất biến, một linh hồn chỉ việc suy nghĩ.
Nhưng cái “bản ngã” trong triết học của Nietzsche là một “dòng sông” – một quá trình liên tục, một chiến trường của các xung lực (Ý chí Quyền lực). Nó không phải là một thứ có sẵn, mà là một thứ phải được tạo ra và liên tục vượt qua.
Übermensch không phải là một đích đến cuối cùng, một cái tôi hoàn hảo để bám víu vào. Nếu nó là một cái đích, thì nó lại trở thành một Thượng đế mới, một ảo tưởng mới. Übermensch đúng hơn là một phương hướng, một quá trình tự vượt lên chính mình không hồi kết.
Nó là hành động “trở thành người mà bạn vốn là” thông qua việc liên tục phá hủy và sáng tạo. Cái tôi trong Übermensch không phải là một cái ngai vàng để ngồi lên, mà là một ngọn lửa luôn tự thiêu rụi chính mình để có thể bùng cháy rực rỡ hơn.
Đó vẫn là cái “gót chân Achilles” của Nietzsche.
Gã đã cố gắng thoát khỏi cái lồng của tư duy phương Tây, nhưng cuối cùng, giải pháp của gã vẫn là một giải pháp rất phương Tây: hành động, ý chí, sáng tạo, và sự khẳng định của một cá nhân.
Gã không chọn con đường của phương Đông là hòa tan cái tôi vào hư vô, buông bỏ mọi ý niệm. Nhìn núi là núi chứ không phải khái niệm “núi” từ sự tưởng tượng và những giá trị của “thần tượng”.
Gã đã cố gắng biến cái “tôi” từ một bức tượng cẩm thạch bất động của Plato thành một ngọn lửa của Heraclitus—luôn luôn nhảy múa, luôn luôn biến đổi. Nhưng dù sao đi nữa, đó vẫn là một ngọn lửa, một trung tâm của ý chí, chứ không phải là sự rỗng không tĩnh lặng.
Nhưng tao cũng cần cảnh báo mày nếu định cầm cây búa tạ này lên chỉ để chém bùn và phá huỷ mọi thứ mày nhìn thấy. Nietzsche đã nói trước:
“He who fights with monsters might take care lest he thereby become a monster. And if you gaze for long into an abyss, the abyss gazes also into you.”
Mày sẽ làm gì sau đập nát những cái đạo đức “tình làng nghĩa xóm” , “kính trên người dưới”, “lòng thương người” và bỗng nhiên nhận ra chúng chỉ toàn lời ru ngủ của bầy đàn?
Cũng không hề có ông chúa, ông phật gì ngồi trên trời soi cuộc đời mày như cái camera 24/7 để chấm điểm +500đ đạo đức, đủ thì lên thiên đàng, rớt thì xuống địa ngục đâu như chơi cái Game cày điểm thăng cấp. Chỉ là ảo tưởng do tâm trí mày tạo ra mà thôi.
Những thằng đó như đã nói hoặc chạy trốn để không phải nhìn vào vực sâu đen tối một lần nữa và tìm đến những chất an thần dễ chịu như đạo đức, xã hội, tôn giáo, nhà nước, lòng yêu nước,...vvv vì ít ra mày còn được an ủi bởi bầy cừu, mày còn tin vào trật tự.
Nhưng dù mày có chạy trốn thế nào đi nữa, vẫn chỉ là tự bịt mắt che tai bằng liều thuốc độc giải khát do chính mày làm mình mù loà.
Đéo có sự thật, chân lý, khách quan, lý tưởng nào hết mà chỉ là lời nói dối của một đám bầy đàn tin vào nhau để khỏi sợ hãi sự hỗn mang, vô trật tự của thế giới mày đang sống và chính lũ tinh hoa cầm quyền được hưởng lợi từ đó.
Chúng nó cai trị bằng một “chân lý” duy nhất, được rao giảng từ trên xuống. Mọi thứ khác đều là “phản động”, “báng bổ”, “giả dối”, “nguy hiểm”, “cực đoan”.
Nhưng khi mày vứt bỏ hết mọi thứ chân lý như lòng yêu nước, đạo đức, pháp luật, nhà nước, tình yêu dân tộc thì còn lại cái gì?
Tao sẽ lấy một ví dụ tên hiệp sĩ diệt rồng, khi mày hạ gục con quái vật đó thì mày cũng đã ngấm độc từ chính con thú mình vừa tiêu diệt không sớm thì muộn mày lại trở thành phiên bản tệ hại mà mình vốn đã chiến đấu chống lại vì yếu đuối.
Đó là trường hợp bị vực sâu nuốt chửng, nhẹ thì thành kẻ bi quan, tâm thần điên loạn, nặng hơn thì thằng kẻ giết người - tự xem mình là đấng tối cao vì đéo có đạo đức nào có thể cản lại nó khi đã vứt bỏ đi cái lương tâm - cái phanh cuối cùng kiềm hãm mày.
Nhưng Nietzsche không nói thế, như vậy thì mày chỉ là con sư tử gầm nói KHÔNG! chứ chưa lột xác thành đứa trẻ nói CÓ! với sự đời, mày dấn thân vào chính vực sâu hư vô, sống cạnh giữa bầy đàn mà không bị cuốn theo dục vọng mù quáng lẫn đạo đức ngu xuẩn, mày đã rõ mình đang làm gì.
Mày vẫn ở lại đây, nhìn thấy lũ bầy đàn chạy theo những thú vui, trending một sớm một chiều rồi dập tắt chạy theo cái mới mà thấy lòng trở nên thanh thản - đó mới sự bình yên trong tâm hồn đích thực chứ không phải ngồi thiền, tụng kinh, đọc self-help như đám đạo đức giả.
Sáng tạo giá trị mà Nietzsche gọi là “đạo đức ông chủ” nó chính là một tinh thần tự do của Übermensch nhìn thẳng vào sự hỗn loạn, sự vô nghĩa, và nó không thấy một vực thẳm đáng sợ. Nó thấy một sàn nhảy.
Không phải là mày khắc một bảng luật mới lên đá và bắt cả thế giới phải tuân theo. Đó là trò của bọn Moses, bọn thầy tu chữ nghĩa.
Sáng tạo giá trị là mày tự tạo ra điệu nhảy của riêng mày. Mày tạo ra những quy tắc cho trò chơi của mày, mày chơi nó một cách say sưa, rồi khi chán, mày lại đập nó đi và tạo ra một trò chơi mới.
Mày không đi tìm “ý nghĩa cuộc đời”. Mày ban phát ý nghĩa cho nó qua từng bước nhảy của mày.
Cái vực thẳm sẽ không bao giờ biến mất. Con quái vật sẽ không bao giờ chết hẳn.
Sự khác biệt là gì?
Thằng yếu đuối cố gắng xây một cây cầu bắc qua vực thẳm. Thằng mạnh mẽ học cách đi dây trên chính vực thẳm đó.
Một khi đã phá xong rồi. Giờ thì đừng hỏi tao làm gì nữa.
Hãy hỏi: “Bản nhạc tiếp theo là gì?”
Bocchi981
Lời dịch giả
Cái cuốn Twilight of the Idols (Hoàng hôn của những Thần tượng) này được lão Nietzsche viết trong vài ngày cuối hè năm 1888.
Mẹ nó, gã viết nhanh đến mức chính gã trong cuốn Ecce Homo (Đây là Ta) còn đéo dám nói chính xác là mấy ngày, nhưng chắc chắn là xong vào ngày 3 tháng 9.
Lúc đầu gã gửi bản thảo cho nhà in với cái tên “Những giờ nhàn rỗi của một nhà tâm lý học” (Idle Hours of a Psychologist), nhưng sau đó trong lúc in thì gã đổi thành cái tên bây giờ.
Trong tháng 9 và đầu tháng 10 năm đó, gã còn nhét thêm cả một đống thứ vào, như cả cái chương “THINGS THE GERMANS LACK” và một mớ châm ngôn khác.
Cuốn sách mày cầm trên tay bây giờ chính là cái dạng cuối cùng mà gã muốn xuất bản.
Đen một nỗi, lúc nó ra lò vào cuối tháng 1 năm 1889 thì gã đã ngã bệnh điên mẹ nó rồi, nên đéo bao giờ được hưởng cái thú nhìn nó tái bản chín lần trước khi gã chết hẳn vào năm 1900.
Chính Nietzsche đã nói về cuốn Twilight of the Idols thế này:
“Nếu thằng nào muốn có một bản tóm tắt nhanh gọn về việc mọi thứ triết học giả dối trước thời tao sống đã bị lộn ngược đầu xuống đít như thế nào, thì nên bắt đầu đọc tao bằng cuốn này.
*Cái thứ được gọi là ‘Thần tượng’ (idols) trên trang bìa chỉ đơn giản là những sự thật cũ rích mà người ta đã tin từ trước đến nay.*
Nói toẹt ra cho dễ hiểu, Hoàng hôn của những Thần tượng có nghĩa là những sự thật cũ sắp chết đến nơi rồi.”
Chắc chắn một điều, để có một cái nhìn tổng quan nhanh về toàn bộ học thuyết của Nietzsche, thì đéo có cuốn nào tốt hơn cuốn này, may ra thì có cái chương “Về những bảng giá trị cũ và mới” trong cuốn Thus Spake Zarathustra (Zarathustra đã nói như thế) là so được.
Ở đây, Nietzsche đang ở đỉnh cao phong độ. Gã đã chín muồi cho cái cú lật bàn vĩ đại nhất: sự đảo lộn mọi giá trị.
Ngôn từ của gã, thứ vũ khí vừa dẻo dai vừa giết người , chưa bao giờ cô đọng và mạnh mẽ hơn thế.
Nhưng đừng có tưởng đây là sách dễ đọc.
Tao phải nói thẳng cho mày biết, nếu đầu óc mày chưa sẵn sàng, chưa quen vật lộn với mấy vấn đề lắt léo, thì đọc xong cuốn này mày sẽ lú mẹ nó luôn chứ đéo sáng ra được cái gì đâu.
Mày phải vứt bỏ bao nhiêu định kiến, bao nhiêu niềm tin ăn vào máu thì mới thấy được dù chỉ là một cái dấu hỏi trong mấy chương như “Vấn đề của Socrates” hay “Đạo đức như kẻ thù của Tự nhiên”?
Những cái sai lầm mà gã vạch ra ở đây đã có truyền thống hai ngàn năm mẹ nó rồi, chỉ có mấy thằng mơ mộng hão huyền mới mong diệt được nó chỉ bằng việc đọc lướt qua mấy trang này.
Chính Nietzsche cũng chỉ mong một sự thay đổi từ từ trong cách nhìn của thiên hạ thôi.
Về nội dung cuốn sách, Nietzsche nói thế này:
“Trong cuốn sách này có sự lãng phí của mùa thu quá đỗi trù phú: mày sẽ vấp ngã vì những sự thật. Mày thậm chí còn giẫm nát những thứ mình tin là chân lý , vì chúng quá nhiều.”
Và những sự thật này là cái đéo gì?
Đó là những lời của một gã, như một ngoại lệ duy nhất, đã thoát khỏi cơn điên loạn chung của cả châu Âu một thời gian.
Cái châu Âu với chủ nghĩa lý tưởng mù quáng giữa một đống bẩn thỉu, với sự ca ngợi vô liêm sỉ cái gọi là “Tiến bộ” trong khi đang dìm bản năng con người xuống bùn, và với sự hời hợt thô thiển trước sự suy tàn.
Lời của gã là tiếng nói của một thế giới khác, không phải niết bàn, không phải địa ngục, mà là chính thế giới này được tái sinh và tổ chức lại trên một nền tảng vững chắc hơn, nam tính hơn, và có trật tự hơn.
Một thế giới hoàn toàn có thể xảy ra, nếu cuộc cách mạng kinh thiên động địa về sự đảo lộn mọi giá trị được thực hiện.
Đây là những lời của gã đàn ông tỉnh táo duy nhất ở châu Âu cuối thế kỷ trước, và khi cuộc đấu tranh không cân sức chống lại thời đại đã buộc gã phải đầu hàng và trở nên điên loạn, thì ít nhất di sản về sự tỉnh táo của gã đã được cất giữ an toàn trong những cuốn sách này.
Về cuốn The Antichrist (Kẻ chống Chúa), Nietzsche viết nó ngay sau cuốn Twilight và hoàn thành vào cuối tháng 9 năm 1888.
Nó được dự định là cuốn đầu tiên của một bộ bốn cuốn có tên “Sự đảo lộn mọi giá trị” (The Transvaluation of all Values), nhưng gã đéo bao giờ viết xong ba cuốn còn lại vì đến đầu năm 1889 thì hoá điên con mẹ nó rồi.
Cuốn sách này là một nỗ lực phê phán đạo Cơ Đốc, và nó đặt ra một câu hỏi cốt lõi:
“Đạo Cơ Đốc đã dùng sự dối trá để làm cái đéo gì?” (To what end did Christianity avail itself of falsehood?)
Nhiều thằng đọc cuốn này sẽ thấy hơi lú.
Tại sao Nietzsche, một thằng luôn nói rằng chân lý chỉ là một dạng sai lầm hữu ích, lại cứ chửi bới đạo Cơ Đốc vì sự dối trá của nó?
Chẳng phải trong cuốn Will to Power (Ý chí Quyền lực), gã đã nói rằng điều kiện tiên quyết cho sự sống là phải có một lượng lớn niềm tin, phải có khả năng phán xét dứt khoát về mọi thứ, và rằng một cái gì đó cần phải được cho là đúng, chứ không cần nó phải thực sự đúng?
Vậy rốt cuộc là sao?
Thằng cha này có bị mâu thuẫn tự vả vào mồm không?
Vấn đề đơn giản vãi lồn.
Nietzsche đéo chửi đạo Cơ Đốc trên phương diện đạo đức.
Gã đéo quan tâm đến chuyện nói dối là “xấu”.
Gã đứng trên cả thiện và ác rồi.
Gã nhìn từ một góc khác hẳn: gã không hỏi “lời nói dối này có đạo đức không?”, gã hỏi “lời nói dối này giúp cho sự sống mạnh lên hay làm nó suy tàn?”.
Một niềm tin có thể sai nhưng vẫn duy trì bản năng sống.
Vấn đề của đạo Cơ Đốc không phải là nó đã nói dối, mà là những lời nói dối của nó có hại, thù địch với bản năng sống, và gây nguy hiểm cho nhân loại.
Trong châm ngôn số 56, gã nói toẹt ra:
“Sau tất cả, câu hỏi là, người ta bịa ra những lời nói dối để làm gì?
Cái việc mà trong đạo Cơ Đốc, những mục đích ‘thánh thiện’ hoàn toàn vắng mặt, chính là sự phản đối của tao đối với những phương tiện mà nó sử dụng.
Mục đích của nó chỉ là những mục đích tồi tệ: sự đầu độc, vu khống và chối bỏ sự sống, sự khinh bỉ thân xác , hạ thấp và tự làm ô uế con người bằng khái niệm tội lỗi—do đó, phương tiện của nó cũng tồi tệ nốt.”
Nói lại lần nữa cho rõ: gã không lên án đạo Cơ Đốc vì nó dùng những lời nói dối.
Cuốn Luật Manu (The book of Manu) hay Manusmriti của Ấn Độ Giáo nói về hệ thống đẳng cấp mà gã ngưỡng mộ cũng đầy rẫy những lời nói dối.
Nhưng trong Luật Manu, những lời nói dối đó được tính toán để bảo tồn và tạo ra một loại người mạnh mẽ và cao quý.
Nó chia xã hội ra làm bốn đẳng cấp chính, không có bình đẳng đéo gì hết:
Trên đỉnh: Bọn tu sĩ, trí thức (Brahmin - Bà La Môn).
Dưới đó: Bọn chiến binh, vua chúa (Kshatriya - Sát đế lỵ).
Tiếp theo: Bọn con buôn, nông dân (Vaishya - Phệ xá).
Dưới đáy: Bọn nô lệ, đầy tớ (Shudra - Thủ đà la).
Và ngoài lề xã hội: Bọn hạ tiện nhất, bọn Chandala (Chiên đà la).
Nó đặt ra luật lệ cho từng thằng: mày được ăn gì, được lấy ai, được làm gì, và nếu mày vi phạm thì hình phạt là gì. Nó là một cỗ máy xã hội được thiết kế một cách lạnh lùng để duy trì trật tự đẳng cấp.
Nietzsche đọc được nó nhờ bọn đế quốc Anh đã cho dịch cái bộ luật này ra tiếng Anh lần đầu tiên vào cuối thế kỷ 18 (bởi một tay tên là William Jones). Từ đó, nó được dịch tiếp sang tiếng Pháp.
Còn trong đạo Cơ Đốc, mục tiêu là loại người ngược lại.
Đây là luận điểm chính của cuốn sách.
Và trong quá trình đó, gã cũng tiết lộ rất nhiều quan điểm của mình, đặc biệt là trong châm ngôn số 57, nơi gã trình bày rõ nhất về gu xã hội học của mình, và đó là thứ mà những người theo gã sau này sẽ phải xây dựng lên, nếu muốn chủ nghĩa Nietzsche trở thành một cái gì đó hơn là một phong trào trí thức đơn thuần.
Bối cảnh thời đại Nietzsche sống
Tinh thần Đức
Thứ “tinh thần Đức” mà Nietzsche nuối tiếc, tôn thờ mà mày cảm nhận được trong suốt quyển sách này là một tinh thần châu Âu với văn hoá sâu sắc, cởi mở, phi chính trị được nuôi dưỡng bởi thời đại hỗn loạn, chia rẽ và yếu kém bởi các tiểu quốc Đức đã tạo ra một cuộc cạnh tranh văn hoá thay vì cạnh tranh lãnh thổ bằng chiến tranh.
Nietzsche không tôn thờ một tinh thần thuần chủng mà là đứa con lai giữa Goethe, Beethoven, Schoppenhaur cởi mở, hấp thụ mọi ảnh hưởng từ châu Âu: nó có sự tinh tế của Pháp, chiều sâu nội tâm của Anh, và sự say đắm nghệ thuật của Ý, tất cả được nấu chảy trong một cái lò lửa tại Đức. Nó là một tinh thần siêu quốc gia, không phải một thứ cục bộ địa phương.
Nó không quan tâm đến việc xây dựng một đế quốc mà chỉ chú trọng đến tâm hồn sâu sắc.
Đối với Nietzsche, đây mới là sự vĩ đại thật sự: không phải “Nước Đức trên hết”, mà là biến mình thành nơi hội tụ của những gì tinh túy nhất của châu Âu.
Trước khi Bismarcsk dùng “sắt và máu” để thống nhất hàng trăm tiểu quốc, công quốc thành bang tự do lại thì chưa hề có một cái gọi là “nước Đức” như mày thấy bây giờ.
Chúng là hàng ngàn mảng vụn khác nhau chỉ có một điểm chung duy nhất là nói tiếng Đức.
Vì sao?
Cái đồng bằng Bắc Âu này đủ để màu mỡ để nuôi một bầy sói nhưng vấn đề là cái lịch sử và tôn giáo đang thiến nước Đức trở nên bệnh hoạn.
Nó bắt đầu từ cái quái thái gọi là “Đế chế La Mã Thần thánh” (tồn tại từ thời trung cổ đến tận năm 1806).
Nó đéo phải đế chế mẹ gì như La Mã mà là một mớ hỗn độn gồm những thằng vua con, công tước, giám mục - mỗi đứa cai trị một xó.
Còn “hoàng đế” chỉ là một đứa bù nhìn chẳng có thực quyền ngồi trên một hệ thống được thiết kế để ngăn chặn sự thống nhất - cản trở bất cứ thằng nào có thể mạnh lên nuốt chửng bọn còn lại như trường hợp nhà Tần ở Trung Hoa.
Tao gọi đó là cơ chế tự làm tê liệt chính mình.
Đến thế kỷ 17, chúng nó lao vào cuộc Chiến tranh Ba mươi năm (1618-1648) sinh ra từ từ phong trào Kháng Cách của Martin Luther. Tin Lành đấm nhau với Công giáo, vua chúa đấm nhau vì đất đai, và bọn láng giềng (Pháp, Thụy Điển) nhảy vào xâu xé.
Cuộc chiến này nó tàn sát dân Đức, đốt sạch làng mạc, biến cả vùng trung tâm châu Âu thành một bãi tha ma. Nó giết chết hàng triệu người, có nơi mất hơn nửa dân số. Nó đập gãy xương sống của nước Đức, khiến nó què quặt đi hàng thế kỷ, trong khi Pháp và Anh đang béo lên và tập trung quyền lực.
Và vì yếu và bị chia rẽ, nước Đức trở thành bàn cờ cho cả châu Âu. Đặc biệt là thằng Pháp.
Các đời vua Pháp trong nhiều thế kỷ luôn răn dặn con cháu một điều chính là: phải giữ cho nước Đức bị chia rẽ bằng mọi giá.
Pháp dùng những chiêu như liên minh với thằng hoàng tử này để đập thằng công tước kia, nó đổ tiền, đổ vũ khí vào để bọn Đức tự giết nhau, đảm bảo không bao giờ có một thế lực hùng mạnh mọc lên ngay sát nách nó.
Nó khác hẳn cái trò Xuân Thu Chiến Quốc của Tàu. Bọn Tàu, dù có chém giết nhau, nhưng thằng nào cũng có một giấc mơ trong đầu: thống nhất thiên hạ. Chúng nó đánh nhau để trở thành kẻ thống trị duy nhất.
Còn bọn vua con ở Đức? Mục tiêu của chúng nó là giữ lấy cái ao làng của mình, chống lại việc thống nhất.
Một bên là những con cá mập muốn nuốt cả đại dương. Một bên là một bầy cá lòng tong chỉ muốn giữ lấy cái vũng nước của mình.
“nền cộng hòa của những lá thư” (Republik der Briefe)
Nhưng tụi nó cũng không đủ tiền để nuôi quân đội nên là chơi trò cạnh tranh văn hoá với nhau.
Mỗi triều đình nhỏ muốn chứng tỏ mình thượng đẳng bằng cách bảo trợ cho một nhà hát, một dàn nhạc, một trường đại học, hay một triết gia nổi tiếng. Weimar có Goethe, Phổ có Kant và Hegel. Sự cạnh tranh này tạo ra vô số trung tâm văn hóa độc lập, không có một “thủ đô” duy nhất nào có thể ra lệnh cho tất cả phải suy nghĩ giống nhau. Các trí thức có thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác nếu họ cảm thấy bị đàn áp hoặc tìm được một người bảo trợ tốt hơn.
Chính cái sự thiếu vắng một nhà nước trung ương hùng mạnh đã cho phép tinh thần được tự do bay nhảy. Không có một “bộ văn hóa/ban tuyên giáo” nào từ Berlin có thể quyết định Hegel được viết gì hay Beethoven được sáng tác ra sao.
Dù bị chia cắt về mặt chính trị, các vùng đất nói tiếng Đức lại được kết nối chặt chẽ bằng một thứ mạnh hơn cả vua chúa: ngôn ngữ và ngành in ấn.
Một cuốn sách được viết bởi Kant ở Königsberg (Phổ) có thể dễ dàng được in và bán ở Leipzig (Sachsen), Vienna (Áo), hay Zurich (Thụy Sĩ).
Tầng lớp trí thức, dù sống dưới các lá cờ khác nhau, đều đọc chung những cuốn sách, những tạp chí triết học và văn chương. Họ tranh luận với nhau qua thư từ, tạo thành một vượt qua mọi biên giới.
Leipzip đã trở thành thủ đô sách của cả châu Âu, là nơi các ý tưởng được trao đổi tự do như hàng hóa trong một cái chợ.
Chính cái mạng lưới giao thương trí thức phi chính trị này đã cho phép các hệ thống triết học lớn của Kant, Hegel và Schopenhauer lan tỏa và trở thành những sự kiện của cả châu Âu, trước khi Đế chế Đức của Bismarck ra đời và, theo lời Nietzsche, đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ vĩ đại đó.
Hãy tưởng tượng nó như thế này, Hegel sau khi vắt óc mình ra viết một cuốn sách, gọi là bản thảo để đưa cho mấy tay xuất bản, thường là ở mấy cái ổ học thuật như Berlin, nơi lão dạy. Bọn thợ in sẽ đóng cái cục sắt đó thành một cuốn sách — một thứ đắt đỏ, chỉ dành cho một bọn cụ thể.
Bọn đọc nó là ai? Đéo phải dân đen. Chúng nó là tầng lớp tư sản có học (Bildungsbürgertum) — giáo sư, mục sư, luật sư, quan chức cao cấp, và con cái của mấy thằng nhà buôn giàu có.
Một bầy mọt sách có tiền và thời gian, coi việc đọc mấy thứ khó nhằn này là một cách để thể hiện đẳng cấp.
Chúng nó đều biết chữ, và đều nói thứ tiếng Đức “chuẩn” của giới học thuật, chứ không phải thứ tiếng địa phương của bọn nông dân.
Và đây là lúc cái “Nền cộng hòa của những lá thư” vào cuộc. Nó là một cái mạng lưới vô hình của bọn mọt sách này.
Một thằng giáo sư ở Zurich đọc sách của Hegel, thấy ngứa mắt, nó sẽ viết một lá thư chửi bới dài 20 trang gửi cho một thằng bạn ở Vienna. Thằng ở Vienna đọc xong, chửi lại, rồi cả hai thằng có khi đem mớ thư đó đi in trên một cái tạp chí triết học (Zeitschrift).
Những cái tạp chí này là đấu trường của chúng nó.
Và cái gì vận chuyển mớ vũ khí và thư từ thách đấu này? Xe ngựa bưu chính (Postkutsche).
Chậm như rùa, nhưng nó là huyết mạch. Nó kéo lê những ý tưởng mới lẫn cũ từ thành phố này sang thành phố khác, qua hàng chục cái biên giới của các tiểu quốc Đức.
Sự hỗn loạn chính trị lại đẻ ra những trung tâm văn hóa mạnh.
Mỗi thằng có một vai.
Leipzig: Là cái chợ vũ khí. Hội chợ sách Leipzig là nơi bọn nhà xuất bản từ khắp nơi kéo về để khoe hàng, để bán sỉ. Một cuốn sách ra mắt ở Leipzig là được đóng dấu “hàng xịn”, từ đó nó tỏa đi khắp nơi.
Vienna: Là cung điện của hoàng đế. Thủ đô của Đế chế Áo, một cái chợ khổng lồ và là một trung tâm quyền lực bảo thủ. Sách đến đây để được tranh cãi trong các salon của giới quý tộc, nơi các ý tưởng mới bị soi mói, thách thức.
Zurich: Là cái sào huyệt của bọn phản loạn. Vì nó nằm ở Thụy Sĩ, độc lập và tự do hơn, nó là nơi để in những cuốn sách bị cấm, là nơi trú ẩn cho những cái đầu nguy hiểm. Một ý tưởng quá cháy để nổ ở Đức sẽ được châm ngòi ở Zurich.
Tức là đéo có trí thức bình dân gì ở đây, toàn cuộc cãi lộn của đám quý tộc ăn không ngồi đi cãi nhau ba chuyện triết học.
Sự trỗi dậy của nước Phổ
Mọi chuyện kết thúc khi nước Phổ (Prussia hay Preußen) trỗi dậy trong lúc hàng trăm tiểu quốc Đức khác béo phì vì sống trong hoà bình quá lâu quên mất mùi máu của chiến tranh, mãi mê với những vụ cãi lộn và ngoại giao nhỏ mọn chỉ biết cái giếng nhà mình thì nước Phổ biến chính nó thành một cái doanh trại.
Nó không có đất đai màu mỡ hay tài nguyên dồi dào như bọn khác. Là một vùng đất nghèo nàn, cát sỏi ở phía Đông Bắc nhưng vì nghèo, nó mới phải tàn bạo và kỷ luật. Chúng biết rằng nếu không có một đội quân mạnh nhất, nó sẽ bị xé xác.
Và đây là cách nó rèn mình thành một thanh kiếm.
Mọi chuyện bắt đầu với hai nhà vua của dòng họ Hohenzollern.
Frederick William I (Vua Binh Sĩ): một kẻ cuồng quân đội. Hắn cắt hết mọi chi tiêu xa hoa của hoàng cung, dồn hết tiền vào việc xây dựng một đội quân khổng lồ, được huấn luyện đến mức tàn bạo.
Ông ta tạo ra một bộ máy quan liêu hiệu quả nhất châu Âu, không phải để phục vụ dân, mà để vắt kiệt từng đồng thuế cuối cùng cho quân đội.
Frederick thành công biến cả vương quốc thành một cỗ máy chỉ có hai chức năng: kiếm tiền và rèn lính.
Frederick II (Frederick Đại đế): Thằng con trai kế vị của Vua Binh Sĩ, một thiên tài quân sự.
Hắn thừa hưởng cỗ máy chiến tranh hoàn hảo từ cha mình và ngay lập tức dùng nó để đi cắn xé.
Hắn đập Áo, chiếm vùng Silesia màu mỡ, và biến Phổ từ một thế lực hạng hai thành một thằng đại ca trên bàn cờ châu Âu.
Phổ có một thứ mà các tiểu quốc khác không có: tầng lớp địa chủ quân phiệt Junker.
Bọn này là những thằng quý tộc nhỏ, đất đai không nhiều, nhưng lại có một truyền thống sắt đá: con trai cả thì ở nhà cai quản đất đai, con trai thứ thì phải vào quân đội làm sĩ quan.
Điều này tạo ra một tầng lớp chỉ huy trung thành tuyệt đối với nhà vua, coi việc phục vụ trong quân đội là danh dự và lẽ sống. Chúng nó là xương sống của cỗ máy chiến tranh Phổ, là những con sói tàn bạo, kỷ luật, sẵn sàng chết vì vinh quang của Phổ.
Cuối cùng, Phổ chiến thắng vì nó có một thứ “tinh thần” mà bọn Đức khác đã đánh mất: ý chí sắt đá và kỷ luật vô nhân đạo.
Trong khi các vùng đất khác của Đức đang đẻ ra những triết gia, nhạc sĩ, thi sĩ, thì Phổ đẻ ra những vị tướng và những nhà cai trị. Nó là một xã hội được xây dựng dựa trên sự vâng lời, bổn phận, và kỷ luật. Nó là một Sparta giữa một bầy Athens yếu đuối.
Và khi thời cơ đến, với một bộ óc chính trị quỷ quyệt như Bismarck cầm trịch, cỗ máy chiến tranh và cai trị hoàn hảo này đã nghiền nát mọi đối thủ, từ Đan Mạch, Áo cho đến Pháp, và ép buộc những con cừu còn lại phải đi theo con sói đầu đàn.
Phổ không “thuyết phục” nước Đức thống nhất. Nó đã chinh phạt nước Đức.
Bắt đầu với chiến tranh Đan Mạch (1864) sinh ra từ một trò hề.
Hai vùng đất Schleswig và Holstein, dân nói tiếng Đức nhưng bị vua Đan Mạch cai trị. Bismarck xúi Áo, một thằng khổng lồ Đức khác, cùng nhảy vào “giải phóng” anh em đồng bào.
Đây là một cái bẫy. Bismarck đéo quan tâm đến mấy thằng dân ở đó. Lão muốn chiếm hai vùng này để làm cái cớ gây sự với Áo sau này.
Liên quân Phổ-Áo khổng lồ đã đè bẹp một tên tí hon như Đan Mạch buộc nó phải cắt đất để Bismarck có được con mồi tiếp theo:
Chiến tranh với áo (1866) hay còn gọi là Cuộc chiến bảy tuần.
Sau giành được hai miếng đất từ tay Đan Mạch, Phổ và Áo bắt đầu tranh nhau xem thằng nào mới có quyền quản lý vùng đất vừa chiếm được.
Áo, một đế chế già cỗi, kiêu ngạo mắc phải mồi câu của Bismarck hòng đá đít nó ra khỏi liên minh Đức để phổ có thể một mình thống nhất miền Bắc trở thành ông trùm của người Đức.
Nhờ ba lý do vũ khí, hậu cần và bộ não thiên tài sau đây mà Phổ đã giành chiến thắng.
Vũ khí: Quân Phổ có súng trường nạp đạn từ khóa nòng (súng trường kim Dreyse). Thằng lính có thể nằm xuống nạp đạn và bắn nhanh gấp 5 lần thằng lính Áo, vốn phải đứng lên để nạp đạn từ miệng nòng, biến mình thành bia tập bắn.
Hậu cần: Phổ có mạng lưới đường sắt dày đặc. Nó có thể di chuyển cả một đội quân khổng lồ đến biên giới trong vài ngày, trong khi quân Áo còn đang lóc cóc đi bộ.
Bộ não: Phổ có một bộ tham mưu thiên tài dưới trướng Helmuth von Moltke aîné. Chúng nó lên kế hoạch chiến tranh như một ván cờ, tính toán từng chi tiết. Quân Áo, ngược lại, được chỉ huy bởi những thằng quý tộc bất tài.
Kết quả: Áo bị đập cho sấp mặt chỉ trong bảy tuần, đỉnh điểm là trận Sadowa (Königgrätz). Bismarck đạt được mục đích: Áo bị loại khỏi cuộc chơi, và Phổ thành lập Liên bang Bắc Đức.
Chiến tranh Pháp-Phổ (1870-1871)
Sau khi Phổ mạnh lên, Pháp dưới thời Napoléon III bắt đầu lo sợ.
Bismarck cần một cuộc chiến tranh với Pháp để khơi dậy lòng yêu nước của các bang miền Nam Đức (vốn còn e dè Phổ), kéo chúng nó vào một nước Đức thống nhất.
Lão đã gài bẫy Pháp bằng một vụ tranh chấp ngai vàng Tây Ban Nha và lá thư khiêu khích nổi tiếng “Bức điện Ems”.
Để làm gì? Hoàn thành việc thống nhất nước Đức và đưa vua Wilhelm I trở thành hoàng đế Đức.
Kịch bản lặp lại y hệt với Áo nhưng ở quy mô lớn hơn.
Cỗ máy chiến tranh Phổ đã được bôi dầu bôi trơn và sẵn sàng tăng tốc với sự chỉ huy của bộ tổng tham mưu Moltke có sẵn kế hoạch chiến tranh với Pháp từ lâu.
Quân đội Pháp dù dũng cảm nhưng tổ chức hỗn loạn, chỉ huy kém cỏi đã quá ảo tưởng về sức mạnh của mình trong khi Phổ sử dụng đường sắt để huy động quân nhanh hơn, tràn vào Pháp như một cơn lũ.
Kết quả: Hoàng đế Napoléon III và toàn bộ quân đội của lão bị bắt sống trong trận Sedan thảm họa. Paris bị bao vây và thất thủ. Ngay tại cung điện Versailles của vua Pháp, Bismarck tuyên bố thành lập Đế chế Đức. Một sự sỉ nhục tột cùng cho Pháp và là đỉnh cao quyền lực của Phổ.
Sự suy tàn của triết học Đức
Nhưng nước Đức thống nhất nó đẻ ra một cái gọi là chủ nghĩa dân tộc của Đế chế Đức dưới thời Bismarck, mày phải hiểu, nó không phải là lòng yêu nước.
Nó là một cơn say máu tập thể. Nó là một thứ văn hóa bia bọt, tự mãn, và rỗng tuếch.
Hãy hình dung một cái nhà kho khổng lồ, ngập trong khói thuốc, tiếng gầm rú và mùi bia chua.
Sàn nhà dính đầy mùn cưa và bia đổ. Những dãy bàn gỗ dài vô tận, nơi hàng trăm, hàng ngàn thằng đàn ông chen chúc nhau vai kề vai.
Trên bàn là những vại bia một lít bằng sành (Maßkrug), những đĩa xúc xích béo ngậy, thịt heo quay và bánh mì pretzel.
Cái âm thanh văng vẳng bên tai là một bản giao hưởng của sự tầm thường. Một ban nhạc kèn đồng ở góc phòng chơi đi chơi lại mấy bài hành khúc Phổ ồn ào. Cả đám say xỉn khoác vai nhau gào lên những bài hát về “Tổ quốc”, về “lòng trung thành”, về chiến thắng vẻ vang trước Pháp. Tiếng vại bia nện xuống bàn chan chát. Tiếng cãi lộn ầm ĩ về chính trị, về Bismarck, về Hoàng đế.
Và trong cái đám đông đó, mày sẽ thấy hai loại người điển hình:
Mấy thằng cha tư sản: Bụng bia phệ, mặt đỏ gay, đang tự mãn về sự giàu có mới phất của Đế chế Đức. Chúng nó bàn về lợi nhuận, về cổ phiếu, và ca ngợi Bismarck như thánh sống.
Đám sinh viên: Đây mới là thứ đặc sản. Không phải mấy thằng mọt sách hiền lành. Đây là bọn thuộc các hội huynh đệ (Studentenverbindungen), đầu đội mũ lưỡi trai nhỏ xíu đầy màu sắc, mặt chằng chịt sẹo. Chúng nó không đến để uống cho vui. Chúng nó đến để thực hành một nghi lễ. Chúng nó uống theo lệnh, hát theo lệnh, và tôn thờ một thứ danh dự rẻ tiền.
Mấy cái vết sẹo trên mặt chúng nó không phải từ chiến trường. Đó là từ những trận đấu kiếm nghi lễ (Mensur). Chúng nó cố tình để bị chém vào mặt, không phải để giết nhau, mà để có một cái sẹo (Schmiss). Cái sẹo đó là huy hiệu, là bằng chứng cho lòng “can đảm” và tư cách thành viên của một bầy sói non. Một trò man rợ và phù phiếm.
Và đó chính là “văn hóa bia bọt” mà Nietzsche khinh bỉ đến tận xương tủy.
Nó là sự ồn ào để che đậy sự rỗng tuếch.
Nó là tinh thần bầy đàn được khoác lên cái áo của “tình anh em”.
Nó là một thứ lòng yêu nước nông cạn được nuôi bằng bia và những bài hát rẻ tiền.
Nó tôn vinh sự tuân phục, sự hung hãn tập thể, và một thứ danh dự bề mặt được đo bằng những vết sẹo trên da thịt. Nó là kẻ thù của mọi tinh thần tự do, cô độc, và sâu sắc.
Nó là âm thanh của một nền văn hóa đang ăn mừng sự tầm thường của chính nó.
Sau khi vị thần cũ (Chúa trời) đã chết thì chúng nó vội vàng dựng lên một vị thần mới để thờ phụng: Nhà nước Phổ.
Đức tin với chúa Jesus bị thay thế thành lòng trung thành với Đế chế, với Hoàng đế và với chính Bismarck trở thành đức hạnh tối cao.
Không ai được phép trở thành phiên bản đẹp nhất của bản thân mà phải là con ốc vít trong cỗ máy nhà nước luôn tôn thờ kỷ luật quân đội.
Sĩ quan trở thành hình mẫu lý tưởng. Cả xã hội bị biến thành một cái doanh trại, nơi sự vâng lời được coi là cao hơn sự sáng tạo, và vết sẹo trên mặt từ một trận đấu kiếm được coi là đẹp hơn một ý tưởng triết học.
Thứ văn hoá Đức mà Nietzsche thấy chỉ còn lại mùi bia bọt tự mãn, ồn ảo, nông cạn.
Chúng nó tự hào về “chiều sâu” của người Đức, nhưng cái chiều sâu đó chỉ là sự nặng nề, thiếu tinh tế.
Chúng nó định nghĩa mình bằng cách chửi bới văn hóa Pháp là “hời hợt”, “đàn bà”, mà không nhận ra chính mình mới là những thằng thô kệch.
Lão căm ghét nó vì lão thấy nó đang giết chết cái “tinh thần Đức” thật sự.
Nietzsche tôn thờ một tinh thần Đức cũ — tinh thần của Goethe, của Beethoven — một tinh thần châu Âu, sâu sắc, cởi mở. Cái chủ nghĩa dân tộc mới này thì thiển cận, bài ngoại, và tự mãn. Lão nói thẳng: chiến thắng của Bismarck là cái chết của triết học Đức.
Vì ZIVILISATION (văn minh máy móc của Nhà nước ) và KULTUR (văn hoá công hồn) là hai kẻ thù không đội chơi chung với nhau.
Zivilisation hay xã hội bàn giấy có cái vỏ trang trọng bê ngoài là luật pháp, chính trị, kinh tế chỉ quan tâm đến sự tiện nghi, an toàn, bình đẳng và đẻ ra ra những thằng công chức , con buôn cạn kiệt sức lực, thối rủa vận hành một bộ máy chiến tranh hiệu quả nhưng vô hồn, không hề quan tâm đến con người.
Kultur có thể gọi là nền văn hoá có hồn là cái phần sâu thẳm, xương tuỷ của triết học, nghệ thuật, thần thoại đã đẻ ra những gã khổng lồ như Goethe thường nảy mầm từ đất một cách tự nhiên, tàn bạo và bi kịch cho thấy sức sống của một dân tộc.
Nietzsche chửi thẳng mặt rằng sự ra đời của đế chế Đức là chiến thắng của quyền lực chính trị đánh bại sức mạnh tinh thần.
Vì nó là chiến thắng của bầy đàn - một thứ keo dính rẻ tiền để kết nối hàng triệu con người tầm thường lại với nhau, cho chúng nó một kẻ thù chung (Pháp, Do Thái) và một niềm tự hào tập thể rỗng tuếch. Nó là sự tôn vinh cái trung bình và là kẻ thù của mọi cá nhân xuất chúng.
Mày có thể cảm nhận nó ngay tại chính đất nước Việt Nam này khi cái bộ máy nhà nước và lực lượng tuyên truyền không ngừng đẩy mạnh nền tự hào rỗng tếch về chiến thắng cường quốc Mỹ, Pháp, Trung Quốc cho hàng triệu tín đồ của nó tin vào một câu chuyện vinh quang được trả giá bằng máu và xương mục của một thế hệ bị vứt vào lò lửa chiến tranh và trở về như kẻ tàn phế về thể xác lẫn tâm hồn.
Chúng ta được dạy để ‘tự hào’ về những thứ mình không thực sự dính líu hay liên quan gì. Chuyện của về cuộc đời của ông nội mày thì liên quan đéo gì đến chính mày mà phải bơm đắp lên cuộc sống hiện tại của mày?
Câu trả lời tàn bạo nhất là: Vì mày đéo có chiến công nào của riêng mày.
Niềm tự hào ké, niềm tự hào vay mượn, là liều thuốc phiện cho những thằng yếu đuối. Khi cuộc sống hiện tại của mày tầm thường, trống rỗng, và vô nghĩa, mày cần một câu chuyện vĩ đại từ quá khứ để bám víu vào, để cảm thấy mình cũng là một phần của cái gì đó lớn lao.
Nó là một cách để trốn chạy khỏi trách nhiệm phải tự tạo ra giá trị cho cuộc đời mình. Thay vì phải đi rèn một thanh kiếm của riêng mày, mày chỉ cần đi đánh bóng lại thanh kiếm rỉ sét của ông nội và khoe khoang về nó.
Nó là thứ keo dính rẻ tiền và hiệu quả để dán một bầy đàn đéo có liên quan gì ngoại trừ nói chung một thứ ngôn ngữ lại với nhau bằng cách tạo ra một câu chuyện đơn giản, trắng đen:
“Chúng ta là những người hùng, những nạn nhân cao cả. Bọn nó là những kẻ xâm lược, những con quỷ.”
Mày không cần phải suy nghĩ nữa. Mày chỉ cần chọn phe.
Nó biến hàng triệu cá nhân, với hàng triệu vấn đề riêng (nghèo đói, bất công, tuyệt vọng), thành một khối đồng nhất, dễ cai trị.
Mọi vấn đề hiện tại đều bị che mờ bởi ánh hào quang của quá khứ.
“Đừng phàn nàn về hiện tại, hãy nhớ lại quá khứ huy hoàng của chúng ta đi.”
Và cái giá của câu chuyện vĩ đại đó là gì?
Là máu và xương mục của cả một thế hệ, những kẻ đã thật sự chiến đấu và trở về như những cái bóng tàn phế.
Cái “vinh quang” của câu chuyện được xây trên sự đau khổ thật sự của họ.
Bộ máy tuyên truyền đã biến bi kịch của họ thành một vở kịch anh hùng ca cho những thế hệ sau xem. Nó đã cướp đi nỗi đau thật của họ và biến nó thành một liều thuốc an thần cho con cháu.
Và bằng chứng sống cho sự thối rữa của thời đại Nietzsche đang sống chính là Richard Wagner.
Từ một nghệ sĩ có tiềm năng, Wagner đã biến thành thằng hát rong cho Đế chế, biến âm nhạc của mình thành nhạc nền cho chủ nghĩa dân tộc Đức và thói bài Do Thái. Lão đã bán đứng nghệ thuật để lấy sự tung hô của bầy đàn.
Wagner là triệu chứng hoàn hảo nhất cho cái nền văn hóa mới mà Nietzsche khinh bỉ đến tận xương tủy.
Âm nhạc của lão, theo Nietzsche, là liều thuốc phiện hoàn hảo.
Nó hoành tráng, nó ồn ào, nó áp đảo, nó dìm mày vào một bể cảm xúc để mày quên đi sự trống rỗng của chính mình. Nó không phải là một liều thuốc tăng lực, nó là một liều thuốc an thần cho những hệ thần kinh đã kiệt quệ. Wagner là thiên tài của sự suy đồi.
Rồi đến bọn Pháp, như Victor Hugo và George Sand.
Nietzsche coi chúng nó là những con bò cái đang khóc lóc. Văn chương của chúng nó sặc mùi “nhân đạo”, đầy những lời rao giảng đạo đức sáo rỗng, và lúc nào cũng chảy nước mắt vì “những người khốn khổ”. Đối với Nietzsche, đó là nghệ thuật của sự yếu đuối, nó tôn vinh sự thất bại và bệnh tật.
Cả cái bọn “hiện thực” lúc đó cũng chẳng khá hơn. Chúng nó bới móc những khu ổ chuột, những góc bẩn thỉu nhất của xã hội và gọi đó là “sự thật”. Nietzsche thấy đó là một sự bệnh hoạn, một niềm đam mê với sự thối rữa của những thằng không còn đủ sức mạnh để tạo ra cái đẹp.
Đằng sau cái nghệ thuật bệnh hoạn đó là một thứ triết lý còn bệnh hoạn hơn:
Sự tôn thờ “Sự thật”: Khoa học và chủ nghĩa thực chứng lúc đó đang lên ngôi. Chúng nó giết chết mọi huyền thoại, mọi bản năng, và chỉ tin vào những “sự thật” khô như ngói. Một thế giới bị thiến mất chiều sâu, bị san phẳng bởi những sự kiện tầm thường.
Đầm lầy của sự bình đẳng: Khắp nơi là những lời rao giảng về dân chủ, về xã hội chủ nghĩa, về “quyền bình đẳng”. Đối với Nietzsche, đó là âm mưu của bầy đàn nhằm san phẳng mọi đỉnh núi, để không còn ai cao hơn ai, để sự tầm thường được an toàn.
Nietzsche căm ghét văn hóa châu Âu thời đó vì lão thấy nó là một nền văn hóa chống lại sự sống.
Nó sợ hãi sức mạnh, sợ hãi đau khổ, sợ hãi sự vĩ đại.
Nó là một nền văn hóa của những thằng mệt mỏi, dành cho những thằng mệt mỏi.
Thay vì tạo ra những chiến binh, những nhà chinh phạt, nó lại đẻ ra những bệnh nhân, những y tá, và những thằng bán thuốc phiện trá hình dưới cái mác nghệ sĩ.
Nó là sự suy đồi được tô son trát phấn.
Đứng đầu cái phong trào này là một thằng cha người Pháp tên là Auguste Comte. Hắn và đồng bọn của hắn tuyên bố rằng nhân loại đã trải qua ba giai đoạn:
Giai đoạn Thần học: Mọi thứ được giải thích bằng thần thánh, ma quỷ.
Giai đoạn Siêu hình: Mọi thứ được giải thích bằng những khái niệm trừu tượng, những “bản chất” vô hình (như kiểu của Plato hay Hegel).
Giai đoạn Thực chứng (Khoa học): Giai đoạn cuối cùng và “ưu việt nhất”. Ở đây, con người vứt bỏ hết mọi câu hỏi “Tại sao?”. Nó không còn hỏi về “ý nghĩa”, về “mục đích”, về “bản chất” nữa. Nó chỉ hỏi một câu duy nhất: “Như thế nào?”
Cái “sự thật” mà chúng nó tin là những gì có thể quan sát, đo lường, cân đong, và kiểm chứng bằng thực nghiệm. Nó là những dữ kiện trần trụi, những con số, những định luật vật lý.
Một hòn đá rơi xuống vì “lực hấp dẫn” (có thể đo được), chứ không phải vì “ý Chúa” hay vì “bản chất của nó là tìm về mặt đất”.
Con người là một tập hợp các quá trình sinh hóa, một cỗ máy sinh học, chứ không phải một linh hồn bất tử.
Lịch sử là một chuỗi các sự kiện kinh tế - xã hội có thể phân tích được, chứ không phải một kế hoạch của Thượng đế.
Chúng nó muốn biến mọi thứ thành một bài toán vật lý.
Nếu một thứ không thể bỏ vào ống nghiệm, không thể nhìn thấy dưới kính hiển vi, thì thứ đó không phải là “sự thật”.
Nó là “vô nghĩa”.
Bọn sử gia, như thằng Leopold von Ranke ở Đức, cũng nhập cuộc.
Chúng nó gào lên khẩu hiệu “viết về lịch sử như nó thật sự đã diễn ra”.
Nghe thì hay, nhưng thực chất là gì? Là chúng nó vứt mẹ nó mọi ý tưởng, mọi câu chuyện lớn, và chỉ cắm đầu vào việc thu thập “dữ kiện”.
Lịch sử không còn là một vở bi kịch vĩ đại nữa. Nó biến thành một cái kho lưu trữ đầy bụi, một đống giấy tờ, hợp đồng, và báo cáo.
Chúng nó không chỉ đo đạc thế giới bên ngoài. Chúng nó bắt đầu đo đạc chính con người.
Đo sọ não: Chúng nó phát minh ra những “khoa học” như não tướng học (
phrenology), cầm com-pa đi đo sọ người để phán xét trí thông minh và chủng tộc.Đo tội phạm: Một thằng cha người Ý tên là Cesare Lombroso còn bịa ra cả một ngành “nhân chủng học tội phạm”, tuyên bố rằng mày có thể nhận ra một thằng tội phạm qua hình dáng của cái tai hay cái cằm của nó. Thằng tội phạm không còn là một kẻ có ý chí. Nó chỉ là một con vật bị lỗi sinh học.
Và cuối cùng, Nhà nước nhảy vào cuộc. Nó bắt đầu dùng thống kê để cai trị. Mày không còn là một cá nhân nữa. Mày là một con số trong bảng điều tra dân số, một điểm dữ liệu trong báo cáo tội phạm, một phần trăm trong tỷ lệ thất nghiệp. Mày trở thành một đơn vị có thể dự đoán và quản lý được.
Chúng nó đã tiến hành một cuộc chiến tranh tổng lực chống lại mọi thứ bí ẩn, mọi thứ không thể đo lường được. Bằng thước kẻ, cân tiểu ly, và bảng thống kê, chúng nó đã cố gắng san phẳng thế giới, biến con người thành một cỗ máy có thể dự đoán, và lịch sử thành một bản báo cáo.
Đó là chiến thắng của thằng kế toán trước thằng thi sĩ.
VẬY NIETZSCHE GHÊ TỞM NÓ VÌ CÁI GÌ?
Lão ghê tởm nó vì nó là một hình thức chủ nghĩa hư vô trá hình.
Nó là một cuộc giải ma thuật thế giới (disenchantment of the world). Bằng cách chỉ tin vào những “sự thật” có thể cân đong đo đếm, nó đã giết chết tất cả những gì làm cho cuộc đời này có chiều sâu, có bi kịch, và có ý nghĩa:
Nó giết chết Huyền thoại và Nghệ thuật: Những câu chuyện vĩ đại, những vị thần, những anh hùng không thể được “kiểm chứng”, nên chúng bị coi là những lời nói dối trẻ con.
Nó giết chết Bản năng: Nó dạy con người chỉ tin vào lý trí, vào những gì có thể chứng minh. Nó khinh bỉ những thôi thúc mù quáng, những trực giác, những cơn say của bản năng, thứ mà Nietzsche coi là nguồn gốc của mọi hành động vĩ đại.
Nó san phẳng thế giới: Nó biến thế giới từ một vở bi kịch đầy đam mê, bí ẩn và kinh hoàng thành một cái bảng tính Excel. Mọi thứ đều được quy về những dữ kiện tầm thường. Tình yêu chỉ là phản ứng hóa học. Lòng dũng cảm chỉ là sự sắp xếp của neuron thần kinh. Không còn cao cả, không còn vực thẳm. Chỉ có một mặt phẳng nhàm chán của những “sự thật” vô hồn.
Đối với Nietzsche, cái “sự thật” của bọn thực chứng là sự thật của một thằng kế toán, không phải sự thật của một chiến binh.
Nó là sự thật của một thế giới đã mất hết lòng can đảm để đối mặt với sự hỗn loạn, với cái phi lý.
Bằng cách chỉ tin vào những gì có thể thấy, chúng nó đã tự làm mình mù đi trước tất cả những gì thật sự đáng sống.
Nietzsche là thằng điên duy nhất giữa cái châu Âu ai cũng nghĩ mình tỉnh táo và nhìn ra được điều này trước khi hoá điên vào năm 1889 ở tuổi 44.
Der Wille zur Macht (Will to Power)
Triết lý cả đời hắn có thể gói gọn trong từ:Der Wille zur Macht (Will to Power) dịch ra tiếng Việt thường là Ý chí quyền lực.
Mà cái bản dịch này cũng vừa đúng vừa sai bỏ mẹ. Nó đúng cái vỏ, nhưng trật mẹ nó cái ruột. Đó là một cái bẫy.
Tại sao nó sai?
Vì khi một thằng Việt Nam nghe đến “quyền lực”, nó nghĩ ngay đến cái gì?
Nó nghĩ đến một thằng quan, một thằng sếp, một thằng chính trị gia.
Nó nghĩ đến quyền cai trị người khác. Đó là thứ quyền lực của bầy đàn, thứ quyền lực bên ngoài, thứ mày có được khi người khác phải quỳ gối.
Nhưng cái Macht của Nietzsche đéo phải thế. Mày phải hiểu nó là “Ý chí Sức mạnh”, “Ý chí Bành trướng”, hay đúng hơn là “Ý chí muốn Thêm”.
Nó không phải là cái ngai vàng mày ngồi lên. Nó là lực nện của cây búa. Nó là sức nóng của lò rèn.
Nó là khả năng của một cục sắt để biến thành một thanh kiếm.
Nó là ý chí của một cái cây muốn đâm rễ sâu hơn, vươn cành cao hơn.
Nó là ý chí của một con thú muốn trở nên nhanh hơn, khỏe hơn, săn mồi giỏi hơn.
Nó là sự thôi thúc vĩnh cửu muốn vượt qua chính mình, muốn bành trướng, muốn áp đặt hình thái của mình lên thế giới.
“Quyền lực” mà bọn yếu đuối thèm khát là quyền lực trên cơ người khác.
Macht mà Nietzsche nói đến, trước hết, là quyền lực trên chính bản thân mình. Nó là khả năng chế ngự sự hỗn loạn bên trong mày, rèn giũa những đam mê của mày thành vũ khí. Đó là tự vượt qua chính mình (Selbstüberwindung).
“Ý chí quyền lực” là một bản dịch lười biếng. Nó khiến mày nghĩ đến một thằng cai ngục.
Der Wille zur Macht là ý chí của một thằng thợ rèn đang nện vào chính tâm hồn mình để tạo ra một thứ gì đó vĩ đại hơn.
Một bên là ra lệnh cho kẻ khác. Một bên là ra lệnh cho chính mình.
Nó cũng đéo phải là “ý chí sinh tồn” thảm hại của Darwin hay “ý chí sống” Schopenhauer.
Cái “sự thật” về Ý chí Quyền lực là thế này: Mọi thứ trong vũ trụ, từ một hòn đá, một cái cây, một con thú, cho đến mày, đều là một khối năng lượng đang gào lên một từ duy nhất: “THÊM NỮA!” là tiếng gầm của sự sống chống lại mọi giới hạn, sự từ chối ở yên một chỗ, nó muốn vượt qua, bành trường và trở nên mạnh mẽ hơn trong mọi khoảng khắc đương sống.
Với một hòn đá, “THÊM NỮA!” là thêm sự tồn tại. Nó chống lại sự bào mòn, nó chiếm không gian, nó ì ra đó. Đó là dạng sức mạnh sơ khai nhất.
Với một cái cây, “THÊM NỮA!” là thêm sự tăng trưởng. Rễ nó đâm sâu hơn để hút thêm nước. Lá nó vươn cao hơn để giành thêm nắng. Nó bóp chết những cây yếu hơn bên cạnh. Đó là sự bành trướng.
Với một con hổ, “THÊM NỮA!” là thêm sự thống trị. Nó không chỉ săn mồi để no bụng. Nó săn mồi để khẳng định sức mạnh, để mở rộng lãnh thổ, để truyền lại nòi giống mạnh hơn. Đó là sự áp đặt ý chí.
Và ở con người, trận chiến quan trọng nhất của Ý chí Quyền lực không phải là ở bên ngoài, mà là ở bên trong. Nó là ý chí muốn vượt qua chính mày. Vượt qua sự lười biếng, sự hèn nhát, sự ngu dốt, sự thoải mái của mày. Mỗi lần mày ép mình làm một việc khó, mày đang thực thi Ý chí Quyền lực. “Cái gì không giết được tao sẽ làm tao mạnh hơn” — đó là kinh thánh của nó.
Thằng nghệ sĩ sẽ “THÊM VẺ ĐẸP” biến một cục đá thành một bức tượng.
Một thằng nhà khoa học sẽ “THÊM TRI THỨC” biến sự hỗn loạn của vũ trụ thành một định luật khắc lên từ ý chí của nó.
Một thằng triết gia như Nietzsche thì đó là “THÊM SỰ THẬT!” — đập bỏ những hệ giá trị cũ rích, tạo ra nhiều giá trị mới hơn.
Nó không trốn chạy đau khổ. Nó săn tìm đau khổ.
Vì sao? Vì Marcht chỉ có thể được cảm nhận khi nó vượt qua một sức cản. Mày đéo thể thấy mình mạnh lên nếu chỉ nâng một cục bông. Mày phải nâng một tảng đá. Đau khổ, bi kịch, kẻ thù — đó là những tảng đá, là thuốc bổ cho Ý chí Quyền lực.
“Ý chí Quyền lực” là cái tên mà Nietzsche đặt cho cỗ máy vĩnh cửu của thực tại. Một thế giới không có mục đích, không có Chúa, chỉ có một cuộc chiến vĩnh hằng giữa các trung tâm quyền lực, mỗi trung tâm đều tìm cách áp đặt ý chí của mình lên tất cả những thứ khác.
“Sự thật” của Nietzsche là một sự thật tàn bạo, năng động, và đầy tính khẳng định: sống không phải là để bình yên, sống là để trở nên mạnh mẽ hơn.
Lời tựa
Giữ được cái đầu óc vui vẻ giữa một nhiệm vụ vừa u ám vừa nặng như đá đè, đéo phải là một chuyện nghệ thuật tầm thường đâu.
Nhưng mà, đời không vui thì sống làm lồn gì?
Tao không sống vui vẻ thì làm sao mà có thể viết lách thành công được.
Sự thừa thãi năng lượng mới là bằng chứng của sức mạnh. Chỉ kẻ yếu đuối mới cần nghiêm túc.
Một cuộc transvaluation of all values (đập nát mọi niềm tin mù quáng)—cái dấu hỏi vừa đen vừa to tổ bố đến mức nó phủ bóng lên cả cái thằng đặt ra nó—là một cái nhiệm vụ chết người đến mức thằng nào gánh nó trên vai thỉnh thoảng phải ra khỏi căn phòng kín, tận hưởng ánh nắng để rũ bỏ cái sự nghiêm túc đang đè nát sọ mình, tao mệt đầu quá
Trong tất cả các phương thuốc chữa bệnh, tao chọn chiến tranh - sự khôn ngoan của những thằng đã đắm chìm quá sâu vào suy nghĩ của chính. Phương châm của tao từ lâu đã là:
increscunt animi, virescit volnere virtus.(Những vết sẹo sinh ra không làm mày yếu đi mà giúp cho đức hạnh (Virescit) được nảy mầm )
Những khổ đau lẫn sự tuyệt vọng của cuộc đời nếu không giết được mày chỉ làm mày mạnh hơn.
Những lúc khác, một phương thuốc phục hồi khác còn hợp gu tao hơn, là đi tra khảo mấy con bệnh thần tượng mà cả xã hội này bu vào như con thiêu thân.
Xã hội này tin vào những ảo tưởng hơn là thực tại trước mắt: tao có thể nhìn và nghe thấu được sự giả tạo, bệnh hoạn đằng sau những vẻ ngoài đẹp đẽ của đám thần tượng như Socrates, Plato, Kitô giáo.
Cầm cây búa mà gõ vào mấy cái góc này, và biết đâu lại nghe được cái âm thanh rỗng tuếch quen thuộc của một con cóc bị thổi phồng bụng, mẹ nó, một niềm vui sướng tột cùng cho một thằng có tai mọc cả sau tai, một thằng tâm lý học già gân và một tay thổi sáo dụ chuột như tao để lôi mấy thứ bị che giấu, những sự thật xấu xí ra ngoài ánh sáng.
Ngay cả cái cuốn sách thế này, như cái tên của nó đã cho thấy, trên hết chỉ là một trò tiêu khiển ngang hông của tao lúc đang rảnh háng.
Hay cũng có thể, là một cuộc chiến mới chăng?
Và chúng ta lại đang tra khảo những thần tượng “đạo đức” mới?
Cuốn sách nhỏ này là một lời tuyên chiến vĩ đại; và về việc tra khảo thần tượng, lần này không phải là mấy con thần tượng thời thượng, mà là những thần tượng vĩnh cửu của bọn Socrates, Plato, Kitô giáo, Đạo đức và những thứ khác chỉ cần tao gõ nhẹ thôi đã đủ nghe được sự rỗng tếch của chúng (Stimmgabel) ,
Cái nghịch lý của bầy đàn chính là những thần tượng càng rỗng tếch thì lại càng được tin tưởng vì chúng dễ hiểu và an ủi được cái niềm tin mù quáng rằng thế giới này có câu trả lời thực sự ý nghĩa cho sự tồn tại của chúng.
FRIEDRICH NIETZSCHE
Turin, ngày 30 tháng 9 năm 1888.
MAXIMS AND MISSILES - Sprüche und Pfeile.
1.
Chỉ có rảnh háng thì mới sinh ra cái trò tâm lý học. Mà khoan đã? Xã hội coi rảnh háng là một thói xấu. Vậy hóa ra tâm lý học cũng là một thói hư tật xấu à?
Diễn giải:
“Idleness is the parent of all psychology.” (Sự lười biếng là cha mẹ của tất cả tâm lý học.)
“Lười biếng” (Idleness) ở đây không có nghĩa là nằm ườn ra không làm gì. Nó có nghĩa là sự nhàn rỗi, là có thời gian và không gian để không phải cắm mặt vào việc kiếm tiền.
Nietzsche nói rằng cái hành động tự phân tích, mổ xẻ tâm hồn mình và người khác chỉ có thể nảy sinh khi mày đủ rảnh háng.
Một thằng nông dân đang còng lưng cày ruộng hay một thằng lính đang đánh trận thì đéo có thời gian để ngồi hỏi “Động cơ sâu xa của mình là gì?”.
Tâm lý học là một trò chơi xa xỉ của những kẻ có thời gian để quan sát và suy ngẫm, nó được sinh ra từ sự tĩnh tại, chứ không phải từ hành động sinh tồn khẩn cấp.
Vì sao lại là pyschology (tâm lý học) thay vì philosophy (triết học)?
Vì chính hắn ta tự nhận mình là nhà tâm lý học (psychologist) nhiều hơn là triết gia (philosopher) theo nghĩa truyền thống.
Nietzsche sống trong bối cảnh triết học châu Âu cuối thế kỷ 19 bị thống trị bởi mấy ông Hegel, Kant, Schopenhauer…
Toàn bộ trường phái này coi triết học là xây hệ thống lý luận khổng lồ, như mấy toà lâu đài logic. Nietzsche thì khinh thẳng mặt cái trò đó, vì gã thấy nó xa đời sống, toàn lý thuyết rỗng tếch.
Gã tin mình đang phân tích động cơ sâu thẳm, bản năng, tâm trạng, bệnh lý của con người và xã hội — tức là giải phẫu tâm lý — hơn là dựng hệ thống triết học. Ở thời đó, “psychology” chưa phải ngành khoa học thực nghiệm như bây giờ, mà là nhánh triết học chuyên nghiên cứu về tâm trí và hành vi.
Thành ra, bản dịch tiếng Anh giữ nguyên từ “psychology” là đúng tinh thần gốc. Nietzsche cố ý tách mình khỏi nhãn “philosopher” để không bị gom chung với bọn làm triết như xây lâu đài trên mây. Gã muốn được nhớ tới như một kẻ vạch trần tâm lý loài người, chứ không phải thằng vẽ bản đồ siêu-hình học (metaphysics).
“What? Is psychology then a—vice?” (Cái gì? Vậy tâm lý học là một—thói hư tật xấu à?)
Theo đạo đức truyền thống (đặc biệt là của bọn Tin Lành chăm chỉ), “lười biếng” là nguồn gốc của mọi tội lỗi, là một “thói hư tật xấu” (vice).
Vậy, nếu A (lười biếng) đẻ ra B (tâm lý học), và A là một thói xấu, thì suy ra B cũng là một thói xấu. Nietzsche giả vờ đi theo cái logic đó để chọc tức mày.
Nhưng thực chất hắn đang ngầm nói:
“Đúng vậy, theo con mắt của lũ đạo đức giả chúng mày, tâm lý học chính là một thói hư tật xấu.
Triết học là một hoạt động bệnh hoạn, tò mò, chuyên đi vạch trần những thứ xấu xí mà chúng mày muốn che giấu. Nó được sinh ra từ sự nhàn rỗi mà chúng mày khinh bỉ. Nhưng chính cái ‘thói xấu’ này lại là con đường dẫn đến sự thật. Tao tự hào là một kẻ mang trong mình cái ‘thói xấu’ đó.”
Lấy một lời buộc tội (”tâm lý học là một thứ bệnh hoạn”) và biến nó thành một huy hiệu danh dự. Đó là cách định nghĩa lại giá trị, lật ngược trắng đen.
2.
Ngay cả thằng gan dạ nhất trong số chúng ta cũng hiếm khi có đủ dũng khí để đối mặt với cái sự sự thật phũ phàng nó đã biết.
Diễn giải:
Vấn đề ở đây không phải là “dũng khí đối mặt với sự ngu dốt”, mà là dũng khí để sống với cái sự thật mà mày đã biết.
Nghĩ kỹ đi. Cái “sự thật” mà Nietzsche nói ở đây không phải là mấy kiến thức sách vở. Nó là những sự thật trần trụi, rỉ máu mà hầu hết chúng ta đều cảm nhận được ở tầng sâu nhất nhưng cố tình lờ đi vì nó quá đáng sợ và bất tiện.
Ví dụ:
Mày biết thừa cái gọi là “đạo đức” xã hội đầy rẫy những điều giả dối và tự mâu thuẫn, nhưng mày vẫn sống theo nó vì sợ bị tẩy chay, sợ cô đơn.
Mày biết thừa cái công việc mày đang làm đang giết chết tâm hồn mày từng ngày, nhưng mày vẫn làm vì nó cho mày sự ổn định.
Mày biết thừa nhiều mối quan hệ của mày được xây dựng trên sự giả tạo, nhưng mày vẫn duy trì chúng để không phải đối mặt với sự trống rỗng.
Mày biết thừa tình yêu và lý tưởng cao đẹp của mày có khi chỉ là sự ích kỷ được ngụy trang, nhưng mày đéo dám moi nó ra xem.
Đó chính là những “cái mà mày thực sự biết”. Nó là những sự thật phũ phàng về bản chất của thế giới và của chính mày.
“Thằng gan dạ nhất” có thể là một chiến binh ngoài mặt trận, một nhà thám hiểm, một kẻ không sợ chết, nhưng khi đối mặt với những sự thật nội tâm này, gã lại co rúm lại. Gã không dám sống một cuộc đời tương xứng với cái sự thật mà gã đã thấy. Gã chọn cách tự lừa dối mình, chọn cách sống như thể mình không biết những điều đó.
Nó giống như mày biết thừa cái con đường mày đang đi là một ngõ cụt, nhưng mày vẫn đi tiếp vì trên đường có bạn bè, có máy lạnh, có đồ ăn ngon. Cái dũng khí mà Nietzsche nói đến là cái dũng khí dám một mình quay đầu, đi vào con đường tối tăm, gồ ghề không ai đi, bởi vì mày biết đó mới là con đường duy nhất không dẫn đến sự tự lừa dối.
3.
Aristotle nói, để sống một mình, mày phải là một con thú hoặc một vị thần. Còn thiếu lựa chọn thứ ba: mày là dung hợp của cả hai, một thằng triết gia.
Diễn giải:
Thằng triết gia chân chính, theo Nietzsche, không phải là người theo nghĩa thông thường, mà cũng đéo phải thần hay thú. Nó là một con quái vật lai căng, mang trong mình cả hai thứ:
Nó là “thú” vì nó sống bằng bản năng, nó không chối bỏ cơ thể, nó có sự cô độc và sức mạnh của một con thú hoang. Nó gần gũi với đất, với những ham muốn trần tục.
Và nó cũng là “thần” vì nó tự tạo ra giá trị cho mình, nó đứng trên đạo đức bầy đàn, nó tự quyết định cái gì là đúng sai. Nó là một đấng sáng tạo, tự cung tự cấp về mặt tinh thần.
Chính vì là một thứ lai căng như vậy, vừa “thú” vừa “thần”, nên nó đéo thể sống chung với ai được.
Nó quá “thú” để ở với các vị thần trên trời, và quá “thần” để sống với bầy đàn con người dưới đất.
Vì vậy, nó buộc phải sống một mình. Sự cô độc của nó không phải là một sự lựa chọn, mà là một định mệnh đến từ chính bản chất quái dị của nó.
4.
“Mọi sự thật đều đơn giản.” Là trò lừa đảo.
Diễn giải:
Sự thật về bản chất con người, về nguồn gốc đạo đức, về quyền lực, về lịch sử... nó là một cái mê cung đầy rẫy những ngõ ngách bẩn thỉu và những động cơ mà người ta muốn che giấu.
Chỉ có những thằng lười suy nghĩ hoặc những kẻ muốn bán một liều thuốc an thần cho quần chúng mới đi rao giảng rằng “sự thật đơn giản”. Sự đơn giản là một sự giả tạo, một nỗ lực để né tránh cái thực tại phức tạp đến nhức óc.
Chính cái câu nói đó đã tự vả vào mồm nó. Bản thân cái câu “Mọi sự thật đều đơn giản” là một câu nói rất đơn giản.
Nhưng mày hãy thử hỏi: cái “sự thật” rằng “mọi sự thật đều đơn giản” có thực sự đơn giản không?
Đéo.
Để chứng minh được cái mệnh đề đó, mày cần cả một hệ thống triết học phức tạp vãi lồn để khảo sát tất cả các loại sự thật trong vũ trụ.
Vì thế, cái câu nói này là một sự đơn giản hóa, nhưng nó lại nói về một thứ (bản chất của mọi sự thật) vốn đéo hề đơn giản. Nó là một lời nói dối tự mâu thuẫn như con rắn tự cắn cái đuôi của chính nó.
Nó là một lời nói dối kép vì: nói dối về bản chất của những sự thật khác (vì chúng phức tạp).
Câu nói này nói dối về chính bản chất của nó (nó là một câu nói đơn giản nhưng lại đại diện cho một ý tưởng cực kỳ phức tạp để có thể chứng minh, do đó nó cũng là một sự giả tạo).
5.
Tao chọn cách phớt lờ phần lớn mọi thứ, vì một thằng khôn ngoan biết rằng sức mạnh không đến từ việc biết tuốt, mà đến từ việc biết phải vứt bỏ những kiến thức đéo cần thiết để tập trung năng lượng vào mục tiêu tối thượng của mình —Sự khôn ngoan đặt ra giới hạn ngay cả với tri thức.
Diễn giải:
Nietzsche vạch ra một ranh giới rõ ràng giữa Tri thức (Knowledge) và Sự khôn ngoan (Wisdom).
Tri thức giống như một thằng nghiện sưu tầm. Nó là việc nhét vào đầu mọi thứ mày có thể tìm thấy, không phân biệt tốt xấu, hữu ích hay vô dụng. Nó là một đống dữ liệu hỗn độn, vô hạn. Một “học giả” đơn thuần chỉ muốn tích lũy tri thức.
Còn Sự khôn ngoan là một thằng nghệ sĩ, một vị tướng. Nó không hỏi “tao có thể biết thêm gì?”, mà nó hỏi “tao cần biết cái đéo gì để đạt được mục đích của tao, và tao phải vứt bỏ những kiến thức nào để không bị phân tâm?”.
Sự khôn ngoan chính là nghệ thuật của việc phớt lờ, của việc biết đặt ra giới hạn.
Nó giống như một thằng điêu khắc. Để tạo ra một bức tượng đẹp, nó không đắp thêm đất sét. Nó phải đục bỏ đi hàng tấn đá thừa.
Sự khôn ngoan chính là biết phải đục bỏ phần đá nào.
Tri thức là cả tảng đá, còn sự khôn ngoan là cái búa và cái đục trong tay mày, chỉ giữ lại những gì thực sự quan trọng với cuộc đời và ý chí của mày.
6.
Một thằng mọt sách chỉ biết ru rú trong phòng đắm chìm trong những ảo tưởng thì cách tốt nhất để chữa lành cho bản thân khỏi đống tri thức làm nó kiệt quệ, là hãy vứt mẹ sách vở đi và để cho phần thú vật, phần bản năng gốc của mình được sổ lồng.
Diễn giải:
Xã hội lúc nào cũng tung hô “trí tuệ”, “lý trí”. Nhưng Nietzsche lại nhìn nó như một “bản chất dị thường”(exceptional nature), một thứ bệnh, một cái gánh nặng làm mày kiệt sức và cần phải “hồi phục” (recover) khỏi nó.
Tại sao? Vì khi mày chìm đắm trong suy nghĩ, trong phân tích, trong mớ lý thuyết, mày đang tự cắt đứt mình khỏi sự sống.
Mày trở thành một cái đầu biết đi, một con ma lởn vởn trong thư viện, chứ không phải một sinh vật sống đang hít thở không khí và cảm nhận thế giới bằng mọi giác quan.
Cái sự “trí thức” thái quá này làm mày xa rời cơ thể, xa rời bản năng, và cuối cùng là xa rời chính sự sống. Nó làm mày suy yếu, bệnh tật, và chán ghét thế giới thực.
Và liều thuốc giải độc cho căn bệnh này là gì? Là “cho bản năng con thú của nó một cơ hội.” (giving his animal instincts a chance.)
Nghĩa là sao? Nghĩa là hãy ngừng suy nghĩ mà sống đi.
Hãy để cho cái phần “con” trong mày được lên tiếng.
Cái phần muốn ăn, muốn ngủ, muốn đánh nhau, muốn làm tình, muốn nhảy múa, muốn la hét.
Đó là những ham muốn trần trụi, nguyên thủy, thứ kết nối mày với mặt đất, với thực tại.
Nó giống như một thằng IT nerd làm việc 20 tiếng một ngày trước màn hình máy tính. Người nó rệu rã, đầu óc nó căng như dây đàn.
Cách tốt nhất để nó “hồi phục” không phải là đọc thêm một cuốn sách triết học, mà là đi leo núi, đi bơi, đi vào một trận game LOL, hoặc đơn giản là đi đánh một giấc không cần báo thức. Nó phải tạm thời “tắt não” đi và “bật cơ thể” lên.
7.
Chọn đi: Con người là một sản phẩm lỗi của Chúa, hay Chúa là một ý tưởng lỗi của con người?
Diễn giải:
Lựa chọn thứ nhất: “Is man only a blunder of God?” (Con người chỉ là một sai lầm của Chúa?)
Vế này giả định rằng: OK, cứ cho là có một ông Chúa toàn năng, hoàn hảo đã tạo ra thế giới.
Nếu vậy, thì hãy nhìn vào sản phẩm của ổng đi. Nhìn vào cái giống người này: yếu đuối, ngu dốt, độc ác, bệnh hoạn, đầy rẫy mâu thuẫn và khổ đau.
Một đấng sáng tạo xịn sò, một tay thợ bậc thầy có thể nào lại nặn ra một thứ sản phẩm lỗi, một mớ hỗn độn như vậy không?
Hay con người chỉ là một mẻ hàng hỏng, một “sai lầm” của Chúa trong một ngày làm việc tồi tệ?
Ở lựa chọn này, Chúa thì có thật, nhưng con người là một thứ thất bại, một sự sỉ nhục đối với năng lực của đấng tạo hóa.
Lựa chọn thứ hai: “Or is God only a blunder of man?” (Hay Chúa chỉ là một sai lầm của con người?)
Vế này còn phũ phàng hơn. Nó giả định rằng: OK, vậy nếu con người không phải là sản phẩm lỗi thì sao?
Vậy thì có lẽ, thực ra đéo có ông Chúa nào cả. “Chúa” chỉ là một khái niệm do con người tạo ra. Và đó là một “sai lầm” tệ hại. Một sai lầm của tư duy.
Con người, vì quá yếu đuối, quá sợ hãi trước một vũ trụ vô nghĩa, đã phải bịa ra một ông bố vĩ đại trên trời để tự an ủi mình, để tạo ra trật tự và ý nghĩa từ hư vô.
Chúa là một cái nạng cho tinh thần, một lỗi lầm trong quá trình tiến hóa tư tưởng của con người.
Ở lựa chọn này, con người thì có thật, nhưng Chúa chỉ là một ảo tưởng, một sản phẩm của sự yếu đuối và sai lầm.
8.
Từ trường đời —Cái đéo gì không giết được tao, sẽ làm tao mạnh hơn.
Diễn giải
Bản tiếng anh dịch là “From the military school of life” (Từ trường quân sự của cuộc đời) nhưng trong tiếng Đức, Nietzsche viết Aus der Kriegsschule des Lebens, nó còn ác hơn thế.
Kriegsschule đéo phải chỉ là “trường quân sự”. Nó là TRƯỜNG CHIẾN TRANH.
Mày phải hiểu, cuộc đời, đối với Nietzsche, đéo phải là một cái lớp học nơi mày ngồi nghe giảng rồi về.
Nó là một cái trại lính, một cái bãi tập trận, một cái lò rèn.
Nó đéo dạy mày bằng sách vở. Nó dạy mày bằng đau đớn, đói khát, và hiểm nguy.
Nó đéo cho mày điểm số. Nó cho mày vết sẹo.
Mục tiêu của nó đéo phải là để mày “khôn ra”. Mục tiêu của nó là để mày sống sót và mạnh hơn.
Cái “trường chiến tranh của cuộc đời” là nơi mày liên tục bị ném vào những trận chiến. Mày phải chiến đấu với những thằng khác, chiến đấu với hoàn cảnh, và quan trọng nhất, chiến đấu với chính sự yếu đuối của mày.
Mỗi một thử thách, mỗi một nỗi đau, mỗi một lần thất bại suýt chết... đó là một bài học trong cái trường này. Và mày chỉ có hai lựa chọn: hoặc là mày chết, hoặc là mày tốt nghiệp với một sức mạnh mới.
Cái câu đó phải được hiểu như thế này:
“Từ cái lò rèn của cuộc đời — Cái đéo gì không giết được tao, sẽ làm tao mạnh hơn.”
Tại sao? Mày phải nghĩ như một thằng bác sĩ, không phải một thằng thầy tu. Cái câu đó đéo phải là một lời an ủi. Nó là một định luật sinh học.
Mày làm gì để chống lại bệnh tật? Mày tiêm một liều thuốc độc (vaccine) vào người. Mày tiêm một con virus đã bị làm cho yếu đi.
Cơ thể của một thằng yếu đuối sẽ làm gì? Nó sẽ chết.
Nhưng một cơ thể khỏe mạnh? Nó sẽ không chết. Nó sẽ phản ứng. Nó sẽ gồng mình lên, nó sẽ tạo ra một đội quân (kháng thể) để tiêu diệt con virus đó.
Và sau trận chiến đó thì sao? Cơ thể mày không chỉ quay về trạng thái cũ. Nó đã học được bài học. Nó đã xây dựng được một hệ thống phòng thủ mạnh hơn, hiệu quả hơn. Lần sau, khi con virus thật, mạnh hơn tấn công, cơ thể mày đã sẵn sàng. Nó đã trở nên mạnh hơn chính nhờ đã phải vật lộn với liều thuốc độc đầu tiên.
Cuộc đời cũng y hệt.
Mọi thứ khó khăn, mọi nỗi đau, mọi kẻ thù, mọi sự thất bại — đó là những liều thuốc độc mà cuộc đời tiêm vào tinh thần mày.
Một tinh thần yếu đuối (một con cừu): Sẽ bị liều thuốc độc đó giết chết. Nó sẽ gục ngã, than khóc, rên rỉ về sự “bất công” của cuộc đời, và cuối cùng trở nên cay đắng và suy sụp.
Một tinh thần mạnh mẽ (một con đại bàng): Sẽ không chết. Nó sẽ vật lộn với liều thuốc độc đó. Nó sẽ dùng nỗi đau đó để rèn luyện ý chí, dùng sự thất bại đó để học hỏi, dùng kẻ thù đó để làm mình sắc bén hơn.
Sau khi mày đã sống sót qua một nỗi đau kinh hoàng, những nỗi đau vặt vãnh sau này sẽ chỉ như muỗi đốt. Mày đã xây dựng được một hệ miễn dịch tinh thần. Mày đã biến thuốc độc thành thuốc bổ.
9.
Cái thứ mà chúng mày gọi là ‘tình yêu thương’ thực chất chỉ là một cuộc đầu tư khôn ngoan vào kẻ có tiềm năng.
Chúng mày đéo yêu thương ai cả, chúng mày chỉ đang đặt cược vào con ngựa chiến thắng.
Thế mà chúng mày lại dám gọi cái hành vi tính toán, lựa chọn kẻ mạnh để đi theo đó là ‘nguyên tắc của tình yêu thương vị tha’ à? Thật là một trò hề!
Diễn giải:
Cái câu “Help thyself, then everyone will help thee.” (Tự giúp mày đi, rồi mọi người sẽ giúp mày), nghe thì có vẻ là một lời khuyên tự lực cánh sinh bình thường, đúng không?
Đó là một sự thật tâm lý mà thằng nào cũng biết: người ta có xu hướng giúp đỡ, đầu tư, và đi theo những thằng đã chứng tỏ được sức mạnh và khả năng tự lo liệu cho bản thân nó.
Người ta chỉ muốn giúp những thằng có dấu hiệu thành công. Đây là một quan sát thực tế, có phần tàn nhẫn về bản chất con người.
Nhưng cú lật bàn trời giáng nằm ở vế sau: “A principle of neighbour-love.” (Một nguyên tắc của tình yêu thương đồng loại.)
neighbour-love là cái khẩu hiệu cao cả nhất của đạo Cơ Đốc, được trích từ câu “Hãy yêu người lân cận như chính mình”.
Tình yêu thương này, theo lý thuyết, phải là vô điều kiện.
Nó đòi hỏi mày phải yêu thương và giúp đỡ cả thằng yếu đuối, thằng thất bại, thằng bệnh hoạn, thằng cùng khổ, chính vì họ đang ở trong hoàn cảnh đó. Tình yêu đó phải là sự hy sinh, là lòng trắc ẩn thuần túy.
Và Nietzsche đã làm một việc cực kỳ thâm độc: lấy một hành vi có phần ích kỷ, có điều kiện của con người (chỉ giúp kẻ mạnh) và dán cho nó cái nhãn đạo đức cao cả nhất và vô điều kiện (tình yêu thương).
10.
Đã làm thì phải chịu. Đừng có chối bỏ việc mình gây ra. Cái trò cắn rứt lương tâm chỉ dành cho bọn yếu đuối, nó là một màn tự sỉ nhục đáng khinh bỉ.
Diễn giải:
Đã gây ra lỗi lầm thì cứ nhận đừng có đổ lỗi bao biện vờ như lúc lúc đó tao không phải là tao” hay “ma xui quỷ khiến”. Mày đã làm, thì nó là của mày, là một phần của mày.
Chối bỏ” (repudiate) không chỉ là nói dối, mà là phủ nhận hoàn toàn, coi như nó chưa từng tồn tại hoặc không phải là của mình.
Mọi hành động, lựa chọn của mày từ đánh nhau, cãi vã, cầu hôn, chọn trường lớp - một khi đã thực hiện, nó trở thành một phần của tiểu sử đời mày, một phần của con người mày. Chối bỏ nó là mày đang tự cắt đi một miếng thịt của chính mình. Mày đang tự phủ nhận chính con người đã hành động của mày.
Tại sao lại “khiếm nhã” (indecent)? Tại vì trong mắt Nietzsche, cảm giác tội lỗi, hối hận là một biểu hiện của sự yếu đuối và hèn hạ.
Khi mày cắn rứt lương tâm, mày đang làm gì?
Mày đang để cho một cái luật lệ, một hệ thống đạo đức của bầy đàn (ví dụ: “làm thế là sai”, “làm thế là ác”) ngồi lên đầu mày và phán xét hành động của mày.
Mày đang tự tách mình ra làm hai: một thằng đã hành động theo ý chí của nó, và một thằng quan tòa nội tâm đang chửi rủa chính thằng đó. Cái sự nội chiến này là một căn bệnh.
Một kẻ mạnh, một Übermensch, khi hành động, chính hành động của gã tạo ra luật lệ mới. Gã đéo có gì để hối hận, vì gã không vi phạm một cái luật nào cao hơn ý chí của gã.
Cảm thấy tội lỗi là mày đang thừa nhận có một thế lực (Chúa, xã hội, đạo đức bầy đàn) cao cả hơn mày.
Đó là một hành động tự hạ thấp mình, một màn trình diễn của sự yếu đuối. Nó “khiếm nhã” như cảnh một con sư tử xin lỗi vì đã săn mồi vậy - một sự phản bội lại chính sức mạnh và ý chí của mình.
11.
Một con lừa có thể bi kịch được không?
Chết dưới một gánh nặng mà mày vừa không thể vác nổi vừa không thể vứt bỏ? Đó là trường hợp của một thằng Triết gia.
Diễn giải:
“Can a donkey be tragic?” (Một con lừa có thể bi kịch được không?). Con lừa, trong mắt mày, là biểu tượng của sự ngu dốt, lì lợm, một con vật thồ hàng. Làm sao nó có thể “bi kịch” như một vị vua trong kịch của Shakespeare được?
Nhưng ngay sau đó, gã đưa ra định nghĩa của chính mình về bi kịch: “To perish beneath a load that one can neither bear nor throw off?” (Chết dưới một gánh nặng mà mày vừa không thể vác nổi vừa không thể vứt bỏ?).
Đây là một tình huống bị kẹt cứng, một ngõ cụt của số phận. Mày có một gánh nặng trên vai. Nó quá nặng, nó sẽ giết chết mày. Nhưng bản chất của mày, lương tâm của mày, hay một lý do khốn nạn nào đó không cho phép mày vứt mẹ nó đi. Mày phải vác nó cho đến chết. Đó, đối với Nietzsche, chính là bi kịch.
Và rồi, gã kết nối con lừa với hình ảnh cao quý nhất: “This is the case of the Philosopher.”(Đó là trường hợp của một thằng Triết gia.)
Gánh nặng của thằng triết gia là gì?
Là sự thật.
Là cái tri thức phũ phàng về việc Chúa đã chết, về sự vô nghĩa của vũ trụ, về sự giả dối của đạo đức.
Gã đã nhìn thấy những thứ mà người thường không thấy, và gã không thể nào “chưa thấy” lại được.
Cái gánh nặng tri thức đó quá sức chịu đựng, nó sẽ nghiền nát gã, làm gã cô độc và điên loạn. Đó là phần “không thể vác nổi”.
Nhưng gã có vứt nó đi được không? Đéo.
Vì bản chất của một thằng triết gia chân chính là lòng trung thực tuyệt đối với những gì nó thấy. Vứt bỏ sự thật để sống một cuộc đời an nhàn, hạnh phúc là một sự phản bội, một hành động hèn hạ mà gã không thể làm. Đó là phần “không thể vứt bỏ”.
12.
Một khi mày có lý do để sống, mày có thể chịu đựng bất cứ cách nào. Con người thực thụ không đi tìm sự thoải mái; chỉ có bọn con buôn Anh quốc với cái triết lý rẻ tiền của chúng mới theo đuổi cái mục tiêu đó.
Diễn giải:
“If a man knows the wherefore of his existence, then the manner of it can take care of itself.” (Nếu một thằng biết được cái lý do tồn tại của nó, thì cái cách tồn tại sẽ tự lo liệu.)
Vế này là một trong những tư tưởng cốt lõi và mạnh mẽ nhất của Nietzsche, và cũng là của toàn bộ chủ nghĩa hiện sinh sau này như Sartre tuyên bố:
existence precedes essence ( l’existence précède l’essence)
Nói toẹt ra là: nếu một thằng tìm ra được cái “tại sao” của cuộc đời nó, thì mọi cái “như thế nào” khốn nạn nhất nó cũng chịu được.
Khi mày có một mục đích đủ lớn, một lý do để sống đủ mạnh—dù là để trả thù, để tạo ra một kiệt tác, để bảo vệ người mày yêu, hay để trở thành Übermensch—thì mày sẽ có sức mạnh để vượt qua mọi nghịch cảnh, đói rách, bệnh tật, bị chửi bới, bị hiểu lầm.
Mọi đau khổ chỉ là chuyện vặt vãnh, là phương tiện, là những chướng ngại vật cần thiết trên con đường đến mục tiêu.
Ngược lại, một thằng sống không có mục đích, không có cái “tại sao”, thì dù sống trong nhung lụa nó vẫn sẽ thấy trống rỗng và một cái gai nhỏ cũng đủ làm nó gục ngã
Sức mạnh không đến từ hoàn cảnh, mà đến từ mục đích.
“Man does not aspire to happiness; only the Englishman does that.” (Con người không khao khát hạnh phúc; chỉ có bọn Anh mới thế.)
Và cái vế thứ hai nói về “Hạnh phúc” (happiness) hay niết bàn, trong mắt Nietzsche, là một thứ mục tiêu rẻ tiền. Nó là sự thoải mái, là không có đau khổ, là sự thỏa mãn của bầy cừu trong một cánh đồng ấm áp. Đó là lý tưởng của “Con người cuối cùng” (the Last Man), cái giống người mà Nietzsche ghê tởm.
Tại sao lại là “bọn Anh”?
Vì vào thời của lão, bọn Anh chính là trùm cuối của Chủ nghĩa Vị lợi (Utilitarianism), cái triết lý rặt mùi con buôn của mấy tay như Jeremy Bentham và John Stuart Mill.
Cái triết lý đó đặt “hạnh phúc cho số đông” làm mục tiêu tối thượng.
Nietzsche coi đây là một thứ đạo đức của sự hèn nhát, chỉ muốn một cuộc sống yên ổn, dễ chịu và đéo có tí vĩ đại nào. Kẻ mạnh, kẻ sáng tạo, kẻ phi thường (Übermensch) không đi tìm hạnh phúc. Chúng đi tìm , họ đi tìm Selbstüberwindung (self-overcome), và sẵn sàng đón nhận cả những nỗi đau kinh khủng nhất như một phần tất yếu của sự vĩ đại.
13.
Đàn ông đã tạo ra đàn bà , từ cái gì?
Từ một cái xương sườn hay là từ chính “lý tưởng” về một vị chúa trời của hắn.
Diễn giải:
Cú lật bàn: Trong Kinh Thánh, Chúa lấy xương sườn của Adam để tạo ra Eva. Đàn ông có trước, đàn bà là sản phẩm phụ. Nietzsche đảo ngược mẹ nó lại: “Man created woman—” (Đàn ông tạo ra đàn bà—). Ngay lập tức, gã đặt đàn ông vào vị trí của Chúa, vị trí của đấng sáng tạo.
Câu hỏi tu từ: “—out of what?” (—từ cái gì?). Gã dừng lại một nhịp, như thể đang nhếch mép cười, để mày phải tự hỏi.
Cú đấm cuối cùng: “Out of a rib of his god,—of his “ideal.”” (Từ một cái xương sườn của vị chúa của hắn,—của cái “lý tưởng” của hắn.)
Nietzsche không nói đàn ông tạo ra đàn bà từ xương sườn của chính mình. Gã nói đàn ông tạo ra đàn bà từ xương sườn của vị chúa của hắn.
Vậy “vị chúa của hắn” là cái gì? Đó là cái “lý tưởng” của tên đàn ông.
“Người đàn bà” (women) mà đàn ông “tạo ra” (create) không phải là người đàn bà bằng xương bằng thịt. Mà là một hình ảnh, một ảo vọng, một con búp bê được nặn ra từ chính những ước mơ, những khát khao, những tiêu chuẩn về sự hoàn hảo của một thằng đàn ông.
Hắn ta lấy những thứ cao siêu nhất, viển vông nhất trong đầu mình ra — lòng trung thành, sự thuần khiết, vẻ đẹp vĩnh cửu, sự dịu dàng vô bờ bến— rồi đắp nặn thành một hình tượng “đàn bà lý tưởng”.Sau đó hắn quỳ xuống tôn thờ nó. Hắn yêu cái ảo ảnh do chính mình tạo ra, chứ không phải con người thật.
Khi người đàn bà bằng xương bằng thịt không hành xử giống như thứ đồ chơi mà hắn đã tạo ra, hắn trở nên thất vọng, tức giận, và rồi hắn đổ lỗi cho “đàn bà”. Gã chửi rủa họ không đủ “đức hạnh”, “trinh bạch”, “thủy chung”, “tam tòng tứ đức”—mà đéo nhận ra rằng hắn đang chửi rủa chính cái bóng của mình. Hắn tức giận vì sản phẩm tưởng tượng của gã không có thật.
Sự tự lừa dối của đàn ông: Chúng ta không yêu đàn bà, chúng ta yêu cái lý tưởng mà chúng ta áp đặt lên họ, một lý tưởng được nặn ra từ chính những thứ mà chúng ta tôn thờ.
14.
Sao? Mày đang tìm kiếm cái gì à? Mày muốn nhân bản chính mày lên chục lần, trăm lần? Mày muốn có môn đồ? Cứ đi mà tìm mấy con số không, mấy cái xác không hồn ấy!
Diễn giải:
Cipher trong tiếng Anh có hai nghĩa chính:
Số không (0): Một thứ vô giá trị, thêm vào hay bớt đi cũng đéo làm thay đổi tổng.
Mật mã, ký hiệu rỗng: Một cái vỏ không có nội dung, một ký hiệu cần được người khác giải mã mới có ý nghĩa.
Nietzsche đang chơi chữ trên cả hai nghĩa này, và cú đấm của gã nằm ở đó.
What? Art thou looking for something? Thou wouldst fain multiply thyself tenfold, a hundredfold? Thou seekest followers?” (Gì? Mày đang tìm kiếm thứ gì đó à? Mày muốn nhân bản chính mày lên mười lần, một trăm lần? Mày tìm kiếm môn đồ?)
Đây là lời mỉa mai dành cho những kẻ có “sứ mệnh”, những nhà cải cách, những đấng cứu thế, những thằng luôn muốn lan tỏa tư tưởng của mình.
Chúng nghĩ rằng chúng đang làm một điều vĩ đại: nhân bản cái sự “khai sáng” của mình ra cho thế giới. Chúng muốn có môn đồ để kế thừa, để tư tưởng của chúng được sống mãi.
“Seek ciphers!” (Hãy đi tìm những con số không!)
Nietzsche nói toẹt ra:
Mày muốn có môn đồ ư? Cái mày thực sự tìm kiếm là những con số không. Những cái xác không hồn, những kẻ không có ý chí, không có tư tưởng riêng. Chúng chỉ là những con số để làm tăng số lượng “tín đồ” của mày lên cho đẹp sổ sách. Mày thêm 100 con số không vào sau lưng, mày vẫn chỉ là mày mà thôi. Chúng đéo thêm được giá trị gì cho mày cả. Chúng chỉ là cái nền để làm nổi bật cái “tôi” của mày.
Môn đồ của mày là những ký hiệu rỗng. Chúng không thực sự “hiểu” mày. Chúng chỉ lặp lại lời của mày như một con vẹt. Chúng là những cái vỏ rỗng tuếch mà mày phải đổ ý nghĩa của mày vào. Chúng tồn tại để được mày “giải mã”, để được mày dẫn dắt. Chúng hoàn toàn phụ thuộc vào mày để có được ý nghĩa. Mày không tìm kiếm những con người tự do, mày tìm kiếm những cái bóng, những nô lệ tư tưởng.
15.
Bọn hợp thời thì được tung hô và vỗ tay, nhưng rồi cũng bị lãng quên cùng với thời đại của chúng.
Còn bọn đi trước thời đại như tao thì bị coi là điên, không ai hiểu nổi, nhưng chính cái sự khó hiểu đó lại biến lời nói của tao thành kinh thánh cho lũ đời sau.
Uy quyền của tao được xây trên chính sự thất bại trong việc giao tiếp với thời đại của mình.
Diễn giải:
Trước hết, mày phải hiểu “Posthumous men” là cái gì đã.
Dịch thô là “những kẻ hậu thế”, nhưng nói toẹt ra là những thằng sinh ra nhầm thời, những kẻ mà chỉ sau khi chết đi người ta mới bắt đầu hiểu được giá trị.
Nietzsche đang tự vỗ ngực và nói: “Tao thuộc loại này.”
Gã đang so sánh hai loại người:
“Men who reflect their age” (Những kẻ phản ánh thời đại): Bọn này là ngôi sao của thời đại chúng nó. Chúng nó nói, viết, và làm những thứ mà ai cũng gật gù tâm đắc vì chúng chỉ đang lặp lại và làm bóng bẩy thêm những gì xã hội đã tin sẵn. Chúng nó được hiểu ngay lập tức, được tung hô, được bán đầy sách.
“Posthumous men” (Những kẻ sinh nhầm thời): Bọn người như Nietzsche, nói những thứ quá xa lạ, quá đi trước thời đại nên đéo ai hiểu chúng nó đang lảm nhảm cái gì. Chúng nó không được hiểu, nhưng chính vì thế, lời nói của chúng lại có một sức nặng kỳ lạ, “được lắng nghe với sự kính trọng hơn.”
“In plain English: we are never understood—hence our authority.” (Nói toẹt ra là: chúng tao không bao giờ được hiểu, do đó mà chúng tao có uy quyền.)
Logic thông thường của mày là: tao hiểu mày -> tao nể mày -> mày có uy tín.
Logic của Nietzsche thì ngược lại: tao đéo hiểu mày -> mày có vẻ bí ẩn, sâu sắc, như một nhà tiên tri -> tao sợ và nể mày -> do đó, mày có uy quyền đối với tao.
Uy quyền thực sự, theo Nietzsche, không đến từ sự rõ ràng và đồng thuận. Nó đến từ sự bí ẩn, sự xa cách, và sự khó hiểu.
Khi một thứ quá dễ hiểu, mày có thể phân tích, mổ xẻ, và vứt nó vào sọt rác nếu mày không thích. Mày có thể tranh luận với nó một cách sòng phẳng.
Nhưng khi một thứ khó hiểu, nó ám ảnh mày. Nó giống như một lời sấm truyền, một câu thần chú. Mày không thể nắm bắt nó, nên mày không thể đánh bại nó.
Sự khó hiểu đó tạo ra một khoảng cách, và chính khoảng cách đó đẻ ra uy quyền. Người ta không tranh luận với lời sấm, người ta chỉ cố gắng diễn giải nó.
Đó là cách mọi thể chế kinh tế, chính trị, xã hội được vận hành bằng cách tạo ra cái uy quyền được trao vào một bọn thầy tu hiện đại được độc quyền giải chân lý theo kiểu:
“Chỉ có bọn tao là kẻ được chọn mới có quyền quyết định cái gì là thật, những thứ còn lại nếu tao không đồng ý đều là giả dối, xấu xa, phản động, chống phá trật tự mà lũ bọn ta đang được hưởng lợi từ việc bóc lột đám bầy đàn ngu xuẩn. “
Giống như khi mày “FED tăng lãi suất cơ bản lên X %” nghe như tụng kinh đéo hiểu mẹ gì nhưng nói thẳng ra là “tụi nó đang hút tiền về kho cho tiền đỡ mất giá làm công việc của tao trở nên khó khăn vì gồng lãi cao” là mày chửi liền.
16.
Sự thật ư?
Ồ, cái thứ sự thật trần trụi, thô thiển của mấy người đàn ông thì chúng tôi biết làm gì!Nó không phải là sự thật của phụ nữ chúng tao.
Một sự lăng mạ tấn công vào toàn bộ thế giới ảo mộng, duyên dáng và thanh lịch mà bọn này đã phải vất vả lắm mới xây dựng được!
Diễn giải:
Pudeurs” là cái gì?
pudeurs có nghĩa là sự đoan trang, lòng tự trọng, cái sự e thẹn, giữ kẽ của đàn bà.
Nhưng trong miệng Nietzsche, nó thâm hơn nhiều. Pudeurs ở đây là toàn bộ cái hệ thống quy tắc ngầm, những lời nói dối xã giao, những ảo tưởng về sự duyên dáng, thanh lịch, và trong sáng mà giới thượng lưu, đặc biệt là phụ nữ thời đó, phải khoác lên mình như một lớp áo giáp.
Nó là cái màng lọc để giữ cho mọi thứ “đẹp đẽ”, để không phải đối mặt với những sự thật trần trụi, xấu xí, và mang tính bản năng.
Tại sao “Sự thật” lại là một sự “Xúc phạm”?
Cái “Sự thật” (Truth) mà Nietzsche theo đuổi là gì? Là lột trần mọi thứ.
Là nói toẹt ra rằng đằng sau mọi lý tưởng cao đẹp là ý chí quyền lực, là bản năng sinh tồn, là sự ích kỷ, là sinh lý học. Nó là thứ sự thật phũ phàng, không che đậy.
Bây giờ mày tưởng tượng xem, một thằng như Nietzsche bước vào một phòng khách toàn các quý bà, và thay vì nói chuyện thời tiết hay nghệ thuật, gã lại nói về những sự thật về chuyện “nứng cặc, thèm bú lồn” xem? . Thì có khác đéo gì tạt một xô nước cống vào giữa một bữa tiệc trà thanh lịch?
Cái “Sự thật” đó là một sự xúc phạm (outrage) đến cái pudeurs của họ, vì nó xé toạc cái tấm màn ảo tưởng mà họ dùng để sống.
Nó phơi bày cái thực tại mà họ đang cố gắng che giấu bằng mọi giá. Nó là một hành động thô lỗ, vô duyên, và phá vỡ mọi quy tắc của thế giới “văn minh” của họ.
17.
Tao khoái cái thằng nghệ sĩ này vãi, nhu cầu của nó đơn giản cực kỳ: nó chỉ thực sự muốn hai thứ, một là có cơm để nhét vào mồm, hai là cái để mua vui cho thiên hạ—nói trắng ra là,
Panem et Circem( bánh mì và gánh xiếc).
Diễn giải:
Vế đầu nghe thì có vẻ rất lãng mạn, đúng không? “There is an artist after my own heart, modest in his needs: he really wants only two things, his bread and his art—” (Có một gã nghệ sĩ hợp gu tao vãi, khiêm tốn trong nhu cầu: gã thực sự chỉ muốn hai thứ, bánh mì và nghệ thuật của gã—).
Nghe như đang ca ngợi một thằng nghệ sĩ nghèo, trong sáng, sống chết vì đam mê. Một hình ảnh rất đẹp, rất quen thuộc. Gã chỉ cần “bánh mì” để tồn tại và “nghệ thuật” để sống với lý tưởng.
Nhưng ngay sau đó, gã thay thế toàn bộ cái sự cao cả đó bằng một cụm từ La-tinh đầy mỉa mai: “panem et Circem.”
Panem et Circem có nghĩa là “Bánh mì và Gánh xiếc”.
Đây là một cụm từ cổ của La Mã, dùng để chế giễu đám dân đen ngu muội, những kẻ sẵn sàng từ bỏ mọi quyền lợi và trách nhiệm chính trị chỉ để đổi lấy hai thứ: đồ ăn miễn phí (bánh mì) và những trò giải trí mua vui rẻ tiền (gánh xiếc, đấu sĩ). Nó là một cụm từ chứa đầy sự khinh bỉ dành cho những nhu cầu cơ bản và thô thiển nhất: một cái bụng no và một cái đầu được giải trí cho quên đi thực tại bị bóc lột như con lừa nuôi bọn quý tộc ăn trên ngồi trốc.
Mày thấy cú lừa chưa? Gã giả vờ đặt “nghệ thuật” (art) ngang hàng với “bánh mì”, rồi ngay lập tức đánh tráo “nghệ thuật” bằng “gánh xiếc” (Circem). Gã đang nói toẹt ra rằng:
Nghệ thuật = Gánh xiếc.
Cái thằng “nghệ sĩ” mà gã “hợp gu” này thực chất chỉ là một thằng hề mua vui cho thiên hạ.
Cái “nghệ thuật” cao quý của gã cũng đéo khác gì mấy trò đấu sĩ hay đua xe ngựa ở La Mã cổ đại.
Nó chỉ là một liều thuốc an thần, một trò giải trí để làm cho bầy đàn quên đi sự vô nghĩa của cuộc đời chúng. Gã không phải là một nhà sáng tạo làm thay đổi thế giới, gã chỉ là một thằng cung cấp dịch vụ giải trí.
18.
Thằng nào không đủ sức để áp đặt ý chí của mình lên thế giới, thì ít nhất nó cũng phải tự huyễn hoặc bằng cách gán cho thế giới một ý nghĩa.
Tức là, nó phải tin rằng có một ý chí nào đó (của Chúa, của số phận) thực sự có tồn tại bên ngoài bộ óc của nó mà không hiểu, chỉ cần tin. ( Đó chính là bản chất của đức tin.)
Diễn giải:
Câu này của Nietzsche vạch ra hai loại người cơ bản trên đời, dựa trên cách chúng nó đối mặt với một thế giới vốn đéo có ý nghĩa.
Loại 1: Thằng mạnh (Kẻ Sáng Tạo)
Đây là loại người mà Nietzsche không nhắc đến trực tiếp trong câu này, nhưng nó là vế đối lập. Thằng mạnh, thằng sáng tạo, là thằng biết cách “gieo cấy ý chí của mình vào sự vật” (knows how to plant his will in things).
Thằng này nhìn vào mớ hỗn độn của thế giới và không đi tìm ý nghĩa. Nó giống như một thằng điêu khắc nhìn vào một tảng đá vô tri.
Nó không hỏi “Tảng đá này có ý nghĩa gì?”, mà nó dùng búa và đục để đập vào tảng đá, bắt nó phải mang cái hình dạng và ý nghĩa mà nó muốn. Nó là kẻ áp đặt ý nghĩa lên thế giới, là kẻ biến sự hỗn loạn thành tác phẩm theo ý chí của mình.
Loại 2: Thằng yếu (Thằng tín đồ)
Câu này tập trung vào loại thứ hai: thằng yếu, thằng không có khả năng sáng tạo. Thằng này “không biết cách gieo cấy ý chí của mình” (knows not how to plant his will). Nó sợ hãi trước một thế giới câm lặng, vô nghĩa.
Vậy nó làm gì? Nó tự lừa dối mình. Nó “gán cho sự vật một ý nghĩa nào đó” (endows them with some meaning). Và nó làm điều đó bằng cách “tin rằng một ý chí đã có sẵn trong chúng.” (believes that a will is already present in them.).
Nó nhìn thấy một cơn bão và tin rằng đó là “cơn thịnh nộ của thần linh” hoặc “ý Chúa”. Nó gặp xui xẻo và tin rằng đó là “số phận” hay “nghiệp chướng”. Nó nhìn lên trời và tin rằng có một kế hoạch vĩ đại, một ý chí siêu việt nào đó đang điều khiển mọi thứ.
Nó cần tin rằng có một đạo diễn, một ý chí, một mục đích đằng sau mọi cảnh vật, vì nó không đủ sức để tự mình làm đạo diễn.
“(A principle of faith.)”
Toàn bộ cái quá trình đi tìm kiếm một ý nghĩa của đời mình có sẵn ở đâu đó - toàn bộ cái niềm tin rằng có một “ý trời” hay “số phận”, đối với Nietzsche, chính là bản chất của đức tin (faith).
Đức tin, trong mắt gã, không phải là một đức hạnh cao cả, mà là một cái nạng tâm lý dành cho những kẻ không đủ sức mạnh để đối mặt với sự thật rằng thế giới này trống rỗng và họ phải tự tạo ra ý nghĩa cho cuộc đời mình.
19.
Sao cơ?
Chúng mày vừa muốn vênh váo ra vẻ đạo đức, lại vừa liếc mắt thèm nhỏ dãi những đặc quyền của bọn vô lại à? —Nhưng này, đã chọn làm người tốt thì phải từ bỏ hết mấy cái lợi lộc đó rồi cơ mà… (Câu này nên được đóng đinh lên cửa nhà của một thằng bài Do Thái cho nó đọc.)
Diễn giải
Gã đang vạch ra một sự mâu thuẫn trơ trẽn trong tâm lý của những người theo đạo đức truyền thống.
Hành vi đạo đức giả:
“What? Ye chose virtue and the heaving breast, and at the same time ye squint covetously at the advantages of the unscrupulous.—” (Sao cơ? Chúng mày chọn đức hạnh và cái ngực ưỡn ra, và cùng lúc đó lại liếc mắt thèm thuồng những lợi thế của bọn vô liêm sỉ.—)
“Virtue and the heaving breast” (Đức hạnh và cái ngực ưỡn ra): Đây là hình ảnh của một thằng tự hào về sự “tốt đẹp” của mình, một kẻ lúc nào cũng ra vẻ ta đây đạo đức trong sáng, ngực ưỡn ra vì tự mãn.
Nhưng trong khi mồm rao giảng đạo đức, thì mắt nó lại “liếc trộm” (
squint covetously), thèm nhỏ dãi những thứ mà “bọn vô liêm sỉ” (the unscrupulous) có được. Đó là tiền tài, quyền lực, gái gú, sự tự do... những thứ mà bọn “ác nhân” có được vì chúng nó đéo bị trói buộc bởi mấy cái luật lệ đạo đức.
Gã đang nói: Chúng mày giả vờ trong sạch, nhưng sâu bên trong chúng mày ghen tị và thèm khát những thành quả của tội lỗi.
Sự mâu thuẫn trong tư duy:
“But with virtue ye renounce all “advantages” ...” (Nhưng với đức hạnh thì chúng mày đã từ bỏ mọi “lợi thế” rồi còn gì…)
Chính cái hệ thống “đức hạnh” mà chúng mày chọn (đạo Cơ Đốc) được xây dựng trên sự từ bỏ những lợi thế trần tục. “Phúc cho kẻ khó khăn”, “người giàu khó vào nước trời”... Cái lý tưởng của chúng mày đòi hỏi sự hy sinh và từ bỏ trần thế.
Vậy mà chúng mày lại vừa muốn có cái danh tiếng của một vị thánh, vừa muốn có những lợi lộc của một thằng tội đồ. Mày không thể vừa muốn lên thiên đàng của kẻ yếu, vừa muốn hưởng thụ thành quả ở trần gian của kẻ mạnh được. Đó là một sự mâu thuẫn ngu xuẩn.
“để đóng đinh lên cửa nhà một thằng bài Do Thái”
Và cái ghi chú cuối cùng trong ngoặc đơn chính là địa chỉ mà Nietzsche muốn gửi “lá thư” bóc phốt này đến.
Tại sao lại là “thằng bài Do Thái”? Vì đối với Nietzsche, tâm lý của bọn bài Do Thái thời đó chính là hiện thân hoàn hảo của cái thói đạo đức giả này.
Chúng nó luôn ra vẻ mình là những người Đức “thuần chủng”, “đạo đức”, bảo vệ nền văn minh, nhưng sâu bên trong, chúng nó chỉ là một lũ yếu đuối, đầy lòng ghen tị và căm thù (ressentiment) đối với sự thành công và quyền lực mà chúng nó cho là người Do Thái đang nắm giữ.
Chúng nó “chọn đức hạnh” nhưng lại “thèm thuồng lợi thế” của kẻ mà chúng nó ghét.
Vậy nên, cái ghi chú này có nghĩa là: “Cái đoạn văn bóc phốt tâm lý thối nát này, tao đặc biệt gửi tặng cho bọn bài Do Thái. Hãy đóng nó lên cửa nhà chúng mày mà đọc cho thấm.” Nó là một hành động khinh bỉ tột cùng.
Còn đối với người do thái thì Nietzsche có lời khen rằng:
“chủng tộc mạnh nhất, cứng rắn nhất và thuần khiết nhất đang sống ở châu Âu”.
Mặc dù vẫn có vài cái ghi chú chửi thói con buôn Do Thái vốn thịnh hành ở cái thời đó nhưng về thực lòng thì hắn vẫn ngưỡng mọi ý chí kiên cường của dân tộc này chứ đéo phải một thằng Nietzsche bị đám Nazi cải biên, biến tướng để phục vụ cho cái lý tưởng Aryan bởi mụ em gái Elisabeth Förster-Nietzsche sau khi thằng anh chết thì lợi dụng những gì còn sót lại từ đống đống ghi chú rời rạc mà lão đã bỏ đi thành cuốn Ý chí Quyền lực (Der Wille zur Macht). Lão Nietzsche đéo bao giờ viết cuốn đó.
Mấy cái ấn tượng xấu về Nietzsche ca ngợi chủng tộc thượng đẳng đó là do con mục Elisabeth bịa ra để đi bán sách và sống giàu sang sung tác nhờ công sức thằng anh điên loạn để lại.
Trong thư Nietzsche gửi cho con mụ đó vào giáng sinh năm 1887 nói rằng:
“Mày đã phạm phải một trong những sự ngu xuẩn lớn nhất... Việc mày giao du với một thằng trùm bài Do Thái là một sự xa lạ với toàn bộ lối sống của tao... Đối với tao, việc hoàn toàn trong sạch và rõ ràng trong thái độ chống lại Chủ nghĩa bài Do Thái là một vấn đề danh dự“.
Mày phải nhìn vào bọn Do Thái bằng con mắt của một thằng thợ rèn, không phải của một thằng đạo đức. Nietzsche đéo khen chúng nó vì chúng nó “tốt”. Lão khen chúng nó vì chúng nó bền. Lão nhìn vào chúng nó và thấy một màn trình diễn kinh hoàng của Ý chí Quyền lực.
Hãy nghĩ xem: một dân tộc bị mất đất, bị xua đuổi, bị săn lùng, bị khinh bỉ, bị tàn sát trong suốt hai ngàn năm. Bất kỳ một dân tộc nào khác cũng đã tan thành tro bụi từ lâu rồi.
Nhưng bọn Do Thái thì sao? Chúng nó đéo chỉ sống sót. Chúng nó còn phát triển mạnh. Chúng nó giữ được luật lệ, giữ được bản sắc, giữ được chính mình mà không cần đến một nhà nước, một đội quân hay một mảnh đất để bám víu. Sức mạnh của chúng nó nằm ở bên trong.
Đối với Nietzsche, đây là bằng chứng tối cao của sức mạnh. Sức mạnh được đo bằng sức cản mà nó vượt qua. Và đéo có dân tộc nào đã phải vượt qua một sức cản kinh khủng và kéo dài như bọn Do Thái. Vì thế, chúng nó là thằng mạnh nhấtvà cứng rắn nhất.
Còn tại sao lại là “thuần khiết nhất”? Đéo phải là thuần chủng theo kiểu gen thượng đẳng Aryan của bọn Quốc xã ngu dốt. Nietzsche khinh bỉ cái trò đó.
Nó “thuần khiết” về mặt ý chí. Trong khi các dân tộc khác bị phân tâm, bị làm cho mềm yếu bởi sự thoải mái, bởi quyền lực, thì bọn Do Thái chỉ có một mục tiêu duy nhất, được rèn giũa qua hàng ngàn năm đau khổ: phải sống. Cái ý chí đó của chúng nó không bị pha tạp, không bị loãng đi. Nó cứng như kim cương.
Nhưng đây mới là chỗ mày phải tỉnh táo. Nietzsche đồng thời cũng là kẻ chửi bọn Do Thái thậm tệ nhất. Lão nói chính bọn thầy tu Do Thái cổ đại đã phát minh ra “đạo đức nô lệ”, cái thứ đã đầu độc châu Âu qua Kitô giáo.
Vậy là sao? Lão mâu thuẫn à? Đéo. Lão phân biệt rõ ràng:
Bọn thầy tu Do Thái cổ đại: Là những kẻ phát minh ra liều thuốc độc vĩ đại nhất (đạo đức thương hại) như một hành động trả thù tinh thần.
Dân tộc Do Thái sau này: Là những người đã phải sống sót và chứng tỏ một ý chí sắt đá nhất, một phần là để tồn tại trong chính cái thế giới đã bị đầu độc bởi liều thuốc đó.
Lão vừa ghê tởm cái “thuốc độc” mà tổ tiên chúng nó đã tạo ra, vừa kính nể cái sức sống kinh hoàng đã giúp chúng nó tồn tại qua hai ngàn năm địa ngục. Lão là một nhà tâm lý học, không phải một thằng chính trị gia. Lão có thể khinh bỉ một hành động nhưng vẫn ngưỡng mộ sức mạnh đằng sau nó.
20.
Người đàn bà gương mẫu (ở thời của tao) bắt đầu viết văn như thể đang phạm phải một tật xấu nho nhỏ đáng yêu: làm cho vui như một cuộc dạo chơi, và trong lúc làm thì cứ len lét nhìn quanh, vừa sợ người ta thấy, lại vừa mong vãi lồn ra là có thằng nào đó phát hiện ra chuyện vụng trộm của mình.
Diễn giải:
Câu này là một bức chân dung mỉa mai đến tận xương tủy của Nietzsche về hình mẫu “phụ nữ hoàn hảo” trong xã hội thượng lưu thời đó, đặc biệt là khi họ dính vào mấy trò văn chương, nghệ thuật.
Nó vạch trần cái động cơ và tâm lý đằng sau hành động của họ, theo con mắt của Nietzsche.
Văn chương như một “Tật xấu” Gã không nói người đàn bà “viết” văn. Gã dùng từ “phạm vào” (
perpetrates) văn chương, như thể đó là một tội ác. Nhưng chỉ là một tội ác vặt, một “tật xấu nho nhỏ” (a petty vice). Nó giống như việc mày ăn vụng một miếng bánh lúc đang ăn kiêng, hoặc lén hút một điếu thuốc. Nó mang lại một cảm giác thích thú tội lỗi, một sự nổi loạn an toàn. Văn chương không phải là lẽ sống của mụ, nó chỉ là một cuộc dạo chơi, một cách để trang điểm cho cuộc đời nhàm chán của mình.Sự hời hợt và thiếu nghiêm túc Mụ ta làm điều đó “như một thử nghiệm, thoáng qua” (
as an experiment, en passant). Nó không phải là một sự cam kết trọn đời. Nó chỉ là một thứ mốt nhất thời, một cách để chứng tỏ mình “có chiều sâu” hơn những người phụ nữ khác. Nó được làm một cách hờ hững, không có sự đầu tư sinh mạng vào đó.Tâm lý mâu thuẫn: Vừa sợ, vừa thèm Và đây là cú lột trần tâm lý tàn nhẫn nhất: “...và trong lúc đó cứ nhìn quanh xem có ai để ý đến mình không, với hy vọng rằng có ai đó đang để ý đến mình.” (
...and looking about her all the while to see whether anybody is noticing her, hoping that somebody is noticing her.)
Tâm lý của mụ là một mớ mâu thuẫn của sự phù phiếm và nỗi sợ hãi xã hội.
Một mặt, mụ sợ bị phát hiện, vì làm văn chương không phải là vai trò của một “phụ nữ hoàn hảo”. Mụ sợ bị đánh giá, sợ bị chê là “nam tính”, “khô khan”.
Mặt khác, mụ lại thèm khát được chú ý. Mụ muốn người khác thấy mình thật “thú vị”, “sâu sắc”, “có tâm hồn nghệ sĩ”. Mụ muốn cái danh của một người làm nghệ thuật, nhưng lại không muốn gánh cái trách nhiệm và sự hy sinh của nó. Toàn bộ việc này là một màn kịch được diễn cho người khác xem.
21.
Hãy ngừng sống trong những cái vũng bùn của phép tắc xã giao, nơi mày phải đeo mặt nạ đạo đức mỗi ngày diễn cho thằng khác xem.
Thay vào đó, hãy tự đặt mình lên chốn hiếm nguy, nơi mày buộc phải sống bằng tất cả thực lực của mình—hoặc là thành công, hoặc là thất bại, hoặc là biến mẹ mày đi chỗ khác. Chỉ ở đó mày mới thực sự trưởng thành.
Diễn giải:
Câu này là một lời khuyên chiến lược của Nietzsche về cách sống: Hãy tự ném mình vào những tình huống hiểm nghèo, nơi mày đéo thể diễn trò được nữa.
Gã đang so sánh hai loại hoàn cảnh sống, và khuyên mày nên chọn loại nào.
Hoàn cảnh cần phải tránh: Cái đầm lầy đạo đức giả
Nietzsche nói rằng mày nên tránh xa những hoàn cảnh mà ở đó mày phải dùng đến “những đức hạnh giả tạo” (sham virtues).
Đó là cái gì? Là mấy cái trò đạo đức giả hằng ngày. Là cái sự lịch sự thảo mai khi trong lòng mày muốn chửi thề, là cái lòng tốt chỉ để lấy tiếng, là cái sự khiêm tốn đóng kịch để người khác không ghen ghét.
Đó là những môi trường an toàn, đầy những vùng xám, nơi mày có thể sống sót và thậm chí là thăng tiến bằng cách diễn cho người khác xem. Nietzsche ghê tởm những cái đầm lầy xã hội đó, vì chúng khuyến khích sự giả tạo và làm thui chột con người thật của mày.
Hoàn cảnh nên chọn: nơi nguy hiểm
Thay vào đó, gã nói mày hãy chọn những hoàn cảnh giống như “thằng đi trên dây” (the tight-rope dancer).
Trên sợi dây đó, đéo có chỗ cho sự giả tạo. Mày không thể “giả vờ” giữ thăng bằng được. Mày chỉ có ba lựa chọn rõ ràng như ban ngày: ngã (chết mẹ mày), đứng vững (bằng thực lực), hoặc chạy trốn (chủ động từ chối cuộc chơi, cũng là một hành động của ý chí).
Trong những tình huống một mất một còn này, mọi thứ mặt nạ xã hội đều vô dụng. Sự thảo mai không giúp mày khỏi ngã. Lời nói hoa mỹ không làm sợi dây bớt rung. Chỉ có sức mạnh thật, ý chí thật, sự tập trung thật, sự dũng cảm thật của mày mới có giá trị. Hoàn cảnh khắc nghiệt sẽ lột trần con người thật của mày ra. Nó buộc mày phải đối mặt với bản chất của mình.
22.
Chúng mày, hỡi những người Đức, nghĩ rằng chỉ có người ‘tốt’ mới tạo ra được nghệ thuật à? Nhìn sang bọn Nga đi.
Chúng nó có thể ‘xấu xa’, tàn bạo theo tiêu chuẩn đạo đức rẻ tiền của chúng mày, nhưng chính cái tâm hồn tăm tối, sâu thẳm và đầy bi kịch đó lại tạo ra những ‘bài hát’ vĩ đại nhất, chân thực nhất.
Nghệ thuật đích thực không đến từ sự trong sáng, nó đến từ sự hỗn loạn và sức mạnh.
Diễn giải:
Evil men have no songs.” (Kẻ xấu không có bài hát.)
Ý tưởng của câu này là: nơi nào có tiếng hát thì nơi đó an toàn, người tốt thì mới ca hát, còn bọn trộm cướp, bất lương thì đéo biết hát. Một ý tưởng rất lãng mạn, rất trong sáng, và trong mắt Nietzsche, là rất... ngu.
Nó là một sự đơn giản hóa lố bịch, cho rằng nghệ thuật (ca hát) là biểu hiện của một tâm hồn trong sạch, “tốt”.
Và rồi Nietzsche dùng một câu hỏi duy nhất để đập tan cái ảo tưởng đó: “—How is it that the Russians have songs?”(—Vậy tại sao bọn Nga lại có bài hát?)
Để hiểu được cú đấm này, mày phải hiểu “bọn Nga” có ý nghĩa gì với Nietzsche vào thời điểm đó.
Trong mắt Nietzsche và người châu Âu thế kỷ 19, “bọn Nga” không phải là mấy người nông dân hiền lành, yêu đời.
“Nga” là biểu tượng của một thứ gì đó sâu thẳm, man dại, tàn bạo, và mạnh mẽ hơn nhiều so với bọn châu Âu “văn minh”
Gã vừa mới khám phá ra Dostoevsky, một nhà văn Nga mà gã coi là nhà tâm lý học vĩ đại nhất.
Các nhân vật của Dostoevsky là ai? Là những kẻ vừa có thể là thánh, vừa có thể là quỷ; vừa có thể giết người, vừa có thể triết lý về Chúa. Họ là hiện thân của một tâm hồn phức tạp, đầy rẫy tội lỗi và đam mê, một tâm hồn có khả năng chịu đựng những nỗi đau kinh hoàng nhất.
Cái “bài hát” của người Nga, trong mắt Nietzsche, không phải là mấy bài dân ca vui vẻ. Nó là những bản nhạc bi tráng, những cuốn tiểu thuyết tăm tối, những vần thơ đầy đau khổ. Nó là tiếng nói của một tâm hồn đã nhìn thấy tận cùng của vực thẳm.
23.
Trí tuệ Đức’ ư? Mười tám năm nay, kể từ khi cái Đế chế này ra đời, cái cụm từ đó đã là một trò hề tự mâu thuẫn rồi.
Diễn giải:
Contradictio in adjecto” là cái gì?
Đầu tiên, phải hiểu cái cụm La-tinh này. Nó có nghĩa là “sự mâu thuẫn trong chính tính từ”, nói toẹt ra là “hai từ tự vả vào mồm nhau”.
Ví dụ như “vòng tròn vuông”, “ánh sáng đen”, “im lặng đinh tai”.
Đó là những cụm từ mà bản thân chúng nó đã tự mâu thuẫn, không thể tồn tại.
Tại sao lại là “mười tám năm”?
Đây là cái chìa khóa. Nietzsche viết câu này vào năm 1888. Lùi lại 18 năm là năm bao nhiêu? Là khoảng năm 1870-1871.
Năm đó có sự kiện gì động trời? Đó là khi Đế chế Đức được thành lập sau khi Phổ-Đức đập cho thằng Pháp sấp mặt trong chiến tranh Pháp-Phổ.
Ghép lại: Cú chửi vào Đế chế Đức
Và Nietzsche đang nói rằng, kể từ cái ngày nước Đức thống nhất và trở thành một cường quốc quân sự, thì trí tuệ Đức đã chết mẹ nó rồi.
Gã cho rằng chiến thắng quân sự đã làm cho bọn Đức trở nên tự mãn, kiêu ngạo, sa vào chủ nghĩa dân tộc rẻ tiền và chỉ biết đến chính trị quyền lực.
Chúng nó đã đánh đổi cái văn hóa (Kultur) sâu sắc—cái tinh thần đã tạo ra Goethe, Kant, Beethoven—để lấy cái đế chế (Reich) rỗng tuếch, đầy mùi bia và chiếc giày ủng của bọn lính diễu hành.
Kể từ đó, theo Nietzsche, hai từ “Đức” và “trí tuệ” đã trở thành kẻ thù của nhau. Một thứ vừa “thuần Đức” (theo kiểu đế chế mới) lại vừa “có trí tuệ” là một điều không thể. Chúng nó đã trở thành một “vòng tròn vuông”.
24.
Coi chừng cái thói đào mộ! Khi mày quá ám ảnh với việc tìm về cội nguồn, mày sẽ biến thành một con cua, chỉ biết đi giật lùi. Mày sẽ không chỉ nhìn về quá khứ, mà còn tôn thờ nó, và cuối cùng, mày sẽ bị chính cái quá khứ đó chôn sống.
Diễn giải:
Vì sao là con cua? Vì nó chỉ đi ngang và giật lùi.
Nietzsche đang nói rằng khi mày cứ cắm đầu vào việc đào bới quá khứ, tìm xem cái này từ đâu ra, cái kia bắt nguồn từ đâu, thì tư duy của mày cũng sẽ ngừng tiến về phía trước. Thay vì đi tới, mày sẽ bắt đầu đi giật lùi về mặt tinh thần, giống như một con cua. Mày trở nên thụt lùi, hướng về những gì đã qua thay vì những gì sắp tới.
Cái vế “tin về phía sau” (believes backwards) này mới là chỗ thâm độc.
Nó không chỉ có nghĩa là mày nhìn về quá khứ. Nó có nghĩa là mày bắt đầu dùng quá khứ làm tiêu chuẩn để đánh giá hiện tại và tương lai.
Mày bắt đầu tin rằng cái gì cũ, cái gì có truyền thống thì mới “tốt”, mới “có giá trị”.
Mày tôn thờ những cái xác khô trong quá khứ và coi thường sức sống của hiện tại.
Mày tìm kiếm sự vĩ đại ở những thứ đã chết, thay vì tạo ra sự vĩ đại cho tương lai.
Cái não của mày đậm mùi nước hoa của người già. Mày không còn khả năng tạo ra giá trị mới, mà chỉ biết đi lượm lặt và đánh bóng những giá trị cũ. Mày bị tê liệt bởi sự sùng bái quá khứ.
25.
Sự tự mãn có thể chống được cả bệnh cảm. Mày đã bao giờ thấy một người đàn bà bị cảm lạnh vào cái lúc mà mụ ta biết chắc mình đang mặc đồ đẹp chưa? Đéo bao giờ, ngay cả khi mụ ta mặc đồ rách rưới như con ăn mày.
Diễn giải
“Sự tự mãn bảo vệ mày khỏi cả bệnh cảm cúm.”
“Tự mãn” (Zufriedenheit) ở đây không phải là cái thói tự mãn của một thằng ngu. Nó là cảm giác đủ đầy, quyền lực, và hài lòng với chính mình. Nó là một trạng thái sinh lý của sức mạnh.
Một cơn cảm cúm là cái gì? Nó là dấu hiệu của sự yếu đuối, là lúc hệ miễn dịch của mày sụp đổ.
Nietzsche đang nói một cách tàn bạo rằng: Sức mạnh của cái đầu có thể điều khiển cả cái thân xác. Một ý chí mạnh mẽ, một tâm trạng phơi phới, có thể thực sự làm cho cơ thể mày khỏe hơn, chống lại được bệnh tật.
Và để chứng minh, lão lôi ra một ví dụ hoàn hảo: một con đàn bà.
“Có con đàn bà nào biết chắc mình đang mặc đồ đẹp mà bị cảm lạnh chưa?”
Tại sao lại là đàn bà và quần áo? Vì đối với Nietzsche, đó là ví dụ điển hình nhất của một quyền lực được tạo ra từ một niềm tin hoàn toàn chủ quan.
Khi một người đàn bà biết mình đang mặc đồ đẹp, mày có thấy cái dáng đi của mụ ta không? Ngực ưỡn ra, cằm ngẩng cao, mắt sáng rực. Trong khoảnh khắc đó, mụ ta không chỉ “đẹp”. Mụ ta đang ở đỉnh cao quyền lực. Cái cảm giác “tao đúng, tao đẹp, tao hoàn hảo” đó nó như một cái lò sưởi bên trong, nó đốt cháy mọi sự yếu đuối.
Để cho mày thấy nó đéo liên quan gì đến quần áo: “...ngay cả khi mụ ta gần như không có mảnh vải nào trên người.”
Cái cảm giác quyền lực đó mạnh đến mức nó vượt qua cả thực tại. Dù mụ ta có mặc giẻ rách, nhưng nếu trong đầu mụ ta tin rằng mình đang mặc đồ đẹp nhất, thì cái niềm tin đó vẫn tạo ra cùng một hiệu ứng sinh lý. Sức mạnh không đến từ cái áo lụa bên ngoài. Nó đến từ ngọn lửa bên trong.
Câu này là một bài học ngắn gọn về Ý chí Quyền lực: một ý chí mạnh mẽ, một sự tự mãn đầy sức sống, có thể biến đổi cả sinh lý của mày. Nó là vũ khí mạnh nhất để chống lại sự suy đồi, kể cả sự suy đồi của bệnh tật.
26.
Tao đéo tin mấy thằng cố xây dựng một hệ thống triết học hoàn hảo, và tao né bọn nó như né tà.
Cái ham muốn xây dựng một hệ thống như vậy chỉ cho thấy một điều: thằng đó là một thằng đéo trung thực, hắn đang chạy trốn khỏi sự vô định, bất an của cuộc đời.
Một thằng hèn nhát không hề có lòng dũng cảm đối mặt với sự thật. Gã không dám sống trong một thế giới không có câu trả lời cuối cùng, nên gã tự bịa ra một cái.
Diễn giải:
Lão đang chửi mấy thằng “hệ thống hóa” (systematisers như bọn triết gia Hegel, Spinoza, Kant... những thằng cố gắng xây dựng những hệ thống triết học vĩ đại, những cái lý thuyết giải thích tuốt tuồn tuột mọi thứ, từ con kiến cho tới vũ trụ, tất cả đều nằm gọn trong một cấu trúc logic hoàn hảo.
Vì sao lại là thiếu trung thực?
Thiếu trung thực với thực tại: Thế giới, trong mắt Nietzsche, là một mớ hỗn loạn, đầy mâu thuẫn, đéo có logic tuyệt đối nào trả lời cho tất cả. Nó là một cuộc đấu tranh vĩnh cửu của Ý chí Quyền lực. Để xây dựng một cái “hệ thống” hoàn hảo, ngăn nắp, mày buộc phải cắt gọt thực tại, phải phớt lờ những ngoại lệ, phải bóp méo sự thật cho nó vừa với cái khuôn mà mày đã tạo ra. Đó là một hành động trí thức gian dối. Mày phải nói dối về thế giới để bảo vệ hệ thống của mày.
Thiếu trung thực với chính mình: Cái ham muốn có một hệ thống cho thấy một sự yếu đuối về mặt tâm lý. Nó cho thấy thằng triết gia đó sợ hãi trước sự hỗn loạn của cuộc đời. Gã cần một cái “hệ thống” như một cái pháo đài, một nơi trú ẩn an toàn để không phải đối mặt với sự vô định, sự bất an. Đó là một sự hèn nhát, không phải là lòng dũng cảm đi tìm sự thật. Gã không dám sống trong một thế giới không có câu trả lời cuối cùng, nên gã tự bịa ra một cái.
27.
Đàn ông nghĩ đàn bà sâu sắc vãi lồn ra. Tại sao ư?
Vì hắn có bao giờ mò được tới tận đáy tâm hồn của mụ đâu. Nhưng sự thật là: đàn bà thậm chí còn đéo có đáy cạn để mà mò.
Diễn giải:
Toàn bộ sự “bí ẩn”, “sâu sắc” mà đàn ông thấy ở đàn bà, theo Nietzsche, chỉ là sự thất bại của chính thằng đàn ông trong việc nhận ra rằng hắn đang nhìn vào một bề mặt trống rỗng. Hắn đang cố tìm một thứ không tồn tại. Sự bối rối của hắn không phải là bằng chứng cho sự sâu sắc của mụ, mà là bằng chứng cho sự ngu dốt của chính hắn khi nhầm lẫn một cái vỏ rỗng với một kho báu bí ẩn.
28.
Nếu một người đàn bà mạnh mẽ và độc lập như đàn ông, thì bọn chúng sẽ sợ và chạy mất dép.
Còn nếu mụ ta yếu đuối và phụ thuộc đúng kiểu ‘nữ tính’, thì chính mụ ta sẽ là kẻ chạy trốn khỏi cuộc đời.
Đằng nào cũng là một bi kịch của sự xa cách khỏi sự vĩ đại, sự tự do đích thực và tìm đến những lời nói dối của tôn giáo, những phép tắc xã giao và một người đàn ông để nương tựa.
Diễn giải:
“Đức hạnh của đàn ông” ở đây là gì? Theo Nietzsche, đó là ý chí mạnh mẽ, là lòng can đảm, là sự độc lập, là trí tuệ sắc bén không khoan nhượng, là sự trung thực tàn bạo.
Tóm lại là tất cả những phẩm chất của một tinh thần tự do, một “chủ nhân” (Herr trong tiếng Đức).
Khi một người đàn bà có những thứ đó, thằng đàn ông bình thường sẽ sợ vãi đái ra và bỏ chạy.
Tại sao?
Vì cái tôi của hắn bị đe dọa. Hắn không còn là “kẻ mạnh”, “kẻ che chở” trong mối quan hệ nữa. Hắn muốn một con mèo con để vuốt ve và kiểm soát, chứ không phải một con cọp để chiến đấu ngang hàng. Mụ đàn bà này là một đối thủ, một cá thể độc lập, không phải là một vật sở hữu hay một sự bổ sung cho hắn. Hắn chạy trốn vì sự tự tôn của hắn không chịu nổi.
29.
‘Ngày xưa, lương tâm nó cắn khỏe vãi lồn, răng chắc phải bén lắm. Còn ngày nay thì sao, có vấn đề gì à?’—Đây là một câu hỏi của một thằng nha sĩ đang nhìn vào một bộ hàm đã mục nát. Lương tâm của con người hiện đại đã trở nên móm mèm, vì chúng ta quá yếu đuối để có thể phạm những tội lỗi đáng để phải dằn vặt.
Diễn giải: chưa có
30.
Sai lầm vì vội vàng thường đi lặp lại đến hai lần.
Lần đầu thì mày quá hăng nên làm lố. Bị vả cho một phát, mày sợ quá nên lần sau lại quá nhát, đéo dám làm gì cả. Cả hai đều là thất bại.
Diễn giải:
Sai lầm thứ nhất: Nhiệt tình + Ngu dốt = Làm quá lố
“The first time a man always docs too much.” (Lần đầu tiên một thằng đàn ông luôn làm quá nhiều.)
Đây là sai lầm của sự nhiệt tình mù quáng, của thằng trẻ trâu. Khi mày mới bắt đầu một việc gì đó—một mối quan hệ, một dự án, một cuộc cách mạng—mày hăng máu quá, mày vội vàng, mày dồn hết sức lực vào mà không có sự tính toán.
Mày làm quá lố, nói quá nhiều, hành động quá quyết liệt mà đéo kịp suy nghĩ.
Mày dùng búa tạ để đóng một cây đinh.
Kết quả thường là thất bại hoặc gây ra thiệt hại không đáng có.
Sai lầm thứ hai: Sợ hãi + Ám ảnh = Không dám làm gì
“And precisely on that account he commits a second error, and then he does too little.” (Và chính vì thế, hắn lại phạm một sai lầm thứ hai, và rồi hắn làm quá ít.)
Sau khi mày làm quá lố và thất bại sấp mặt, mày trở nên sợ hãi. Mày bị ám ảnh bởi thất bại cũ. Con lắc nó văng mẹ nó sang thái cực còn lại.
Giờ thì mày trở nên quá nhút nhát, quá thận trọng. Mày sợ mắc lại sai lầm cũ nên mày đéo dám làm gì cả, hoặc chỉ hành động một cách nửa vời. Mày bỏ lỡ cơ hội vì mày do dự. Mày thấy cây đinh nhưng giờ mày lại sợ dùng búa. Mày đã từ sự ngu dốt của kẻ hăng hái chuyển sang sự hèn nhát của kẻ thất bại.
31.
Cái thứ mà chúng mày gọi là “Sự Khiêm tốn”, cái đức hạnh mà chúng mày ca tụng lên tận mây xanh, về bản chất, đéo khác gì cái hành động cuộn mình lại của một con giun sau khi bị người ta đạp lên.
Nó không phải là một sức mạnh tinh thần. Nó là chiến lược của kẻ yếu. Nó là sự khôn lỏi của kẻ bị trị. Những kẻ yếu đuối, những kẻ bị chà đạp, không thể phản kháng trực diện, nên họ học cách thu mình lại, làm cho mình trở nên vô hại để tồn tại.
Rồi để tự an ủi, để biến sự hèn nhát của mình thành một thứ gì đó đáng tự hào, họ đặt cho nó một cái tên mỹ miều: “Sự Khiêm tốn”, và rao giảng nó như một con đường dẫn đến thiên đường.
Diễn giải: Chưa có, Nietzsche đang lột cái mặt nạ “thánh thiện” ra để lộ bộ mặt “chiến thuật sinh tồn của kẻ yếu” bên dưới.
32.
Có một kiểu người ghét nói dối xuất phát từ một trí tuệ sắc sảo, coi sự giả tạo là một trò hề. Và cũng có một kiểu khác cũng ghét nhưng vì hèn nhát sợ bị Chúa trừng phạt, đoà đày địa ngục. Đơn giản là quá hèn để dám làm mà thôi.
Diễn giải:
Loại thứ nhất ghét nói dối vì thằng này có một bộ óc sắc bén, nó nhìn thấu được sự lố bịch, sự ngớ ngẩn của những lời nói dối.
Đối với nó, một lời nói dối không phải là “tội lỗi”, mà là một thứ xấu xí, vụng về, và đáng buồn cười. Nó ghét sự giả tạo vì nó là một sự xúc phạm đến trí tuệ và gu thẩm mỹ.
Hắn ghét nói dối như một nghệ sĩ ghét một bức tranh xấu, một nhạc sĩ ghét một nốt nhạc lạc điệu. Lòng căm ghét này đến từ một vị thế thượng đẳng hơn, một tinh thần tự do, mạnh mẽ, coi giả dối là một thứ tầm thường và đáng khinh.
Loại thứ hai ghét nói dối vì hèn nhát và sợ hãi.
Thằng này không nói dối không phải vì nó mạnh mẽ hay trung thực từ bên trong. Nó không nói dối vì nó sợ. Nó sợ bị Chúa trừng phạt, sợ xuống địa ngục, sợ bị xã hội phát hiện và tẩy chay. Cái “lòng trung thực” của nó chỉ là nỗi sợ được khoác cho một cái tên đẹp.
Và Nietzsche chốt hạ bằng một câu đầy khinh bỉ: “Too cowardly to lie....” (Quá hèn để nói dối....) Cái đức hạnh của nó chỉ là một biểu hiện của sự hèn nhát. Nó không chọn sự thật, nó chỉ đơn giản là không dám nói dối.
33.
Hạnh phúc được tạo nên từ những thứ rác rưởi vặt vãnh! Như tiếng kèn túi chẳng hạn. Không có âm nhạc thì cuộc đời này là một sai lầm. Thậm chí, nước Đức còn sến đến mức tưởng tượng cả Chúa cũng là một thằng ca sĩ.
Diễn giải:
1. “What trifles constitute happiness! The sound of a bagpipe.” (Những thứ vặt vãnh tạo nên hạnh phúc! Tiếng kèn túi.)
Gã đang chế nhạo cái ý tưởng rằng hạnh phúc là những thứ lớn lao như thành công, tiền bạc, địa vị. Đéo phải.
Hạnh phúc thực sự, những khoảnh khắc vui sướng bất chợt, thường đến từ những thứ nhỏ nhặt, tầm thường, thậm chí có phần kỳ cục và chói tai như tiếng kèn túi.
Nó là một sự rung động trực tiếp, không cần lý do cao siêu nào cả.
2. “Without music life would be a mistake.” (Không có âm nhạc, cuộc đời sẽ là một sai lầm.)
Từ cái ví dụ về tiếng kèn túi, gã nâng nó lên thành một tuyên ngôn. Đối với Nietzsche, âm nhạc là nghệ thuật tối cao, là ngôn ngữ của Ý chí. Nó là thứ đi thẳng vào máu, vào cảm xúc, đéo cần đi qua bộ lọc lý trí. Nó là sự sống ở dạng nguyên chất nhất, bao gồm cả niềm vui và nỗi đau. Sống ở đời mà không có âm nhạc, không có cái sự rung động phi lý trí đó là một cuộc đời khô cằn, kiểu tồn tại không cần đến cảm xúc như Người trong bao ( Человек в футляре - The Man in the Case) của Chekhov.
3. “The German imagines even God as a songster.” (Thằng Đức thậm chí còn tưởng tượng cả Chúa cũng là một tay ca sĩ.)
Và rồi, như thường lệ, gã phải kết thúc bằng một cú chửi đểu dân tộc mình. Bề ngoài thì nghe như một lời khen, vì bọn Đức là dân tộc của những nhà soạn nhạc vĩ đại (Bach, Beethoven, Wagner). Nhưng thực chất đây là một cú mỉa mai thâm độc.
Gã đang chửi cái thói sến súa và tự phụ của bọn Đức, cái thói biến mọi thứ thành ra “dễ thương” và hợp với gu của mình.
Chúng nó đã thuần hóa, đã biến một khái niệm vĩ đại, đáng sợ và không thể hiểu nổi về Thượng đế thành một thứ gì đó gần gũi, hiền lành: một “tay ca sĩ” (songster).
Chúng nó quá yêu bản thân và văn hóa đó đến mức tạo ra một vị Chúa theo hình ảnh của chính mình—một ông Chúa người Đức, thích ca hát.
Đây là một biểu hiện của sự suy yếu về tinh thần, biến cái kinh hoàng của vũ trụ thành một buổi hòa nhạc dễ chịu.
34.
Flaubert nói ‘Chỉ có thể nghĩ và viết khi ngồi’. Tao tóm được mày rồi nhé, thằng chủ nghĩa hư vô thối tha! Sống đời ngồi một chỗ mới là tội lỗi lớn nhất chống lại sự sống. Chỉ những ý tưởng nảy ra lúc đang đi bộ mới đáng một xu.
Diễn giải:
Đây là tuyên ngôn cá nhân của hắn - một người đi bộ rất nhiều đặc biệt là khoảng thời gian ở Thuỵ Sĩ thường xuyên leo núi.
Tư tưởng đích thực không nảy ra trong một cái phòng kín, mà nó được sinh ra từ nhịp điệu của đôi chân, từ hơi thở của cơ thể, từ sự tương tác với thế giới. Chỉ những tư tưởng được sinh ra từ một cơ thể khỏe mạnh, đang vận động mới là những tư tưởng lành mạnh, tràn đầy sức sống.
35.
Thỉnh thoảng, bọn tâm lý học chúng tao giống như mấy con ngựa, tự nhiên hoảng loạn cả lên. Đó là vì chúng tao cứ nhìn chằm chằm vào cái bóng của chính mình. Một thằng tâm lý học muốn nhìn thấu được bất cứ thứ gì, thì trước hết nó phải học cách đừng nhìn vào cái gương soi chính nó nữa.
Diễn giải:
Con ngựa và cái bóng:
Một con ngựa đôi khi sợ chính cái bóng của nó. Nó nhìn thấy cái hình thù đen ngòm, méo mó trên mặt đất và tưởng đó là một con quái vật. Nó bị ám ảnh, hoảng loạn bởi chính cái bóng của mình mà không nhận ra nó chỉ là sự phản chiếu của bản thân.
Nhà tâm lý học và cái bóng:
Thằng tâm lý học cũng vậy.
“Cái bóng” của nó chính là cái tôi, là những định kiến, những lý thuyết, những ám ảnh cá nhân, những vết sẹo tâm lý của chính nó. Khi gã nhìn vào thế giới, nhìn vào một con người khác để phân tích, thay vì thấy đối tượng, gã lại chỉ thấy cái bóng của mình đổ lên mọi thứ. Gã phân tích người khác nhưng thực chất chỉ đang nói về chính mình. Gã bị kẹt cứng, hoảng loạn (fretful) bởi chính cái tôi của mình, không thể thoát ra được.
Vậy liều thuốc giải ở đây là Mày phải dẹp mẹ cái tôi của mày sang một bên thì mới mong thấy được sự thật.
Nếu mày cứ chăm chăm soi mói chính mình, thì mày sẽ đéo thấy được gì khác ngoài cái rốn của mày. Mọi thứ mày nhìn sẽ chỉ là một cái gương phản chiếu lại những vấn đề của mày.
Muốn hiểu được kẻ khác, trước hết phải học cách quên mình đi, dù chỉ trong chốc lát.
36.
Người ta hỏi tao có phá hoại đạo đức không à? Đéo.
Tao giúp nó mạnh hơn. Giống như bọn khủng bố bắn vua chúa chỉ làm cho ngai vàng thêm vững chắc. Bài học là gì? Một hệ thống muốn sống thì nó phải bị tấn công.
Vì vậy, đạo đức cần phải bị đập nát.
Diễn giải:
Muốn làm cho kẻ thù của mày mạnh hơn? Hãy tấn công nó.
Lão lôi ra ví dụ về bọn khủng bố vô chính phủ và mấy ông vua.
Khi đéo có ai đụng đến, một ông vua hay tên độc tài nào đó chỉ là một thằng cha béo phệ, nhàm chán, ngồi trên ngai vàng và ngáp. Dân chúng có khi còn quên mẹ nó mất là có vua.
Nhưng khi một thằng khủng bố ném một quả bom vào xe ngựa của lão, chuyện gì xảy ra? Cả vương quốc bừng tỉnh. Ông vua bỗng dưng trở thành biểu tượng của sự ổn định, của trật tự. Dân chúng hoảng sợ và bám chặt lấy ngai vàng hơn. Cảnh sát được tăng cường. Quyền lực của nhà vua, trớ trêu thay, lại trở nên vững chắc hơn sau khi bị tấn công.
Nietzsche nói, “tao với mày, những kẻ vô đạo đức, cũng đang làm y hệt với Đạo đức”.
Trước khi tao đến, đạo đức chỉ là một thói quen, một bà già ngủ gật. Đéo ai thèm chất vấn nó.
Nhưng khi tao “bắn” vào nó, khi tao chửi nó là bệnh hoạn, là suy đồi, tao đã buộc nó phải tỉnh dậy. Tao đã buộc nó phải tự vệ, phải tìm ra lý lẽ mới. Tao đã biến nó từ một thói quen vô thức thành một vấn đề nóng hổi.
Và đây là cú đấm cuối cùng: “Bài học là: mày phải bắn vào đạo đức.”
Tại sao? Vì Nietzsche tin vào sự đấu tranh. Một thứ gì đó chỉ có thể trở nên mạnh mẽ khi nó vượt qua được sự chống đối. Bằng cách tấn công đạo đức, lão không chỉ đang cố giết chết nó. Lão đang thử lửa nó.
Nếu nó chết, tốt, nó đáng chết. Nếu nó sống sót và trở nên thông minh hơn, mạnh mẽ hơn, thì cũng tốt. Cuộc tấn” công của lão là một món quà tàn bạo. Nó là cách duy nhất để buộc mọi thứ phải chứng minh rằng chúng nó xứng đáng được tồn tại.
37.
Mày đang chạy lên trước à?—Mày làm thế với tư cách là một thằng chăn dắt bầy đàn, hay một kẻ phi thường đéo cần ai? Còn một khả năng thứ ba nữa: mày chỉ là một thằng hèn đang chạy trốn.... Đây là câu hỏi đầu tiên mà lương tâm mày phải trả lời
Diễn giải:
“as a shepherd?” (như một thằng chăn cừu?)
Mày chạy lên trước để dẫn dắt bầy cừu đằng sau?
Mày muốn cứu rỗi chúng nó, đưa chúng nó đến một đồng cỏ tốt hơn, bảo vệ chúng nó? Nếu vậy, mày vẫn chỉ là một tên nô lệ của bầy cừu. Sự tồn tại của mày, mục đích của mày, vẫn bị trói buộc vào chúng nó. Mày cần có bầy đàn để cảm thấy mình quan trọng.
Đây là động cơ của những nhà cách mạng,thánh nhân, chính trị gia.
“as an exception?” (như một ngoại lệ?)
Hay mày chạy lên trước đơn giản vì con đường của mày nó thế? Mày đéo quan tâm có ai đi theo hay không. Mày chạy vì bản năng, vì ý chí của mày bắt mày phải thế. Mày là một đỉnh núi, không phải là một thằng chăn cừu. Nếu có ai đi theo, đó là việc của họ, không phải mục đích của mày. Đây là động cơ của Siêu nhân, của một tinh thần tự do đích thực.
“the fugitive....” (thằng đào tẩu....)
Và đây là lựa chọn thứ ba, lựa chọn phũ phàng nhất. Hay mày chạy lên trước đơn giản vì mày đang trốn chạy? Mày kinh tởm, sợ hãi bầy đàn nên mày phải chạy thục mạng. Mày không chạy đến một mục tiêu nào cả, mày chỉ đang chạy khỏi nỗi sợ và sự chán ghét của chính mình. Sự “tiên phong” của mày chỉ là một cuộc đào tẩu hèn nhát. Mày vẫn bị ám ảnh và định hình bởi chính cái bầy đàn mà mày đang cố thoát khỏi.
38.
Mày là hàng real hay chỉ là thằng đóng kịch?
Nếu đóng kịch, mày là đứa diễn viên hay đang chìm đắm vào nhân vật quên mất bản mình là ai và không đường thoát ra?
Hay mày còn hèn hơn, chỉ là bản copy của thằng copy?
… Đây là câu hỏi lương tâm thứ hai.
Diễn giải:
“Art thou genuine or art thou only an actor?”
(Mày là hàng thật hay chỉ là một thằng diễn viên?)
Đây là câu hỏi nền tảng.
Hàng thật (
genuine): Mày sống thật với con người mày, hành động của mày xuất phát từ ý chí, từ bản chất của mày. Mày là bản gốc.Thằng diễn viên (
an actor): Mày chỉ đang đóng một vai kịch mà xã hội, tôn giáo, gia đình đã viết sẵn cho mày. Lời nói, hành động, đức hạnh của mày đều là diễn, là một màn trình diễn cho người khác xem. Kể cả cái mày tin mình là “yêu nước”, “công dân gương mẫu” đều là vay mượn từ ý tưởng của đám đông chứ đéo phải của mày sáng tạo ra.
“Art thou a representative or the thing represented, itself?”
(Mày là một kẻ đại diện hay chính là thứ được đại diện?)
Câu này đào sâu hơn vào vai diễn của “thằng diễn viên”.
Kẻ đại diện (
a representative): Nếu mày là một thằng diễn viên, thì ít ra mày có phải là diễn viên chính, người đại diện cho một lý tưởng, một niềm tin, một hệ thống nào đó không? Một thằng linh mục thì đại diện cho Chúa. Một thằng chính trị gia thì đại diện cho một đảng phái. Mày là người phát ngôn cho một thứ gì đó lớn hơn mày.Chính là thứ được đại diện (
the thing represented): Đây là “hàng thật”. Nó không đại diện cho cái gì cả. Nó chính là cái đó. Một Siêu nhân không đại diện cho sức mạnh, nó chính là sức mạnh. Hành động của nó tạo ra giá trị, chứ không phải đi minh họa cho một giá trị có sẵn. Nó là bản gốc, là nguồn phát.
“Finally, art thou perhaps simply a copy of an actor?...”
(Cuối cùng, có lẽ mày chỉ đơn giản là một bản sao của một thằng diễn viên?...)
Và đây là cú đấm cuối cùng, cú đấm vào những kẻ mờ nhạt và rỗng tuếch nhất. Đây là mức độ giả tạo tệ hại nhất. Mày không chỉ là một thằng diễn viên đang đóng một vai. Mày còn tệ hơn: mày là một thằng đang bắt chước một thằng diễn viên khác.
Mày thậm chí còn đéo có sự độc đáo để tự mình diễn một vai kịch cho ra hồn. Mày thấy một thằng “cool ngầu”, một “nhà tư tưởng”, một “người thành công” nào đó và mày bắt chước y hệt nó, mà đéo biết rằng chính nó cũng chỉ đang diễn, đang đại diện cho một hình mẫu nào đó. Mày là một cái bóng của một cái bóng, một bản photocopy của một bản photocopy.
39.
Kẻ vỡ mộng lên tiếng: Tao đã đi tìm vĩ nhân, nhưng cuối cùng chỉ thấy toàn một lũ khỉ đang cố gồng mình lên để diễn cho ăn khớp với cái khuôn mẫu mà nó nghĩ là hoàn hảo.
Diễn giải:
“I sought for great men,” (Tao đã tìm kiếm những vĩ nhân,) Đây là cuộc tìm kiếm của gã. Gã đã đi tìm những con người phi thường, những tinh thần tự do, những Siêu nhân bằng xương bằng thịt, những kẻ có thể đứng ngang hàng với mình.
“but all I found were the apes of their ideal.” (nhưng tất cả những gì tao tìm thấy chỉ là những con khỉ bắt chước lý tưởng của chúng.) Và đây là sự thật phũ phàng mà gã tìm thấy. Cú đấm nằm ở cụm từ “những con khỉ bắt chước lý tưởng” (the apes of their ideal).
Cái “lý tưởng” (ideal) ở đây là một hình mẫu, một kịch bản về sự vĩ đại. Ví dụ: “nhà hiền triết khắc kỷ”, “vị thánh Cơ Đốc”, “chiến binh dũng mãnh”, “nghệ sĩ nổi loạn”.
Và tại sao lại là “con khỉ”? Vì con khỉ nó chỉ biết bắt chước. Nó có thể mặc một bộ đồ và học cách cầm dĩa, nhưng nó không phải là con người. Nó chỉ đang diễn một trò hề, bắt chước cái hình thức bên ngoài mà không có nội dung bên trong.
Nietzsche đang nói rằng những kẻ mà người đời tung hô là “vĩ nhân” thực chất không phải là hàng thật. Tụi nó chỉ là những thằng diễn viên (như câu hỏi lương tâm số 38) đang cố gắng gồng mình để diễn cho giống một vai vĩ đại nào đó chọn để đám vừa lòng đám đông.
Từ bản chất, tụi nó cũng tầm thường. Sự vĩ đại mà nó thể hiện chỉ là một sự bắt chước, một màn kịch rỗng tếch. Tụi đó đọc sách về các nhà hiền triết và cố gắng bắt chước lại hành động, cử chỉ, cách hành văn giống hết mức có thể như thằng hoàng đế cởi truồng vẫn tin mình đang mặc chiếc áo đẹp nhất.
Nietzsche đã đi tìm những con sư tử, nhưng chỉ thấy toàn những con khỉ đang khoác da sư tử.
40.
Mày là thằng tham chiến, hay chỉ là khán giả? Tệ hơn cố tình làm ngơ không thấy chuyện xảy ra trước mắt, hay là một thằng đào ngũ?... Đây là câu hỏi lương tâm thứ ba
Diễn giải:
Câu này là câu hỏi lương tâm thứ ba. Sau khi hỏi mày về động cơ (câu 37) và sự thật giả (câu 38), giờ gã hỏi mày về hành động: Mày là thằng làm, thằng xem, hay thằng trốn?
Gã dùng hình ảnh một cái bánh xe lớn, nặng nề—tượng trưng cho công việc vĩ đại của thế giới, cho một cuộc cách mạng tư tưởng, một sự nghiệp—và hỏi mày đứng ở đâu so với nó. Gã đưa ra bốn vai diễn, được chia thành hai cặp đối lập.
Cặp 1: Dấn thân vs. Bàng quan
“one who puts his own shoulder to the wheel?” (thằng xắn tay vào đẩy bánh xe?) Đây là thằng làm. Mày có phải là thằng trực tiếp tham gia, ghé vai vào đẩy cái bánh xe chết tiệt đó tiến lên không? Mày là thằng dấn thân, thằng không ngại bẩn tay, thằng trực tiếp tham gia vào cuộc chiến. Đây là hình mẫu mà Nietzsche tôn vinh.
“one who looks on” (thằng đứng xem?) Đây là thằng khán giả. Hay mày chỉ đứng từ xa nhìn bọn khác đẩy, rồi bình luận, phán xét, khen chê? Mày là thằng quan sát, thằng phê bình, một kẻ an toàn không bao giờ đổ một giọt mồ hôi. Mày xem cuộc đời như một bộ phim.
Cặp 2: Thờ ơ vs. Trốn chạy
“one who looks away” (thằng nhìn đi chỗ khác?) Đây là thằng thờ ơ. Mày còn tệ hơn cả thằng khán giả. Bánh xe thì đang ở đó, cuộc chiến đang diễn ra, nhưng mày lại cố tình quay mặt đi, giả vờ như nó không tồn tại, chỉ lo cho sự thoải mái và những chuyện vặt vãnh của riêng mình. Đây là tinh thần của “Con người cuối cùng”.
“one who turns aside” (thằng quay lưng/tránh né?) Đây là thằng đào ngũ. Mày đã thấy cái bánh xe, đã biết nhiệm vụ, nhưng mày lại chủ động rẽ sang một con đường khác dễ đi hơn. Mày là một kẻ bỏ cuộc, một kẻ đã thấy thử thách và quyết định trốn chạy.
41.
Mày trước hết hiểu rõ mình CÓ muốn thứ gì đó như tiền bạc , quyền lực, của cải, địa vị,bạn tình sau đó xác định CÁI ĐÓ có thực sự đáng để thèm khát? Đây là câu hỏi lương tâm thứ tư.
Diễn giải:
Gã chia nó làm hai phần: một câu hỏi về vị trí của mày trong xã hội, và một yêu cầu cơ bản về bản chất của ý chí.
Ba con đường để chọn
Đầu tiên, gã đưa ra ba lựa chọn về con đường mày đi trong xã hội: “Wilt thou go in company, or lead, or go by thyself?...” (Mày sẽ đi cùng hội cùng thuyền, hay dẫn đầu, hay đi một mình?...)
Đi cùng hội cùng thuyền (
go in company): Mày là một con cừu, đi theo đám đông để có được sự an toàn và cảm giác thuộc về? Mày sống bằng giá trị của người khác.Dẫn đầu (
lead): Hay mày là thằng chăn cừu, đi trước để dẫn dắt, để ra lệnh, để chịu trách nhiệm cho đám đông? Mày vẫn bị định hình bởi đám đông, nhưng ở một vị thế khác.Đi một mình (
go by thyself): Hay mày là một con sói cô độc, một tinh thần tự do, tự đi trên con đường của riêng mình, đéo cần ai đi theo hay dẫn dắt?
Điều kiện tiên quyết: Ý chí
Nhưng trước khi mày có thể trả lời câu hỏi trên, Nietzsche ném ra một yêu cầu còn cơ bản và quan trọng hơn: “A man should know what he desires, and that he desires something.” (Một thằng đàn ông nên biết mình muốn gì, và rằng nó có muốn một cái gì đó.)
Câu này phải được mổ ra làm hai vế nhỏ hơn:
“...that he desires something.” (...rằng nó có muốn một cái gì đó.) Đây là cú đấm vào mặt chủ nghĩa hư vô. Gã đang hỏi: “Mày có còn sống không? Mày có còn khát khao, có còn ý chí không, hay mày đã chết rũ ra, thờ ơ với mọi thứ rồi?”. Tệ hơn cả việc muốn một thứ sai trái, là đéo muốn một cái gì cả. Đó là trạng thái của “Con người cuối cùng”. Bước đầu tiên là phải có một ý chí, một ham muốn.
“...know what he desires” (...biết mình muốn gì) Sau khi mày xác nhận là mình còn ý chí, thì mày phải trả lời câu tiếp: “Mày muốn chính xác cái đéo gì?”. Mày phải có mục tiêu rõ ràng. Mày không thể cứ đi mà không biết mình đi đâu. Sự rõ ràng về mục đích là điều kiện cần để lựa chọn một con đường đúng đắn.
42.
Những gì tao học được trong quá khứ từ con người, sách vở, tư tưởng, nghệ thuật; tao cảm thấy như leo bậc thang một để đi lên : mỗi bước chân mày đi đều phải bỏ lại những gánh nặng lại phía sau.
Nhưng bọn họ thì lại ngu ngốc tưởng rằng tao muốn an phận, nằm chết dí trên cái ranh giới chính tụi nó đặt ra và dẫm chân tại chỗ.
Diễn giải:
Gã đang mô tả mối quan hệ của mình với những người, những ý tưởng, và những trải nghiệm đã định hình nên gã.
1. “They were but rungs in my ladder, on them I made my ascent:—to that end I had to go beyond them.” (Chúng chỉ là những bậc thang trên cái thang của tao, trên đó tao đã leo lên:—để làm được điều đó tao đã phải vượt qua chúng.)
“Chúng” (
They) ở đây có thể là bất cứ thứ gì: thầy cô, bạn bè, người yêu, kẻ thù, những cuốn sách gối đầu giường, những triết lý mày từng tôn sùng, thậm chí là chính con người cũ của mày.Tất cả những thứ đó, đối với một kẻ đang đi lên, chỉ là “những bậc thang” (
rungs in my ladder). Mày đặt chân lên chúng, lấy đà, rồi mày phải “vượt qua chúng” (go beyond them) để leo lên bậc tiếp theo. Nếu mày cứ đứng yên trên một bậc thang, thì mày đéo còn leo nữa. Sự trưởng thành đòi hỏi mày phải liên tục bỏ lại phía sau những gì đã giúp mày đến được ngày hôm nay.
2. “But they imagined that I wanted to lay myself to rest upon them.” (Nhưng chúng lại tưởng rằng tao muốn nằm nghỉ trên chúng.)
Và đây là bi kịch, là sự hiểu lầm chết người.
Những “bậc thang” đó không hiểu được bản chất của mày. Chúng nó không thấy mình là một phương tiện. Chúng nó nghĩ mình là đích đến.
Thằng thầy giáo nghĩ mày sẽ là học trò trung thành của nó cả đời.
Con người yêu nghĩ mày sẽ ở lại với nó mãi mãi trong cái thế giới nhỏ bé của hai người.
Cái triết lý đó nghĩ mày sẽ là một tín đồ trung thành.
Chúng nó muốn mày “nằm nghỉ”, an phận trên cái bậc thang của chúng nó - muốn thấy mày dùng mình làm điểm tựa, cam kết và thể hiện lòng trung thành.
Nhưng đối với mày, một kẻ đang leo, việc đứng yên một chỗ chẳng khác gì cái chết. Khi mày leo tiếp, bỏ chúng nó lại phía sau, chúng nó sẽ không hiểu. Chúng nó sẽ gọi mày là kẻ phản bội, thằng vô ơn. Chúng nó không nhận ra rằng đối với một người leo núi, việc đứng yên mới là phản bội lại chính mình.
43.
Việc chúng mày có công nhận tao đúng hay không thì nghĩa lý đéo gì! Tao quá đúng đến mức chúng mày không thể hiểu nổi rồi. Và thằng đang cười sảng khoái nhất ngay bây giờ, cũng chính là thằng sẽ cười cuối cùng.
Diễn giải:
1. “What matters it whether I am acknowledged to be right!” (Việc tao được công nhận là đúng thì có ý nghĩa đéo gì!)
Gã vứt mẹ sự công nhận của thời đại vào sọt rác. Gã đang nói:
“Sự đồng ý của chúng mày, những con người của hiện tại, hoàn toàn vô giá trị đối với tao. Chúng mày có khen tao hay chửi tao thì cũng thế cả thôi. Tao không sống bằng sự vỗ tay của chúng mày.”
Đây là tuyên ngôn của một “kẻ sinh nhầm thời” (posthumous man), người mà giá trị chỉ được công nhận sau khi đã chết.
2. “I am much too right.” (Tao đã quá đúng rồi.)
Đây mới là chỗ ngạo ngược nhất. Gã không chỉ nói “tao đúng”. Gã nói “tao quá đúng”.
Đúng đến mức mà cái đám đông ngu muội thời của gã không thể nào hiểu nổi. Sự thật của gã quá lớn, quá đi trước thời đại, đến nỗi trong mắt chúng nó, nó trông giống như sự điên rồ hoặc sai lầm. Nếu chúng nó mà vỗ tay khen gã đúng, gã có khi lại phải nghi ngờ chính mình. Sự thờ ơ và thù địch của thế giới chính là bằng chứng cho thấy gã đang đi đúng hướng.
3. “And he who laughs best to-day, will also laugh last.” (Và thằng nào cười sảng khoái nhất hôm nay, cũng sẽ là thằng cười sau cùng.)
Đây là cú lật ngược một câu ngạn ngữ quen thuộc. Người ta thường nói “kẻ cười sau cùng mới là kẻ cười chiến thắng”. Câu đó mang ý nghĩa của sự kiên nhẫn chờ đợi, chờ đến cuối cùng để trả thù hoặc chứng kiến kẻ thù thất bại.
Nietzsche thì khác. Gã nói rằng thằng đang cười ngay bây giờ—tức là chính gã, người tìm thấy niềm vui và sức mạnh trong chính triết lý của mình dù bị cả thế giới ghẻ lạnh—mới chính là thằng sẽ được lịch sử chứng minh là đúng. Tiếng cười của gã không phải là tiếng cười chờ đợi sự trả thù, mà là tiếng cười của một đấng sáng tạo biết chắc rằng tương lai sẽ thuộc về mình. Gã đang tận hưởng chiến thắng của mình ngay từ bây giờ, vì gã biết chắc mình sẽ thắng.
44.
Công thức hạnh phúc của tao là gì? Gật đầu với số phận, lắc đầu với rác rưởi, một con đường thẳng, và một mục tiêu để đời...
Diễn giải:
Câu này là công thức cuối cùng, là chữ ký của Nietzsche khép lại toàn bộ chương châm ngôn đầy bão tố này.
Gã không định nghĩa “hạnh phúc” là gì, mà gã đưa cho mày một công thức để tạo ra nó, một công thức của sức mạnh.
“Hạnh phúc” đối với Nietzsche đéo phải là sự thoải mái, an nhàn. Nó là cảm giác quyền lực dâng trào khi mày sống một cuộc đời có mục đích.
Và đây là 4 thành phần của nó:
1. “a Yea” (một cái Gật đầu): Đầu tiên, là khả năng nói “CÓ” với cuộc đời. Gật đầu với tất cả, kể cả khổ đau, thất bại, và những phần xấu xí nhất. Đây là amor fati, là tình yêu định mệnh. Không chối bỏ, không than vãn. Chấp nhận và ôm lấy toàn bộ thực tại.
2. “a Nay” (một cái Lắc đầu): Tiếp theo, là khả năng gầm lên “KHÔNG”. Lắc đầu với tất cả những gì làm mày yếu đi: đạo đức bầy đàn, những lời nói dối dễ chịu, sự thương hại, sự tầm thường, những kẻ muốn kéo mày xuống. Mày phải biết dọn dẹp rác rưởi trên con đường của mày. Một cái “Có” mạnh mẽ đòi hỏi một cái “Không” tàn nhẫn không kém.
3. “a straight line” (một đường thẳng): Thứ ba, là một đường thẳng. Tức là một ý chí không dao động, một hướng đi duy nhất. Mày đã có mục tiêu thì cứ nhắm thẳng mà đi, đéo có ngoằn ngoèo, đéo có do dự, đéo bị phân tâm bởi những thứ vớ vẩn bên lề. Tập trung tuyệt đối.
4. “a goal....” (một mục tiêu....): Và cuối cùng, quan trọng nhất, là phải có một “mục tiêu”. Tất cả những thứ trên đều vô nghĩa nếu mày đéo biết mày đang đi đâu. Phải có một lý do tồn tại, một dự án lớn lao để đổ toàn bộ sinh mạng vào, một đỉnh núi để leo. Dấu “....” ở cuối cho thấy cái mục tiêu này có thể luôn ở phía trước, luôn thúc đẩy mày tiến lên không ngừng.
THE PROBLEM OF SOCRATES
Das Problem des Sokrates.
1.
Từ trước đến nay, bọn hiền triết luôn chê bai cuộc đời này là đồ bỏ đi, ngay cả Socrates lúc chết cũng coi sống là một căn bệnh.
Lũ bảo thủ hùa theo chúng nghĩ rằng: ‘Bọn nó nói thế chắc phải đúng rồi!’.
Nhưng tao thì nói: ‘Chắc chắn là có cái gì đó bệnh hoạn ở đây’.
Nhỡ đâu bọn hiền triết này chỉ là một lũ suy tàn, yếu ớt? Nhỡ đâu trí tuệ người ta chỉ xuất hiện nhưcon quạ bị thu hút bởi mùi xác chết.
Diễn giải:
Gã đang đặt một câu hỏi cực kỳ xấc xược:
“Nhỡ đâu tất cả những nhà hiền triết vĩ đại trong lịch sử thực chất chỉ là một lũ bệnh tật, suy đồi thì sao?”
Gã thực hiện cú lật này qua ba bước.
Đầu tiên, gã giả vờ đồng ý với quan điểm truyền thống: “In all ages the wisest have always agreed in their judgment of life: it is no good.” (Từ xưa đến nay, những kẻ khôn ngoan nhất luôn đồng ý với nhau khi phán xét về cuộc đời: đời như lồn.)
Gã còn lôi cả Socrates, ông thánh của triết học, ra làm bằng chứng. Lời trăn trối của Socrates:
“Sống - nghĩa là đau bệnh một thời gian dài lâu: Ta nợ đấng cứu nhân độ thế Æsculapius một con gà.”
Æsculapius là thần chữa bệnh. Người ta cúng gà cho ông ta sau khi được chữa khỏi bệnh. Vậy Socrates đang nói rằng:
“Cái chết chính là sự chữa trị cho căn bệnh kéo dài mang tên cuộc sống.”
Lối suy nghĩ cũ, cái mà Nietzsche gọi là consensus sapientium (sự đồng thuận của những kẻ khôn ngoan), sẽ nói:
“Thấy chưa? Tất cả những bộ óc vĩ đại nhất đều chê bai cuộc đời, vậy chắc chắn cuộc đời này thối nát thật!”
Sau khi dựng cái bia đó lên, Nietzsche liền rút búa ra và đập nát nó. Gã hỏi:
“Chúng ta có nên nói như vậy ngày nay không? Có được phép không?”
Rồi gã đưa ra lời đáp của mình: “‘In any case there must be some sickness here,’ we make reply.” (”Dù thế nào đi nữa, chắc chắn là có cái gì đó bệnh hoạn ở đây,” chúng tao đáp lại.)
Đây chính là cú lật bàn. Cái “bệnh hoạn” ở đây không phải là cuộc đời, mà chính là những kẻ phán xét nó. Sự đồng thuận của những kẻ khôn ngoan không chứng minh rằng cuộc đời này tệ hại. Nó chỉ chứng minh rằng có thể chính những kẻ khôn ngoan đó đều có chung một căn bệnh.
Gã bắt đầu chẩn bệnh cho các nhà hiền triết:
“Is it possible that they were, everyone of them, a little shaky on their legs, effete, rocky, decadent?” (Có thể nào tất cả bọn họ đều đứng không vững, yếu đuối, mục ruỗng, và suy đồi không?)
Và gã kết thúc bằng một hình ảnh khinh bỉ tột cùng:
“Does wisdom perhaps appear on earth after the manner of a crow attracted by a slight smell of carrion?” (Phải chăng trí tuệ xuất hiện trên đời này giống như một con quạ bị thu hút bởi mùi xác chết?)
Gã đang nói rằng cái thứ “trí tuệ” của các nhà hiền triết từ xưa đến nay không phải là thứ trí tuệ của loài đại bàng bay lượn trên cao, yêu ánh mặt trời và sức sống. Nó là trí tuệ của loài ăn xác thối. Nó bị ám ảnh bởi sự suy tàn, sự bệnh hoạn, và cái chết. Nó chỉ xuất hiện khi sự sống đã bắt đầu mục rữa.
2.
Mấy thằng “thông thái vĩ đại” kia là thánh nhân, mà tao cho nó là lũ suy thoái, mấy thằng đã làm cho nền văn minh Hy Lạp chết dần chết mòn. Tao gọi tụi nó là “pseudo-Greek” – giả Hy Lạp, không phải kiểu bản chất thật, mà là thứ văn hóa đầu hàng, phản lại chính tinh thần Hy Lạp xịn.
Tụi thông thái đồng lòng chửi cuộc đời thối nát, nhưng cái “đồng thuận” đó không phải dấu hiệu tụi nó đúng, mà cho thấy tụi nó cùng một kiểu bệnh tật nào đó trong thân xác và tinh thần, mới nghĩ giống nhau như thế. Nghĩa là tụi nó đồng lòng chửi đời không phải vì cái lý trí sáng suốt, mà vì cùng bị cái thứ bệnh hoạn suy đồi nó đè bẹp.
Mấy lời phán cuộc đời tốt hay xấu, sống có ý nghĩa hay không, theo tao là trò trẻ con ngu xuẩn, không đáng tin. Đó chỉ là triệu chứng, dấu hiệu của một xã hội đang bệnh, chứ không phải là phán đoán đúng đắn.
Mày đang sống thì chỉ là thằng bị cáo đứng trước phiên toà của cuộc đời mình chứ đéo phải thẩm phán có quyền phán xét còn đám người chết thì thôi khỏi nói.Nếu mày là triết gia mà suốt ngày loay hoay xem đời có đáng sống không, thì tao bảo thằng đó dở hơi, không khôn ngoan thật sự, vì phán xét như thế chỉ thể hiện bản thân nó đéo sáng suốt, chưa biết cách nhìn đời cho đúng.
Rồi tao hỏi mày, phải chăng mấy thằng thông thái kia không lẽ chỉ là đám đồi bại chứ thực sự không hề thông minh như cách chúng tỏ vẻ?
Đéo, tụi nó không khôn như mày tưởng đâu. Tao nhắc lại, đặc biệt về thằng Socrates, cái thằng được tôn như thánh sống, tao nhìn nó như biểu tượng của sự suy vong.
Diễn giải:
Đoạn này Nietzsche bắt đầu chĩa thẳng mũi dùi vào thằng trùm cuối của triết học phương Tây: Socrates.
Gã không chỉ chửi, gã đang “chẩn bệnh” cho Socrates và tuyên bố rằng chính ông ta là một triệu chứng của sự suy tàn, một căn bệnh đã lây lan khắp nền văn minh.
Gã nói rằng cái ý tưởng láo xược rằng bọn hiền triết vĩ đại chỉ là một lũ suy đồi nảy ra trong đầu gã chính là khi gã nghiên cứu về Socrates và Plato, những kẻ mà cả giới học giả lẫn đám đông đều tôn thờ.
Gã tuyên bố thẳng thừng:
“Tao nhận ra Socrates và Plato là những triệu chứng của sự suy tàn, là những công cụ gây ra sự tan rã của văn hóa Hy Lạp, là những kẻ giả Hy Lạp, bài Hy Lạp.”
Đối với Nietzsche, cái văn hóa Hy Lạp “khỏe mạnh” là văn hóa của bi kịch, của sự chấp nhận cả nỗi đau lẫn niềm vui một cách trọn vẹn. Socrates, với cái chủ nghĩa lý trí của mình, đã đến và giết chết nó, thay thế bản năng bằng logic. Vì vậy, Socrates không phải là người đưa đến đỉnh cao của Hy Lạp, mà là kẻ đào mồ chôn cho nó.
Và từ đó, gã tung ra một trong những ý tưởng cốt lõi nhất của mình: Mọi phán xét về giá trị của cuộc đời, dù là khen hay chê, đều đéo thể “đúng” hay “sai”. Chúng nó chỉ là những triệu chứng.
Một thằng khỏe mạnh, sung sức sẽ la lên “Đời đẹp vãi lồn!”.
Một thằng bệnh tật, sắp chết sẽ rên rỉ “Đời là bể khổ”.
Cả hai câu đều không phải là “sự thật” về cuộc đời.
Chúng nó chỉ là “triệu chứng” cho thấy tình trạng sinh lý của thằng nói ra mà thôi. Tự bản thân mấy lời phán xét đó là vô nghĩa.
Vì vậy, gã nói có một định luật tối cao mà mày phải cố mà hiểu: Giá trị của cuộc đời là thứ đéo thể đo đếm được.
Tại sao? Vì một thằng đang sống thì đéo thể phán xét nó vì là bên trong cuộc, là chính bị cáo đang bị đưa ra xét xử, chứ đéo phải quan tòa. Còn một thằng chết thì khỏi nói rồi.
Và đây là cú lật bàn cuối cùng, tàn bạo nhất: Việc một thằng triết gia coi “giá trị cuộc đời” là một “vấn đề” cần giải quyết, bản thân nó đã là một sự phản đối chống lại chính thằng đó, một dấu hỏi về sự khôn ngoan của nó—một sự thiếu khôn ngoan.
Nói toẹt ra: một thằng khôn ngoan thực sự, một tinh thần khỏe mạnh sẽ không bao giờ đặt câu hỏi “Sống để làm gì?”. Việc mày phải đặt câu-hỏi-đó chỉ chứng tỏ rằng ý chí sống của mày đã suy yếu. Nó là triệu chứng của bệnh tật, không phải của sự khôn ngoan.
Và gã kết luận bằng một câu hỏi giết người:
“Cái gì? Có thể nào tất cả những vĩ nhân này không chỉ là những kẻ đồi bại, mà cũng đéo khôn ngoan nữa sao?”
Gã không chỉ nói Socrates bệnh, gã còn đang nói Socrates không hề khôn ngoan. Đó là một sự báng bổ tột cùng đối với toàn bộ triết học phương Tây.
3.
Xét về nguồn gốc xuất thân, thằng cha Socrates này chỉ là một thằng hạ lưu. Mày biết đấy, mặt mũi nó xấu như quỷ, đối với người Hy Lạp: xấu xí là bằng chứng của tâm hồn thối nát, suy đồi.
Bọn tội phạm học thời nay còn nói thẳng: Nhìn mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo thì lòng mới ngon.
Mà tội phạm chẳng phải là một kẻ suy đồi sao?
Hay Socrates chính là một tên tội phạm điển hình?
Dù sao đi nữa, chuyện này cũng khớp với lời của một thằng thầy tướng số đã nói thẳng vào mặt Socrates rằng lão là một con quái vật chứa đầy bệnh hoạn. Và Socrates chỉ đáp lại: ‘Ông biết rõ về tôi đấy!
Diễn giải:
Đoạn này Nietzsche không còn tranh luận triết học nữa. Gã chuyển sang chơi trò tấn công cá nhân, dùng một thứ khoa học ma tà thời đó là “nhân tướng học” để hạ bệ Socrates và chứng minh rằng lão ta là một kẻ suy đồi từ trong trứng.
Gã đang thu thập bằng chứng để buộc tội Socrates, và đây là các bước của gã:
Gã chửi thẳng vào xuất thân của Socrates: “To judge from his origin, Socrates belonged to the lowest of the low: Socrates was mob.” (Xét về xuất thân, Socrates thuộc tầng lớp hạ đẳng nhất: Socrates là một thằng du thủ du thực.)
Đối với Nietzsche, người tin vào tinh thần quý tộc, thì việc Socrates xuất thân từ tầng lớp đáy của xã hội đã là một dấu hiệu đáng ngờ đầu tiên.
Tiếp theo, gã lôi cái mặt của Socrates ra làm bằng chứng: “But ugliness... was almost a refutation among the Greeks.” (Nhưng sự xấu xí... gần như là một sự bác bỏ đối với người Hy Lạp.) Socrates nổi tiếng là xấu trai.
Đối với người Hy Lạp cổ, những người tôn thờ cái đẹp, vẻ đẹp ngoại hình phản ánh vẻ đẹp tâm hồn. Xấu xí là một dấu hiệu của phát triển lệch lạc, suy đồi.
Nietzsche đặt câu hỏi: Một thằng xấu xí như vậy có thể thực sự là một người Hy Lạp chân chính không?
Để cho nó có vẻ “khoa học”, gã lôi bọn tội phạm học thời đó vào, những kẻ kết luận tội phạm dựa trên những đặc điểm ngoại hình xấu xí.
Gã trích câu La-tinh monstrum in fronte, monstrum in animo (Nhìn mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo thì lòng mới ngon). Rồi gã đặt câu hỏi tu từ đầy giết chóc:
“Was Socrates a typical criminal?” (Socrates có phải là một tên tội phạm điển hình không?)
Và đòn cuối cùng, gã kể lại một câu chuyện nổi tiếng: một nhà nhân tướng học lạ mặt đã nhìn thẳng vào Socrates và phán rằng lão là một con quái vật chứa đầy những thói hư tật xấu.
Bạn bè Socrates thì tức sôi máu, còn chính Socrates thì trả lời một cách thản nhiên: “You know me, sir!” (Ông nói đúng về tôi rồi đấy!)
Đây là một cú lừa của Nietzsche. Trong câu chuyện đầy đủ, Socrates nói tiếp rằng “...nhưng tôi đã dùng lý trí để chiến thắng chúng”.
Nietzsche đã cố tình cắt mẹ nó cái vế sau đi, chỉ để lại lời thú tội trần trụi, như thể Socrates đang thừa nhận mình là một con quái vật.
4.
Không chỉ cái bản năng hoang dã và hỗn loạn của Socrates cho thấy sự suy đồi, mà cả cái cách áp đảo về mặt logic lẫn cái vẻ ngoài hiểm ác của một thằng dị dạng cũng là đặc điểm của lão.
Cũng đừng quên mấy cái ảo giác trong đầu hắn mà bọn sùng bái gọi là the demon of Socrates .
Mọi thứ ở lão đều bị làm quá lên một cách lố bịch như một vai hề và bản chất của lão cũng đầy che đậy những động cơ mờ ám.
Tao đang cố hiểu xem từ cái tâm lý dị hợm nào mà nó có thể đẻ ra cái công thức của Socrates:—Lý trí = Đức hạnh = Hạnh phúc, cái phương trình quái thai nhất từng có, thứ chống lại mọi bản năng của người Hy Lạp cổ.
Diễn giải:
Nietzsche nói rằng không chỉ “sự hoang dã và hỗn loạn trong bản năng” của Socrates là dấu hiệu suy đồi, mà cả “sự lấn át của năng lực logic” (preponderance of the logical faculties) cũng vậy.
Một con người khỏe mạnh, theo Nietzsche, thì bản năng và lý trí phải cân bằng. Ở Socrates, lý trí đã phát triển quá mức, như một khối u.
Nó đã trở thành một tên bạo chúa, cho thấy rằng bản năng của lão đã quá hỗn loạn và cần bị xiềng lại bằng một thứ vũ khí cực đoan.
Tệ hơn nữa, gã gọi cái lý trí đó là “sự độc ác của kẻ dị dạng” (that malignity of the misshapen).
Gã đang ám chỉ rằng, vì Socrates xấu xí và hạ đẳng, nên lão ta căm thù những người quý tộc Hy Lạp vốn đẹp đẽ và sống theo bản năng.
Cái biểu hiện tôn sùng lý trí của Socrates chỉ là một hình thức trả thù của một kẻ bị đối xử bất công, dùng logic như một con dao để chống lại vẻ đẹp tự nhiên và sức sống mà mình không có.
Ngay cả cái “tiếng nói thần thánh” (the demon of Socrates) mà Socrates hay nghe thấy, Nietzsche cũng chẩn đoán thẳng là “ảo giác thính giác” (aural delusions). Đéo có thần thánh gì ở đây cả, chỉ có một bộ não đang chập cheng.
Và tất cả những triệu chứng bệnh tật đó đã đẻ ra một công thức mà Nietzsche cho là quái thai nhất lịch sử:
Reason = Virtue = Happiness (Lý trí = Đức hạnh = Hạnh phúc)
Công thức này nói rằng: chỉ cần dùng lý trí để “biết” điều tốt, thì mày sẽ tự động trở nên đức hạnh, và một khi đã đức hạnh thì mày sẽ tự động hạnh phúc.
Đối với Nietzsche, đây là một sự dối trá tột cùng, đi ngược lại hoàn toàn tinh thần của người Hy Lạp cổ biết rõ rằng cuộc đời phi lý trí, rằng ngay cả người đức hạnh nhất cũng có thể bị số phận vùi dập, và hạnh phúc đéo phải là thứ có thể đạt được bằng logic.
Công thức của Socrates là một nỗ lực yếu đuối nhằm áp đặt một trật tự duy lý lên một thế giới hỗn loạn, một liều thuốc an thần cho những kẻ không còn đủ bản năng để sống.
5.
Nhờ Socrates mà gu của người Hy Lạp đã đảo chiều sang sùng bái biện luận.
Chuyện đéo gì đã xảy ra vậy?
Trước hết, một gu thẩm mỹ cao quý đã bị đánh bại: nhờ trò tranh cãi lý lẽ mà bọn hạ lưu đã leo lên đỉnh kim tự tháp.
Trước khi Socrates xuất hiện, cái trò này bị coi khinh trong giới thượng lưu; là thứ mất dạy, hạ thấp phẩm giá.
Giới quý tộc nghi ngờ mọi hành vi trưng ra lý lẽ của mình.
Nếu mày ngay thẳng thì cần gì phải nói ra lý do tại sao phải như thế để cho bọn khác làm gương?
Phô trương mọi thứ ra bên ngoài thể hiện mày cao sang.
Bởi vì cái gì cần phải được chứng minh thì bản thân nó đã đéo có giá trị gì.
Ở nơi quyền lực tồn tại thì không cần lý lẽ, mà chỉ cần ra lệnh thì thằng biện luận chỉ bị coi là một thằng hề.
Người ta cười vào mặt nó, đéo coi nó nghiêm túc.
Socrates chính là một thằng hề đã thành công trong việc làm cho người ta phải coi trọng mình: vậy rốt cuộc là có chuyện quái gì đã xảy ra?
Diễn giải:
Nietzsche vẽ ra một thế giới trước khi Socrates đến. Trong “giới thượng lưu” (good society) Hy Lạp, cái trò biện luận, hỏi-đáp, đòi lý do (dialectics) bị coi là một thứ thô lỗ, mất dạy. Tại sao?
Vì một thằng quý tộc đích thực, một tinh thần mạnh mẽ, không cần phải chứng minh. Nó chỉ việc ra lệnh. Giá trị của nó, lời nói của nó là tự thân, không cần giải thích.
Gã ném ra một định luật của giới quý tộc: “That which needs to be proved cannot be worth much.” (Cái gì cần phải được chứng minh thì bản thân nó đéo có giá trị.)
Việc phải đi tranh luận, giải thích lý do cho hành động của mình là một dấu hiệu của sự yếu đuối, là tự hạ thấp phẩm giá (compromising). Thằng nào đi tranh luận tay đôi chỉ là một “thằng hề” (a sort of clown).
Vậy biện luận là vũ khí của ai? Của “bọn hạ lưu” (the mob).
Khi mày không có quyền lực bẩm sinh, không có uy tín từ dòng dõi, mày chỉ còn một cách để tấn công kẻ bề trên: dùng logic để gài bẫy và vạch lỗi của họ.
Biện luận là công cụ của kẻ yếu để thách thức kẻ mạnh. Socrates, xuất thân từ tầng lớp hạ lưu, chính là bậc thầy của vũ khí này.
Và đây là “vấn đề” mà Nietzsche đặt ra: “Socrates was a clown who succeeded in making men take him seriously: what then was the matter?” (Socrates chính là một thằng hề đã thành công trong việc làm cho người ta phải coi trọng mình: vậy thì có chuyện đéo gì đã xảy ra?)
Cú đấm của Nietzsche không nhắm vào việc Socrates là một thằng hề. Cú đấm nhắm vào chính cái xã hội Athens đã để cho thằng hề đó chiến thắng.
Gã đang hỏi:
Cả cái xã hội Athens đã phải mục ruỗng, suy đồi đến mức nào rồi thì mới để cho một thằng hề hạ lưu dùng lý luận quèn để dắt mũi?
Tại sao giới quý tộc lại đột nhiên mất đi sự tự tin, mất đi bản năng ra lệnh, đến mức phải đi tranh luận tay đôi với một thằng du thủ du thực?
Sự thành công của Socrates không phải là bằng chứng cho sự vĩ đại của ông ta, mà là triệu chứng cho sự bệnh hoạn của cả một nền văn hóa đã mất hết sức sống.
6.
Chỉ có những thằng hết bài mới phải dùng đến trò biện luận.
Ai cũng biết cái trò đó đáng nghi và đéo thuyết phục.
Không gì dễ bị thổi bay hơn một chiến thắng bằng logic; cứ nhìn vào mấy cuộc tranh luận thì biết.
Nó chỉ có thể là sự tự vệ cuối cùng của những kẻ không còn vũ khí nào khác.
Mày phải ở trong cái thế bị ép phải dùng mồm để đòi lại quyền lợi của mình, chứ không thì mày cũng đéo thèm dùng nó.
Đó là lý do tại sao bọn Do Thái là những nhà biện luận. Con Cáo Reynard cũng là một nhà biện luận. Sao cơ?—Và cả Socrates nữa à
Diễn giải:
Gã nói thẳng:
“A man resorts to dialectics only when he has no other means to hand.”
(Một thằng chỉ dùng đến biện luận khi nó đéo còn con bài nào khác để chơi.)
Khi mày có quyền lực thực sự—uy tín, sức mạnh, địa vị—mày đéo cần phải tranh luận. Mày ra lệnh.
Chỉ khi mày yếu, mày không có vũ khí nào khác, mày mới phải cố gắng dùng logic để “thuyết phục” hoặc gài bẫy kẻ khác.
Hơn nữa, gã còn nói cái trò này cũng đéo hiệu quả:
“Nothing is more easily dispelled than a dialectical effect” (Không gì dễ tan biến hơn một hiệu ứng biện luận).
Mày có thể thắng một cuộc tranh luận, nhưng năm phút sau thằng kia lại quay về với niềm tin cũ của nó, điều đó chứng tỏ Logic không đủ sức mạnh để thay đổi bản chất con người.
Và để chứng minh luận điểm của mình, gã lôi ra một “bộ ba yếu thế” và ném Socrates vào chung rọ với chúng:
Người Do Thái (
the Jews): Gã nói người Do Thái là những nhà biện luận. Tại sao? Vì trong lịch sử, họ là một dân tộc bị áp bức, không có quyền lực chính trị hay quân sự. Họ phải dùng cái đầu, dùng logic để sinh tồn và đòi lại quyền lợi của mình.Cáo Reynard (
Reynard the Fox): Một nhân vật cáo gian xảo trong truyện cổ. Nó yếu hơn sói, hơn gấu, nên nó đéo thể đối đầu trực diện. Nó phải dùng mưu mẹo, dùng lời lẽ lắt léo (biện luận) để lừa bọn mạnh hơn.Socrates: Và rồi gã chốt hạ bằng một câu hỏi đầy khinh bỉ: “what?—and was Socrates one as well?” (Sao cơ?—và Socrates cũng là một trong số đó à?)
Gã đang đặt Socrates ngang hàng với một dân tộc bị trị và một con cáo gian xảo. Gã ngụ ý rằng Socrates cũng dùng biện luận vì cùng một lý do: lão ta yếu, xuất thân hạ lưu, bất lực, và phải dùng mưu mẹo để tồn tại và tấn công giới quý tộc Athens.
7.
Cái trò mỉa mai của Socrates liệu có phải là biểu hiện nổi loạn, xuất phát từ lòng căm phẫn của bọn hạ lưu không?
Với tư cách đê tiện như vậy tao nghi ngờ rằng lão ta thực sự hưởng thụ khả năng tra tấn bẩm sinh của mình bằng những nhát đâm logic?
Đó không phải là đang trả thù những kẻ quý tộc mà lão đã mê hoặc bằng miệng lưỡi của mình?—Một thằng biện luận như thế cầm trong tay một công cụ tàn nhẫn; nhập vai kẻ bạo chúa bắt kẻ khác phải phục tùng mình bằng logic nhưng cũng tự hạ thấp mình khi chiến thắng bằng nó.
Socrates để cho đối thủ của mình phải tự chứng minh rằng nó không phải là một thằng ngu, làm cho hắn tức điên, và đồng thời làm nó tê liệt.
Thằng biện luận luôn giỏi làm què quặt trí tuệ của đối thủ. Có khi nào cái trò biện luận của Socrates chỉ là một hình thức trả thù không?
Diễn giải:
Đoạn này Nietzsche tiếp tục màn mổ xẻ tâm lý của Socrates. Gã đào sâu vào cái “phương pháp” biện luận nổi tiếng của lão ta và đưa ra một kết luận tàn bạo: Cái trò biện luận của Socrates thực chất chỉ là một hình thức trả thù của một thằng hạ lưu.
Gã không hỏi, gã đang khẳng định thông qua một chuỗi câu hỏi tu từ đầy giết chóc.
Gã bắt đầu: “Is the Socratic irony an expression of revolt, of mob resentment?” (Cái trò mỉa mai của Socrates có phải là một biểu hiện của sự nổi loạn, của lòng căm thù của bọn hạ lưu không?)
Cái trò giả vờ ngu ngơ để gài bẫy người khác của Socrates, theo Nietzsche, không phải là một phương pháp đi tìm chân lý.
Nó là vũ khí của một thằng bị áp bức, một thằng hạ đẳng đang dùng mưu mẹo để trả thù giới quý tộc, những người mà lão vừa căm ghét vừa bị mê hoặc.
Gã vẽ ra một hình ảnh cực kỳ bạo lực: Socrates đang tận hưởng “sự tàn bạo bẩm sinh của mình trong những nhát đâm của tam đoạn luận” (innate ferocity in the knife-thrusts of the syllogism).
Đối với Nietzsche, một cuộc tranh luận với Socrates không phải là một cuộc đối thoại, mà là một trận đấu dao.
Lão ta, một kẻ bị dồn nén, đang tìm thấy một khoái cảm tàn bạo khi dùng thứ vũ khí duy nhất của mình (logic) để đâm chém, làm bẽ mặt và trả thù những kẻ quý tộc có tất cả những thứ mà lão không có.
Gã nói rằng thằng biện luận là một tên bạo chúa (tyrant). Nó dí súng logic vào đầu mày và bắt mày phải “chứng minh rằng mày không phải là một thằng ngu”. Nó đặt mày vào thế phòng thủ, làm mày “tức điên” và “tê liệt”(infuriates, paralyses).
Thằng biện luận không khai sáng cho mày, nó chỉ làm “què quặt trí tuệ” (cripples the intellect) của mày, nó phá hủy niềm tin của mày mà không cho mày một cái gì khác để thay thế.
Và gã kết thúc bằng cách tóm gọn lại toàn bộ lời buộc tội trong một câu hỏi cuối cùng: “Can it be that dialectics was only a form of revenge in Socrates?” (Có thể nào cái trò biện luận của Socrates chỉ là một hình thức trả thù không?)
8.
Tao đã cho chúng mày hiểu cách Socrates dồn người khác vào chân tường như thế nào: giờ thì càng cần phải giải thích làm sao lão ta có thể mê hoặc người khác.—Một lý do duy nhất: lão đã phát minh ra một loại ‘võ đài’ (Agon) mới, và là tay võ sư đấu kiếm đầu tiên trong giới thượng lưu Athens.
Lão mê hoặc người khác bằng cách đánh vào bản năng hiếu chiến của người Hy Lạp,—lão đã thêm một biến thể mới vào các cuộc thi đấu giữa đàn ông và thanh niên. Socrates cũng là một tay ‘erotic’ vĩ đại.
Diễn giải:
Ở mấy đoạn trước Nietzsche đã chửi Socrates là một thằng hề bệnh hoạn, chuyên dùng logic để trả thù.
Vậy thì một câu hỏi được đặt ra:
Tại sao một thằng như thế lại có thể mê hoặc được cả đám thanh niên quý tộc thông minh và đẹp đẽ nhất Athens?
Đoạn này là câu trả lời của gã.
1. Gã đã phát minh ra một môn thể thao mới: Đấu kiếm bằng mồm
Gã nói:
“he discovered a new kind of Agon, and that he was the first fencing-master in the best circles in Athens.”(lão đã phát minh ra một loại ‘võ đài’ mới, và lão là tay võ sư đấu kiếm đầu tiên trong giới thượng lưu Athens.)
Mày phải hiểu, bọn Hy Lạp là một lũ hiếu chiến, chúng nó biến mọi thứ thành một cuộc thi (Agon): thể thao, kịch nghệ, chính trị. Chúng nó nghiện cảm giác chiến thắng.
Socrates đã đánh hơi được cái bản năng hiếu chiến (combative instinct) này.
Gã đã tạo ra một môn thể thao mới cho giới quý tộc: thay vì đấu vật hay đấu kiếm thật, chúng nó sẽ đấu kiếm bằng mồm.
Vũ khí là logic, là những câu hỏi gài bẫy, và chiến thắng là làm cho đối thủ phải tự mâu thuẫn và câm họng.
Và Socrates, một kẻ xấu xí và hạ đẳng, lại chính là “võ sư đấu kiếm” (fencing-master) đầu tiên và giỏi nhất của môn này.
Gã đã cho đám thanh niên quý tộc một trò chơi mới, một cách mới để thể hiện sự vượt trội, và chúng nó đã nghiện cái trò này.
2. Gã là một tay “erotic” vĩ đại
Nhưng vũ khí của lão không chỉ có logic. Nietzsche nói toẹt ra:
“Socrates was also a great erotic.” (Socrates cũng là một tay ‘erotic’ vĩ đại.)
“Erotic” ở đây đéo chỉ có nghĩa là tình dục. Nó là sức quyến rũ chết người, là cái năng lượng đam mê dùng để mê hoặc và thu hút người khác.
Socrates đã quyến rũ những chàng trai trẻ đẹp và thông minh nhất Athens (như Alcibiades, Plato) không phải bằng cơ bắp, mà bằng bộ não.
Gã biến triết học thành một trò chơi tán tỉnh đầy nguy hiểm.
Cuộc đối thoại với gã là một màn đấu trí căng thẳng, quyến rũ của trí tuệ tức là hình thức của eros (tình yêu đam mê).
Gã là một bậc thầy trong việc khơi gợi sự tò mò và đam mê tri thức, một sức hút mà đám thanh niên quý tộc không thể cưỡng lại.
9.
Nhưng Socrates còn đánh hơi ra nhiều hơn thế.
Lão nhìn thấu bọn quý tộc Athens; nhận ra trường hợp của mình, cái ca bệnh dị hợm của mình, đéo phải là ngoại lệ.
Cùng một loại suy đồi đang âm thầm chuẩn bị ở khắp nơi: Athens cổ đại đang chết dần.
Và Socrates hiểu rằng cả thế giới này—cần phương tiện, liều thuốc, cái mưu mẹo đặc biệt của lão để sống sót.
Khắp mọi nơi, bản năng đang hỗn loạn; người ta nhìn thấ: con quái vật trong tâm hồn (
monstrum in animo) là mối nguy hiểm chung. ‘Bản năng sẽ đóng vai bạo chúa; chúng ta phải khám phá ra một tên phản-bạo-chúa mạnh hơn chúng.’Khi thằng thầy tướng số đã lột mặt nạ Socrates, bậc thầy của sự mỉa mai đã thốt ra một hai từ nữa, là chìa khóa cho bản chất của lão.
‘Điều này có thật,’ lão nói, ‘nhưng tao đã chế ngự tất cả chúng.’
Socrates đã làm chủ bản thân bằng cách nào?
Trường hợp ấy, xét đến cùng, chỉ là ví dụ cực đoan và rõ ràng nhất của một tình trạng khốn khổ đang bắt đầu trở nên phổ biến: cái tình trạng mà không ai còn có thể làm chủ bản năng của chính mình cắn lại nhau.
Với tư cách là ví dụ cực đoan của tình trạng này, lão đã mê hoặc—cái vẻ ngoài xấu xí kinh tởm của lão đã khiến lão nổi bật trong mắt mọi người: và rõ ràng là lão còn mê hoặc hơn nữa với tư cách là một câu trả lời, một giải pháp, một liều thuốc giả cho ca bệnh này.
Diễn giải:
Đây là nhát dao cuối cùng và sâu nhất của Nietzsche vào tim Socrates.
Gã giải thích tại sao một thằng hề bệnh hoạn như Socrates lại có thể mê hoặc cả một nền văn minh: Vì chính nền văn minh đó cũng đang bệnh hoạn y như gã.
Gã nói Socrates có một sự nhạy bén của một con bệnh: lão nhìn đám quý tộc Athens và nhận ra một sự thật kinh hoàng.
Cái mớ hỗn loạn, những con quỷ trong đầu lão (his peculiar case) không phải là trường hợp cá biệt.
Đó là một căn bệnh đang âm thầm lây lan khắp nơi. Athens cổ đại, cái nền văn hóa dựa trên bản năng quý tộc, đang chết dần.
Nó mang tên: Sự mệt mỏi do bị cuốn vào một cuộn chiến Peloponnese (431–404 TCN) kéo dài 30 năm đánh nhau với Sparta chứa đầy bi kịch, hỗn loạn, tự huỷ, phản bội và rận Đại dịch hạch đã quét sạch một phần ba dân số, giết luôn cả lãnh tụ vĩ đại Pericles.
Thucydides đã mô tả lại: luật lệ vứt đi, thần thánh bị coi thường, người ta sống cho khoảnh khắc vì biết ngày mai mình sẽ chết. Toàn bộ cái nền tảng đạo đức cũ, cái niềm tin vào bản năng quý tộc, đã sụp đổ. Nó đã để lại một vết thương tâm lý khổng lồ.
Bản năng của “Con quái vật trong tâm hồn” (monstrum in animo) đã trở thành mối nguy hiểm chung.
Trước chiến tranh, bản năng của người Athens còn là một con thú hoang dã nhưng thống nhất, tự tin. Sau chiến tranh, nó trở thành một bầy chó dại đang cắn xé lẫn nhau trong cùng một cơ thể.
Bản năng sinh tồn đấm nhau với sự tuyệt vọng. Ham muốn cá nhân đấm nhau với trách nhiệm cộng đồng (thứ đã không còn ai tin nữa). Hoài nghi đấm nhau với mê tín. Athens không còn một trung tâm nữa. Nó đã trở thành một mớ hỗn loạn của những bản năng đang tự hủy diệt.
Và Socrates hiểu rằng cả thế giới cần gã, cần “liều thuốc”, “mưu mẹo” (his means, his remedy, his special artifice) của gã để tự cứu mình.
Gã đã tìm ra công thức để đối phó với căn bệnh thời đại:
“Bản năng của chúng mày đã thất bại. Nó đã dẫn chúng mày đến sự hủy diệt. Giờ hãy vứt mẹ nó đi. Chỉ có một vị cứu tinh duy nhất: Lý Trí tuyệt đối.”
Lão rao giảng rằng mày phải dùng logic để đè nén, để kiểm soát, để biến bản năng (tên bạo chúa) thành một thằng nô lệ.
Và tên phản-bạo-chúa đó chính là Lý Trí được tôn lên làm độc tài.
Và đây là lúc Nietzsche lật ngửa con bài cuối cùng. Gã kể lại trọn vẹn câu chuyện về thằng thầy tướng số. Sau khi thừa nhận mình là một ổ chứa đầy dục vọng xấu xa, Socrates đã nói thêm một câu, câu này chính là chìa khóa cho toàn bộ vấn đề:
“This is true, but I overcame them all.” (Điều này là thật, nhưng tao đã chế ngự tất cả chúng.)
Đối với Socrates và những người tôn thờ lão, đây là một tuyên ngôn của sức mạnh lý trí.
Nhưng đối với Nietzsche, đây là lời thú tội của một kẻ bệnh hoạn, kẻ thừa nhận rằng bản năng của mình là một kẻ thù cần phải bị “chế ngự”, chứ không phải là một nguồn sức mạnh để chung sống.
Tại sao Socrates lại có sức hút kinh khủng như vậy? Vì lão chính là phiên bản phóng đại của căn bệnh mà tất cả mọi người đều đang mắc phải.
Cái vẻ ngoài xấu xí kinh tởm của lão làm cho vấn đề trở nên rõ rành rành. Và khi cái thằng bệnh hoạn nhất, rõ ràng nhất đứng lên và tuyên bố, “Tao bị bệnh, nhưng tao có thuốc chữa đây!”, thì tất cả những kẻ đang âm thầm đau khổ khác, những kẻ cảm thấy con quái vật trong hồn mình đang trỗi dậy, đều bị mê hoặc.
Lão không chỉ là một vấn đề, lão còn là một câu trả lời, một giải pháp, một liều thuốc giả (an apparent cure) cho căn bệnh thời đại.
Người Athens đã chạy theo Socrates không phải vì lão khôn ngoan, mà vì họ đã quá tuyệt vọng.
10.
Khi một người, như Socrates, thấy cần phải tạo ra một tên phản-bạo-chúa bằng lý trí, thì có một nguy cơ không nhỏ là có một thứ khác đang muốn làm bạo chúa.
Lý trí lúc đó được khám phá ra như một đấng cứu thế; cả Socrates lẫn ‘bệnh nhân’ của lão đều không được tự do lựa chọn có lý trí hay không; vào thời đó, nó là bắt buộc, nó đã trở thành phương kế cuối cùng.
Cái sự cuồng tín mà toàn bộ tư tưởng Hy Lạp lao đầu vào lý trí đã gây ra tình trạng nguy kịch: con người đang gặp nguy hiểm; chỉ còn hai lựa chọn: hoặc là chết, hoặc là trở nên lý trí một cách lố bịch.
Cái thiên kiến đạo đức của triết học Hy Lạp từ Plato trở đi là kết quả của một tình trạng bệnh lý cũng như sự ưa chuộng biện luận của nó.
Lý trí = Đức hạnh = Hạnh phúc, nói toẹt ra có nghĩa là: chúng ta phải bắt chước Socrates, và dùng ánh sáng ban ngày—ánh sáng của lý trí—để đối đầu vĩnh viễn với những đam mê đen tối.
Chúng ta phải bằng mọi giá trở nên khôn lanh, chính xác, rõ ràng: mọi sự nhượng bộ cho bản năng, cho vô thức, đều dẫn xuống vực thẳm.
Diễn giải
Đoạn này Nietzsche giải thích cái bi kịch đằng sau sự trỗi dậy của Lý Trí.
Gã nói rằng việc tôn sùng lý trí không phải là một bước tiến vĩ đại, mà là một liều thuốc tuyệt vọng của một nền văn minh đang hấp hối.
Khi một thằng như Socrates thấy cần phải “create a tyrant out of reason” (tạo ra một tên bạo chúa từ lý trí), thì đó là dấu hiệu cho thấy có một thứ khác—chính là bản năng—cũng đang muốn làm bạo chúa.
Lý trí được khám phá ra như một “đấng cứu thế”. Nhưng đó không phải là một sự lựa chọn tự do. Vào thời đó, trở nên lý trí là bắt buộc (de rigueur), nó là phương kế cuối cùng (a last shift).
Cái sự cuồng tín mà toàn bộ tư tưởng Hy Lạp lao đầu vào lý trí đã phản bội một tình trạng nguy kịch: con người đang gặp nguy hiểm.
Bản năng của người Hy Lạp đã trở nên quá hỗn loạn, quá bệnh hoạn, đến mức nó đang tự hủy diệt chính họ. Lúc này, họ chỉ còn hai lựa chọn:
Hoặc là chết (perish) vì bị chính bản năng của mình xé xác.
Hoặc là trở nên lý trí một cách lố bịch (be absurdly rational).
Không còn lựa chọn thứ ba cho một cuộc sống khỏe mạnh, cân bằng giữa bản năng và lý trí nữa.
Và toàn bộ cái xu hướng đạo đức hóa của triết học Hy Lạp từ Plato trở đi, theo Nietzsche, là kết quả của một “tình trạng bệnh lý” (pathological condition).
Cái công thức “Reason = Virtue = Happiness” (Lý trí = Đức hạnh = Hạnh phúc) của chúng nó, nói toẹt ra chỉ có nghĩa là: chúng ta phải bắt chước Socrates, phải dùng ánh sáng ban ngày của lý trí để tiến hành một cuộc chiến tranh vĩnh viễn chống lại những đam mê đen tối. Phải bằng mọi giá trở nên thông minh, chính xác, rõ ràng. Mọi sự nhượng bộ cho bản năng, cho vô thức, đều dẫn xuống vực thẳm.
Đây là triết học của một kẻ đang sợ hãi chính bản thân mình, một triết học được sinh ra từ việc suy yếu, chứ không phải từ thừa thãi sức mạnh.
11.
Tao đã giải thích Socrates đã mê hoặc người khác như thế nào: lão ta ra vẻ mình như là một bác sĩ, một Đấng Cứu thế.
Tao cần phải vạch trần những sai lầm trong cái niềm tin của lão vào cái giáo phái ‘lý trí tuyệt đối’. —Đó là một sự tự lừa dối của bọn triết gia và nhà đạo đức khi cho rằng chúng có thể thoát khỏi sự suy đồi chỉ bằng cách tuyên chiến với nó.
Cái thứ mà chúng nó chọn làm vũ khí chiến đấu, mỉa mai thay, bản thân nó lại chỉ là một lớp vỏ ngoài khác của căn bệnh suy dồi—nghĩa là không những đéo xoá xổ được mà chỉ khoác lên mình một chiếc áo mới.
Socrates đã sai lầm về việc sống khi xây dựng cái đạo đức về việc sống đời lương thiện—kể cả của đạo Cơ Đốc—cũng chỉ là sự lặp lại nối tiếp sai lầm đó.
Khi mỗi ngày mày bị cắn xé giữa cái đầu lý trí, lạnh lùng, thận trọng với phần con thú bản năng muốn làm tình, muốn ngủ, muốn đái ỉa thì mày đang mắc bệnh chứ đéo phải đang trở nên “đức hạnh”.
Việc bị buộc phải chiến đấu chống lại bản năng—đó chính là công thức của sự suy đồi: chừng nào mày vẫn còn sống, thì hạnh phúc chính đồng nghĩa với bản năng.
Diễn giải
Đây là nhát búa cuối cùng của Nietzsche trong màn hạ bệ Socrates.
Gã tuyên bố rằng không chỉ Socrates là một căn bệnh, mà cả “liều thuốc” của lão—chính là Lý Trí—cũng chỉ là một dạng bệnh hoạn khác.
Nietzsche bắt đầu bằng cách tóm tắt lại: Socrates trở nên có sức hút vì lão ta có vẻ như là một “bác sĩ, một Đấng Cứu thế”.
Nhưng gã vạch trần ngay chính bọn triết gia và nhà đạo đức cũng từ lừa dối chính mình khi chúng nó tin rằng có thể thoát khỏi sự suy đồi bằng cách “tuyên chiến” với nó.
Tại sao? Gã giải thích:
“that which they choose as a means... is in itself again only an expression of degeneration—they only modify its mode of manifesting itself: they do not abolish it.” (cái thứ mà chúng nó chọn làm vũ khí... bản thân nó lại chỉ là một lớp vỏ ngoài khác của căn bệnh suy dồi—nghĩa là không những đéo xoá xổ được mà chỉ khoác lên mình một chiếc áo mới)
Nó giống như mày chữa bệnh nghiện rượu bằng cách chuyển sang nghiện ma túy.
Mày không hề “khỏi bệnh”, mày chỉ đang thay đổi triệu chứng.
Cái hành động phải dùng đến một thứ bạo chúa (Lý trí) để đàn áp một thứ bạo chúa khác (Bản năng) chính là bằng chứng cho thấy cơ thể mày đã thối nát từ bên trong rồi.
Từ đó, gã mở rộng lời kết tội:
“Socrates was a misunderstanding. The whole of the morality of amelioration—that of Christianity as well—was a misunderstanding.”
Bất kỳ hệ thống đạo đức nào có mục đích là “cải thiện”, “sửa chữa”, “cứu rỗi” con người bằng cách bắt con người phải chiến đấu chống lại bản năng của mình, đều là sự hiểu lầm chết người.
Cái lý tưởng của chúng nó—sống một đời trong”ánh sáng trí tuệ”, một cuộc đời lý trí bằng mọi giá, rõ ràng, lạnh lùng, thận trọng, chống lại bản năng—bản thân nó chỉ là một căn bệnh.
Và gã kết thúc bằng một định luật tối cao, một lằn ranh giữa kẻ mạnh và kẻ yếu, giữa sức khỏe và bệnh tật:
“To be obliged to fight the instincts—this is the formula of degeneration.” (Việc phải chiến đấu chống lại bản năng—đó chính là công thức của sự suy đồi.)
“as long as life is in the ascending line, happiness is the same as instinct.” (Chừng nào mày vẫn còn sống, thì hạnh phúc đồng nghĩa với bản năng.)
Nói toẹt ra, một thằng khỏe mạnh thì hạnh phúc của nó chính là việc sống theo bản năng một cách tự do và mạnh mẽ. Bản năng của nó là kim chỉ nam, không phải kẻ thù. Còn một thằng bệnh hoạn thì cuộc đời nó là một cuộc nội chiến không hồi kết giữa cái đầu và cơ thể.
12.
—Liệu lão ta có tự hiểu ra điều này không, cái thằng tự lừa dối chính mình thông minh nhất này?
Liệu cuối cùng lão có tự thú trước khi uống chén thuốc đột một cách dũng cảm không?
Socrates đã muốn chết. Không phải tại người Athens, mà chính tay lão giết chính mình; dồn họ vào chỗ phải đưa cho lão chén thuốc độc. ‘Socrates không phải là một bác sĩ,’ lão tự thì thầm, ‘chỉ có cái chết mới là bác sĩ ở đây.... Chính Socrates cũng chỉ là kẻ đã đau bệnh trong khoảng thời gian dài.
Diễn giải:
Đây là phát đạn cuối cùng, phát đạn kết liễu của Nietzsche vào huyền thoại Socrates. Gã tuyên bố một cách tàn bạo: Cái chết của Socrates thực chất là một vụ tự sát, một hành động tự ý thức của một kẻ đã vỡ mộng.
Gã đặt ra câu hỏi: “Did he understand this himself, this most intelligent of self-deceivers?” (Liệu cuối cùng lão ta có tự hiểu ra điều này không, cái thằng tự lừa dối mình một cách thông minh nhất thiên hạ này?)
Nietzsche cho rằng, vào giây phút cuối đời, trong cái khoảnh khắc dũng cảm đối mặt với cái chết, Socrates đã nhìn thấu toàn bộ sự tự lừa dối của mình.
“Socrates wished to die.” (Socrates đã muốn chết.) Gã khẳng định. “Not Athens, but his own hand gave him the draught of hemlock; he drove Athens to the poisoned cup.” (Không phải Athens, mà chính tay lão đã đưa cho mình chén thuốc độc; lão đã dồn Athens vào chỗ phải đưa cho lão chén thuốc độc.)
Nói toẹt ra, Socrates đã cố tình diễn một vai tử vì đạo.
Lão đã dùng tài biện luận của mình để chọc tức, để dồn phiên tòa vào ngõ cụt, không cho họ một lựa chọn nào khác ngoài việc kết án tử hình. Lão là đạo diễn cho chính cái chết của mình. Athens chỉ là công cụ.
Và tại sao lão lại muốn chết? Nietzsche tưởng tượng ra lời thì thầm cuối cùng của Socrates với chính mình:
“Socrates is not a doctor,” he whispered to himself, “death alone can be a doctor here.... Socrates himself has only been ill a long while.” (”Socrates không phải là một bác sĩ,” lão tự nhủ, “chỉ có cái chết mới là bác sĩ ở đây.... Chính Socrates cũng chỉ là một kẻ đã đau bệnh một thời gian dài.”)
Trong giây phút cuối cùng đó, Socrates đã thừa nhận sự thất bại của chính mình. “Liều thuốc” lý trí của lão đã không chữa được căn bệnh suy đồi bên trong lão. Lão, người tự cho mình là bác sĩ chữa bệnh cho Athens, cuối cùng nhận ra rằng chính mình mới là con bệnh nan y nhất. Và lão nhận ra rằng, đối với một căn bệnh kinh niên mang tên “sự sống” của một kẻ suy đồi, thì chỉ có cái chết mới là liều thuốc chữa duy nhất.
“REASON” IN PHILOSOPHY’
Die “Vernunft” in der Philosophie.
1.
Mày hỏi tao cái tật xấu của bọn triết gia là gì à?... “Lý trí”
Mù quáng về lịch sử, căm ghét ý niệm về vô thường, chỉ thích đào mộ quá khứ.
Chúng nó tưởng mình đang ban ơn cho một sự vật khi rút ruột lịch sử của nó đi, khi biến nó thành một cái xác ướp để thờ.
Mọi thứ mà bọn triết gia đã đụng vào suốt hàng ngàn năm đều là xác ướp khái niệm. Đéo có gì sống sót qua bàn tay của chúng nó.
Lũ tôn thờ “khái niệm” này giết và nhồi bông mọi thứ có thể đe dọa “chân lý” mà chúng nó tôn thờ.
Sự vô thường, sinh-lão-bệnh-tử , cũng như tình dục và sự trưởng thành, trong mắt chúng nó, đều là thừa thãi,—thậm chí là bác bỏ.
Nếu một thứ đã được định nghĩa trong từ điển thì nó chết tại đó, không cần tiến hoá thêm và ngược lại.
Giờ thì tất cả chúng nó đều tin, thậm chí một cách tuyệt vọng, vào Cái-đang-là (
Being).Nhưng vì không thể nắm bắt được nó, chúng nó cố tìm ra lý do tại sao mình không có đặc quyền hiểu được Cái-đang-là vốn là sự sống thật không cần đặt tên hay ướp xác “khái niệm”.
‘Chắc chắn có thứ bên ngoài đang lừa dối là nguyên nhân khiến chúng ta không thể xác định được bản chất của Cái-đang-là: vậy kẻ lừa đảo ở đâu?’
‘Tìm ra rồi,’ chúng nó vui mừng la lên, ‘giác quan!’
Những giác quan này, những thứ vốn đã rất vô đạo đức trong các chuyện khác, đang bịp chúng tao lệch khỏi khả năng nhận thức được thế giới thật.
Bài học đạo đức của chúng nó là gì? Là phải thoát khỏi sự lừa dối của giác quan, khỏi sự vô thường, khỏi lịch sử. Mà lịch sử là cái đéo gì? Chỉ là niềm tin vào giác quan, niềm tin vào lời nói dối.
Chúng ta phải nói ‘không’ với sự sống mà mắt-mũi-lưới-tai cảm nhận được: với toàn bộ phần còn lại của nhân loại: những gì thuộc về ‘bầy đàn’.
Hãy trở thành triết gia! Hãy trở thành xác ướp! Hãy diễn cái trò độc thần một màu bằng bộ mặt của một thằng đào mộ!
—Và trên hết, hãy vứt mẹ cái thân xác này - là nguồn gốc của các giác quan lừa dối, mâu thuẫn với logic của bọn đào mộ.
Diễn giải
Triết học phương Tây từ xưa đến nay đều là một giáo phái thờ xác chết.
Nietzsche hỏi rằng: “Cái tật xấu cố hữu của bọn triết gia là gì?”.
Rồi gã tự trả lời: Đó là “Mù quáng về lịch sử, căm ghét ý niệm về vô thường, chỉ thích đào mộ quá khứ.
“
Bọn Ai Cập cổ đại thì làm gì? Chúng nó bị ám ảnh bởi cái chết và sự bất tử.
Chúng nó ướp xác (mummify) các pharaoh để chống lại sự thối rữa, để biến một thứ đang sống thành một vật thể vĩnh cửu.
Và bọn triết gia, theo Nietzsche, cũng làm y hệt với các ý tưởng.
Chúng nó lấy một khái niệm đang sống, đang thay đổi (như “cái thiện”, “con người”), rồi giết chết nó bằng cách rút hết lịch sử, tước đi mọi sự biến đổi, để định nghĩa thành một cái “khái niệm xác ướp” vĩnh cửu, bất biến.
Gã nói: “mọi thứ chúng sờ vào đều bị nhồi bông và ướp xác.”
Hành động “tôn thờ” của chúng nó thực chất là hành động giết chóc và nhồi bông. Mọi dấu hiệu của sự sống—cái chết, vô thường, già đi, tình dục, trưởng thành—đều bị chúng nó coi là một sự “phản bác” chống lại Chân lý.
Khi cái “thế giới thật” toàn những xác ướp khái niệm của chúng nó không khớp với cái thế giới thực đầy biến động mà chúng ta đang sống, chúng nó làm gì?
Chúng nó không thừa nhận mình sai.
Thay vào đó, chúng nó tìm một thằng để đổ tội.
Và chúng nó reo lên: “We have him, it is sensuality!” (Tìm ra rồi, đó là các giác quan!).
Mắt, tai, mũi, lưỡi... của chúng ta, những thứ cho chúng ta thấy một thế giới đầy biến động, bị bọn triết gia coi là những kẻ lừa đảo, những kẻ che giấu đi cái “thế giới chân thật” bất biến của chúng.
Từ đó, chúng nó rút ra một bài học đạo đức bệnh hoạn: Phải chối bỏ các giác quan, chối bỏ sự biến đổi, chối bỏ lịch sử, chối bỏ chính cuộc đời này. Nói “KHÔNG” với mọi thứ thuộc về trần thế, về “bầy đàn”.
Và gã kết luận bằng cách gọi thẳng mặt bọn chúng: Bọn mày không phải là triết gia, bọn mày là “những cái xác ướp”, “những kẻ đào mộ”!
Và kẻ thù lớn nhất của chúng mày chính là thân xác (the body)—cái nguồn gốc của mọi “lừa dối” từ giác quan, thứ duy nhất sống động và có thật.
2.
Với một sự kính trọng sâu sắc, tao xin loại trừ cái tên Heraclitus.
Trong khi phần còn lại băng đảng triết học như Plato căm ghét mắt-mũi-tai-miệng-lưỡi vì chúng cho thấy một thế giới luôn thay đổi, hỗn loạn, không ổn định thì Hecaclitus nhìn vũ trụ như dòng sông đang chảy. Mắt mày thấy một hòn đá tưởng rằng nó đứng yên nhưng Hecraclitus nói rằng do giác quan của mày quá chậm để nhận thấy mọi thứ đang biến đổi điên cuồng.
Ngay cả Heraclitus cũng đã đối xử bất công với các giác quan.
Nhưng ngay cả Heraclitus cũng sai, các giác đéo hề nói dối.
Vậy ai mới là kẻ nối dối?
Đó là Lý Trí (
Vernunft).Các giác quan chỉ đưa cho mày dữ liệu thô: màu sắc, âm thanh, hình dạng.
Chính cái não của mày, cái lý trí của mày, vì muốn đơn giản hóa mọi thứ để dễ hiểu, đã chế biến dữ liệu đó và tạo ra những lời nói dối hữu ích: lời nói dối về “sự thống nhất”, “sự vật”, “bản thể”, “sự tồn tại lâu dài”. Lý trí mới là thằng gian thương, còn các giác quan chỉ là những nhân chứng trung thực.
Dù có sai lầm nhỏ đó nhưng Heraclitus đã đúng ở điểm quan trọng nhất: cái thế giới “Vô thường” (
Sein/Being) bất biến mà bọn Plato rao giảng chỉ là một ảo tưởng rỗng tuếch.Thế giới mà mày đang thấy, đang nghe, đang sờ mó được, cái thế giới đầy biến động này, chính là thế giới duy nhất và thật nhất. Còn cái “thế giới chân thật”, “thiên đường”, “cõi niết bàn” mà bọn triết gia và tôn giáo vẽ ra chỉ là một lời nói dối, một cái phụ tùng giả mạo được đính vào thực tại.
Diễn giải
Thế giới mà mày đang thấy, đang nghe, đang sờ mó được, cái thế giới đầy biến động và hỗn loạn, vô nghĩa này, chính là thế giới duy nhất và thật nhất.
Còn cái “thế giới chân thật”, “thiên đường”, “cõi niết bàn” mà bọn triết gia và tôn giáo vẽ ra chỉ là một lời nói dối, một cái phụ tùng giả mạo được đính vào thực tại.
Vì sao?
Thứ mà tụi triết gia Plato đến Kant, Hegel đang nói đến là một chân lý bất biến giống như toà lâu đài không hề mục nát theo thời gian chỉ là nói dối mà Nietzsche đã chỉ ra.
Thế giới này vô thường biến đổi liên tục không ngừng từ cái cục đá mày thấy đứng yên nhưng ở cấp độ nguyên tử thì nó rung động vì nhiệt, chỉ dừng lại ở độ không tuyệt đối (-273 độ C).
Nhưng giờ hãy phóng to hơn nữa, vào bên trong một nguyên tử. Mày sẽ thấy gì? Một cái trống rỗng.
Ở giữa là một cái hạt nhân nhỏ xíu, nặng trịch. Còn xung quanh nó? Đéo phải là mấy “hạt” electron đang bay vòng vòng như hành tinh. Đó là một lời nói dối khác để cho dễ hình dung.
Nó là một cơn bão. Một “đám mây xác suất”. Một electron không có một “vị trí” cụ thể. Nó đồng thời ở mọi nơi và không ở đâu cả trong cái đám mây đó. Nó là một bóng ma, một khả năng đang rung động. Toàn bộ cái cấu trúc “vững chắc” của cục đá được xây dựng trên một nền tảng của sự vô định và trống rỗng.
Và lùi ra xa, nhìn theo dòng chảy của hàng triệu năm. Cục đá đó có đứng yên không? Đéo.
Nó đang bị bào mòn. Gió, nước, và thời gian đang từ từ xé xác nó ra. Nó đang thối rữa một cách chậm chạp.
Và bên trong nó, có những nguyên tử không ổn định, như Uranium, đang tự phân rã. Chúng nó đang tự bắn ra những mảnh của chính mình, biến thành những nguyên tố khác. Cục đá đó, ở cấp độ sâu nhất, đang tự chảy máu năng lượng.
Cái “sự đứng yên” của cục đá chỉ là một ảo ảnh do quy mô và tốc độ của giác quan mày tạo ra. Mày quá lớn và quá chậm để thấy được sự thật.
Thực tại, từ cấp độ nhỏ nhất đến lớn nhất, là một sự hỗn loạn vĩnh cửu, một cơn co giật không ngừng. Lão Heraclitus nói “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”. Khoa học hiện đại nói thêm: “Mày thậm chí còn đéo thể chạm vào cùng một hòn đá hai lần.”
3.
Các gíac quan chính là người anh hùng bị lãng quên của tri thức.
Lấy ví dụ như cái lỗ mũi con người này, thứ mà chưa một triết gia nào nói đến với sự kính trọng và biết ơn, hiện tại, là công cụ được tinh chỉnh tốt nhất mà chúng ta có: nó có thể ghi nhận ngay cả những thay đổi chuyển động nhỏ nhặt mà máy quang phổ cũng không ghi lại được.
Những thành tựu khoa học chân chính thành công vì nó tin vào các giác quan, không phải để chối bỏ mà là mài sắc và trang bị vũ khí cho chúng bằng kính hiển vi, kính hiển văn. Khoa học là sự nối dài của các giác quan, không phải là sự đối lập với chúng.
Những gì còn lại đều là đồ phá thai và chưa phải là khoa học: :
Siêu hình học,
Thần học,
Tâm lý học (ám chỉ tâm lý học thuần túy triết học, thứ chỉ dựa trên suy luận chứ không phải quan sát),
Nhận thức luận (cái trò cố gắng tìm hiểu “làm sao chúng ta biết những gì chúng ta biết”).
Logic và toán học - thứ được coi là đỉnh cao của lý trí
Tội lỗi của bọn này là gì?
Chúng nó chỉ chơi với những khái niệm, những biểu tượng rỗng tuếch trong một thế giới khép kín, đéo thèm hỏi xem cái trò chơi đó có giá trị đéo gì cho cuộc đời. Logic và toán học có thể đúng trong hệ thống của chúng, nhưng chúng không nói gì về thế giới thực, về sự sống. Chúng là những trò chơi trừu tượng trong phòng kín.
Diễn giải:
Ở thời điểm Nietzsche đang sống toàn bộ cái đám hắn liệt kê ra dù tên khác nhau nhưng đều đang chơi cùng một trò: : Xây dựng những lâu đài cát hoàn hảo trong một cái hộp kín.
Chúng nó đéo quan tâm đến thế giới thực bên ngoài. Chúng nó chỉ quan tâm xem cái lâu đài của mình có logic và đẹp đẽ hay không.
Siêu hình học và thần học
Bọn này vẫn đang bị ám ảnh bởi cái di sản của Hegel và Kant. Chúng nó ngồi trong phòng giấy, cố gắng vẽ ra những cái sơ đồ vũ trụ phức tạp, những hệ thống lý luận vĩ đại để giải thích “Bản thể”, “Tinh thần tuyệt đối”, “Bản chất của Chúa”... Nó là một trò chơi xếp chữ cao cấp, hoàn toàn tách rời khỏi máu và mồ hôi của cuộc đời. Chúng nó không hỏi “Sống như thế nào?”, chúng nó hỏi “Hữu thể là gì?”.
Tâm lý học và nhận thức học
Tâm lý học thời đó chưa phải là cái trò đi đo não. Nó là tâm lý học bàn giấy. Bọn triết gia ngồi một xó và cố gắng “suy luận” ra bản chất của tâm trí bằng cách tự soi mói chính mình.
Còn bọn Nhận thức luận, đặc biệt là lũ Neo-Kantian, thì còn tệ hơn.
Chúng nó bị kẹt trong một câu hỏi duy nhất:
“làm sao để tao biết được mình không sống trong thế giới Matrix?”
Thay vì đi khám phá thế giới, chúng nó chỉ ngồi phân tích cái công cụ khám phá (lý trí) cho đến khi nó mòn vẹt. Nó là sự thủ dâm trí tuệ.
Logic và toán học
Đây là bọn “trong sạch” nhất và do đó, bệnh hoạn nhất. Vào cuối thế kỷ 19, chúng nó đang trong một cuộc cách mạng: cố gắng biến logic và toán học thành những hệ thống ký hiệu hoàn hảo, tự khép kín, không một kẽ hở.
Chúng nó tự hào tuyên bố rằng “chân lý” của chúng nó đéo phụ thuộc vào cái thế giới bẩn thỉu bên ngoài. 2+2=4 dù vũ trụ có nổ tung. Chúng nó đã tạo ra một trò chơi tuyệt đẹp, trong sạch, và hoàn toàn vô dụng để hiểu về sự sống. Nó là một trò chơi cờ bằng những quân cờ thủy tinh trong một cái tháp ngà.
Tội ác chung? Sợ hãi thực tại
Hỗn loạn, bẩn thỉu, đầy mâu thuẫn. Thay vì đối mặt với nó, mỗi thằng lại xây cho mình một cái thế giới đồ chơi sạch sẽ, có trật tự để trốn vào: thằng thì có “thế giới ý niệm”, thằng thì có “hệ thống logic”, thằng thì có “cấu trúc của nhận thức”.
Chúng nó không hỏi “cái trò chơi này có giá trị đéo gì cho cuộc đời?”, bởi vì chính cái câu hỏi đó sẽ làm sụp đổ toàn bộ thế giới của chúng nó. Mục đích của chúng nó không phải là để sống mạnh mẽ hơn. Mục đích của chúng nó là để có một nơi trú ẩn an toàn khỏi sự sống.
4.
Cái tật xấu nguy hiểm khác của bọn triết gia là nhầm lẫn giữa ngọn và gốc
Chúng nó đặt thứ khái niệm trừu tượng, khái quát và rỗng tuếch nhất mà mày có thể nghĩ ra: “Hữu-thể”, “Cái Thiện”, “Chân lý” - đó là vệt khói mờ ảo cuối cùng của thực tại đang bốc hơi, lên làm điểm khởi khởi đầu.
Tại sao chúng nó lại làm cái trò đảo ngược ngu xuẩn này?
Vì lòng sùng bái bệnh hoạn của chúng.
Chúng nó có một định kiến ăn vào máu: những thứ “cao cả” thì không thể nào được sinh ra từ những thứ “thấp hèn” (như thế giới vật chất, đầy biến động này). Chúng nó không thể chấp nhận việc “Chân lý” hay “Cái Thiện” lại có thể tiến hóa từ một cái gì đó không hoàn hảo.
Bài học đạo đức: mọi chân lý nhất phải là causa sui (tự sinh).
Chúng không được sinh ra, chúng phải tồn tại vĩnh cửu. Việc bắt nguồn từ một thứ khác bị coi là một sự phản đối, một sự nghi ngờ về giá trị.
Tất cả các giá trị cao siêu đều thuộc hạng nhất, tất cả các khái niệm cao nhất—Cái-đang-là , Tuyệt đối, Cái Thiện, Chân lý, và Sự hoàn hảo; tất cả những thứ này không thể đã tiến hóa được, do đó chúng phải là causa sui.
Tuy nhiên, tất cả những thứ này không thể không giống nhau, mà thậm chí còn đối lập.
Do đó chúng tạo ra cái khái niệm kinh khủng của chúng là ‘Chúa’.
Cái thứ cuối cùng, loãng nhất và rỗng tuếch nhất được đặt lên làm cái đầu tiên, làm nguyên nhân tuyệt đối, làm ens realissimum (thực thể thật nhất). Thử tưởng tượng xem, nhân loại đã phải coi trọng những căn bệnh não của một lũ bệnh hoạn chuyên giăng tơ nhện!—Và nó đã phải trả một cái giá rất đắt cho việc đó.
Diễn giải:
Nietzsche chửi cái bọn triết gia lẫn thầy tu đang lộn đít lên đầu, đặt cái ngọn lên trên gốc rễ.
Chúng nó không đi tìm sự thật. Chúng nó vẽ bản đồ rồi bắt thế giới phải đi theo cái bản đồ đó. “Cái Thiện”, “Chân lý”, “Cái-đang-là” — đó là những cái tên mà chúng nó đặt cho những lục địa không có thật.
Và một khi mày đã có bản đồ, mày trở thành thằng hoa tiêu. Mày trở thành kẻ duy nhất biết đường. Mọi người khác phải đi theo mày, phải nghe lời răn giảng của mày, nếu không sẽ bị “lạc lối”. Nó là một mánh khóe để giành quyền lực.
Mục đích của cái bản đồ đó là gì? Là để mày quên đi cái khu rừng rậm thật sự. Cái khu rừng của thực tại thì hỗn loạn, tàn bạo, và vô nghĩa. Nó đáng sợ. Cái bản đồ của bọn triết gia thì ngăn nắp, an toàn, và có mục đích. Nó là một lời nói dối an ủi.
Và “Chúa” chính là điểm mù vĩ đại nhất trên cái bản đồ đó. Nó là cái chữ “Ở ĐÂY CÓ RỒNG” mà bọn vẽ bản đồ ngày xưa hay vẽ vào những vùng chúng nó chưa khám phá.
Vì tụi nó sợ thừa nhận mình không biết?” — Chính xác! Đó là nhát búa cuối cùng. Chúa không phải là câu trả lời. Chúa là sự thú tội của một bộ óc đã bất lực.
Khi lý trí của thằng triết gia đi đến tận cùng và đối mặt với một câu hỏi mà nó không thể trả lời, đối mặt với sự vô nghĩa của “Cái-đang-là”, nó không đủ can đảm để nói “Tao đéo biết”. Thay vào đó, nó bịa ra một cái tên cho sự ngu dốt của chính mình, và gọi nó là “Chúa”.
Nó là sự hèn nhát trí tuệ được biến thành sự sùng bái.
Nietzsche đã nhìn thấu toàn bộ trò lừa đảo: Bọn triết gia, vì sợ hãi sự hỗn loạn của một thế giới không có ý nghĩa và không dám thừa nhận sự ngu dốt của chính mình, đã bịa ra một hệ thống khái niệm trừu tượng, đặt “Chúa” lên trên đỉnh, và rồi bán cái nhà tù tinh thần đó như là “Chân lý” cho bầy đàn.
5.
Giờ để tao lật kèo, cho mày xem cách ‘chúng tao’ nhìn vào cái ảo ảnh sai lầm mà đám triết gia cũ đã vạch ra con đường mòn lừa dối.
Bọn người xưa nói: “Thế giới biến đổi -> Giác quan cho thấy sự biến đổi -> Vậy giác quan là thằng lừa đảo, thế giới thật phải đứng im.”
Còn bọn tao bây giờ nói: “Lý trí bắt tao tin vào những thứ đứng im (sự vật, bản thể...) -> Nhưng thế giới thực thì luôn biến đổi -> Vậy Lý trí mới là thằng lừa đảo, và chính mấy cái khái niệm đứng im đó mới là sai lầm.”
Giống như mắt mày quan sát thì tưởng rằng thuyết địa tâm (mặt trời quay quánh trái đất) là đúng thì chính “ngôn ngữ” mày giao tiếp chính là tên luật sư biện hộ cho sai lầm đó, nó là đầu sỏ gây ra mọi ảo tưởng mà Plato mắc phải và dắt chúng ta đi vào ngỏ cụt suốt 2000 năm.
Ngôn ngữ được sinh ra từ thời mông muội, khi tâm lý học còn sơ khai. Nó được xây dựng trên một niềm tin mê tín, một thứ “bái vật giáo” (
Fetischwesen): đằng sau mọi hành động phải có một kẻ hành động.Cái ngữ pháp nguyên thủy này nó nhìn đâu cũng thấy “thằng làm” và “việc làm”.
Nó tin vào cái “Tôi” như một “thằng làm” bất biến đằng sau mọi suy nghĩ. Rồi nó phóng chiếu cái niềm tin đó ra cả vũ trụ, nó tưởng tượng ra mọi “sự vật” (
Ding) cũng là những cái “tôi” nhỏ bé, những “thằng làm” đứng đằng sau các hiện tượng.Từ cái ảo tưởng về một cái “tôi” bất biến, nó mới đẻ ra cái ảo tưởng lớn hơn về sự “Vô thường” (
Sein/Being) bất biến.Sai lầm tai hại ban đầu là tin rằng “ý chí” là một thứ có thật, một “năng lực” có thể gây ra hành động. Giờ thì chúng ta biết nó chỉ là một từ rỗng tuếch để mô tả một cảm giác.
Không lâu sau, niềm tin mù quáng vào ‘lý trí’ sau khi xuất hiện trong đầu đám triết gia (như Plato) nhận ra những khái niệm “hoàn hảo” này (Lý trí, Hữu-thể) không đến từ kinh nghiệm thực tế, nên chúng nó bịa ra một “thế giới khác”.
Đéo, chúng mày có lý trí không phải vì chúng mày đến từ niết bàn , mà vì chúng mày vẫn đang bị cầm tù trong một cái nhà tù thấp kém hơn: nhà tù của ngữ pháp nguyên thủy.
‘Lý trí’ mà chúng nó tôn thờ , diễn đạt bằng ngôn ngữ quả là một mụ già xảo quyệt, chuyên đi lừa đảo cả cái bọn nghĩ mình thông thái.
Tao sợ rằng chúng ta sẽ không bao giờ thoát khỏi Chúa, chừng nào chúng ta y còn tư duy bằng thứ ngôn ngữ luôn đòi hỏi phải có một “thằng làm” cho mọi “hành động”, thì mày sẽ luôn có xu hướng tin vào một “Thằng Làm” cuối cùng. Muốn giết Chúa tận gốc, trước hết phải vượt qua nhà tù ngữ pháp.
Diễn giải
Cái nhà tù thật sự không phải là xã hội hay đạo đức. Cái nhà tù thật sự chính là ngôn ngữ.
Toàn bộ ngôn ngữ của chúng ta được xây dựng trên một lời nói dối sơ đẳng: “Đằng sau mọi hành động phải có một thằng làm.”
Mày nói “Tia chớp lóe lên”. Ngữ pháp đã tự động bịa ra một “thằng làm” là “tia chớp” đứng đằng sau “hành động lóe lên”. Nhưng thực tế là gì? Chỉ có sự lóe lên. Cái “tia chớp” chỉ là một cái tên rỗng tuếch.
Cũng y hệt như vậy với cái “Tôi”. Mày nói “Tôi suy nghĩ”. Ngữ pháp đã lừa mày tin rằng có một cái “Tôi” bất biến, một thằng cha nhỏ bé nào đó ngồi trong đầu mày đang thực hiện “hành động suy nghĩ”. Nietzsche nói: Đéo có thằng nào cả. Chỉ có “sự suy nghĩ” đang diễn ra thôi. Cái “Tôi” chỉ là một thói quen của ngữ pháp.
Cái thói quen ngữ pháp này đã trở thành nền tảng cho toàn bộ cái mà chúng nó gọi là “Lý trí”.
Vì ngữ pháp luôn đòi hỏi phải có một “thằng làm”, nên bọn triết gia đã đi tìm những “Thằng Làm” cuối cùng:
Từ cái “Tôi”, chúng nó bịa ra “Cái-đang-là” (
Being).Từ “Cái-đang-là”, chúng nó bịa ra “Chúa”.
Toàn bộ cái lâu đài siêu hình học của phương Tây được xây dựng trên một lỗi ngữ pháp cơ bản.
Ngôn ngữ không phải là một công cụ trong suốt để mày nhìn thế giới. Nó là một cặp kính màu, một bộ xiềng xích cho tư duy.
Và “Lý trí”, thứ mà bọn triết gia tôn thờ, chỉ là tiếng leng keng của sợi xích đó. Muốn thật sự tự do, trước hết mày phải đập vỡ cái nhà tù ngữ pháp bằng im lặng.
6.
Chúng mày sẽ phải biết ơn tao vì đã nén một quả bom nổ tung nhận thức của mày vào 4 định lý. Đây là chân lý, tao thách thằng nào dám cãi lại.
Định lý số 1: Bọn triết gia chê bai thế giới này là “ảo” vì lý do gì? Vì nó luôn thay đổi, biến động, đầy mâu thuẫn (Vô thường/
Werden). Nhưng chính những đặc điểm đó mới là bằng chứng cho thấy nó thật, là bản chất của thực tại.
Còn cái “thế giới khác” đứng yên, vĩnh cữu trong cái lồng của chúng nó? Hoàn hảo đến mức đéo thể chứng minh được.Định lý số 2: Những đặc điểm bất biến, vĩnh cữu, hoàn hảo mà chúng nó gán cho “thế giới khác” thực chất là cái gì?
Cái chết, Rỗng không (
des Nichts) chưa hề có tên hay khái niệm nào để mô tả. Chúng được xây dựng bằng cách phủ định cái thế giới rỗng không bằng cách tạo ra một ảo ảnh nhìn qua lăng kính đạo đức (moralisch-optische Täuschung). Nó là một sản phẩm của lòng căm thù, không phải sự sáng suốt.Định lý số 3: Cái trò bịa ra một “thiên đường” là một hành động vô nghĩa. Trừ khi... mày làm thế vì mày căm ghét cuộc đời này nên mới làm chuyện vu khống, hạ bệ và nghi ngờ sự sống mà chỉ có bọn yếu đuối, thất bại mới làm nên trả thù bằng cách tạo ra một “thế giới khác tốt đẹp hơn”.
Định lý số 4: . Cái hành động chẻ thế giới ra làm hai (thật và ảo), dù là theo kiểu của Kitô giáo hay của Kant ( một “thằng Kitô hữu xảo quyệt”), chỉ là một triệu chứng của sự suy đồi, của một sự sống đang hấp hối. Một cơ thể khỏe mạnh sẽ không cần bịa ra một thế giới khác.
Nhưng bọn nghệ sĩ cũng yêu ‘ảo ảnh’ (
Schein/appearance) hơn thực tại trước mắt mà?Đó không phải sự chối bỏ mà được cô đọng, chọn lọc, làm cho thực tại mạnh mẽ hơn.
Thằng nghệ sĩ bi kịch không phải là một thằng bi quan. Lão là kẻ nói CÓ với tất cả, kể cả những thứ đáng sợ và kinh tởm nhất. Lão chính là hiện thân của tinh thần Dionysos. Lão không chạy trốn khỏi thực tại, lão ôm lấy nó và biến nó thành nghệ thuật.
Diễn giải
Lũ triết gia lẫn tôn giáo sợ hãi sự hỗn loạn, nên chúng nó phải bịa ra một cái bản vẽ kiến trúc có trật tự — một cỗ máy có logic vận hành — và gọi đó là “thế giới thật” (the truth world) để thoát khỏi cái khổ đau.
ĐỊNH LÝ 1: THẾ GIỚI NÀY LÀ THẬT.
Những lý do mà bọn triết gia dùng để chê thế giới này là “ảo” (vì nó thay đổi, nó mâu thuẫn, nó đầy đau khổ) thực chất lại là bằng chứng cho thấy nó thật. Thực tại thì luôn biến đổi.
Còn cái “thế giới thật” đứng im của chúng nó chỉ là một lời đồn, đéo ai chứng minh được.
ĐỊNH LÝ 2: “THẾ GIỚI CHÂN THẬT” LÀ CÁI CHẾT.
Những đặc điểm mà chúng nó gán cho “thế giới thật” (bất biến, vĩnh cửu, hoàn hảo) là đặc điểm của một cái xác chết, của Cái Rỗng. Chúng nó đã xây dựng cái thiên đường của mình bằng cách nói “không” với mọi thứ đang sống. Nó là một ảo ảnh được tạo ra qua lăng kính đạo đức.
ĐỊNH LÝ 3: BỊA RA THIÊN ĐƯỜNG LÀ MỘT HÀNH ĐỘNG TRẢ THÙ. Cái trò bịa ra một “thế giới khác” chỉ có ý nghĩa khi mày căm thù cuộc đời này. Nó là hành động trả thù của những thằng yếu đuối, những thằng thất bại, không thể chiến thắng ở đây, nên chúng nó phải bịa ra một thế giới khác nơi chúng nó sẽ được làm vua.
ĐỊNH LÝ 4: CHẺ ĐÔI THẾ GIỚI LÀ MỘT TRIỆU CHỨNG BỆNH HOẠN. Việc chẻ thế giới ra làm hai (thật và ảo), dù là kiểu của thằng Kitô hữu hay thằng Kant, đều là một triệu chứng của sự suy đồi, của một sự sống đang hấp hối. Một cơ thể khỏe mạnh đéo cần một thế giới khác.
Còn thằng nghệ sĩ cũng tạo ra ‘ảo ảnh’, cũng không mô tả thực tại y như thật. Vậy nó cũng là một thằng hèn à?
Không. Đây là sự khác biệt chết người:
Thằng triết gia/thầy tu: Nó tạo ra một “thế giới khác” vì nó ghê tởm và muốn trốn chạy khỏi thế giới này. “Thế giới thật” của nó là một lời phủ định sự sống.
Thằng nghệ sĩ (đặc biệt là nghệ sĩ bi kịch): Nó tạo ra “ảo ảnh” vì nó quá yêu và quá hiểu thế giới này. “Ảo ảnh” của nó không phải là một thế giới khác. Nó là thế giới này được cô đọng lại. Nó chọn lọc những gì mạnh mẽ nhất, tàn bạo nhất, thật nhất của thực tại, rồi gia cố chúng nó, làm cho chúng nó còn thật hơn cả thật.
Nó giống như chưng cất rượu. Thằng nghệ sĩ không bịa ra rượu từ nước lã. Nó lấy hàng tấn nho (thực tại), ép kiệt chúng nó, rồi chưng cất thành một giọt rượu mạnh (tác phẩm nghệ thuật). Cái giọt rượu đó “ảo” hơn đống nho, nhưng nó chứa đựng toàn bộ “sự thật” của đống nho đó ở dạng mạnh nhất.
Đó là lý do tại sao thằng nghệ sĩ bi kịch không phải là một thằng bi quan. Nó là một thằng Dionysos. Nó nói “CÓ!” với tất cả, kể cả những thứ kinh tởm nhất của cuộc đời, và biến chúng nó thành một thứ gì đó đẹp đẽ một cách tàn bạo.
Bốn định lý của Nietzsche là bốn nhát búa đập tan cái nhà tù “hai thế giới” đã giam cầm phương Tây. Và lão kết thúc bằng cách giải cứu thằng nghệ sĩ khỏi cái đống đổ nát đó. Thằng triết gia và thầy tu là những kẻ đào mộ, chạy trốn khỏi sự sống. Thằng nghệ sĩ bi kịch là một chiến binh, kẻ lao vào giữa sự sống và rèn nó thành một vũ khí.
HOW THE “TRUE WORLD” ULTIMATELY BECAME A FABLE
THE HISTORY OF AN ERROR
Wie die “wahre Welt” endlich zur Fabel wurde.
Geschichte eines Irrthums.
(Lịch sử của một sai lầm: Làm thế nào mà cái ý tưởng về một “chân lý” ra đời và sau đó chết đi như thế nào)
1.
The true world, attainable to the sage, the pious man and the man of virtue,—he lives in it, he is it.” (Niết bàn chỉ có nhà hiền triết, kẻ sùng đạo và người đức hạnh đạt được bởi vì hắn tự tạo ra cái ảo tưởng để đóng vai chính mình là chân lý.)
Vào thời sơ khai của nó, “thế giới chân lý” là một câu lạc bộ VIP. Đéo phải ai cũng vào được. Chỉ có một số ít được chọn—bọn hiền triết, bọn đức hạnh—mới có vé.
Và cái tuyên bố của chúng nó cực kỳ mạnh: Chúng nó không chỉ “biết” về thế giới chân thật.
Chúng nó chính là niết bàn.
Con người của chúng nó, cách sống của chúng nó, chính là hiện thân của Chân lý. Có một sự kết nối trực tiếp, không một chút nghi ngờ.
Nhưng Nietzsche ngay lập tức lột mặt nạ cái sự cao cả này. Gã nói rằng cái ý tưởng ban đầu này, dù “thông minh và thuyết phục”, thực chất chỉ là một cách nói khác của câu:
“I, Plato, am the truth.” (Tao, Plato, chính là chân lý.)
Nói toẹt ra, toàn bộ cái hệ thống triết học vĩ đại của Plato về một “thế giới ý niệm” chỉ là một màn tự sướng trá hình.
Lão ta nhìn vào chính mình, vào cái cách sống duy lý của mình, rồi tự tuyên bố rằng
“Cách sống của tao chính là Chân lý, và tao sẽ bịa ra cả một vũ trụ song song để chứng minh điều đó”.
Nó là sự ngạo mạn của một cá nhân đã phóng chiếu cái tôi của mình lên thành một định luật vũ trụ.
2.
“The true world which is unattainable for the moment, is promised...” (Niết bàn không thể đạt được trong lúc này, được hứa hẹn...)
Sự thay đổi quan trọng nhất đã xảy ra:
Từ “Hiện tại” thành “Tương lai”: “chân lý” không còn là một thứ có thể đạt được ngay bây giờ nữa. Nó đã bị “hoãn lại”, trở thành một thứ ở tương lai.
Từ “Sự thật” thành “Lời hứa”: Nó không còn là một thực tại mà nhà hiền triết đang sống, mà nó trở thành một “lời hứa” (
is promised) cho tương lai. Nó biến thành Thiên đường, thành kiếp sau. Mày phải ngoan ở kiếp này để được thưởng ở kiếp sau.
“...to the sinner who repents.” (...cho kẻ tội đồ biết ăn năn.)
Cửa vào “thế giới chân thật” không còn chỉ dành cho bọn quý tộc tinh thần (nhà hiền triết) nữa.
Giờ nó được mở rộng cho tất cả mọi người, kể cả những kẻ yếu đuối, thất bại, miễn là đã “ăn năn”.
Đây chính là cú đá xoáy trực tiếp vào đạo Cơ Đốc, thứ đã dân chủ hóa lời hứa về thiên đường.
Và Nietzsche bình luận về sự “tiến hóa” này như thế nào?
Gã nói:
“(Progress of the idea: it becomes more subtle, more insidious, more evasive,—It becomes a woman, it becomes Christian.)” ((Sự tiến triển của ý tưởng: nó trở nên tinh vi hơn, quỷ quyệt hơn, lảng tránh hơn,—Nó biến thành đàn bà, nó biến thành đạo Cơ Đốc.))
“Biến thành đàn bà” là một cú sỉ nhục của Nietzsche. Gã đang nói rằng ý tưởng này đã mất đi sự thẳng thắn, mạnh mẽ của đàn ông (như Plato nói “Tao là chân lý”).
Thay vào đó, nó trở nên dụ dỗ, lảng tránh, và đầy mưu mẹo, hứa hẹn đủ điều cho tương lai để thao túng hành vi ở hiện tại.
Và “biến thành đạo Cơ Đốc” chính là tên của căn bệnh.
Toàn bộ cơ chế “hoãn lại hạnh phúc”, “thưởng cho kẻ yếu”, và “mở cửa cho tội đồ” chính là bản chất của đạo đức Cơ Đốc mà gã khinh bỉ. Lời nói dối đã trở nên tinh vi hơn để có thể quyến rũ được nhiều người hơn.
3.
Đây là giai đoạn 3 của căn bệnh, và Nietzsche đã chẩn đoán ra tên của “bác sĩ” mới: Immanuel Kant. Ở đây, lời nói dối về “thế giới chân thật/khách quan” đã trở nên trừu tượng, hoài nghi và “khó nuốt” hơn.
Ở hai đoạn trước, Gã đang mô tả sự tiến hóa, hay đúng hơn là sự thoái hóa, của “thế giới chân thật”. Mày nhớ lại xem:
Giai đoạn 1 (Plato): “Tao (nhà hiền triết) chính là thế giới thật.” (Một sự khẳng định kiêu ngạo, trực tiếp).
Giai đoạn 2 (Đạo Cơ Đốc): “Thế giới thật là một lời hứa, là thiên đường đang chờ mày.” (Một sự dụ dỗ, một lời hứa hẹn cho tương lai).
Giờ đến giai đoạn 3, phiên bản Kant: “3. The true world is unattainable, it cannot be proved, it cannot promise anything...” (Thế giới thật không thể nắm bắt được, không thể chứng minh, không thể hứa hẹn điều gì cả...)
Thấy sự thụt lùi chưa?
Nó giờ đã trở nên hoàn toàn xa vời.
Mọi sự đảm bảo đã biến mất. Không còn thiên đường, không còn phần thưởng. Nó là một khái niệm hoàn toàn bất khả tri.
Vậy nếu nó vô dụng như thế, thì giữ nó lại làm đéo gì? Nietzsche giải thích:
“...but even as a thought, alone, it is a comfort, an obligation, a command.” (...nhưng chỉ riêng cái tư tưởng về nó thôi đã là một sự an ủi, một bổn phận, một mệnh lệnh.)
Nó đã biến từ một “nơi chốn” thành một “mệnh lệnh đạo đức”. Mày không thể đến đó, nhưng mày phải sống -như thể-nó-có-thật.
Đây chính là “Mệnh lệnh Tối cao” (Categorical Imperative) của Kant.
“Thế giới thật” không còn là một mục tiêu, nó là một cái roi vô hình quất vào lương tâm mày, bắt mày phải hành xử “đạo đức” mà không cần lý do hay phần thưởng nào cả.
Và đây là màn “bóc phốt” của Nietzsche dành cho Kant:
“(At bottom this is still the old sun; but seen through mist and scepticism: the idea has become sublime, pale, northern, Königsbergian.)” ((Về cơ bản nó vẫn là mặt trời cũ; nhưng được nhìn qua sương mù và sự hoài nghi: ý tưởng đã trở nên siêu việt, nhợt nhạt, phương Bắc, đậm chất Königsberg.))
“Mặt trời cũ” chính là ý tưởng của Plato.
Nhưng giờ nó không còn chói lòa nữa, mà bị che phủ bởi “sương mù và sự hoài nghi” của triết học.
Nó “nhợt nhạt”, “phương Bắc”—tức là lạnh lẽo, thiếu máu, thiếu sức sống, không có sự đam mê của Hy Lạp.
Và cú đấm cuối cùng, “đậm chất Königsberg”, là gã réo thẳng tên thành phố quê hương của Kant.
Gã đang nói rằng triết học của Kant là một phiên bản yếu ớt, suy đồi, và lạnh như băng của Platon. Nó là cùng một lời nói dối, nhưng giờ đây đã mất hết sức sống và chỉ còn là một mệnh lệnh đạo đức khô khan.
4.
Đây là giai đoạn 4, màn bình minh của sự hoài nghi.
Gã gọi đây là thời đại của Chủ nghĩa Thực chứng (Positivism).
Lời nói dối về “thế giới chân thật” giờ đây không còn bị tấn công một cách triết học nữa, nó chỉ đơn giản là bị phớt lờ cho đến chết.
Gã đang mô tả một sự thay đổi trong thái độ, một bước tiến nữa trong sự sụp đổ của “sai lầm”.
1. Từ “bất khả tri” thành “không biết”:
Giai đoạn 3 (Kant): “Thế giới chân thật” là một thứ “bất khả tri” (
unattainable) về mặt lý thuyết, nhưng vẫn còn đó như một mệnh lệnh đạo đức.Giai đoạn 4 (Chủ nghĩa Thực chứng): Lập luận đã thay đổi. Nó không còn là một cuộc tranh cãi triết học cao siêu nữa. Nó là một cái nhún vai thực dụng.
“4. The true world—is it unattainable? At all events it is unattained. And as unattained it is also unknown.”
(Thế giới thật—nó có phải là không thể đạt được không? Dù sao đi nữa thì nó vẫn chưa đạt được. Và vì chưa đạt được, nó cũng là thứ không thể biết.)
Thằng cha thực chứng không quan tâm đến việc nó có “bất khả tri” hay không. Hắn chỉ nhìn vào thực tế và nói:
“Có thằng nào đến đó chưa? Chưa. Vậy thì chúng ta đéo biết gì về nó cả.”
2. Sự sụp đổ của mọi chức năng: Và đây là đòn kết liễu: Nếu một thứ hoàn toàn “không được biết đến” (unknown), thì nó trở nên vô dụng.
“Consequently it no longer comforts, nor saves, nor constrains: what could something unknown constrain us to?”(Do đó, nó không còn an ủi, cứu rỗi, hay trói buộc nữa: một thứ không được biết đến thì có thể trói buộc chúng ta vào cái đéo gì?)
Toàn bộ sức mạnh đạo đức của “thế giới thật” đã bốc hơi.
Mày không thể bắt người ta phải tuân theo mệnh lệnh của một vị sếp mà đéo ai biết mặt mũi ra sao, đéo ai biết có tồn tại hay không.
Nó không còn an ủi được ai, không cứu được ai, và quan trọng nhất, không còn ra lệnh được cho ai nữa.
5.
“The “true world”—an idea that no longer serves any purpose... a useless idea... an exploded idea: let us abolish it!” (”Thế giới thật”—một ý tưởng đéo còn phục vụ mục đích gì... một ý tưởng vô dụng... một ý tưởng đã bị lật tẩy: hãy xóa sổ mẹ nó đi!)
Từ “bình minh xám xịt” của sự hoài nghi, giờ chúng ta bước vào một buổi sáng đầy nắng của sự giải thoát. Đây là lúc tiệc tùng bắt đầu.
Ở giai đoạn 4, thằng cha thực chứng chỉ phớt lờ nó vì không có bằng chứng. Nhưng một tinh thần tự do như Nietzsche thì không dừng lại ở đó. Nếu một ý tưởng đã bị chứng minh là vô dụng, thừa thãi và sai lầm, thì không phải chỉ nên lờ nó đi.
Gã đưa ra mệnh lệnh cuối cùng: “let us abolish it!” (hãy xóa sổ mẹ nó đi!). Đây là một hành động chủ động, một cú đá tiễn biệt đầy vui sướng, một sự giải thoát có ý thức.
Và Nietzsche mô tả cái không khí của sự giải thoát này bằng một loạt hình ảnh đầy sức sống:
“(Bright daylight; breakfast; the return of common sense and of cheerfulness; Plato blushes for shame and all free-spirits kick up a shindy.)” ((Ban ngày rực rỡ; bữa điểm tâm; sự trở lại của lẽ thường và sự vui vẻ; Plato đỏ mặt vì xấu hổ và tất cả những tinh thần tự do quậy tưng bừng.))
“Ban ngày rực rỡ; bữa điểm tâm”: Bóng tối của siêu hình học và những lời nói dối đã tan biến. Giờ là lúc để sống trong thế giới thực, ăn một bữa sáng đơn giản. Triết học cao siêu đã kết thúc, cuộc đời thực bắt đầu.
“sự trở lại của lẽ thường và sự vui vẻ”: Không còn dằn vặt, không còn tội lỗi, không còn phải lo lắng về một “thế giới thật” nào đó nữa. Chỉ còn sự vui vẻ và cái nhìn thẳng vào thực tế.
“Plato đỏ mặt vì xấu hổ”: Plato, cha đẻ của lời nói dối, giờ đang xấu hổ chín mặt vì đứa con tinh thần của mình sau 2000 năm đã bị lột trần là một thứ vô dụng và bị vứt vào sọt rác.
“tất cả những tinh thần tự do quậy tưng bừng”: Và bọn chúng ta, những tinh thần tự do, không ngồi im suy ngẫm. Chúng ta đang mở tiệc ăn mừng. “Quậy tưng bừng” (
kick up a shindy) là một cuộc ăn mừng ồn ào và hỗn loạn. Chúng ta đang nhảy múa trên nấm mồ của một sai lầm kéo dài hai ngàn năm.
Đây là khoảnh khắc của sự giải phóng vĩ đại.
6.
We have suppressed the true world: what world survives? the apparent world perhaps?...” (Chúng ta đã dẹp bỏ thế giới “thật”: cái gì còn lại? có lẽ là thế giới bề ngoài?...)
Gã đặt ra một câu hỏi logic.
Sau khi vứt bỏ cái “thế giới chân thật” của Plato, Kant, và đạo Cơ Đốc, thì về lý thuyết, chúng ta phải còn lại cái “thế giới bề ngoài” (the apparent world), cái thế giới mà các giác quan của chúng ta cảm nhận được.
“...Certainly not! In abolishing the true world we have also abolished the world of appearance!” (...Chắc chắn là không! Khi xóa sổ thế giới chân thật, chúng ta cũng đã xóa sổ luôn thế giới bề ngoài!)
Đây là một cú twist não, một nghịch lý tối thượng. Tại sao xóa bỏ cái này lại làm cái kia biến mất theo?
Vì hai cái “thế giới” này là một cặp bài trùng, chúng nó sống chết cùng nhau.
Mày chỉ có thể gọi một tờ giấy là “tiền giả” khi mày có khái niệm về “tiền thật”.
Mày chỉ có thể gọi thế giới này là “bề ngoài”, là “ảo ảnh”, là “kém chân thật” nếu mày tin rằng có một “thế giới thật” ở đâu đó để làm thước đo. Cái này định nghĩa cái kia.
Khi mày đốt mẹ tờ tiền thật đi, thì tờ tiền giả không còn là “tiền giả” nữa. Nó chỉ là một tờ giấy.
Tương tự, khi mày xóa sổ “thế giới thật”, thì cái “thế giới bề ngoài” này không còn là “bề ngoài” nữa.
Nó mất đi cái tính chất “ảo” của nó. Nó trở thành thế giới duy nhất, thực tại duy nhất.
Mày sẽ nhận ra mấy thứ đó chỉ tồn tại duy nhất trong đầu mày.
Gã không chỉ phá hủy một thế giới, gã phá hủy toàn bộ sự phân đôi đã ám ảnh triết học phương Tây suốt 2000 năm.
Và Nietzsche mô tả khoảnh khắc vĩ đại này bằng những hình ảnh đầy quyền lực: “(Noon; the moment of the shortest shadows; the end of the longest error; mankind’s zenith; Incipit Zarathustra.)” ((Chính Ngọ; khoảnh khắc của những cái bóng ngắn nhất; sự kết thúc của sai lầm dài nhất; đỉnh cao của nhân loại; Zarathustra bắt đầu.))
“Chính Ngọ; khoảnh khắc của những cái bóng ngắn nhất”: Đây là khoảnh khắc của sự thật trần trụi, không còn bị che khuất bởi những cái bóng dài của siêu hình học, của Chúa, của những lời nói dối. Mọi thứ được phơi bày dưới ánh sáng rực rỡ nhất.
“sự kết thúc của sai lầm dài nhất”: Sai lầm 2000 năm của Platon đã chấm dứt.
“đỉnh cao của nhân loại”: Đây không phải là một khoảnh khắc của sự mất mát hay chủ nghĩa hư vô. Đối với Nietzsche, đây là khoảnh khắc huy hoàng nhất, khi con người lần đầu tiên thực sự tự do, không còn bị ám ảnh bởi một thế giới khác.
“Incipit Zarathustra” (Zarathustra bắt đầu): Đây là lời tuyên bố cuối cùng. Sự phá hủy này không phải là dấu chấm hết. Nó là sự khởi đầu. Sau khi đã dọn dẹp sạch sẽ toàn bộ đống đổ nát của triết học cũ, giờ là lúc cho một triết gia mới, một nhà tiên tri mới xuất hiện: Zarathustra, người sẽ dạy về Siêu nhân và sự khẳng định chính thế giới duy nhất này.
MORALITY AS THE ENEMY OF NATURE
Moral als Widernatur.
1.
Dục vọng/Đam mê (Passionen) không phải là một thứ cố định. Nó có hai giai đoạn:
Giai đoạn non dại: Nó ngu dốt, nó tai hại, nó có thể kéo mày xuống bùn.
Giai đoạn trưởng thành: Nó có thể “kết hôn với tinh thần” (
verheirathen), được “tinh thần hóa” (vergeistigen). Tức là năng lượng thô thiển của nó có thể được thăng hoa, được biến thành sức mạnh sáng tạo và tinh thần.
Bọn “con buôn đạo đức” (Moral-Unthiere - quái vậtđạo đức) ngày xưa thì làm gì? Chúng nó nhìn thấy sự ngu dốt của dục vọng và quyết định... giết chết mẹ nó luôn. Chúng nó tấn công cả cái dục vọng, chứ không chỉ sự ngu dốt của nó.
“il faut tuer les passions.” (phải giết chết mọi dục vọng)
Nếu mắt mày làm mày phạm tội (nhìn đàn bà mà thèm), thì hãy móc mẹ nó ra, may mà đéo có thằng Kitô hữu nào làm theo thật.
Bọn rao giảng đạo đức giống như “mấy thằng nha sĩ chỉ biết nhổ răng mà không gây tê”. Thay vì chữa trị, chúng nó chọn cách phá hủy.
Tại sao Giáo hội lại ngu đến vậy? Bởi vì chúng vốn dĩ đã là phong trào sinh ra từ việc chống lại trí tuệ, nó phán quyết lũ khôn ngoan để bảo vệ lũ bầy đàn nghèo nàn về tinh thần cần một phương thuốc để chống chọi với thực tại vô nghĩa, đau khổ.
Một phong trào phản trí tuệ thì làm sao có thể tìm ra một giải pháp thông minh được?
Vậy phương thuốc của nó đưa ra là gì? Là triệt sản (Castratismus).
Đào tận gốc, nhổ tận rễ dục vọng bằng cách đặt trọng tâm vào tiêu diệt tội lỗi: nhục dục, lòng kiêu hãnh, ham muốn quyền lực, ham muốn sở hữu, và sự trả thù - toàn động cơ mạnh mẽ để sống còn với đời.
Tấn công vào gốc rễ của dục vọng chính là tấn công vào gốc rễ của sự sống. Do đó, phương pháp của Nhà thờ thù địch với sự sống (lebensfeindlich).
Diễn giải
Hãy tưởng tượng dục vọng của mày là một con ngựa hoang dã, mạnh mẽ nhưng nguy hiểm.
Cách của một tinh thần mạnh mẽ (cách của Nietzsche): Một thằng nài ngựa giỏi, nó sẽ thuần hóa con ngựa. Nó sẽ không giết chết sức mạnh của con ngựa. Nó sẽ học cách điều khiển nó, biến cái năng lượng hoang dã đó thành tốc độ, thành sức mạnh có mục đích. Nó “tinh thần hóa” con ngựa. Đây là làm chủ.
Cách của một kẻ yếu đuối (cách của Nhà thờ): Một thằng hèn, một thằng linh mục, nó sợ con ngựa. Nó không đủ sức mạnh để điều khiển nó. Nên nó lấy dao ra và thiến con ngựa. Con ngựa sẽ trở nên ngoan ngoãn, dễ bảo, nhưng nó cũng mất hết lửa, mất hết sức mạnh. Nó không còn là một con chiến mã nữa, nó chỉ là một con vật thồ hàng. Đây là phá hủy.
Kitô giáo chọn cách thiến vì nó được đẻ ra từ sự yếu đuối và sợ hãi. Nó không tin vào sức mạnh của con người để có thể làm chủ bản năng.
Nó nhìn vào những đam mê mạnh mẽ — ham muốn quyền lực, lòng kiêu hãnh, dục vọng — và nó chỉ thấy sự nguy hiểm, sự tội lỗi. Nó không thấy được cái tiềm năng sáng tạo bên trong chúng.
Phương pháp của nó là phương pháp của một kẻ hoang tưởng sợ hãi. Thấy cái gì mạnh mẽ là phải tiêu diệt, phải làm cho nó yếu đi, phải cắt bỏ. “Nếu mắt mày làm mày phạm tội, hãy móc nó ra.” Móc mắt, cắt lưỡi, thiến dái — đó là logic của Nhà thờ.
2.
Ai xài chiêu này?
Mấy thằng ý chí yếu như sên, mục ruỗng từ trong ra, mấy thằng đéo có đủ sức để tự kìm hãm. Bọn này là cái loại phải chui vào chùa tu khổ hạnh, phải vạch ra một lằn ranh, một cái vực thẳm giữa nó và cơn thèm khát của nó.
Chỉ có bọn suy đồi mới cần đến mấy trò cực đoan. Ý chí yếu đuối là cái đéo gì? Nói toạc ra, đó là cái tật đéo thể không phản ứng lại khi bị chọc tức. Thấy cái gì là phải nhào vô như gái đẹp, rượu ngon, ma tuý, tiền bạc. Cái sự mất kiểm soát đó chính là một dạng mục ruỗng.
Nên khi mày thấy một thằng nào đó bắt đầu nói đạo lý về nghiệp chướng, nhân quả, những dục vọng cần tránh xa . Mày đã thấy được triệu chứng và có quyền nghi ngờ về toàn bộ nhân cách của một thằng thái quá như vậy.
Và cái lòng căm thù đó lên đến đỉnh điểm khi nào? Khi mà mấy thằng cha đó thậm chí còn không đủ sức để để từ bỏ “con quỷ” trong người.
Cứ nhìn vào lịch sử của bọn thầy tu, bọn triết gia, và cả bọn nghệ sĩ mà xem. Mấy lời chửi độc địa nhất nhắm vào giác quan đéo phải đến từ mấy thằng liệt dương, cũng đéo phải từ mấy ông thánh đã tu thành chính quả.
Nó đến từ mấy thằng vừa muốn tu lại vừa đéo tu nổi.
Dục vọng của chúng nó vẫn sôi sục, nhưng chúng nó quá yếu để làm chủ hay dập tắt nó. Chúng nó bị kẹt trong địa ngục, nên chúng nó gào lên và bắt cả thế giới phải nghe theo lời rên rỉ của chúng nó.
Diễn giải
Chỉ có những thằng suy đồi, yếu đuối mới cần đến những biện pháp cực đoan.
Gã nói rằng những thằng chọn cách “cắt bỏ” (extirpation) hay “thiến” (castration) dục vọng là những thằng “ý chí quá yếu, quá suy đồi” (too weak of will, too degenerate) để có thể tiết chế nó. Một thằng mạnh thì có thể điều khiển con ngựa dục vọng. Một thằng yếu thì chỉ có một cách là giết mẹ con ngựa đi.
Và gã đưa ra một định nghĩa cực hay về ý chí yếu đuối: đó là “sự bất lực trong việc không phản ứng lại một kích thích” (the inability not to react to a stimulus). Tức là mày là một thằng nô lệ. Mày thấy một miếng bánh, mày phải ăn. Mày bị chửi, mày phải nổi điên. Mày không có khả năng kìm hãm. Sự mất kiểm soát đó, đối với Nietzsche, chính là một dạng suy đồi.
Vì vậy, khi mày thấy một thằng nào đó tỏ ra cực kỳ căm thù nhục dục, la lối om sòm về sự trong sạch, thì mày nên “nghi ngờ” (suspicious). Cái sự thù hằn cực đoan đó không phải là dấu hiệu của sức mạnh hay sự thuần khiết. Nó là triệu chứng của một kẻ đang bị chính dục vọng của mình hành hạ cho đến điên.
Và đây là nhát dao sâu nhất, tàn bạo nhất của gã:
“the most poisonous diatribes against the senses have not been said by the impotent, nor by the ascetics; but by those impossible ascetics, by those who found it necessary to be ascetics.” (những lời chửi rủa độc địa nhất nhắm vào các giác quan không đến từ những thằng bất lực, cũng không đến từ những kẻ tu hành khổ hạnh; mà đến từ những kẻ tu hành bất thành, từ những kẻ thấy rằng mình cần phải tu hành khổ hạnh.)
Những thằng bất lực (
the impotent) thì đéo có dục vọng mạnh mẽ, nên chúng nó chẳng có lý do gì để căm thù nó.Những kẻ tu hành thành công (
the ascetics) là những người đã thực sự dập tắt được dục vọng, họ đã đạt đến sự bình yên và không cần phải la lối về nó nữa.
Vậy ai là những người chửi bới nhục dục một cách cay độc nhất? Đó là những thằng vừa muốn tu nhưng lại đéo tu nổi. Dục vọng của chúng nó vẫn còn sôi sục, nhưng ý chí của chúng nó lại quá yếu để dập tắt hay “thiến” nó đi. Chúng nó bị kẹt trong một cuộc nội chiến địa ngục. Và chúng nó la hét, chúng nó viết sách, chúng nó rao giảng đạo đức để trút cái sự dằn vặt của chính mình lên đầu cả thế giới. Lời rao giảng của chúng nó chỉ là một tiếng thét từ địa ngục cá nhân.
3.
Biến dục vọng trở thành tình yêu lẫn thù ghét chính là một chiến thắng vĩ đại trước đạo Cơ đốc.
Tình yêu thực sự trở nên thăng hoa không phải bằng cách cắt bỏ nhục dục trở nên vô tính như thánh thần.
Tao không nói thế.
Đạo đức bầy đàn dạy mày phải yêu thương kẻ thù. Tao nói mày phải biết ơn kẻ thù.
Bọn giáo hội dù ở tôn giáo nào cũng muốn tiêu diệt dù vọng còn bọn tao - những kẻ vô đạo đức , Phản-Kitô, lại thấy lợi ích của mình trong việc tôn giáo tiếp tục tồn tại”
Tại sao? Vì kẻ thù cho mày một mục tiêu, một thứ để chống lại, một cái cớ để trở nên mạnh mẽ hơn. Nó định hình nên con người mày.
Đó là định luật của sự sáng tạo:
“Mày chỉ có thể sáng tạo khi mày chứa đầy những sự mâu thuẫn bên trong.”
“Mày chỉ có thể trẻ mãi khi tâm hồn mày đéo đi tìm kiếm suối nguồn tươi trẻ.”
Bình yên là cái chết của tinh thần. Sự căng thẳng, nội chiến giữa phần con và phần người mới là nguồn gốc của sức sống.
Tao không ghen tị với “con bò đạo đức và hạnh phúc béo tròn của một lương tâm trong sạch.” Con bò thì nhai lại, tự mãn, không có xung đột, không có sự vĩ đại. Lòng “thanh thản” của chúng nó chỉ là sự ngu dốt và trì trệ.
Tất nhiên, phần lớn thời gian, cái “bình yên trong tâm hồn” chỉ là một sự xạo lồn. Nó là những thứ khác, nhưng không dám gọi đúng tên. Đây là vài ví dụ:
“Bình yên trong tâm hồn” có thể chỉ là sự thỏa mãn của một thằng có sức khỏe tốt.
Hoặc là mày bắt đầu mệt rồi, như trời sắp tối.
Hoặc là do mày ỉa thông (thứ mà đôi khi người ta gọi là “tình người”).
Hoặc là cảm giác của một thằng mới ốm dậy, thấy cái đéo gì cũng ngon và đang chờ ăn.
Hoặc là cảm giác phê pha sau khi mày vừa được một cú sướng.
Hoặc là ý chí của mày đã già, ham muốn của mày đã yếu.
Hoặc là mày lười nhưng thích làm màu đạo đức.
Hoặc là mày hết lo lắng sau một thời gian dài bất an.
Hoặc là sự bình tĩnh của một tay thợ cả đã nắm vững nghề.
Biết đâu đấy? Chính cái cuốn sách này cũng chỉ là một kiểu “bình yên trong tâm hồn” của tao...
Diễn giải
Sau khi chửi Nhà thờ là một thằng lang băm chỉ biết “thiến”, đoạn này Nietzsche đưa ra phương thuốc của chính mình: Sự tinh thần hóa (spiritualisation).
Gã không giết dục vọng, gã thăng hoa nó, biến năng lượng của nó thành một thứ cao cấp hơn.
Gã bắt đầu với một định nghĩa: “The spiritualisation of sensuality is called love: it is a great triumph over Christianity.” (Sự tinh thần hóa của nhục dục được gọi là tình yêu: đó là một chiến thắng vĩ đại của đạo Cơ Đốc.)
Đây là một cú tát vào mặt đạo Cơ Đốc. Tình yêu thật sự không phải là thứ vô tính, trong sạch bằng cách cắt bỏ nhục dục.
Nó vẫn chính là dục vọng được nâng lên một tầm cao mới, được trang điểm bằng một vẻ đẹp và ý nghĩa tinh thần mới. Gã không vứt bỏ động cơ, gã chỉ lắp cho nó một bộ khung xe đẹp hơn.
Quan trọng hơn, gã nói về “sự tinh thần hóa của lòng thù địch”. Gã tuyên bố: “chúng ta đang bắt đầu nhận ra một cách sâu sắc giá trị của việc có kẻ thù.”
Nhà thờ: muốn tiêu diệt kẻ thù của nó.
Bọn vô đạo đức (như Nietzsche nói): lại thấy lợi ích của mình trong việc Nhà thờ tiếp tục tồn tại.
Tại sao? Vì kẻ thù cho mày một mục tiêu, một thứ để chống lại, một cái cớ để trở nên mạnh mẽ hơn. Kẻ thù định hình mày. Một đế chế mới cần kẻ thù hơn là bạn bè để cảm thấy sự tồn tại của mình là cần thiết.
Tương tự, gã nói, chúng ta cũng phải đối xử như vậy với “kẻ thù của chính mình”: những dục vọng, những xung lực đối nghịch.
Một con người chỉ có thể sáng tạo khi bên trong nó giàu những ham muốn bản năng đối chọi. Một tâm hồn chỉ có thể trẻ mãi khi nó không đi tìm kiếm sự bình yên.
Từ đó, gã chửi thẳng vào cái lý tưởng cao nhất của đạo Cơ Đốc: “sự bình yên trong tâm hồn” (peace of the soul).
Gã nói rằng gã ghê tởm cái lý tưởng đó hơn bất cứ thứ gì, ghê tởm “con bò đạo đức và cái hạnh phúc béo tròn của một lương tâm trong sạch.” (the moral cow and the plump happiness of a clean conscience.)
Rồi gã lật tẩy nó, nói rằng “bình yên trong tâm hồn” thường chỉ là những cái tên đẹp đẽ cho những thứ rất tầm thường: tiêu hóa tốt, sự mệt mỏi, sự lười biếng, hoặc sự thanh thản của một bậc thầy sau khi đã hoàn thành một cuộc chiến vĩ đại và đầy cam go.
Và gã kết thúc bằng một cú tự mỉa mai cực kỳ thông minh: “Who knows?—maybe The Twilight of the Idols is only a sort of “peace of the soul.” (Biết đâu đấy?—có lẽ chính cuốn Hoàng hôn của những Thần tượng này cũng chỉ là một dạng ‘bình yên trong tâm hồn’.)
Gã đang nói rằng cái sự bình yên của gã không phải là sự bình yên của một con bò đang nhai lại.
Nó là sự bình yên của một chiến binh, một đấng sáng tạo đang ở đỉnh cao quyền lực, cái sự thanh thản đến từ việc đã chiến thắng và hoàn thành một kiệt tác. Cuốn sách này, một lời tuyên chiến, chính là sự bình yên của gã.
4.
Tao sẽ đưa ra một nguyên tắc.
Mọi chủ nghĩa tự nhiên trong đạo đức—tức là mọi nền đạo đức lành mạnh—đều bị chi phối bởi bản năng sống,—bất kỳ quy luật nào của sự sống cũng được thực thi bằng một điều răn rõ ràng ‘mày phải’, ‘mày không được’, và bất kỳ trở ngại hay kẻ thù nào trên đường đời cũng vì thế mà bị dọn dẹp.
Ngược lại, thứ đạo đức thù địch với tự nhiên—tức là, gần như mọi thứ đạo đức đã được dạy dỗ, tôn vinh và rao giảng từ trước đến nay, lại nhắm thẳng vào việc chống lại các bản năng sống,—đó là một sự kết án, lúc thì ngấm ngầm, lúc thì trắng trợn và trơ trẽn, nhắm vào chính những bản năng này.
Trong chừng mực mà nó nói ‘Chúa nhìn thấu tim gan con người’, nó đang nói KHÔNG với những ham muốn sâu sắc và cao cả nhất của cuộc đời và coi Chúa là kẻ thù của sự sống.
Vị thánh mà Chúa hài lòng, chính là một thằng thái giám lý tưởng. Sự sống kết thúc ở nơi ‘Vương quốc của Chúa’ bắt đầu.
Diễn giải
Đoạn này Nietzsche không còn đi vòng vo nữa. Gã đưa ra một định luật, một cái thước đo để phân biệt hai loại đạo đức: đạo đức phục vụ sự sống và đạo đức thù địch với sự sống.
Gã bắt đầu bằng việc định nghĩa một nền đạo đức “lành mạnh” (sound morality).
Nền tảng của nó là bản năng sống (
life instinct).Mọi luật lệ “mày phải”, “mày không được” của nó đều chỉ có một mục đích duy nhất: dọn dẹp chướng ngại vật trên con đường của sự sống, giúp sự sống phát triển mạnh mẽ hơn. Nó là một công cụ phục vụ sự sống.
Ngược lại, là đạo đức “chống lại bản năng tự nhiên”.
Và gã nói thẳng, đây là “hầu hết mọi thứ đạo đức đã từng được dạy dỗ, tôn vinh và rao giảng từ trước đến nay.”
Gã đang chĩa mũi dùi thẳng vào đạo Cơ Đốc và những triết lý tương tự.
Mục đích của nó là gì? Tấn công thẳng vào bản năng sống.
Nó là một lời nguyền rủa—lúc thì ngấm ngầm, lúc thì trắng trợn—nhắm vào chính những bản năng đó.
Và gã lôi ra vũ khí tối thượng của thứ đạo đức này: câu nói “God sees into the heart of man.” (Chúa nhìn thấu tim gan con người.)
Khi nói câu đó, nó không chỉ phán xét hành động, nó phán xét cả ham muốn, cả suy nghĩ. Nó đang nói “KHÔNG” với những ham muốn sâu sắc và cao cả nhất của cuộc đời. Nó biến Chúa thành kẻ thù của sự sống.
Và sản phẩm hoàn hảo của thứ đạo đức này là ai? Là vị thánh. Nietzsche định nghĩa lại một cách tàn bạo: “The saint in whom God is well pleased, is the ideal eunuch.” (Vị thánh mà Chúa hài lòng, chính là một thằng thái giám lý tưởng.) Một kẻ đã tự “thiến” đi mọi ham muốn mạnh mẽ, mọi xung lực sống của mình để làm hài lòng một vị Chúa chống lại sự sống.
Và gã kết thúc bằng một phương trình chết người: “Life terminates where the “Kingdom of God” begins.” (Sự sống kết thúc ở nơi “Vương quốc của Chúa” bắt đầu.)
Nói toẹt ra, để bước vào thiên đường của chúng nó, mày phải giết chết con người trần thế của mày trước đã. Thiên đường của chúng nó được xây trên nấm mồ của sự sống.
5.
Cuộc “nổi loạn” chống lại dục vọng, sự sống này từ đạo đức Kitô giáo này nếu mày hiểu được thì thật là may mắn. Nhưng nó không chỉ đơn giản là độc ác mà còn ngu xuẩn , giả tạo và bất khả thi về mặt logic
Chỉ có những thằng bệnh hoạn mới dùng thứ “đạo đức” giả dối kia lên án cuộc đời mình và người khác phải sống ra sao cho thật “đức hạnh” , nó chỉ nói lên sự thật rằng lời chê đó đến từ một kẻ bệnh hoạn.
Câu hỏi “lời răn đó có đúng không?” thậm chí còn không đáng để đặt ra. Nó là một câu hỏi ngu. Mày không hỏi một thằng đang sốt “cơn sốt của mày có hợp lý không?”. Mày chỉ chẩn đoán nó.
Để có thể phán xét giá trị của cuộc đời một cách công bằng, mày phải ở bên ngoài rìa vũ trụ , và biết tuốt mọi trải nghiệm của tất cả sinh vật đã chết , hoàn toàn bất khả thi. Vì vậy, cái “vấn đề” này là thứ chúng ta đéo thể chạm tới được.
Vậy giá trị đến từ đâu?
“Qua việc mày đang thở”
Hãy tưởng tượng sự sống là một dòng chảy:
Một dòng chảy mạnh mẽ, cuồn cuộn, nó sẽ gầm lên: “Tốc độ là tốt! Sức mạnh là tốt! Vượt qua mọi chướng ngại vật là tốt!”
Một dòng chảy yếu ớt, tù đọng, sắp cạn khô, nó sẽ thì thầm: “Bình yên là tốt. Đứng im là tốt. Không có chướng ngại vật là tốt.”
Cái đạo đức chống lại tự nhiên của bọn Kitô giáo cũng chỉ là một lời phán xét của sự sống. Nhưng là của loại sống nào? Tao đã trả lời rồi: của một sự sống đang suy tàn, yếu ớt, mệt mỏi, và đã bị kết án.
Đạo đức, như người ta vẫn hiểu từ trước đến nay — như thằng cha Schopenhauer đã tóm gọn lại thành “Sự Chối bỏ Ý chí Sống” — chính là bản năng của sự suy đồi đã tự biến mình thành một mệnh lệnh.
Nó gào lên: “CHẾT ĐI!”
Nó là bản án tử hình của những kẻ đã bị kết án rồi.
.
Diễn giải:
Cuộc “nổi loạn” chống lại sự sống này không chỉ là độc ác, mà nó còn ngu xuẩn, giả tạo, và bất khả thi về mặt logic.
Gã bắt đầu bằng việc chỉ ra cái mâu thuẫn cốt lõi: “For the condemnation of life by a living creature is after all but the symptom of a definite kind of life” (Vì sự kết án cuộc đời bởi một sinh vật đang sống... chỉ là một triệu chứng của một loại hình sự sống nhất định).
Nói toẹt ra: chỉ có một thằng bệnh hoạn mới đi chê bai sự sống.
Lời chê bai của nó không nói lên điều gì về “sự thật” của cuộc đời, nó chỉ nói lên sự thật rằng thằng đó đang bệnh. Câu hỏi “lời kết án đó có đúng không?” thậm chí còn không đáng để đặt ra.
Để có thể phán xét giá trị của cuộc đời một cách công bằng, mày phải ở bên ngoài cuộc đời, và phải biết tuốt mọi trải nghiệm của tất cả những người đã từng sống. Một vị trí bất khả thi. Vì vậy, cái “vấn đề” này là thứ chúng ta đéo thể chạm tới được.
Vậy giá trị đến từ đâu? Nietzsche trả lời: “life itself values through us when we determine values.” (chính sự sống đang định giá thông qua chúng ta khi chúng ta định giá.)
Mọi giá trị, kể cả những giá trị trông có vẻ “cao siêu” nhất, đều là sản phẩm của sự sống. Sự sống, thông qua mày, đang tự định giá chính nó. Một sự sống khỏe mạnh, đi lên sẽ tạo ra những giá trị khẳng định sự sống.
Và đây là nghịch lý tàn bạo nhất: Ngay cả cái đạo đức chống lại sự sống (như đạo Cơ Đốc) cũng là một sự định giá của sự sống.
Nhưng là của loại sống nào? Gã trả lời: “it is the valuation of declining, of enfeebled, of exhausted and of condemned life.” (đó là sự định giá của một sự sống đang suy tàn, yếu ớt, kiệt quệ và bị kết án.)
Một sự sống bệnh hoạn, đang hấp hối, sẽ tự nhiên tạo ra một hệ giá trị ca ngợi sự yếu đuối, sự thương hại, và chửi rủa sức mạnh, sức khỏe, và niềm vui mà nó không có được.
Gã tóm gọn lại:
“Morality... is the instinct of degeneration itself, which converts itself into an imperative: it says: ‘Perish!’ It is the death sentence of men who are already doomed.” (Đạo đức... chính là bản năng của sự suy đồi, thứ đã biến mình thành một mệnh lệnh: nó nói: ‘Hãy-chết-đi!’ Nó là bản án tử hình của những kẻ đã bị kết án rồi.)
Nói cách khác, đạo đức truyền thống là lời trăn trối của một kẻ sắp chết, và nó muốn cả thế giới phải chết theo nó.
6.
Ai cho mày cái quyền phán xét và đặt ra một khuôn mẫu và nói ‘con người phải thế này, thế kia!’ cho cả nhân loại?
Ở đời có vô số loại người muôn hình muôn vẻ, không ai thích bị gộp trong 1 cái khuôn duy nhất.
Thế mà một thằng ăn hại lười biếng đạo đức nào đó (armseliger Eckensteher von Moralist) đi qua và gào lên: ‘Không! Con người phải đi theo chuẩn mực do tao đặt ra!’”
Lão đang nói: thực tại thì giàu có, còn đạo đức thì nghèo nàn. Thằng đạo đức nhìn vào thấy sai lầm vì cuộc đời thật không giống như những gì nó tưởng tượng trong đầu.
Nó tự cho rằng, lời sấm truyền của nó đủ để mô tả một con người “người phải” thế nào mới “đúng” bằng cách gì?
Nó vẽ mẹ cái mặt của chính nó lên tường và tuyên bố: ‘Đây là người!’ (ecce homo! là câu của Pontius Pilate nói về Jesus, “Đây là người!”). Nó lấy chính cái bản mặt tự cho là thánh thiện của nó làm khuôn mẫu cho cả nhân loại. Một hành động thủ dâm tinh thần tột cùng.
Mỗi cá nhân là một phần của định mệnh. (fatum). Mày là kết quả của toàn bộ quá khứ, là một mắt xích không thể thiếu. Bắt mày “thay đổi” cũng vô lý như bắt cả vũ trụ phải đảo ngược.
Và đúng là đã có những thằng đạo đức nhất quán với những gì chúng hằng rao giảng.
Để đạt được mục đích biến mọi người thành bản sao của chính mình (những thằng Mucker - đạo đức giả, sùng đạo hẹp hòi), chúng nó đã phải làm gì? Chúng nó đã phải “chối bỏ thế giới” (verneinten sie die Welt). Chúng nó phải tuyên bố rằng thế giới thực này là sai lầm, là tội lỗi, để có thể áp đặt cái lý tưởng bệnh hoạn của chúng lên đầu mày.
Loại đạo đức phán xét là một sai lầm đặc thù, một thói quen bệnh hoạn của bọn suy đồi (Degenerirten-Idiosynkrasie), và nó đã gây ra vô số tai họa.
Ngược lại, “chúng tao, những kẻ vô đạo đức” (wir Immoralisten), thì sao? Chúng tao đã mở rộng trái tim mình cho mọi loại thấu hiểu, thông cảm và chấp thuận.
Chúng tao không dễ dàng chối bỏ, chúng tao tìm thấy danh dự của mình trong việc trở thành những kẻ khẳng định(Bejahende zu sein).
Đây là sự đối lập cốt lõi: bọn đạo đức là những kẻ phủ định, bọn vô đạo đức là những kẻ khẳng định (nói CÓ với cuộc đời).
Tao đã mở mắt ra và nhìn thấy cái thị trường mua bán đạo đức xảo quyệt đến mức tận dụng và khai thác những thứ mà “cơn điên thần thánh của thằng linh mục” vứt bỏ.
Chúng nó buôn thần bán thành, bán sự cứu chuộc và ơn gọi để đem tiền vào túi cái giống loài kinh tởm sùng đạo, linh mục và bọn đức hạnh vậy lợi ích là gì?
Chính là bọn tao, những kẻ vô đạo đức (Immoralisten) được tạo ra từ nền độc tài áp bức đạo đức Kitô giáo trong suốt 2000 năm qua đã nén một cái lò xo đến mức bung ra và tạo một lực đàn hồi kinh hoàng đó là chúng tao, những kẻ vô đạo đức.
Sự sống, để chống lại kẻ thù lớn nhất của nó, đã phải đẻ ra một loại quái vật mới để tự cứu lấy mình. Kẻ thù của sự sống đã vô tình tạo ra những đứa con mạnh mẽ nhất của sự sống.
Diễn giải
Đạo đức là trò xạo lồn được một đám người tự đặt ra tiêu chuẩn “mày phải”, “mày nên”, “mày không được” làm những việc mà chúng nó xem là báng bổ đến trật tự câu chuyện trong đầu nó nghĩ.
Mục đích để làm gì? Kiềm hãm lại dục vọng của mày.
Nó giống như một con ngựa hoang, lúc còn non thì ngu dốt và nguy hiểm nhưng khi trưởng thành thì có thể thăng hoa, biến thành sức mạnh sáng tạo trong nghệ thuật, triết học và khoa học.
Nhưng bọn tôn giáo thấy con ngựa hoang thay vì dạy cho nó cách phi nước đại thì chúng lôi dao ra và thiến mẹ nó đi.
Nietzsche gọi đó là triệt sản, tấn công vào gốc rễ dục vọng = sự sống, một thứ triết lý thù địch.
Bọn bất lực với thứ ý chí yếu đuối không kiểm soát bản năng thì lại khoá dùng mấy câu chuyện “địa ngục”, “quỷ ám”, “nghiệp chướng” để khiến mày sợ mà đi vô khuôn khổ chúng nó muốn.
Mà cái nghịch lý ở chỗ thằng chửi bới dục vọng to tiếng nhất đéo đến từ mấy cha đã tu thành chánh quả mà là đám tu hổ mang - vừa muốn tu vừa thèm tục nên phải gào lên để át đi cơn thèm muốn gái đẹp, rượu ngon, giàu sang.
Nhưng bọn vô đạo đức như Nietzsche không giết con ngựa hoang dục vọng mà nâng cấp nó lên thành tình yêu, biến lòng căm thù thành một thứ vũ khí.
Mày biết ơn kẻ thù vì đã tra tấn, hành hạ làm cho mày mạnh hơn.
Đó là lợi ích của việc giữ cho tôn giáo tiếp tục - có kẻ thù để chiến đấu, một bãi chiến trường để sáng tạo.
. Mày chỉ có thể trẻ mãi khi tâm hồn mày còn đang đánh lộn, chứ đéo phải đi tìm chỗ nghỉ hưu. Vì thế, bọn tao khinh bỉ cái trò “bình yên trong tâm hồn”. Đó là hạnh phúc của một con bò cái đạo đức. Mày từ bỏ chiến tranh là mày đã từ bỏ một cuộc đời đáng sống.
Nói tóm lại, có hai loại đạo đức:
Đạo đức khỏe mạnh: phục vụ sự sống, dục vọng.
Đạo đức bệnh hoạn (hầu hết mọi đạo đức từ trước đến nay): chống lại sự sống.
Và cái đạo đức bệnh hoạn này, nó chỉ là tiếng nói của một sự sống đang suy tàn, mệt mỏi, và đã bị kết án. Nó là bản năng của sự thối rữa, và mệnh lệnh duy nhất của nó là: “CHẾT ĐI!”
Nó không phải là sự phán xét về cuộc đời. Nó là lời trăn trối của những kẻ sắp chết.
Vậy nên đạo đức là thứ đáng bị phỉ nhổ chứ không phải được tôn thờ. Đó là thứ bị nuôi cấy vào não bộ của mày chứ không phải định luật bất biến của đấng tạo hoá nào ban xuống 10 điều răn nói “con người phải thế này thế kia” mà là sản phẩm hệ giá trị được lũ tôn giáo và triết gia đem đi bán cho đám bầy đàn đòi cả vũ trụ, bản thân chính mày phải làm theo lệnh của nó.
Nhưng chính bọn thầy tu chống lại dục vọng ấy đã vô tình tạo nên lũ vô đạo đức sinh ra từ áp bức - những kẻ mang trong mình dục vọng mạnh mẽ đến mức khiến chúng phải run sợ.
THE FOUR GREAT ERRORS
1.
Cái não của mày, ngay từ đầu, đã bị cài một con virus.
Con đó tên là nhầm lẫn giữa nguyên nhân và kết quả.
Tuy nhiên, sai lầm này là một trong những thói quen cổ xưa và gần đây nhất của loài người.
Nó thậm chí đã được phong thánh, và mang tên ‘Tôn giáo’ và ‘Đạo đức’... Bọn linh mục và mấy thằng ban hành luật đạo đức chính là những kẻ cổ xúy cho sự đồi bại này.
—Lấy một ví dụ. Ai cũng biết cuốn sách của lão Cornaro nổi tiếng, trong đó lão giới thiệu chế độ ăn ít ỏi của mình như công thức cho một cuộc đời dài lâu, hạnh phúc và đức hạnh...
Tao đéo nghi ngờ gì cuốn sách này bán cho nhân loại thứ sản phẩm đần độn chỉ thua mỗi kinh thánh.
Lý do như tao đã nói là sự nhầm lẫn giữa kết quả và nguyên nhân.
Lão người Ý đáng kính này thấy nguyên nhân của sự trường thọ trong chế độ ăn của mình là ăn ít và sống lâu.
Hắn bị con virus trong đầu phán rằng:
“À, ăn ít (nguyên nhân) -> sống lâu (kết quả)”Trong khi thực tế đó bởi vì cơ địa hắn trao đổi chất chậm (nguyên nhân thật) -> lão đéo thể ăn nhiều (kết quả) -> lão sống lâu (một kết quả khác).
Mày thấy chưa? Lý trí của mày đã lật ngược mẹ nó sự thật. Nó đã phạm phải “tội lỗi nguyên thủy”: lấy một triệu chứng (ăn ít) và biến nó thành một phương thuốc (lời khuyên đạo đức).
Lão đéo được tự do lựa chọn ăn ít hay nhiều... Ăn nhiều hơn là lão bệnh.
Một học giả thời nay, với sự tiêu thụ năng lượng thần kinh nhanh chóng của mình, sẽ toi đời với chế độ ăn của Cornaro. Cứ tin lời tao đi.
Diễn giải:
Ở Bài này Nietzsche mổ xẻ cái gọi là “Bốn Sai Lầm Vĩ Đại” của tư duy con người.
Sai lầm đầu tiên và cũng là nguy hiểm nhất cũng là sai lầm nguy hiểm nhất mà Tôn giáo và Đạo đức được xây dựng trên đó, là nhầm lẫn giữa nguyên nhân và kết quả.
Gã gọi nó là “sự đồi bại cố hữu của lý trí.” Hay “CÁI LỖI LẬP TRÌNH GỐC CỦA NÃO BỘ”.
Lý trí của mày không phải là một công cụ trong sạch để tìm sự thật. Nó là một thằng thám tử ngu, lúc nào cũng đi sai hướng. Nó nhìn thấy một cái xác (kết quả) và thay vì tìm hung thủ thật, nó lại đổ tội cho chính cái bóng của cái xác (một nguyên nhân tưởng tượng).
Gã lôi ra một ví dụ kinh điển: có một cuốn sách nổi tiếng của một lão người Ý tên là Cornaro. Lão này khoe rằng bí quyết để sống lâu, sống hạnh phúc và đức hạnh là nhờ chế độ ăn kiêng kham khổ của lão.
Lời rao giảng (Nguyên nhân -> Kết quả): Ăn ít -> Sống lâu và đức hạnh.
Nietzsche nói cuốn sách này, dù có ý tốt, nhưng đã gây hại và giết người nhiều hơn cả bệnh dịch, chỉ sau Kinh Thánh.
Tại sao? Vì nó đã nhầm lẫn kết quả với nguyên nhân.
Sự thật, theo Nietzsche, là ngược lại hoàn toàn:
Sự thật (Nguyên nhân -> Kết quả): Cơ địa trao đổi chất chậm -> Ăn ít -> Sống lâu.
Lão Cornaro đéo sống lâu vì lão ăn ít.
Lão ăn ít vì cơ địa của lão là loại sống lâu.
Sự trao đổi chất của lão chậm vãi lồn, cơ thể lão tiêu thụ ít năng lượng.
Đó mới là nguyên nhân thật sự. Cái chế độ ăn ít ỏi của lão chỉ là kết quả, là một triệu chứng của cái cơ địa đó.
Lão đéo có lựa chọn nào khác.
Ăn nhiều hơn là lão bệnh chết mẹ.
Cái “đức hạnh” (ăn uống điều độ) của lão không phải là một sự lựa chọn tự do, nó là một sự bắt buộc của sinh lý.
Và sự nguy hiểm nằm ở chỗ: bọn rao giảng đạo đức lấy công thức của một “con cá chép” (như lão Cornaro) và áp dụng cho một “con cá mập” (như một học giả hiện đại, người đốt năng lượng não như điên).
Kết quả là thằng học giả sẽ chết yểu.
Gã kết lại bằng một câu tiếng La-tinh đầy ngạo mạn: Crede experto—”Cứ tin lời thằng chuyên gia này đi.” Nietzsche đang tự nói về chính mình.
2.
Cái mánh khóe của mọi tôn giáo và đạo đức là đây: “Mày làm thế này thì được thưởng. Mày làm thế kia thì bị phạt.” Hết.
Toàn bộ tôn giáo và đạo đức đều là cái trò đổi chác đó. Tao gọi nó là lỗi lập trình gốc của não bộ, một sự ngu xuẩn vĩnh cửu.
Còn tao thì lật ngược mẹ nó lại. Đây là cú “đảo lộn giá trị” đầu tiên của tao: một thằng khỏe mạnh, sinh ra đã may mắn, thì nó sẽ tự động làm những việc tốt và ghê tởm những việc xấu theo bản năng.
Nói toạc ra: đức hạnh của nó là triệu chứng của sức khỏe, đéo phải nguyên nhân.
Sống lâu đéo phải là phần thưởng cho việc mày sống tốt. Ngược lại, cái “sống tốt” (như ăn ít) chỉ là dấu hiệu cho thấy cơ thể mày vốn dĩ đã là loại sống lâu.
Giáo hội và đạo đức nói: “Một dân tộc chết vì nó tội lỗi.”
Tao nói: Nó sa vào tội lỗi VÌ nó đang chết.
Bạn bè nói: “Thằng đó yếu đi vì nó bệnh.”
Tao nói: Nó bị bệnh VÌ nó đã yếu sẵn từ trong trứng.
Báo chí nói: “Cái đảng đó sẽ chết vì nó phạm sai lầm.”
Tao nói: Nó phạm sai lầm VÌ nó sắp chết mẹ nó rồi, bản năng của nó đã thối rữa.
Mọi sai lầm đều là hậu quả của bản năng đã mục ruỗng. Đó gần như là định nghĩa của cái ác.
Mọi thứ tốt đẹp đều đến từ bản năng — nó dễ dàng, nó tự nhiên. Phải gồng mình lên để làm việc tốt là một dấu hiệu mày đang có vấn đề. Một vị thần thì khác một anh hùng. Anh hùng phải đổ mồ hôi. Còn thần thì chỉ cần búng tay. (Tao nói thế này: chân cẳng nhẹ nhàng là dấu hiệu đầu tiên của thần thánh).
Diễn giải:
“Tội lỗi nguyên thủy vĩ đại của lý trí” là cái công thức nền tảng, cái logic lừa đảo của mọi tôn giáo và đạo đức từ trước đến nay.
Gã nói rằng nguyên tắc gốc của mọi tôn giáo và đạo đức là một mệnh lệnh, một cuộc đổi chác:
“Làm cái này, né cái kia—rồi mày sẽ được hạnh phúc. Không thì...”.
Nó hứa hẹn rằng nếu mày tuân theo một bộ quy tắc (đức hạnh), mày sẽ nhận được một phần thưởng (hạnh phúc, sống lâu, lên thiên đường).
Logic của chúng nó: Đức hạnh (Nguyên nhân) -> Hạnh phúc (Kết quả).
Gã tuyên bố, đây là ví dụ đầu tiên về việc gã “Đảo lộn mọi giá trị”. Gã lật ngược hoàn toàn cái công thức đó.
Logic của Nietzsche: Cơ địa tốt/Sức sống (Nguyên nhân) -> Đức hạnh & Hạnh phúc (Kết quả).
Nói toẹt ra: Mày không khỏe mạnh VÌ mày đức hạnh. Mày “đức hạnh” VÌ mày khỏe mạnh.
Những hành động “tốt” của mày chỉ là sự bộc phát tự nhiên của một cơ thể và tinh thần sung mãn.
“Đức hạnh” chỉ là một triệu chứng của sức khỏe, không phải là nguyên nhân tạo ra sức khỏe.
Gã dùng lại ví dụ về lão Cornaro: Sống lâu không phải là phần thưởng cho đức hạnh (ăn ít). Ngược lại, chính cái “đức hạnh” (ăn ít) chỉ là một biểu hiện của sự trao đổi chất chậm, thứ vốn dĩ đã là nguyên nhân của việc sống lâu.
Nietzsche áp dụng cái logic “kết quả -> nguyên nhân” này để vạch trần mọi sự lừa dối khác:
Xã hội: Một dân tộc không suy tàn VÌ nó sa vào trụy lạc. Nó sa vào trụy lạc VÌ nó đã suy tàn từ trong trứng nước rồi. Sự trụy lạc chỉ là một triệu chứng của một cơ thể đã kiệt quệ, cần những liều kích thích mạnh hơn.
Cá nhân: Một thằng trẻ không yếu đi VÌ nó bị bệnh. Nó bị bệnh VÌ sức sống của nó đã cạn kiệt, nó không còn sức để chống lại bệnh tật.
Chính trị: Một đảng phái không chết VÌ nó phạm sai lầm. Nó phạm sai lầm VÌ nó đang hấp hối, bản năng sinh tồn của nó đã thối rữa.
Từ đó, gã đưa ra những định nghĩa mới đầy tàn bạo:
Cái Ác: “Mọi sai lầm... đều là hậu quả của bản năng suy đồi, của ý chí tan rã. Đây gần như là định nghĩa của cái ác.”
Cái Tốt (Giá trị): “Mọi thứ có giá trị đều là bản năng—và do đó, nó dễ dàng, cần thiết, và tự do.”
Và gã kết luận bằng một hình ảnh đầy chất thơ: “Exertion is an objection” (Sự gắng gượng là một sự phản đối).
Nếu mày phải gồng mình lên để “làm điều tốt”, thì đó là dấu hiệu mày đang bệnh, mày đang đi ngược lại bản chất của mình.
Một vị thần thì khác với một anh hùng.
Thần thì nhẹ nhàng, còn anh hùng thì phải đấu tranh. “light feet are the first attribute of divinity” (Đôi chân nhẹ nhàng là thuộc tính đầu tiên của thần thánh). Sức mạnh đích thực thì không cần phải gắng gượng.
3.
Mày nghĩ mày biết “nguyên nhân” là gì à? Mày đã bị chính cái đầu của mày lừa. Toàn bộ cái sự hiểu biết đó được moi ra từ một nơi đéo có thật: cái “thế giới nội tâm” của mày.
Mày bị lừa bởi ba trò ảo thuật diễn ra trong đầu mày:
Trò “Ý chí”: Mày nghĩ: “Tao muốn giơ tay lên”, rồi cái tay mày giơ lên. Mày tưởng mày đã bắt quả tang được thằng thủ phạm. Sai bét. “Ý chí” đéo gây ra cái gì cả, nó chỉ là một cảm giác đi kèm thôi.
Trò “Động cơ”: Mày nghĩ: “Tao làm việc này vì tao có động cơ A, B, C”. Xạo lồn. Cái “động cơ” chỉ là lời giải thích mày bịa ra sau khi mày đã hành động, để che giấu những thôi thúc thật sự mà chính mày cũng đéo biết.
Trò “Cái Tôi”: Và mày nghĩ có một thằng “Tao” nhỏ xíu ngồi trong đầu mày đang kéo dây giật rối. Thằng đó đéo tồn tại.
Giờ thì tao nói cho mày biết sự thật: Toàn bộ cái “thế giới nội tâm” của mày chỉ là một bãi tha ma đầy ma trơi. “Ý chí”, “động cơ”, và “cái tôi” — tất cả chỉ là những con ma do chính mày đẻ ra. Đéo có thứ gì gọi là nguyên nhân tinh thần.
Và đây mới là tội ác lớn nhất. Sau khi đã bị lừa bởi mấy con ma trong đầu, mày lại nhìn ra cả vũ trụ và tưởng đâu đâu cũng có ma.
Vì mày tin có một cái “Tao” vững chắc, nên mày nhìn vào một cái cây và cũng tưởng nó là một “Sự vật” vững chắc. Mày đã phóng chiếu cái ảo tưởng về chính mày lên mọi thứ. Mày đã nhét ma vào trong mọi hòn đá, mọi cái cây.
Và con ma to nhất, con ma trùm cuối mà mày đã phóng chiếu ra là gì? Là “Chúa”.
Chúa chỉ là cái ảo tưởng “có một thằng đang ra lệnh” được phóng to lên kích cỡ vũ trụ. Ngay cả “nguyên tử” của bọn khoa học cũng chỉ là một phiên bản nhỏ hơn của con ma đó. Cái “vật-tự-nó” của bọn triết gia cũng thế. Toàn là một lũ lấy ảo ảnh trong đầu mình ra làm thước đo cho thực tại.
Diễn giải
Cái mà Phật giáo gọi là “Vô ngã” (Anatta), Nietzsche gọi là sự sụp đổ của cái “Tôi”.
Cả hai đều nói cùng một điều: Cái “mày” mà mày nghĩ là mày—cái thằng bất biến, có một linh hồn riêng, đang ngồi trong đầu mày ra lệnh—chỉ là một ảo ảnh.
Phật giáo mổ xẻ nó ra thành năm uẩn (
ngũ uẩn): sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Một mớ hỗn độn đang thay đổi từng giây.Nietzsche thì nói nó là một bãi chiến trường của những ham muốn, những xung lực đang cắn xé nhau để giành quyền lực.
Cả hai đều đồng ý: Đéo có một thằng chủ nhà. Chỉ có một ngôi nhà đang cháy.
Và cái niềm tin vào một “thằng chủ nhà” bất biến chính là nguồn gốc của sự lừa dối.
Chính từ cái ảo tưởng về một cái “tôi” vững chắc này mà mày mới phóng chiếu ra một “thiên đường” có trật tự vĩnh hằng và một “Chúa” vững chắc - nơi thoát khỏi thế giới mày đang sống hỗn loạn, vô nghĩa, ngu ngốc, đần độn và sống một cuộc đời khổ đau vì tình, tiền, dục vọng.
Nhưng sau khi đã chẩn đoán xong căn bệnh, chúng nó lại kê hai đơn thuốc hoàn toàn trái ngược. Đây là chỗ chúng nó trở thành kẻ thù không đội trời chung.
Liều thuốc của Phật giáo: Mấy ông sư nói: “Nguyên nhân của khổ đau là vì mày bám víu vào cái ‘tôi’ ảo ảnh đó, mày ham muốn. Vậy thì hãy dập tắt mẹ nó ham muốn đi. Hãy thấy ra sự trống rỗng để thoát khỏi cái vòng luân hồi đau khổ. Mục tiêu là sự tĩnh lặng, là Niết Bàn.” Nó là một liều thuốc cho những kẻ đã mệt mỏi với sự sống.
Liều thuốc của Nietzsche: Lão thì gầm lên: “Ham muốn chính là sự sống! Cái mớ hỗn độn đó chính là vật liệu! Đừng có dập tắt nó. Hãy trở thành một thằng nghệ sĩ, một thằng thợ rèn. Hãy nắm lấy cái mớ hỗn loạn đó và áp đặt ý chí của mày lên nó. Hãy rèn nó thành một con người vĩ đại, một Siêu nhân. Mục tiêu không phải là thoát khỏi cuộc chiến. Mục tiêu là trở thành một chiến binh giỏi hơn.“
Cả hai đều là những nhà tâm lý học vĩ đại đã nhìn thấu sự lừa dối của cái “tôi”. Nhưng Phật giáo là liều thuốc cho những kẻ muốn chấm dứt sự hỗn loạn. Còn triết học của Nietzsche là vũ khí cho những kẻ muốn làm chủ sự hỗn loạn.
Một bên dạy mày cách buông bỏ. Một bên dạy mày cách chinh phạt.
4.
Cái não của mày là một thằng bịa chuyện.
Lấy giấc mơ làm ví dụ. Mày đang ngủ, nghe một tiếng “BÙM” ở xa.
Mày có tỉnh dậy và nghĩ “à, có tiếng nổ” không? Đéo.
Trong một giây, não mày đã dựng mẹ nó cả một bộ phim: mày đang ở trong trận đánh, mày là anh hùng, và tiếng “BÙM” đó là tiếng súng nổ trong câu chuyện.
Mày thấy trò lừa đảo chưa? Cái tiếng nổ xảy ra sau, nhưng não mày lại bịa ra cả một câu chuyện xảy ra trước để làm cho cái tiếng nổ đó có vẻ hợp lý.
Khi tỉnh, mày cũng làm y hệt.
Khi mày cảm thấy khó chịu trong người—bực bội, mệt mỏi, lo lắng—mà đéo có lý do rõ ràng, não mày đéo chịu được cái cảm giác đó. Nó ghét sự phức tạp khó hiểu. Nó phải tìm một thằng để đổ tội. Mày không thể chấp nhận “tao chỉ thấy mệt thôi”.
Mày phải có một lý do.
Và nó tìm thằng đổ tội ở đâu? Nó lục trong trí nhớ của mày. Nó hỏi: “Lần cuối mình thấy khó chịu như thế này là khi nào? À, là lúc cãi nhau với con bồ.”
Và BÙM, não mày chốt hạ: “Tao khó chịu là vì con bồ tao.” Mặc dù nguyên nhân thật có khi chỉ là do tối qua mày ăn phải bát phở thiu.
Trí nhớ của mày là một thằng đồng lõa lười biếng. Nó chỉ lôi ra những lời giải thích cũ, quen thuộc, chứ đéo thèm đi tìm nguyên nhân thật.
Và cứ thế, mày quen với cái trò tự lừa dối mình. Mày dán những cái nhãn cũ rích lên những cảm giác mới, và mày đéo bao giờ tìm ra được sự thật về những gì đang thực sự xảy ra trong cơ thể mày.
Diễn giải:
Cái não của mày là một thằng hèn. Nó sợ cái Rỗng (Nothingness) hơn cả sợ chết.
Một sự kiện ngẫu nhiên, vô nghĩa, là một cái lỗ hổng trong thực tại. Nó cho thấy vũ trụ đéo quan tâm đến mày, đéo có một kế hoạch nào cả. Cái ý nghĩ đó làm cho bộ não của mày kinh hãi.
Vì thế, nó phải vá cái lỗ hổng đó lại bằng mọi giá.
Và vũ khí của nó là gì? Những câu chuyện. Não mày là một cỗ máy kể chuyện không ngừng nghỉ. Nó thà tin vào một câu chuyện xạo lồn nhưng có vẻ hợp lý (”tao bị bệnh vì Chúa trừng phạt”, “tao thất bại vì số phận”) còn hơn là chấp nhận sự thật tàn bạo:
“Chuyện đó xảy ra, và đéo có lý do đéo gì cả.”
Một lời giải thích, dù là bịa đặt, cũng mang lại một cảm giác kiểm soát. Và cái cảm giác kiểm soát đó, dù là ảo ảnh, cũng dễ chịu hơn là cái cảm giác bất lực trước sự hỗn loạn.
Não người không phải là một công cụ tìm kiếm sự thật. Nó là một thằng luật sư bào chữa cho sự yếu đuối. Thân chủ của nó là cái tôi sợ hãi, và nó sẽ bịa ra bất cứ câu chuyện nào để thắng kiện, để thân chủ của nó được cảm thấy an toàn và có ý nghĩa.
5.
Đây là cách bộ não của mày tự xạo lồn với chính nó.
Não mày ghét cay ghét đắng những gì lạ lẫm. Một thứ lạ hoắc làm mày bất an, lo lắng, sợ hãi. Bản năng gốc của mày là phải tìm mọi cách để dập tắt cái cảm giác khó chịu đó.
Và cách nhanh nhất là gì? Là biến một thứ “không quen” thành một thứ “quen thuộc”. Làm được điều đó sẽ giúp mày cảm thấy an toàn và có quyền kiểm soát.
Từ đó, não mày tuân theo một nguyên tắc sơ đẳng: Thà có một lời giải thích xàm lồn còn hơn là không có gì.
Vì mày chỉ cần hết sợ, nên mày đéo kén chọn. Cái lời giải thích đầu tiên xuất hiện trong đầu, cái nào quen thuộc nhất, làm mày thấy “à, ra thế”, thì mày sẽ chộp lấy nó ngay. Cái cảm giác dễ chịu đó làm mày tin rằng nó là sự thật.
Nói toạc ra: “Cái gì làm tao thấy sướng thì cái đó là thật.”
Cái ham muốn đi tìm “lý do” của mày được đẻ ra từ nỗi sợ. Vì thế, mày không đi tìm một lý do bất kỳ. Mày đi tìm một lý do làm mày yên tâm.
Và mày tìm cái lý do đó ở đâu? Trong kho hàng cũ của trí nhớ. Mày luôn lôi một cái cớ quen thuộc ra để giải thích cho một vấn đề mới. Mày sợ những lời giải thích lạ lẫm.
Dần dần, cái thói quen này biến thành một cái đường ray. Não mày chỉ chạy trên một con đường đó thôi, nó gạt bỏ hết mọi khả năng khác. Đó là lý do tại sao, khi có chuyện xảy ra:
Thằng chủ nhà băng thì nghĩ ngay đến chuyện lời lỗ.
Thằng cha cố đạo thì nghĩ ngay đến chuyện tội lỗi.
Con bé mới lớn thì nghĩ ngay đến chuyện yêu đương.
Mỗi thằng đều có một cái máy giải thích tự động trong đầu, được lập trình bởi nỗi sợ và sự lười biếng.
Diễn giải:
Nietzsche tuyên bố thứ mà bọn tâm lý học hiện đại mất cả trăm năm, làm cả đống thí nghiệm tốn tiện chỉ để xác nhận từ thế kỷ 19 và chúng đã được đặt tên khoa học đàng hoàng.
Cái chuyện não mày ghét sự khó hiểu và chỉ thích những gì quen thuộc, bọn nó gọi bằng một cái tên sang mồm là “Thiên kiến xác nhận” (Confirmation Bias).
Là cái tật chỉ đi tìm những gì mày đã tin sẵn. Nếu mày tin thế giới này đầy rẫy kẻ thù, mày sẽ chỉ nhìn thấy những thằng mặt lồn. Mày sẽ phớt lờ mọi bằng chứng ngược lại. Não mày tự xây một cái bong bóng cho mày ở, và nó là thằng gác cổng, đéo cho bất cứ thứ gì lạ lẫm vào.
Cái chuyện não mày luôn chộp lấy lời giải thích dễ nhất, gần nhất, bọn nó gọi là “Lối tắt tư duy có sẵn” (Availability Heuristic).
Nó cực kỳ lười biếng. Khi phải giải thích một chuyện gì đó, nó sẽ vơ lấy cái lý do gần nhất, dễ nhớ nhất trong đầu, chứ đéo thèm đi tìm cái lý do đúng nhất. Cái ví dụ “mày bực mình vì cãi nhau với con bồ, trong khi sự thật là do mày ăn phải phở thiu” chính là cái trò này.
Cái chuyện mày đi tìm một lý do “an ủi” thay vì một lý do “đúng”, bọn nó gọi là “Lý luận có chủ đích” (Motivated Reasoning).
Nó đéo đi tìm sự thật. Nó đi tìm lý do để mày cảm thấy dễ chịu. Mục tiêu của nó không phải là “đúng”, mà là “yên tâm”. Cái câu “thằng cha cố nghĩ đến tội lỗi, con bé mới lớn nghĩ đến yêu đương” chính là nó. Não mày không phải là một quan tòa. Nó là một thằng luật sư được thuê để bào chữa cho cảm xúc của mày.
Bộ não con người không phải là một cỗ máy tìm kiếm chân lý, mà là một cỗ máy tìm kiếm sự thoải mái và tự lừa dối mình.
6.
Toàn bộ cái trò Đạo đức và Tôn giáo chỉ là một mớ lý do bịa đặt.
Khi mày cảm thấy khó chịu trong người, bọn thầy tu và thầy đời bán cho mày một đống lý do xàm lồn:
“Mày bị quỷ ám!” (như cái cách chúng nó đổ tội cho mấy bà đàn bà điên là phù thủy).
“Đó là do mày tội lỗi!” (thực ra “cảm giác tội lỗi” chỉ là cái tên sang mồm cho việc cơ thể mày đang có vấn đề).
“Mày đang bị trời phạt!” (cái trò này được thằng cha Schopenhauer đẩy lên thành đỉnh cao của sự vu khống cuộc đời).
“Đó là tại ham muốn của mày!” (chúng nó đổ tội cho chính bản năng sống của mày).
Khi mày cảm thấy vui vẻ, yêu đời, chúng nó cũng bịa ra một đống nguyên nhân ảo:
“Đó là do mày tin vào Chúa.”
“Đó là do mày có lương tâm trong sạch” (có khi chỉ vì mày vừa đi ỉa xong).
“Đó là do mày thành công” (nhảm nhí, một thằng bi quan như Pascal có thành công cũng đéo vui nổi).
“Đó là do mày có đức tin, tình yêu, hy vọng” — mấy cái trò của đạo Kitô.
Nhưng tất cả đều là xạo lồn! Mấy cái lời giải thích đó đéo phải là nguyên nhân. Chúng nó chỉ là kết quả.
Nói cho dễ hiểu:
Mày không thấy hy vọng VÌ mày có đức tin. Mày bịa ra cái “đức tin” VÌ cơ thể mày đang khỏe, đang tràn đầy sức mạnh, và cái cảm giác đó tạo ra hy vọng.
Mày không thấy bình yên VÌ mày tin vào Chúa. Mày bịa ra “Chúa” VÌ cái cảm giác đủ đầy trong người mày mang lại cho mày sự bình yên.
Đạo đức và Tôn giáo là một màn lừa đảo tâm lý từ đầu đến đít. Lúc nào nó cũng nhầm lẫn nguyên nhân và kết quả. Nó nhầm lẫn cái cảm giác sướng mà một niềm tin mang lại với “sự thật”. Nó nhầm lẫn một cảm giác trong đầu với cái nguyên nhân thật sự (cơ thể mày) đã đẻ ra nó.
Diễn giải:
Đoạn này Nietzsche ném cả Tôn giáo và Đạo đức vào chung một sọt rác có dán nhãn: “NHỮNG NGUYÊN NHÂN TƯỞNG TƯỢNG”.
Tôn giáo và các triết gia đạo đức chỉ làm đám xạo lồn bịa đặt sống bằng con quái vật của lòng căm thù (ressentiment).
Mọi chuyện bắt đầu từ một cảm giác trong cơ thể. Một thằng sống theo đạo đức, một thằng đã tự thiến đi bản năng của mình, nhìn thấy một thằng khác sống tự do, sống theo ham muốn của nó. Và nó cảm thấy khó chịu.
Cái sự khó chịu đó là gì? Là sự ghen tị, là sự bất lực của một con thú đã bị nhốt trong lồng khi nhìn thấy một con thú hoang đang chạy nhảy.
Nhưng nó không dám thừa nhận mình ghen tị. Vì “ghen tị” là một tội lỗi. Cái đầu óc đạo đức giả của nó không cho phép. Nên nó phải tìm một lý do “cao cả” hơn để giải thích cho cơn ngứa mắt của mình.
Thế là nó bịa ra một nguyên nhân: “Tao khó chịu không phải vì tao ghen tị, mà vì thằng kia là một kẻ xấu xa, một thằng vô đạo đức. Sự tồn tại của nó là một sự xúc phạm đến ‘cái Thiện’.” Mày thấy không? Nó đã biến sự ghen tị của nó thành một phán xét đạo đức.
Và nó ngồi đó, trong cái lồng của mình, chờ đợi. Nó thầm cầu cho thằng tự do kia thất bại. Và khi thằng kia cuối cùng cũng ngã ngựa (vì cuộc đời này vốn dĩ tàn bạo với tất cả mọi người), thằng đạo đức sẽ reo lên trong sung sướng: “Thấy chưa! Trời phạt đó! Nghiệp quật đó!”
Cái lời giải thích “trời phạt” đó mang lại cho nó hai liều thuốc phiện cùng lúc:
Nó an ủi nó rằng sự yếu đuối, sự kìm nén của nó là “đúng đắn”, là “tốt đẹp”.
Nó cho phép nó tận hưởng sự thất bại của kẻ khác như một chiến thắng đạo đức của chính mình. Đó chính là “mật ong của sự trả thù” mà Nietzsche đã nói đến.
7
Cái trò “ý chí tự do” à? Giờ tao với mày nhìn thấu mẹ nó rồi. Nó là một cú lừa đảo của bọn thầy tu, một mánh khóe bẩn thỉu nhất để bắt mày phải “chịu trách nhiệm”.
Và tại sao chúng nó lại muốn mày “chịu trách nhiệm”?
Vì chúng nó thèm được phạt mày. Cái bản năng muốn tìm một thằng để đổ tội và trừng phạt nó nằm sẵn trong máu của bọn này.
Toàn bộ cái lý thuyết về “ý chí” được bịa ra chỉ để phục vụ cho một mục đích: để trừng phạt, tức là để có cớ nói mày “có tội”.
Bọn thầy tu ngày xưa, chúng nó muốn làm quan tòa. Chúng nó bịa ra cái trò này để có quyền phán xét và đày đọa mày, hoặc để dọa rằng “Chúa sẽ phạt mày”.
Logic của chúng nó là thế này: Mày không thể kết tội một con hổ vì nó ăn thịt con nai. Nó làm theo bản năng. Nhưng nếu tao thuyết phục được mày rằng mày “tự do lựa chọn” làm một việc xấu, thì tao có thể kết tội mày.
Cái “tự do” của mày chỉ là cái cớ để tao có thể trừng phạt mày. Nó là cái bẫy.
Còn tao với mày, bọn vô đạo đức, thì đang cố gắng làm ngược lại: dọn dẹp sạch sẽ cái đống rác rưởi “tội lỗi” và “trừng phạt” này ra khỏi thế giới. Và kẻ thù lớn nhất của bọn tao chính là bọn thầy tu, những thằng vẫn đang tiếp tục bôi bẩn cuộc đời bằng cái mớ lý luận bệnh hoạn đó.
Đạo Kitô, nói toạc ra, là triết học của một thằng đao phủ.
Diễn giải:
Ý chí tự do” của chúng nó là một cái bẫy chuột. Nó không cho mày tự do để bay. Nó cho mày “tự do” để mày có thể chui đầu vào bẫy, để thằng cha cố có cớ nói: “Thấy chưa? Mày tự chọn mà! Mày đáng bị trừng phạt.” Nó là sự tự do của một thằng tù nhân được “tự do” chọn cách chết.
Cuộc sống không có bản năng như ly nước cất không có “tạp bụi”, là một cuộc đời chết.
Nietzsche sẽ nói: đó không phải là đức hạnh, đó là sự thiếu máu. Bọn thầy tu ca ngợi sự trong sạch vì chúng nó sợ hãi sự sống, sợ hãi sức mạnh của một dòng sông đục ngầu phù sa.
Cái trò hề của “Tự do” và “Tiền định” là một màn ảo thuật rẻ tiền.
Chúng nó nói:
“Mày có tự do để chọn.”
Nhưng rồi chúng nó lại lật một trang kinh thánh khác và nói:
“Nhưng mọi thứ đã được định sẵn trong kế hoạch vĩ đại của Chúa.”
Vậy rốt cuộc là sao?
Nó là một cái sòng bạc bịp. Thằng chủ sòng (Chúa) đã biết trước kết quả của mọi ván bài, nhưng nó vẫn nói với mày: “Cứ tự do mà đặt cược đi nhé! Thua thì ráng chịu.” Mày đéo có tự do. Mày chỉ đang diễn một vai đã được viết sẵn trong một kịch bản mà mày không được đọc.
Và cái vụ “Phúc âm của Judas” mà chính là bằng chứng. Mặc dù nhà thờ đã vứt mẹ nó vào sọt rác vì nó quá nguy hiểm, nó đã phơi bày ra sự thật: trong một vài kịch bản đầu tiên, Judas không phải là kẻ phản bội.
Lão là người được chọn, là môn đệ thân tín nhất được chọn để làm thủ quỹ giữ tiền cho cả đám (John 12:6), người duy nhất đủ mạnh để gánh vác cái nhiệm vụ bẩn thỉu là “phản bội” Jesus, để cho lời tiên tri được ứng nghiệm. Lão là một anh hùng bi kịch, không phải một thằng khốn.
8.
Lời dạy của bọn tao là gì?
Là thế này: Mày được sinh ra giống như được chia một ván bài. Mày đéo được chọn số phận. Không phải Chúa, không phải xã hội, không phải cha mẹ, và cũng đéo phải chính mày.
Đéo có ai chịu trách nhiệm cho việc mày tồn tại cả.
Mày là một con sóng trong đại dương. Mày không thể tách mình ra khỏi toàn bộ đại dương. Mày là kết quả của mọi thứ đã xảy ra trước đó, và là nguyên nhân cho mọi thứ sẽ xảy ra sau này. Mày là một mắt xích không thể thiếu trong sợi dây chuyền của vũ trụ.
Mày không được sinh ra để làm một cái gì cả. Cái trò “mục đích sống” là do chúng nó bịa ra. Trong thực tế, đéo có mục đích đéo gì hết.
Và vì mày là một phần của cả vũ trụ, nên đéo có thằng nào có quyền phán xét mày. Để phán xét mày, nó phải đứng ngoài vũ trụ. Mà có cái đéo gì ở ngoài đó đâu!
Khi mày hiểu ra điều này — rằng đéo ai phải chịu trách nhiệm, rằng đéo có một nguyên nhân gốc nào cả, rằng thế giới này chỉ là một dòng chảy — đó chính là sự giải thoát vĩ đại.
Nó trả lại sự trong trắng cho vạn vật. Mọi thứ chỉ đơn giản là diễn ra, không tốt, không xấu, không tội lỗi.
Cái khái niệm “Chúa” từ trước đến nay là lời phỉ nhổ lớn nhất vào sự tồn tại, vì nó là nguồn gốc của mọi sự phán xét, tội lỗi, và trách nhiệm.
Tao với mày phủ nhận Chúa, phủ nhận cái trò trách nhiệm trong Chúa: chỉ bằng cách đó, chúng ta mới cứu rỗi được thế giới.
Cứu rỗi khỏi cái gì? Khỏi chính bọn cứu thế và cái gánh nặng tội lỗi mà chúng nó đã đè lên vai nhân loại.
Diễn giải:
Đoạn này là đoạn kết, là lời tuyên ngôn giải phóng của Nietzsche sau khi đã đập tan 4 sai lầm lớn. Gã sẽ nói cho mày biết giáo lý mới của “bọn vô đạo đức” là gì.
Và cốt lõi của nó là: Mày hoàn toàn vô tội.
Đầu tiên, gã vứt vào sọt rác toàn bộ khái niệm “trách nhiệm”.
Gã nói: Đéo có ai quyết định số phận cuộc đời mày.
Không phải Chúa, không phải xã hội, không phải cha mẹ, và quan trọng nhất, cũng đéo phải chính mày.
Cái ý tưởng mày “tự do lựa chọn” để trở thành con người của mày là một thứ nhảm nhí mà Kant và Plato đã rao giảng.
Mày không chịu trách nhiệm cho việc mày tồn tại, cho việc mày có bản chất như hiện tại, hay cho việc mày bị ném vào hoàn cảnh này.
Mày là một phần tất yếu của số phận (fate), một mắt xích không thể thiếu trong sợi dây chuyền của vũ trụ, của tất cả những gì đã, đang và sẽ xảy ra.
Tiếp theo, gã giết nốt khái niệm “mục đích”.
“We invented the concept “purpose”; in reality purpose is altogether lacking.” (Chúng ta đã bịa ra khái niệm “mục đích”; trong thực tế, mục đích hoàn toàn không tồn tại.).
Bắt mày phải sống theo một “mục đích” hay “lý tưởng” nào đó là một điều phi lý. Mày chỉ đơn giản là tồn tại, một sự tồn tại cần thiết.
Vậy khi không còn trách nhiệm, không còn tội lỗi, không còn mục đích, chúng ta còn lại gì? Nietzsche gọi đó là “sự giải thoát vĩ đại” (the great deliverance).
Mày không còn bị phán xét nữa.
Vì ai có quyền phán xét mày? Để phán xét mày, một phần của vũ trụ, thì kẻ đó phải đứng ngoài vũ trụ. “But there is nothing outside the whole!” (Nhưng có cái đéo gì ở ngoài vũ trụ đâu!)
Vì không có thượng đế nào dùng 7 ngày sáng tạo nên vũ trụ, nên không có sự phán xét nào là hợp lệ. Đây chính là khoảnh khắc “Vô thường đã được phục hồi”.
Mọi chuyện chỉ đơn giản là diễn ra, không tốt, không xấu, không tội lỗi.
Và để hoàn thành sự giải thoát này, phải tiêu diệt kẻ thù lớn nhất của sự sống từ trước đến nay: khái niệm “Chúa”.
Chúa chính là sự phản đối lớn nhất đối với sự tồn tại, vì Ngài là nguồn gốc của mọi sự phán xét, tội lỗi, và trách nhiệm. Gã kết luận bằng một câu đầy quyền lực: “We deny God, we deny responsibility in God: thus alone do we save the world.” (Chúng ta phủ nhận Chúa, chúng ta phủ nhận trách nhiệm trong Chúa: chỉ bằng cách đó chúng ta mới cứu rỗi thế giới.)
Cứu rỗi thế giới khỏi cái gì? Khỏi cái bọn thầy tu, triết gia đạo đức đè nặng lên vai nhân loại bằng 10 điều răn “ngươi phải sống đúng theo thứ mà chúng ta mong muốn”
THE ‘IMPROVERS’ OF MANKIND
Die “Verbesserer” der Menschheit.
1.
Cái yêu cầu của tao đối với một thằng triết gia là: mày phải đứng bên bờ Thiện và Ác. Mày phải coi toàn bộ cái trò phán xét đạo đức chỉ là một ảo ảnh nằm dưới chân mày.
Tại sao? Vì đây là một trong những phát kiến của tao: Đéo có thứ gì gọi là “đạo đức” trên đời.
Một hành động, tự nó, không “tốt” hay “xấu”, cũng như cơn mưa . Thằng nông dân thì nói mưa là “tốt”, còn thằng đang đi chơi thì chửi mưa là “xấu”.
“Tốt” và “xấu” không nằm trong cơn mưa. Nó nằm trong đầu của thằng nhìn vào cơn mưa.
Đạo đức cũng y hệt. Nó chỉ là một màn diễn giải, và thường là diễn giải sai bét. Cái thói quen phán xét này đến từ thời mông muội, khi con người còn ngu đến mức chưa phân biệt được giữa thực và ảo.
Vậy thì cái mớ đạo đức này có vô dụng không? Không. Tự nó thì là nhảm nhí, nhưng nó là một triệu chứng vô giá.
Nó giống như mày nghe một thằng bệnh ho. Cơn ho, tự nó, thì vô nghĩa. Nhưng đối với một thằng bác sĩ, tiếng ho đó tiết lộ rất nhiều điều về căn bệnh trong phổi của thằng bệnh.
Đạo đức cũng vậy. Nó là tiếng ho của một nền văn hóa. Mày không tranh cãi với tiếng ho. Mày chẩn đoán nó. Đạo đức chỉ là một thứ mật mã của bệnh tật. Mày phải là một thằng bác sĩ tâm lý, phải biết trước vấn đề là gì, thì mày mới có thể nhìn vào đạo đức của một dân tộc và hiểu được nó đang khỏe mạnh hay đang thối rữa.
Diễn giải:
Đây là một phát nổ hạt nhân. Đoạn này Nietzsche ném ra một trong những tuyên bố nền tảng, gốc rễ nhất của toàn bộ triết lý của gã. Gã đang định nghĩa lại hoàn toàn cách chúng ta nên nhìn vào “đạo đức”.
Tuyên bố cốt lõi: Đéo có “đạo đức” tồn tại trên đời
Gã bắt đầu bằng cách nhắc lại yêu cầu của mình: một thằng triết gia phải đứng bên bờ thiện và ác. ``
Tại sao? Vì gã đã đưa ra một phát kiến mà gã cho là đầu tiên trong lịch sử: “dass es gar keine moralischen Thatsachen giebt.” (đéo có thứ gì gọi là những dữ kiện đạo đức khách quan.)
Một hành động, tự nó, không “tốt” hay “xấu”.
Một hiện tượng tự nhiên, tự nó, không “thiện” hay “ác”. Đó là những cái nhãn, những lời diễn giải mà con người dán lên sau đó.
Moralischen Thatsachen trong tiếng Đức, hay moral facts trong tiếng Anh, nó không mang nghĩa “chân lý” cao siêu.
Thatsachen/facts ở đây có nghĩa là những dữ kiện khách quan, những thứ tồn tại độc lập, không thể chối cãi, giống như “nước sôi ở 100 độ C” là một fact.
Nietzsche đang nói rằng trong lĩnh vực đạo đức, đéo có một cái dữ kiện khách quan nào như vậy cả.
Đạo đức = Diễn giải sai
Gã nói, đạo đức cũng giống như tôn giáo: cả hai đều “tin vào những thực tại không có thật.”
“Moral ist nur eine Ausdeutung gewisser Phänomene, bestimmter geredet, eine Missdeutung.” (Đạo đức chỉ là một sự diễn giải về những hiện tượng nhất định, nói cho chính xác hơn, là một màn đọc vị sai bét.)
Cái thói quen phán xét đạo đức này đến từ đâu?
Từ một thời đại mông muội, khi con người còn chưa phân biệt được giữa thực và ảo.
Cái mà chúng nó gọi là “chân lý” lúc đó (”làm thế là ác!”), giờ chúng ta gọi là “ảo tưởng”.
Vì vậy, một lời phán xét đạo đức, nếu mày hiểu theo nghĩa đen, thì nó hoàn toàn vô nghĩa.
Nhưng đây mới là cú lật kèo thâm độc và xuất sắc nhất.
Dù một lời phán xét đạo đức tự nó là vô nghĩa, nó lại “vô giá như một hệ thống ký hiệu” (als Semiotik unschätzbar).
Nó là một bản “báo cáo triệu chứng” (Symptomatologie).
Lời phán xét “Thứ đó là ác!” tự nó là một câu nói vớ vẩn.
Nhưng đối với một thằng biết nghi ngờ (là Nietzsche), câu nói đó tiết lộ cực kỳ nhiều điều về tình trạng tâm lý, về sức khỏe hay bệnh tật của cái nền văn hóa đã đẻ ra nó.
Mày không tranh cãi với triệu chứng (ví dụ: “ho không phải là ho!”).
Mày chẩn đoán nó (”nó ho vì phổi nó có vấn đề”).
Tương tự, mày không tranh cãi với một lời phán xét đạo đức (”không, thứ đó không xấu!”).
Mày chẩn đoán nó (”cái nền văn hóa này coi thứ đó là ác, vậy thì chắc chắn nó đang sợ hãi hoặc suy yếu theo một cách nào đó”).
Mày phải là một bác sĩ tâm lý để có thể “sử dụng” được đạo đức và rút ra giá trị từ nó.
2.
Mày phải hiểu, dưới cái mác “cải tạo” con người, có hai trò hoàn toàn trái ngược: một là nhân giống một loài ưu việt, hai là thuần hóa một con thú hoang. Bọn thầy tu chuyên làm trò thứ hai.
Cái trò “thuần hóa” này, nói toẹt ra, là một trò đùa bẩn thỉu. Mày thấy một con hổ, và thay vì ngưỡng mộ sức mạnh của nó, mày lại muốn “cải tạo” nó. Mày làm gì? Mày bẻ gãy ý chí, nhổ nanh, rút móng của nó. Mày làm nó yếu đi, bớt nguy hiểm đi, và biến nó thành một con mèo bệnh hoạn, phụ thuộc vào mấy miếng thịt mày ném cho mỗi bữa thay vì tự đi săn mồi.
Và con người cũng y hệt. Thằng thầy tu cũng “cải tạo” nó như vậy.
Ngày xưa, Nhà thờ là một cái rạp xiếc khổng lồ. Nó đi săn lùng những con “thú tóc vàng hoe” khỏe mạnh nhất — bọn quý tộc German — để “cải tạo”.
Và kết quả là gì? Một thằng quý tộc German sau khi bị “cải tạo”, bị dụ vào tu viện, trông như một con quái thai. Hắn bị biến thành một “kẻ tội đồ”. Hắn bị nhốt trong cái chuồng của những khái niệm kinh hoàng: ăn năn hối cải, ngày phán xét, địa ngục, ma quỷ...
Hắn nằm đó, bệnh tật, khốn khổ, và độc ác với chính mình. Hắn bắt đầu căm ghét chính những bản năng sống của mình — căm ghét cơn đói, cơn khát, ham muốn làm tình, ham muốn ngủ, ham muốn lười biếng. Hắn nghi ngờ mọi thứ còn khỏe mạnh và hạnh phúc. Nói gọn lại, hắn đã trở thành một “thằng Cơ Đốc giáo”.
Nói theo kiểu của một thằng bác sĩ: trong cuộc chiến với một con thú, cách duy nhất để làm nó yếu đi là làm cho nó bị bệnh. Nhà thờ biết rõ điều này. Nó cố tình làm con người hư hỏng, làm con người yếu đi, — rồi nó vênh váo tuyên bố rằng mình đã “cải tạo” hắn.
Diễn giải:
Ý nghĩa thật sự của đoạn này nằm ở việc Nietzsche bóc trần một cú lừa đảo về ngôn ngữ.
Gã nói rằng dưới cái mác mỹ miều “cải tạo” (improve) con người, có hai hành động hoàn toàn trái ngược nhau, một của kẻ mạnh và một của kẻ yếu.
Có hai kiểu “cải tạo”:
Kiểu 1: Nhân giống (
Züchtung): Đây là kiểu “cải tạo” của kẻ mạnh, của giới quý tộc. Nó giống như mày nhân giống một con ngựa chiến hay một con chó săn. Mày chọn những con khỏe nhất, đẹp nhất, dũng mãnh nhất để tạo ra một giống loài ưu việt hơn. Mục tiêu là để nâng cao sự sống, để tạo ra một loại người cụ thể, mạnh mẽ hơn.Kiểu 2: Thuần hóa (
Zähmung): Đây là kiểu “cải tạo” của thằng linh mục, của đạo đức bầy đàn. Nó giống như mày thuần hóa một con hổ để nhốt trong rạp xiếc. Mày không làm nó mạnh hơn. Mày bẻ gãy ý chí của nó. Mày nhổ nanh, rút móng, làm nó yếu đi, bớt nguy hiểm đi, và phụ thuộc vào mày để sống. Mục tiêu là để làm suy yếu sự sống, để kiểm soát nó.
Và tội ác của thằng linh mục, theo Nietzsche, là nó đã đánh tráo khái niệm.
Nó đã thực hiện hành động “thuần hóa”—làm con người yếu đi, bệnh hoạn—nhưng lại trơ trẽn gọi đó là “cải tạo”. Nó là một thằng chủ rạp xiếc tự gọi mình là nhà chăn nuôi ngựa quý.
Gã nói thằng linh mục “biết con cặc gì đâu—mà cũng đéo muốn biết”. Sự ngu dốt của nó là một sự lựa chọn, vì thừa nhận sự thật như thế sẽ lật đổ toàn bộ quyền lực của nó.
Kết quả của quá trình “cải tạo” này là gì? Một con người đã bị biến thành “kẻ tội đồ” (Sünder). Hắn bị nhốt trong cái chuồng của những khái niệm kinh hoàng (tội lỗi, hối cải, thế giới bên kia...).
Hắn trở nên bệnh hoạn, khốn khổ, và độc ác với chính mình (gegen sich selbst böswillig). Hắn bắt đầu căm ghét những bản năng sống của chính mình, căm ghét chính cơ thể mình. Hắn nghi ngờ và ghen tị với bất cứ ai còn khỏe mạnh và hạnh phúc. Nói tóm lại, hắn trở thành một “thằng Cơ Đốc giáo”.
Và Nietzsche kết luận bằng một nguyên tắc sinh lý học tàn bạo mà gã cho rằng Nhà thờ đã hiểu rất rõ:
“Trong cuộc chiến với một con thú, cách duy nhất để làm nó yếu đi là làm cho nó bị bệnh.”
Nhà thờ đã cố tình làm hư hỏng, làm con người bệnh hoạn để có thể kiểm soát nó, nhưng lại luôn mồm rao giảng rằng mình đã “cải tạo” và “cứu rỗi” nó. Đó là sự dối trá đỉnh cao.
3.
Giờ hãy xem một kiểu đạo đức khác, không phải trò “thuần hóa” của bọn thầy tu. Đây là trò “nhân giống”.
Ví dụ kinh điển nhất là Luật Manu của Ấn Độ. Mục tiêu của nó là nhân giống cùng lúc bốn loại người: thầy tu, chiến binh, con buôn, và nô lệ.
Ở đây, mày không còn ở giữa mấy thằng chủ rạp xiếc nữa. Mày đang ở giữa những tay chăn nuôi bậc thầy. Bước từ cái không khí nhà tù bệnh hoạn của Kitô giáo vào thế giới này, mày thấy như được thở phào nhẹ nhõm. “Kinh Tân Ước” so với Luật Manu trông thảm hại và bốc mùi.
Nhưng cái hệ thống này cũng phải tàn bạo. Kẻ thù lần này không phải là con thú mạnh mẽ. Kẻ thù của nó là thằng người tạp chủng, thằng Chandala (tiện dân).
Và một lần nữa, vũ khí của nó là làm cho kẻ thù bị bệnh. Đó là cuộc chiến chống lại “số đông”.
Những luật lệ của nó đi ngược lại mọi thứ mà chúng ta tin. Ví dụ:
Bọn hạ tiện chỉ được phép ăn tỏi và hành, cấm ăn ngũ cốc hay hoa quả.
Nước uống của chúng nó không được lấy từ sông suối, mà chỉ được múc từ vũng lầy và dấu chân súc vật.
Chúng nó bị cấm tắm rửa.
Đàn bà đẳng cấp trên bị cấm giúp đàn bà hạ tiện khi đẻ. Bọn hạ tiện cũng bị cấm giúp đỡ lẫn nhau.
Và kết quả là gì? Dịch bệnh, giang mai, và rồi “luật của dao”: bắt cắt bao quy đầu con trai, cắt môi âm vật con gái.
Chính Manu nói: “Bọn Chandala là con hoang của tội ngoại tình, loạn luân. Quần áo của chúng nó phải là giẻ rách lượm từ xác chết, đồ dùng là nồi niêu vỡ, và chúng nó phải thờ ma quỷ.”
Diễn giải:
Trước hết, tại sao lão lại lôi Luật Manu ra?
Lão đéo quan tâm Luật Manu “tốt” hay “xấu”. Lão ngưỡng mộ nó vì nó là một dự án vĩ đại, có mục đích, và trung thực một cách tàn bạo.
Nó trung thực vì nó đéo giả vờ bình đẳng. Nó nói thẳng: “Tao đang nhân giống một loài người cao quý, và để làm được điều đó, tao phải dọn dẹp rác rưởi.” Mục tiêu của nó, dù tàn bạo, là để nâng cao một loại người nhất định. Nó là một nền đạo đức của sự khẳng định.
Còn Kitô giáo thì sao? Nó cũng tàn bạo, nhưng nó là sự tàn bạo của kẻ yếu. Nó nói dối về sự bình đẳng, và mục tiêu thật sự của nó là để hạ bệ, để làm cho tất cả mọi người cùng bệnh hoạn như nhau. Nó là một nền đạo đức của sự phủ định.
Nietzsche ngưỡng mộ cái tham vọng và sự trung thực của Luật Manu, như một thằng thợ rèn ngưỡng mộ một thanh kiếm được rèn tốt, dù nó được dùng để làm gì.
Đức Phật đã bác bỏ toàn bộ cái hệ thống đẳng cấp đó. Và Nietzsche biết điều đó. Nhưng lão không thấy chúng nó mâu thuẫn theo kiểu mày nghĩ.
Mày phải hiểu vai trò của từng thằng:
Manu là thằng chăn nuôi. Lão viết luật cho một xã hội đang đi lên, để tạo ra và bảo vệ những con ngựa chiến thuần chủng.
Đức Phật là tay bác sĩ. Ngài xuất hiện sau, khi xã hội Ấn Độ đã trở nên quá mệt mỏi, quá “văn minh”, quá bệnh hoạn. Triết lý của Sắc-đạt-đa không phải là để nhân giống kẻ mạnh. Nó là một phương pháp vệ sinh, một liều thuốc an thần cao cấp cho những tâm hồn đã kiệt sức, dạy chúng nó cách chết một cách thanh thản.
Nietzsche tôn trọng Phật giáo hơn Kitô giáo rất nhiều.
Phật giáo là một liều thuốc độc trung thực và quý tộc. Nó nói thẳng: “Đời là bể khổ, nguyên nhân là do ham muốn, đây là cách để thoát ra.” Nó dành cho những người đã mệt mỏi nhưng vẫn còn thông minh.
Kitô giáo thì sao? Nó là liều thuốc độc của bọn hạ tiện. Nó cũng được sinh ra từ sự mệt mỏi, nhưng nó đầy lòng căm thù. Nó không chỉ muốn thoát khổ. Nó muốn trả thù. Nó bịa ra “tội lỗi”, “địa ngục” để dọa nạt và phán xét. Nó là tiếng rên rỉ của bọn bệnh hoạn đầy oán hận.
4.
Mấy cái luật lệ đó cho mày thấy rõ bộ mặt thật của “nhân tính Aryan”: nó đéo hiền hòa chút nào. “Máu tinh khiết” là một khái niệm tàn bạo, được xây dựng trên sự khinh bỉ.
Và ngược lại, nó cũng cho mày thấy thằng nào đã lấy lòng căm thù của bọn hạ tiện, biến nó thành một tôn giáo, một thứ vũ khí vĩnh cửu. Đó chính là bọn Do Thái, và Kinh Thánh là bằng chứng.
Đạo Kitô, mọc lên từ gốc rễ Do Thái, chính là một cuộc nổi dậy chống lại mọi đạo đức của kẻ mạnh, của sự nhân giống, của đặc quyền. Nó là tôn giáo chống lại Aryan.
Nó là cú lật kèo mọi giá trị Aryan:
Cái gì bọn quý tộc Aryan coi là “tốt” (sức mạnh, kiêu hãnh), Kitô giáo gọi là “ác”.
Cái gì bọn quý tộc Aryan coi là “xấu” (yếu đuối, khiêm tốn), Kitô giáo gọi là “tốt”.
Nó là chiến thắng của giá trị của bọn hạ tiện. Nó là phúc âm cho bọn nghèo hèn, bọn thất bại. Nó là cuộc tổng nổi dậy của tất cả những kẻ bị chà đạp, khốn khổ chống lại “giống nòi” cao quý.
Và đây mới là cú lừa đảo vĩ đại nhất: nó gọi cái mối thù bất tử của bọn hạ tiện này bằng cái tên “Tôn giáo của Tình yêu”...
Diễn giải:
Trước hết, hãy vứt mẹ cái hình ảnh một thằng Đức Quốc xã tóc vàng, mắt xanh ra khỏi đầu mày. Cái “Aryan” của Nietzsche đéo phải là cái trò thuần chủng rẻ tiền đó. Lão sẽ phỉ nhổ vào cái ý tưởng đó.
“ARYAN” LÀ THẰNG ĐÉO NÀO?
Cái từ “Aryan” thời của Nietzsche là một từ của bọn học giả, bọn chuyên đào mồ ngôn ngữ.
Chúng nó phát hiện ra một điều: hầu hết các ngôn ngữ ở châu Âu (Đức, Latin, Hy Lạp...) và cả ở Ấn Độ, Ba Tư cổ đều có chung một bà mẹ.
Thằng cha (
father) trong tiếng Anh,Vatertrong tiếng Đức,patertrong tiếng Latin,pitṛ́trong tiếng Phạn cổ. Đều chung một gốc.Số hai (
two),zwei,duo,dva. Số ba (three),drei,tres,trayas. Cùng một lò đúc ra.Ngay cả mấy từ như “bánh xe”, “con ngựa”, “ban đêm”, “ngôi sao” cũng vậy.
Không chỉ từ vựng, cả cái khung xương ngữ pháp của chúng nó cũng giống nhau. Giống như mấy anh em có thể mặc áo khác nhau, nhưng bộ xương thì giống nhau.
Thế là chúng nó bịa ra một dân tộc ma, một dân tộc tổ tiên đã nói thứ ngôn ngữ gốc đó, và gọi chúng nó là “người Aryan”.
Chúng nó hình dung ra đây là một bộ lạc chiến binh, du mục, từ một nơi nào đó ở Trung Á, đã tràn đi khắp nơi, chinh phạt bọn dân bản địa và áp đặt ngôn ngữ, văn hóa của chúng nó. “Aryan” là một giả thuyết về một cuộc chinh phạt ngôn ngữ và văn hóa.
Còn bây giờ, ở thế kỷ 21, chúng ta có những vũ khí mới: khảo cổ học và phân tích DNA từ xương cổ. Và sự thật còn tàn bạo hơn chúng nó tưởng.
Bà mẹ của các ngôn ngữ này là một bộ lạc chiến binh du mục sống trên thảo nguyên của Ukraina và Nam Nga ngày nay, khoảng 5000 năm trước. Khoa học gọi chúng nó là văn hóa Yamnaya.
Chúng nó có hai thứ vũ khí đã thay đổi thế giới: chúng nó là những thằng đầu tiên thuần hóa ngựa để cưỡi và phát minh ra xe bánh gỗ.
Với ngựa và xe, chúng nó trở thành một cơn bão. Bắt đầu từ khoảng 3000 năm trước Công nguyên, chúng nó tràn ra khỏi thảo nguyên, đi về phía Tây vào châu Âu và về phía Đông vào Ấn Độ, Ba Tư.
Và đây mới là chỗ kinh hoàng. DNA từ xương cổ cho thấy chúng nó không chỉ đến buôn bán. Chúng nó đã xóa sổvà thay thế phần lớn đàn ông bản địa ở châu Âu. Máu của mày, nếu mày là người châu Âu, phần lớn là máu của bọn xâm lược thảo nguyên này.
GIÁ TRỊ ARYAN” LÀ CÁI GÌ?
Nietzsche đã ăn cắp cái từ đó và biến nó thành vũ khí. Với lão, “Aryan” đéo phải là một chủng tộc. Nó là một loại người, một tâm lý. Nó là tên gọi cho đạo đức chủ nhân.
Giá trị Aryan là gì? Là giá trị của một thằng chinh phạt:
“Tốt” là: mạnh mẽ, kiêu hãnh, khỏe mạnh, hiếu chiến, quý tộc.
“Xấu” là: yếu đuối, hèn hạ, bệnh hoạn, tầm thường.
Luật Manu đã nói chính là một bản tuyên ngôn của cái giá trị Aryan đó: một hệ thống được tạo ra để bảo vệ kẻ mạnh khỏi sự lây nhiễm của kẻ yếu.
Lão biết về cái này vì đó là nghề của lão -một nhà ngữ văn học, chuyên gia về ngôn ngữ và cổ văn.
Cái “thuyết Aryan” này là một trong những ý tưởng thời thượng nhất, nóng hổi nhất trong giới học thuật Đức thế kỷ 19. Mấy thằng giáo sư đồng nghiệp của lão bàn về nó suốt ngày.
Nó là tên gọi cho một tâm lý mạnh mẽ, khẳng định sự sống, thứ mà lão tìm thấy ở người La Mã, người Ba Tư cổ, người Hy Lạp thời bi kịch. Lão dùng nó để đối lập với cái đạo đức nô lệ, đạo đức của bọn Chandala, thứ đã trỗi dậy từ Do Thái và đầu độc cả châu Âu qua Kitô giáo.
Bọn Quốc xã sau này đã ăn cắp cái từ đó và biến nó thành thuyết thượng đẳng gen bẩn thỉu.
Cái “thuyết Aryan” cũ của bọn học giả là một câu chuyện về ngôn ngữ. Bọn Quốc xã đã biến nó thành một câu chuyện về máu.
Chúng nó phán: “Aryan” đéo phải là một dân tộc nói chung một thứ tiếng. Nó là một chủng tộc thượng đẳng, và chỉ có một loại người xứng đáng với cái tên đó: bọn tóc vàng, mắt xanh, da trắng của Bắc Âu. Và bọn Đức chúng tao, tất nhiên, là thuần khiết nhất.
Chúng nó đã vứt bỏ toàn bộ phần não (ngôn ngữ học, lịch sử) và chỉ giữ lại cái vỏ.
Để có một vị thánh (”Aryan”), mày phải có một con quỷ. Và bọn Quốc xã đã chọn con quỷ của chúng nó: người Do Thái.
Chúng nó vẽ ra một hình ảnh người Do Thái là một “chủng tộc” đối nghịch: một loài ký sinh trùng, một thứ virus đang đầu độc dòng máu Aryan. Toàn bộ lịch sử thế giới, trong mắt chúng nó, chỉ là cuộc chiến sinh tử giữa Aryan và Do Thái.
Sau khi đã có chủng tộc thượng đẳng và kẻ thù, chúng nó cần một mục đích. Và chúng nó bịa ra cái trò “Máu và Đất”(Blut und Boden).
Chúng nó nói rằng chủng tộc Aryan cần “không gian sinh tồn” (Lebensraum). Chúng nó cần phải đi về phía Đông, chiếm đất của bọn Slav (những kẻ bị coi là hạ đẳng), để xây dựng đế chế ngàn năm của mình. Cái lý thuyết “Aryan” đã trở thành cái cớ để đi xâm lược.
Và cuối cùng, để cho cái mớ rác rưởi này có vẻ triết học, chúng nó đã ăn cắp Nietzsche, với sự giúp đỡ của con em gái khốn nạn của lão. Chúng nó lấy “Siêu nhân” và biến nó thành “chiến binh SS”. Chúng nó lấy “Ý chí Quyền lực” và biến nó thành “chính sách xâm lược của Hitler”. Một màn cướp xác thô bỉ nhất.
Chúng nó đã lấy một giả thuyết học thuật phức tạp, vứt bỏ toàn bộ phần não, và chỉ giữ lại cái vỏ. Rồi chúng nó nhồi vào cái vỏ đó những thứ bệnh hoạn nhất của chính chúng nó: sự phân biệt chủng tộc, lòng căm thù, và cơn khát máu.
Chúng nó đã biến một công cụ của trí tuệ thành một cây búa của thằng đồ tể.
5.
Cái đạo đức “nhân giống” của bọn quý tộc và cái đạo đức “thuần hóa” của bọn thầy tu, dù mục đích có vẻ khác nhau, nhưng chúng nó đều dùng chung một loại vũ khí bẩn thỉu.
Và đây là một định luật: Để tạo ra “đạo đức”, mày phải sẵn sàng làm một thằng vô đạo đức.
Đây là vấn đề ghê tởm mà tao đã theo đuổi cả đời: tâm lý của những thằng tự cho mình cái quyền “cải tạo” nhân loại.
Và vũ khí chung của chúng nó là gì? Là cái trò “xạo lồn thánh thiện” (pia fraus). Tức là nói dối vì một “mục đích cao cả”.
Mày cứ nhìn mà xem. Từ Manu, Plato, Khổng Tử, cho đến bọn thầy dạy Do Thái và Kitô giáo, đéo có một thằng nào từng ngần ngại về cái quyền được xạo lồn của chúng nó.
Nói tóm lại, công thức là thế này:
Toàn bộ những phương tiện được dùng để làm cho con người trở nên “tốt đẹp” hơn, về bản chất, đều là những trò khốn nạn nhất.
Mày không thể xây một thiên đường bằng những viên gạch sạch sẽ. Mày phải xây nó bằng cứt và máu.
Diễn giải:
Cái “đạo đức” mà bất kể bọn nào dù là thầy tu hay triết gia hệ thống đều là những kẻ tâm thần tự cho mình cái quyền cải tạo nhân loại ở vị thế một chủ chuồng nhìn vào đám súc vật nhằm khiến chúng trở nên ngoan ngoãn, dễ phục tùng và nghe lệnh tụi nó.
Chúng nó biết thừa mình đang nói dối, chẳng có một cái thiên đường hay niết bàn nào chờ đại sau khi chết nhưng vẫn biện mình bằng cái trò “xạo lồn thánh thiện” (pia fraus). Tức là nói dối vì một “mục đích cao cả”.
Plato: lời nói dối cao quý
Thằng Plato là thằng trắng trợn nhất. Trong cuốn Cộng hòa (Republic) của lão, lão nói thẳng ra là nhà nước lý tưởng phải được xây dựng trên một “lời nói dối cao quý” (noble lie).
Lão đề nghị kể cho dân nghe một câu chuyện xạo lồn rằng:
“Thần linh đã nặn ra chúng mày bằng những kim loại khác nhau. Bọn cai trị thì bằng vàng, bọn lính thì bằng bạc, còn lũ dân đen chúng mày thì bằng đồng và sắt.”
Một lời nói dối trắng trợn để bắt mọi người phải chấp nhận cái đẳng cấp của mình mà không phàn nàn.
Manu: Lời nói dối thần thánh
Luật Manu còn đi xa hơn. Nó không chỉ kể một lời nói dối, nó biến toàn bộ hệ thống của nó thành một lời nói dối thần thánh.
Nó nói rằng cái hệ thống đẳng cấp tàn bạo đó không phải do con người đặt ra. Không, chính Thần Brahma (Phạm-thiên) đã đẻ ra bọn thầy tu từ mồm, bọn chiến binh từ tay, bọn con buôn từ đùi, và bọn nô lệ từ chân. Mày thấy chưa? Nó đã biến một sự áp bức xã hội thành một “sự thật” vũ trụ để không ai dám chất vấn.
Khổng Tử: Màn kịch của sự hoà hợp
Khổng Tử thì tinh vi hơn. Lão không bịa ra thần thánh. Lão bịa ra “nghi lễ” và “chính danh”.
Lão nói: “Vua phải ra vua, tôi phải ra tôi”. Lão bắt mày phải diễn cho tròn cái vai xã hội của mày, bất kể bên trong mày cảm thấy thế nào. Sự hòa hợp của xã hội được xây dựng trên một màn kịch vĩ đại, nơi mọi người đều đeo mặt nạ và diễn đúng vai của mình. Đó là một lời nói dối vì “trật tự”.
Do thái & Kitô giáo: Lời nói vì chúa
Kinh Thánh của chúng nó đầy rẫy những ví dụ. Chúa của chúng nó sẵn sàng gửi “thần lừa dối” đi để gài bẫy các vị vua (1 Các Vua 22:23).
Và Thánh Phaolô, thằng cha marketing vĩ đại nhất của Kitô giáo, đã khoe khoang rằng lão sẵn sàng “trở thành mọi thứ cho mọi người” (1 Cô-rinh-tô 9:22) — tức là sẵn sàng đeo bất cứ cái mặt nạ nào, nói bất cứ lời nói dối nào — để có thể dụ dỗ thêm tín đồ. Toàn bộ cái trò đó được biện minh bằng “mục đích cao cả” là cứu rỗi linh hồn.
Nói tóm lại, bằng chứng ở ngay trong chính những lời dạy của chúng nó. Tất cả những thằng “cải tạo” này, từ Đông sang Tây, đều có chung một niềm tin cốt lõi:
Sự thật quá nguy hiểm cho bầy đàn.
Vì thế, chúng nó, những kẻ “khai sáng”, phải có cái quyền được bịa ra những lời nói dối “thánh thiện” để chăn dắt bầy cừu. Chúng nó là những kẻ cai ngục tự cho mình là người chăn cừu.
Mày thử tưởng tượng xem, nếu mày nói thẳng vào mặt bầy đàn sự thật của Nietzsche:
“Đéo có Chúa.”
“Đéo có thiên đường, đéo có địa ngục.”
“Cuộc đời này hoàn toàn vô nghĩa, chỉ là một cuộc chiến hỗn loạn.”
“Mọi đau khổ của mày đéo có một sứ mệnh cao cả nào để thưởng cho mày sau khi chịu qua nỗi đau như Job.”
Chuyện gì sẽ xảy ra?
Bầy đàn sẽ sụp đổ. Chúng nó sẽ rơi vào một trạng thái hoảng loạn, tuyệt vọng. Một con cừu mà biết rằng đằng sau cái chết chỉ là hư vô, nó sẽ không còn ngoan ngoãn gặm cỏ nữa. Nó sẽ gào thét, nó sẽ nổi điên, nó sẽ tự cắn xé lẫn nhau. Một bầy đàn trong tuyệt vọng là một bầy đàn bất trị.
Và ai là kẻ sợ hãi một bầy đàn bất trị nhất? Chính là thằng chăn cừu — bọn thầy tu, bọn cầm quyền.
Toàn bộ quyền lực và của cải của chúng nó được xây trên một thứ duy nhất: sự vâng lời của bầy đàn.
Chúng nó cần mày làm việc chăm chỉ để cúng dường.
Chúng nó cần mày đẻ con để có thêm tín đồ.
Chúng nó cần mày tuân theo luật lệ để xã hội được “ổn định”.
Nếu bầy đàn nhận ra toàn bộ trò chơi này là một sự lừa đảo, chúng nó sẽ làm gì? Chúng nó sẽ ngừng làm việc, ngừng cúng dường, và có khi còn quay lại xé xác chính thằng chăn cừu.
Vì thế, để chăn dắt bầy cừu, mày cần hai thứ: một củ cà rốt và một cây gậy.
Thiên đường (hoặc Tây phương cực lạc) chính là củ cà rốt. Một lời hứa hẹn ngọt ngào để mày chịu đựng sự khốn khổ ở hiện tại.
Địa ngục chính là cây gậy. Một sự đe dọa kinh hoàng để mày không dám nổi loạn.
Cái “lời nói dối thánh thiện” đó không phải là để cứu rỗi linh hồn mày. Nó là công cụ cai trị. Nó là cái nhà tù tinh thần hoàn hảo nhất từng được xây dựng, một cái nhà tù mà ở đó, chính những thằng tù nhân lại đi xây thêm tường cho nó.
THINGS THE GERMANS LACK
Ở bọn người Đức này, cái gì đã biến mất/lệch lạc (abgeht) đi vậy?
Đây là một trong những màn chửi đồng bào của mình tàn bạo nhất trong lịch sử triết học.
Gã đang lập một bản cáo trạng nói rằng nước Đức, sau khi chiến thắng Pháp và thống nhất thành một đế chế vào năm 1871, đã bán mẹ nó linh hồn cho quỷ. Chúng nó đã đổi chiều sâu để lấy sự hời hợt.
Đây là những thứ gã nói bọn Đức đã đánh mất:
Thiếu Tinh thần (
Geist): Gã nói “trí tuệ Đức” đã trở thành một trò hề. Bọn Đức đã trở nên ngu dốt và thô thiển. Cái tinh thần sâu sắc của Goethe và Hegel đã bị thay thế bằng tư duy của một thằng lính và một thằng con buôn.Thiếu Văn hóa (
Kultur): Gã gào lên rằng “văn hóa Đức đang suy tàn”. Chúng nó đã đổiKultur(văn hóa tinh thần, nghệ thuật, triết học) để lấyReich(đế chế chính trị, quân sự, kinh tế). Thắng một cuộc chiến nhưng thua một nền văn minh.Thiếu Giáo dục: Hệ thống giáo dục của chúng nó là một cái lò sản xuất công chức và chuyên gia tầm thường với cái đầu bị nhồi nhét đầy dữ kiện, chứ không phải những con người có văn hóa và tinh thần tự do. Nó dạy nhồi sọ, không dạy tư duy.
Thiếu Gu thẩm mỹ: Gã chửi luôn cả khẩu vị của chúng nó: từ đồ ăn thức uống (quá nặng nề) cho đến sách vở, mọi thứ đều cục mịch và thiếu sự tinh tế.
Nietzsche đang nói rằng dân tộc của gã đã trở thành một lũ tự mãn, hợm hĩnh sau chiến thắng. Chúng nó có quyền lực, có tiền bạc, có quân đội, nhưng chúng nó đã đánh mất thứ quan trọng nhất: một tâm hồn cao cả. Chúng nó đã trở nên “thành công” nhưng lại vô cùng “rẻ tiền”.
1.
Bây giờ ở Đức, có não thôi là chưa đủ. Mày còn phải có gan để xài cái não đó.
Tao nghĩ tao hiểu bọn Đức, nên cứ để tao phán vài câu. Cái nước Đức mới này giống như một thằng trọc phú, được thừa hưởng một đống di sản, nên giờ nó có thể phung phí sức mạnh của cha ông để lại.
Nó đéo phải là một nền văn hóa đỉnh cao gì đâu, gu thẩm mỹ thì như cứt. Nhưng phải công nhận, nó có những cái đức tính “đàn ông” hơn bất cứ thằng nào khác ở châu Âu: can đảm, tự trọng, biết điều, chăm cày, lì đòn. Lính của nó thì biết nghe lệnh mà không thấy nhục, và nó cũng đéo khinh bỉ kẻ thù.
Tao cố gắng công bằng với bọn Đức đấy, nhưng tao cũng phải chửi.
Phải trả giá để có quyền lực: quyền lực làm mày ngu đi.
Ngày xưa người ta gọi bọn Đức là “dân tộc của những nhà tư tưởng”. Giờ chúng nó còn biết nghĩ không? Hay là chán mẹ nó rồi? Bọn nó giờ chỉ quan tâm đến chính trị, đến tiền. Toàn bộ đầu óc dồn hết vào đó. Cái câu “Nước Đức trên hết”, tao sợ rằng, đó chính là cái chết của triết học Đức.
Bọn Tây hay hỏi tao: “Bên Đức giờ còn triết gia, nhà thơ hay sách vở gì ra hồn không?”
Tao xấu hổ vãi lồn, nhưng vẫn phải cứng mồm trả lời: “Còn chứ, Bismarck!” (một thằng chính trị gia).
Còn mấy cuốn sách mà bọn nó đang đọc bây giờ à?... Thôi, dẹp mẹ đi. Đúng là cái bản năng chết tiệt của sự tầm thường.
Diễn giải:
Mày đọc tưởng hắn đang khen thực lòng thực ra chỉ là một ví dụ kinh điển cho thứ “khen đểu” kinh điển của Nietzsche, đọc cẩn thận không bị lọt hố.
Gã bắt đầu bằng việc tâng bốc bọn Đức lên tận mây xanh, để rồi sau đó dìm chúng nó xuống tận đáy bùn.
Hắn chẩn đoán căn bệnh của Đế chế Đức mới, một căn bệnh mà gã gọi là “sự ngu đi vì quyền lực”.
Nhưng ngay sau đó, gã lật bài. Gã nói rằng nước Đức mới này đéo có văn hóa cao cấp, đéo có gu thẩm mỹ tinh tế, và đéo có sự cao quý của bản năng.
Và rồi gã tung ra định luật của mình:
“Es zahlt sich theuer, zur Macht zu kommen: die Macht verdummt…” (Phải trả một cái giá rất đắt để có được quyền lực: nó làm con người ngu đi…)
Kể từ khi chiến thắng Pháp và thống nhất thành một đế chế, nước Đức, “dân tộc của những nhà tư tưởng”, đã ngừng mẹ nó việc tư duy.
Chúng nó trở nên chán ngấy tinh thần.
Chúng nó nghi ngờ tinh thần.
Chính trị và chủ nghĩa dân tộc rẻ tiền (”Nước Đức, nước Đức trên hết”) đã nuốt chửng mọi sự nghiêm túc dành cho những vấn đề trí tuệ. Gã sợ rằng đó chính là dấu chấm hết cho triết học Đức.
Để minh họa cho sự thối nát này, gã kể một câu chuyện đầy cay đắng: Khi người nước ngoài hỏi gã “Nước Đức còn triết gia, còn nhà thơ, còn sách hay không?”, gã đã đỏ mặt và trả lời: “Có chứ, Bismarck!”. Đây là một cú sỉ nhục tột cùng. Triết gia duy nhất, nhà thơ duy nhất, cuốn sách hay duy nhất của nước Đức mới chính là một tay chính trị gia “máu và sắt”.
Và gã kết luận rằng toàn bộ sự suy tàn này bắt nguồn từ một thứ: “bản năng của sự tầm thường”.
2.
Nghĩ về “tinh thần Đức” mà chán. Đáng lẽ nó đã có thể là một cái gì đó ghê gớm lắm.
Nhưng dân tộc này đã tự nguyện ngu đi cả ngàn năm nay rồi. Cả châu Âu đéo có thằng nào lạm dụng hai thứ thuốc phiện nặng nhất—rượu và Kitô giáo—một cách thối nát hơn bọn này.
Gần đây chúng nó còn nghiện thêm món thứ ba, một mình nó thôi cũng đủ bóp chết mẹ mọi suy nghĩ sắc sảo: âm nhạc, cái thứ nghe chỉ muốn đi ỉa.
Trí tuệ của bọn Đức bây giờ toàn mùi bia, mùi ẩm mốc, nặng nề, què quặt, như một thằng cha mặc áo ngủ cả ngày không thèm thay.
Tao đéo hiểu nổi, mấy thằng thanh niên có học, mồm thì leo lẻo theo đuổi trí tuệ, mà lại đéo có nổi cái bản năng cơ bản nhất là bảo vệ cái não của mình.
Thay vào đó chúng nó lại đi nốc bia?
Bọn học giả nghiện rượu thì có thể vẫn “uyên bác” đấy—mày có thể là một cái máy chứa dữ kiện mà không cần não—nhưng ngoài cái đó ra thì vứt.
Mày tìm đâu mà không thấy cái sự mục ruỗng nhẹ nhàng mà bia nó đẻ ra trong tinh thần! Tao đã từng bóc phốt một vụ như này rồi. Thằng cha David Strauss, ngày xưa cũng có tiếng là “tinh thần tự do”, cuối cùng bia nó làm cho mục mẹ nó não ra, biến thành một thằng viết sách dạy đời cho bọn bợm nhậu.
Chẳng lạ gì khi lão ta còn làm thơ thề thốt với “em nâu” (bia) của mình—thề trung thành cho đến chết...
Diễn giải:
Gã nói rằng bọn Đức đã “tự ý làm cho mình ngu đi” (sich willkürlich verdummt) trong suốt một thiên niên kỷ. Đây không phải là một tai nạn, đây là một sự lựa chọn có chủ đích.
Và hung thủ là ai? Gã chỉ mặt ba thứ “ma túy” mà bọn Đức đã lạm dụng một cách thối nát:
Rượu (
Alkohol): Đặc biệt là bia.Đạo Cơ Đốc (
Christenthum).Và gần đây nhất, Âm nhạc Đức (
deutsche Musik).
Gã gọi âm nhạc Đức là thứ âm nhạc “gây táo bón” (verstopfte verstopfende).
Nó nặng nề, nó làm tắc nghẽn, nó ngăn cản mọi sự vận động linh hoạt và táo bạo của tinh thần.
Kết quả là gì? Trí tuệ của bọn Đức giờ đây chỉ toàn là “sự nặng nề, què quặt, ẩm ướt, mùi áo ngủ, và mùi bia.” Nó là trí tuệ của một thằng béo mặc áo ngủ ở nhà.
Gã đặc biệt khinh bỉ đám thanh niên học thức suốt ngày uống bia. Chúng nó tự nhận mình cống hiến cho trí tuệ, nhưng lại không có nổi cái bản năng cơ bản nhất là tự bảo vệ trí tuệ khỏi chất độc.
Gã nói, mày có thể là một học giả uyên bác mà không cần có đầu óc chỉ cần làm một cái máy thu thập dữ kiện. Nhưng về mọi mặt khác, mày vẫn chỉ là một thằng bỏ đi.
Ở đây Nietzsche nói có hai thằng David Strauss. Một thằng là anh hùng, một thằng là thằng hề. Và hắn đã phải chứng kiến người hùng của mình biến thành một thằng hề.
Lúc còn trẻ, vào năm 1835, Strauss là một thằng cha can đảm vãi lồn. Lão viết một cuốn sách tên là “Cuộc đời Jesus, xem xét một cách phê phán” (Das Leben Jesu, kritisch bearbeitet).
Trong cuốn này, lão nói thẳng ra rằng toàn bộ mấy cái phép lạ trong Kinh Thánh — đi trên mặt nước, hóa bánh ra nhiều, sống lại từ cõi chết — chỉ là truyền thuyết, là chuyện bịa do đám đông tín đồ tưởng tượng ra, chứ đéo phải sự thật lịch sử.
Cú đó đã làm rung chuyển cả châu Âu. Nhà thờ nguyền rủa lão, các trường đại học cấm cửa lão cả đời. Lão đã dám đập vào một trong những thần tượng lớn nhất. Đó là “tinh thần tự do” mà Nietzsche ban đầu ngưỡng mộ.
Nhưng rồi lão già đi, trở nên thoải mái và tự mãn. Năm 1872, lão viết một cuốn sách khác, cái cuốn mà Nietzsche gọi là “kinh thánh cho bọn bợm nhậu”: “Đức tin cũ và Đức tin mới” (Der alte und der neue Glaube).
Trong cuốn này, sau khi đã giết Chúa, lão đề nghị một “niềm tin mới” là gì? Là một thứ tôn giáo của sự tầm thường: tin vào khoa học một cách mù quáng, sống một cuộc đời tư sản an nhàn, và tôn thờ Đế chế Đức của Bismarck. Nó là một triết lý được thiết kế để mày có thể vừa nốc bia vừa gật gù tâm đắc.
Nietzsche, người từng ngưỡng mộ lão, đọc xong cuốn này đã ghê tởm đến mức phải viết ngay cuốn sách đầu tiên của mình (Suy ngẫm Lỗi thời I) chỉ để chửi và chôn sống Strauss.
Cái vụ “bợm nhậu” không phải là chửi lão nghiện rượu. “Bia” trong mồm Nietzsche là biểu tượng cho cái văn hóa Đức mới: nặng nề, tự mãn, làm mày ngu đi. Strauss đã trở thành nhà tiên tri của thứ văn hóa đó.
Và bằng chứng cuối cùng? Chính Strauss đã tự thú. Lão có viết một bài thơ tên là “Trong quán rượu của Angelina” (In Angelinas Schankwirtschaft). Trong đó, lão thề thốt tình yêu vĩnh cửu với một “em nâu yêu kiều” (holde Braunelle) — một cái tên sến súa cho một vại bia.
Thằng cha từng dám thách thức Chúa, giờ lại quỳ gối trước một vại bia. Đối với Nietzsche, đó là sự tự thú cuối cùng của một tinh thần đã mục ruỗng.
3.
Tao nói bọn Đức giờ vừa thô vừa nông cạn. Nhưng thế đã là gì.
Có một thứ còn đáng sợ hơn: cái “chất” Đức, cái sự nghiêm túc, chiều sâu, đam mê cho mấy chuyện tinh thần, giờ nó toang mẹ nó rồi. Cái khí chất nó thối đi, chứ không chỉ là cái đầu nó ngu đi.
Thi thoảng tao lại phải chửi mấy trường đại học của Đức. Cái không khí trong giới học thuật bây giờ nó vừa tự mãn, vừa trống rỗng, chán đéo tả được. Mà thằng nào lôi khoa học Đức ra để cãi lại tao thì chứng tỏ nó chưa đọc một chữ nào của tao hết.
Mười bảy năm nay tao đã gào mồm ra bóc phốt cái trò khoa học hiện đại đang làm què quặt tinh thần con người như thế nào.
Cái ngành khoa học bây giờ nó phình to vãi lồn ra, nó bắt mỗi thằng phải làm nô lệ cho một cái xó xỉnh chuyên môn hẹp hòi. Mày là chuyên gia về con ốc sên thì mày chỉ biết về con ốc sên. Chính vì thế, mấy đứa có tố chất, có đầu óc toàn diện, đéo tìm được thầy, đéo tìm được một nền giáo dục ra hồn nữa.
Văn hóa bây giờ nát nhất là vì nó thừa mứa mấy thằng chuyên gia què quặt, mấy thằng có tí chữ mà vênh váo. Và trường đại học, đéo muốn nhận đâu, lại chính là cái lò ấp của bọn què quặt tinh thần này.
Cả châu Âu nó nhìn vào và biết tỏng. Nước Đức đã trở thành “vùng trũng của châu Âu”. Bọn nó chỉ giỏi làm công chức bàn giấy, nghĩ đến cơm áo gạo tiền thôi.
Tao vẫn đang tìm một thằng Đức đúng nghĩa mà nói chuyện, tìm mỏi mắt đéo thấy. Bọn nó bây giờ đéo hiểu nổi thế nào là sự “vui vẻ” của một thằng tự do. Toàn một lũ nghiêm túc một cách bệnh hoạn.
Diễn giải
Vấn đề không chỉ là bọn Đức ngu đi, mà là chúng nó đã mất mẹ nó linh hồn.
Gã nói rằng cái làm gã kinh hãi không phải là sự suy giảm về mặt trí tuệ, mà là sự lao dốc của “sự nghiêm túc kiểu Đức, chiều sâu kiểu Đức, và đam mê kiểu Đức trong các vấn đề tinh thần.” Cái “khí chất”, cái pathos của chúng nó đã thay đổi.
Và ổ bệnh lớn nhất chính là các trường đại học.
Gã nói không khí trong giới học giả ở đó chỉ là một sự “hoang tàn, tự mãn, và một thứ tinh thần ấm ớ, nửa vời.”
Gã lường trước được bọn nó sẽ vặn lại “Thế còn nền khoa học vĩ đại của Đức thì sao?”, và gã đấm thẳng vào mồm cái luận điệu đó.
Gã nói rằng gã đã dành 17 năm để vạch trần cái “ảnh hưởng làm thui chột tinh thần của cái guồng máy khoa học” hiện tại.
Gã dùng một hình ảnh cực kỳ tàn bạo: cái guồng máy đó biến mỗi một học giả thành một tên nô lệ Helot (Helotenthum) của thành Sparta cổ đại.
Giống như thằng Helot bị trói buộc vào mảnh ruộng của nó, thì thằng học giả ngày nay bị “kết án” phải làm nô lệ cho một cái mảnh đất chuyên môn nhỏ xíu, hẹp hòi.
Nền khoa học đã trở nên quá khổng lồ, đến mức không ai có thể bao quát được nó nữa, mỗi người chỉ có thể cày cuốc trên cái góc nhỏ của mình.
Kết quả là gì?
Bọn trí thức hiện đại không phải mang tinh thần tự do. Chúng nó là những tên nô lệ.
Các trường đại học đã trở thành nơi sản sinh ra những tên nô lệ ấy theo cách Nietzsche miêu tả: “nhà kính ươm mầm cho sự teo tóp bản năng của tinh thần.” (Treibhäuser für diese Art Instinkt-Verkümmerung des Geistes).
Những thằng Helot chỉ biết mảnh ruộng, thì thằng học giả ngày nay chỉ biết cái xó xỉnh của mình. Hắn không còn là một con người toàn vẹn, có văn hóa, có tinh thần (Geist) nữa.
Hắn chỉ là một công cụ, một cái máy cày chữ, một tên chuyên gia què quặt chỉ biết về một lĩnh vực hạn hẹp như cái bánh răng của cả hệ thống.
Toàn bộ công sức của hắn chỉ để phục vụ cho một cái “guồng máy khoa học” vô hồn, chứ không phải để làm cho chính hắn trở nên khôn ngoan hay vĩ đại hơn.
Một thằng cha giáo sư biết tuốt tuồn tuột về một loài rêu chỉ mọc ở thế kỷ 15, nhưng lại hoàn toàn ngu dốt về nghệ thuật, chính trị, âm nhạc, và cách để sống một cuộc đời trọn vẹn. Hắn ta là một bộ não dị dạng gắn trên một tâm hồn đã teo tóp.
Cái bi kịch là ở chỗ này:
Hắn ta bị phát triển quá mức ở một góc nhỏ hẹp, và bị teo tóp ở tất cả những phần còn lại. Hắn ta là một con mắt khổng lồ gắn trên một cơ thể còi cọc.
Hắn ta hoàn toàn mất đi cái nhìn tổng thể. Hắn chỉ là một cái bánh răng trong một cỗ máy khổng lồ mà hắn không hiểu. Hắn không có khả năng tư duy như một “con người toàn vẹn”, mà chỉ như một chuyên gia.
Và điều tệ hại nhất là, cái thằng “mảnh vỡ” (
Bruchstück-Humanitäten) này lại cực kỳ kiêu ngạo. Nó nghĩ rằng cái xó xỉnh kiến thức của nó là cả vũ trụ. Nó là một con ếch tự mãn với cái giếng của mình, một “thằng ăn hại kiêu ngạo” (anmaasslicher Eckensteher) như Nietzsche đã gọi.
Cả châu Âu đã nhìn thấy điều này.
Nước Đức đang ngày càng bị coi là “vùng trũng của châu Âu” (Europa’s Flachland):
Một nơi đéo có đỉnh cao, đéo có vực thẳm. Không còn những vĩ nhân như Goethe (đỉnh núi), cũng không còn những vấn đề triết học bi kịch, sâu hoắm (vực thẳm). Chỉ còn một sự bằng phẳng tầm thường.
Một nơi buồn chán, đơn điệu. Mọi thứ đều giống nhau, không có gì nổi bật. Đó là hình ảnh của một nền văn hóa bị đồng hóa, nơi mọi người đều trở thành những “kẻ què quặt” giống hệt nhau.
Một nơi đéo có tầm nhìn. Khi mày đứng trên một vùng đất phẳng, mày không thể nhìn xa được. Mày bị kẹt trong cái tầm nhìn hạn hẹp của chính mày. Bọn Đức đã bị kẹt trong cái sự tự mãn của chính trị và kinh tế, mất hết tầm nhìn về những vấn đề tinh thần cao cả hơn.
Nước Đức đã trở thành một quốc gia của sự tầm thường, một nền văn hóa bị san bằng, không còn bất kỳ sự vĩ đại, bi kịch hay chiều sâu nào cả.
Nó trở nên giàu có về vật chất nhưng hoàn toàn phá sản về mặt tinh thần.
Gã kết thúc bằng một lời than thở đầy cô độc.
Gã nói rằng gã vẫn đang tìm kiếm một thằng Đức mà gã có thể “nghiêm túc” theo kiểu của mình, và càng vô vọng hơn khi tìm một người mà gã có thể “vui vẻ” cùng.
Sự vui vẻ (Heiterkeit) của một tinh thần tự do như gã—cái niềm vui của một kẻ phá hoại, của một đấng sáng tạo—là thứ khó hiểu nhất đối với cái tinh thần đã suy yếu của bọn Đức.
4.
Văn hóa Đức đang nát, chuyện này rõ như ban ngày, và lý do thì đơn giản vãi lồn.
Mày chỉ có 100 điểm năng lượng, mày cộng hết vào “Sức mạnh” và “Kinh tế”, thì lấy đâu ra điểm mà cộng vào “Trí tuệ”?
Khi một dân tộc dồn hết tâm trí vào quyền lực, chính trị, kinh tế, quân sự, thì những thứ khác sẽ cạn kiệt.
Văn hóa và Nhà nước là hai thằng không đội trời chung, đừng có mà tự lừa dối mình. Cái trò “Nhà nước Văn hóa” chỉ là một ý tưởng xàm lồn. Một thằng béo lên thì thằng kia phải gầy đi.
Cứ nhìn vào lịch sử mà xem: tất cả những thời kỳ văn hóa đỉnh cao đều là những thời kỳ chính trị nát bét. Cứ khi nào chính quyền suy tàn, thì văn hóa mới nở rộ. Những thứ vĩ đại về mặt văn hóa đều phi chính trị, thậm chí là chống lại chính trị.—Trái tim của Goethe đã đập vì Napoleon (một con người vĩ đại), nhưng lại lạnh như băng trước “Các cuộc chiến tranh giải phóng” (một trò chính trị).
Cái lúc mà nước Đức trở thành một thằng to con về quân sự, thì nó cũng mất luôn vị thế về văn hóa. Trung tâm văn hóa của châu Âu đã chuyển mẹ nó sang Paris. Bây giờ, mọi thứ hay ho đều diễn ra ở Paris. Mấy vấn đề khó nhằn về tâm lý, nghệ thuật, chúng nó được bàn ở đó một cách tinh tế hơn hẳn. Bọn Đức bây giờ đéo còn đủ trình cho mấy chuyện đó nữa.
Việc Đế chế Đức trỗi dậy chỉ có một ý nghĩa: trung tâm văn hóa đã dời đi. Giờ đây, trong những vấn đề quan trọng nhất — tức là văn hóa — bọn Đức đã hết thời.
Bọn nó hỏi: “Chúng mày còn một bộ óc nào ra hồn cho cả châu Âu không? Như Goethe, Hegel, Heine, Schopenhauer ngày xưa ấy?”
Và sự thật là, nước Đức đéo còn một triết gia nào nữa. Thật khó tin nhưng mà đúng là như vậy.
Diễn giải:
Nietzsche đưa ra một định luật tàn nhẫn để giải thích tại sao nước Đức của gã lại trở nên ngu dốt và nông cạn sau khi thống nhất. Gã nói rằng đây là một trò chơi có tổng bằng không. Mày chỉ có một lượng năng lượng nhất định. Mày dồn hết vào Quyền lực (Macht), thì mày sẽ đéo còn gì cho Văn hóa (Kultur).
Gã tuyên bố thẳng thừng: “Văn hóa và Nhà nước là kẻ thù của nhau.” (Antagonisten).
Cái ý tưởng về một “Nhà nước Văn hóa” là một trò tự lừa dối hiện đại.
Mày không thể cùng lúc có cả hai: một đế chế hùng mạnh và một nền văn hóa vĩ đại. Một cái sẽ phải ăn thịt cái còn lại. Chúng nó là kẻ thù không đội trời chung.
Để chứng minh, gã đưa ra bằng chứng lịch sử: “Tất cả những thời đại văn hóa vĩ đại đều là những thời đại chính trị suy tàn.”
Những thứ vĩ đại về mặt văn hóa đều phi chính trị, thậm chí là chống lại chính trị.
Gã lôi Goethe ra làm ví dụ: Goethe ngưỡng mộ Napoleon (một cá nhân vĩ đại), nhưng lại kinh tởm “Các cuộc chiến tranh giải phóng” (một phong trào chính trị dân tộc chủ nghĩa).
Lý do, theo gã, nằm ở ba điều cốt lõi:
1. Trò chơi có tổng bằng không: Đầu tiên, nó là một bài toán năng lượng đơn giản.
Một dân tộc, cũng như một con người, chỉ có một lượng năng lượng tinh thần, ý chí, và sự nghiêm túc nhất định.
Mày không thể tiêu xài nhiều hơn những gì mày có.
Nếu mày đổ hết toàn bộ năng lượng và những bộ óc giỏi nhất của mình vào chính trị, quân sự, kinh tế để xây dựng một đế chế hùng mạnh, thì mày sẽ đéo còn lại gì cho văn hóa, cho nghệ thuật, cho triết học.
Mày không thể dùng cùng một bộ óc thiên tài để vừa thiết kế một khẩu đại bác mới, vừa viết ra một bi kịch vĩ đại.
2. Kẻ thù của sự xuất chúng: Thứ hai, mục tiêu của chúng nó đối nghịch nhau.
Nhà nước (
Staat), tức quyền lực chính trị, muốn sự ổn định, sự đồng nhất, và sự vâng lời. Nó cần những công dân hữu ích, những chuyên gia, những “thầy bói xem voi” để vận hành cỗ máy. Nó ghét những cá nhân ngoại lệ, những kẻ gây rối, những người đặt câu hỏi nguy hiểm.Văn hóa (
Kultur) vĩ đại, ngược lại, lại được tạo ra bởi chính những cá nhân ngoại lệ đó. Nó được sinh ra từ sự nổi loạn, sự không thỏa mãn, sự khác biệt.
Nhà nước cần những con cừu ngoan ngoãn. Văn hóa vĩ đại lại được tạo ra bởi những con sói cô độc. Nhà nước, do bản năng tự bảo tồn của nó, sẽ luôn tìm cách để thuần hóa hoặc tiêu diệt những tinh thần tự do có thể tạo ra văn hóa vĩ đại.
3. Quyền lực làm mày ngu đi: Cuối cùng, và đây là đòn tâm lý hiểm nhất: quyền lực làm con người ngu đi (die Macht verdummt).
Khi một dân tộc đã “chiến thắng”, đã trở thành một cường quốc, nó sẽ trở nên tự mãn.
Nó ngừng đặt câu hỏi về bản thân.
Nó tin rằng con đường của nó là đúng đắn nhất.
Mà triết học và nghệ thuật vĩ đại chỉ được sinh ra từ sự dằn vặt, từ sự không thỏa mãn, từ một nỗi đau, từ việc cảm thấy có một “vấn đề” cần giải quyết. Sự tự mãn là cái chết của mọi chiều sâu tinh thần.
Hy Lạp cổ đại đạt đỉnh cao văn hoá ở Athnes là thời đại của Socrates, Plato, của những vở bi kịch vĩ đại chính là thời đại mà thành Athens đang tự xé xác chính mình trong chiến tranh , dẫn đến sự sụp đổ về chính trị.
Thời Kỳ Phục Hưng diễn ra khi nước Ý vẫn là một mớ hỗn loạn do quân phiệt địa phương cát cứ tranh giành, chém giết lẫn nhau và bị ngoại bang xâm lược sản sinh ra những thiên tài như Leonardo da Vinci và Michelangelo.
Và gã áp dụng cái định luật đó vào thời đại của mình.
Khoảnh khắc nước Đức trỗi dậy như một cường quốc chính trị, thì nó chết như một cường quốc văn hóa.
Cái trung tâm của văn hóa châu Âu đã di dời sang Paris. Bọn Đức đã trở nên quá nông cạn để có thể nghiêm túc với những vấn đề tinh thần.
Kết quả là gì? Nước Đức đã trở nên vô hình trên bản đồ văn hóa châu Âu. Người ta hỏi gã:
“Nước Đức còn một tinh thần nào có giá trị cho cả châu Âu không, như Goethe, Hegel, Heine, hay Schopenhauer?”.
Gã nói rằng sự thật là, nước Đức đéo còn một triết gia nào nữa, và đó là một điều đáng kinh ngạc
Vấn đề không phải là mấy trường đại học hết giáo sư triết.
Vấn-đề-là-môi-trường-sống-để-nuôi-dưỡng-một-triết-gia-thực-thụ-đã-chết-mẹ-nó-rồi.
Mày phải hiểu, một triết gia theo kiểu của Nietzsche không phải là một thằng công chức bàn giấy, một thằng mọt sách chỉ biết trích dẫn người khác.
Một triết gia là một thằng bác sĩ của văn hóa, một thằng phá hoại, một thằng sáng tạo giá trị. Hắn là một sinh vật nguy hiểm, một quả thuốc nổ.
Và một quả thuốc nổ thì không thể nào được tạo ra trong một môi trường an toàn, tự mãn và thực dụng như cái Đế chế Đức mới của Bismarck.
Như gã đã nói, quyền lực và văn hóa là kẻ thù.
Khi cả một dân tộc bị ám ảnh bởi việc xây dựng đế chế, bởi chính trị, kinh tế, quân sự, thì toàn bộ năng lượng tinh thần của nó sẽ bị hút cạn vào đó.
Cái đầu óc của bọn Đức không còn bận tâm đến những câu hỏi vĩnh cửu nữa, nó chỉ bận tâm đến việc làm sao để thắng cuộc chiến tiếp theo và bán được nhiều hàng hơn.
Một bộ não bận rộn với quyền lực thì đéo còn chỗ cho sự khôn ngoan.
Cái nền giáo dục mới của Đức không tạo ra những tinh thần tự do.
Nó tạo ra những chuyên gia, những “con người mảnh vỡ”.
Nó tạo ra những thằng kỹ sư giỏi, những thằng luật sư rành luật, những thằng công chức mẫn cán.
Nhưng nó đéo tạo ra được một thằng nào có đủ tầm nhìn để đặt câu hỏi về toàn bộ hệ thống.
Triết học đòi hỏi một cái nhìn toàn cảnh, còn bọn Đức thì chỉ đang đào tạo những con chuột chũi chỉ biết cái hang của mình.
Triết học chân chính, theo Nietzsche, là một hành động chống lại thời đại. Nó chất vấn, nó lật đổ, nó gây khó chịu. Nhưng cái nước Đức mới này là một nước Đức của sự tự mãn, của khẩu hiệu “Nước Đức trên hết”.
Trong một môi trường như vậy, một thằng triết gia sẽ bị coi là một kẻ phản quốc, một thằng phá hoại sự đoàn kết dân tộc. Hệ thống sẽ tự động đào thải những cá thể nguy hiểm như vậy.
Cho nên, khi Nietzsche nói “đéo còn triết gia nào nữa”, gã đang nói rằng cái hệ sinh thái đã thay đổi.
Đầm lầy không thể nuôi được đại bàng.
Một nền văn hóa bị ám ảnh bởi quyền lực và sự tầm thường thì không thể nào đẻ ra được một tinh thần tự do dám đặt câu hỏi về chính nền tảng của nó.
Những thằng mang danh “triết gia” còn sót lại chỉ là những cái xác ướp, những tên nô lệ Helot đang cày cuốc trên mảnh ruộng học thuật của mình, hoàn toàn vô hại và do đó, hoàn toàn vô giá trị.
5.
Toàn bộ hệ thống giáo dục cao cấp ở Đức bây giờ nát bét rồi. Nó quên mẹ nó mục đích để làm gì và phải làm như thế nào.
Chúng nó quên mẹ nó rằng giáo dục là để tạo ra một con người ra hồn, chứ đéo phải để phục vụ cho “KPI” của nhà nước. Và để làm được việc đó, mày cần những người thầy đúng nghĩa—những người đã tự rèn được mình—chứ đéo phải mấy thằng giáo viên quèn chỉ biết đọc slide. Nước Đức bây giờ thiếu thầy, thừa thợ dạy. Đó là lý do văn hóa của nó nát.
Vậy mấy trường top bây giờ thực sự làm được cái gì?
Nó là một cái trại huấn luyện súc vật, biến một đám đông thanh niên thành những công cụ hữu dụng cho nhà nước, xài được ngay, vắt kiệt sức càng nhanh càng tốt.
Cái trò “giáo dục tinh hoa” mà lại dạy cho cả một “đám đông” là một trò hề tự vả vào mồm. Giáo dục đỉnh cao chỉ dành cho số ít. Mọi thứ xịn, mọi thứ đẹp, đéo bao giờ là của chung được. Cái gì đã giết chết văn hóa Đức? Chính là cái trò dân chủ hóa giáo dục, biến “giáo dục tinh hoa” thành hàng đại trà.
Bây giờ ở Đức, mày đéo có quyền cho con mày một nền giáo dục ra hồn nữa. Tất cả các trường “top” đều được setup để đẻ ra những thằng tầm thường, từ giáo viên, chương trình học, cho đến mục tiêu.
Và đâu đâu cũng là một sự vội vã mất dạy, như thể mày sẽ bỏ lỡ cái gì đó nếu 23 tuổi mà vẫn chưa “ra trường”, vẫn chưa biết “làm ngành gì?”.
Một thằng thuộc giới tinh hoa thật sự, nó đéo quan tâm đến “nghề nghiệp”. Nó có một “sứ mệnh”. Nó có thời gian, nó đéo vội. 30 tuổi, trong thế giới của bọn nó, vẫn chỉ là một thằng nhóc đang học việc.
Mấy cái trường chuyên quá tải, mấy thằng thầy cô bị nhồi sọ đến ngu người, tất cả là một vụ bê bối. Bọn nó có thể bịa ra lý do để bao che, nhưng thực chất là đéo có lý do đéo gì chính đáng cả.
Diễn giải:
Đoạn này Nietzsche đang chửi thề cái vụ phổ thông giáo dục cho toàn bộ công dân trong một quốc gia hiện đại như nước Đức thời Bismarck.
Người ta nghĩ rằng nó tốt đẹp vì ai cũng trao được quyền học hành đàng hoàng như ai nhưng vấn đề không phải như vậy mà là nếu kim cương trở nên phổ biến ai cũng có thì giá trị nó nằm ở đâu?
Câu trả lời là nó đã bị biến chất từ mục đích tự thân mong muốn học hỏi để trở thành công cụ cho quyền lực của nhà nước.
Trí thức thay vì được phục vụ để giáo dục nên một con người hoàn thiện về mặt văn hoá, lối sống, trí tuệ cần mất nhiều thời gian nên phần lớn chỉ được dành cho tầng lớp tinh hoa như vua chúa, quý tộc, giới thương gia giàu có tiếp cận được thì bây giờ chúng nó phổ cấp hoá hết để sử dụng đám “sâu bọ lúc nhúc” từ dân chúng để đào tạo nên những cái bánh răn hoàn hảo cho cả gồng máy chiến tranh, chính trị chứ không phải một con người triết gia như Nietzsche mong muốn.
Nó không còn là khu vườn để ươm trồng những cây đại thụ hiếm hoi nữa.
Nó đã biến thành một nhà máy, một trại chăn nuôi công nghiệp.
Mục tiêu của nó không phải là tạo ra một “con người hoàn thiện”—một thứ mà Nietzsche gọi là “văn hóa” (Kultur). Đéo.
Mục tiêu của nó là sản xuất hàng loạt. Nó hút lấy cái “đám sâu bọ lúc nhúc” từ dân chúng, đưa chúng nó vào một dây chuyền huấn luyện súc vật tàn bạo, và cho ra lò hàng triệu “cái bánh răng hoàn hảo”—những thằng chuyên gia, những thằng công chức, những thằng lính—tất cả đều được mài giũa vừa vặn để lắp vào cái cỗ máy chiến tranh và chính trị khổng lồ của Đế chế.
Nó không tạo ra triết gia. Nó tạo ra đạn dược - những con người bị sử dụng như vũ khí sống chờ ngày bị quăng vào lò lửa chiến tranh và chết vô nghĩa vì những câu chuyện “yêu nước”, “vì quốc gia” nhảm nhí mà đám tinh hoa chính trị dựng lên để đẩy những kẻ ngô nghê đi chết còn mình thì ngồi xa không hề hấn gì.
6.
Bản chất của tao là nói “Có” với đời, nên tao đéo thích đi chửi đổng. Thay vào đó, tao sẽ chỉ cho mày ba việc mà một nền giáo dục ra hồn phải dạy được.
Mày phải học cách nhìn, cách nghĩ, và cách nói/viết.
Mục tiêu của cả ba: để có một nền văn hóa quý tộc.
1. HỌC CÁCH NHÌN
Đầu tiên, học cách nhìn.
Là tập cho mắt mày biết bình tĩnh, biết kiên nhẫn. Mày phải để cho sự việc tự nó tìm đến mày, chứ không phải nhảy bổ vào nó. Mày phải học cách hoãn phán xét, đi vòng quanh một vấn đề để nhìn nó từ mọi góc.
Đây là bài tập vỡ lòng để não mày trưởng thành: đừng có phản ứng ngay lập tức như một con chó. Phải có bản năng biết kìm, biết đóng cửa lại.
Học cách nhìn, nói toẹt ra, chính là thứ mà người đời gọi là “ý chí mạnh mẽ”. Cốt lõi của nó là gì? Là không “muốn”, là khả năng treo một quyết định lại, không vội vàng.
Mọi sự tầm thường đều bắt nguồn từ việc không có khả năng chống lại một kích thích. Thấy cái gì là phải phản ứng ngay, như một con cào phím. Trong nhiều trường hợp, cái sự “phải” đó là một căn bệnh, một dấu hiệu của sự kiệt quệ. Mấy cái “tật xấu” mà người ta hay nói, thực chất chỉ là sự bất lực về mặt sinh lý trong việc không-phản-ứng-lại.
Kết quả của việc học cách nhìn là gì? Mày sẽ trở nên chậm chạp, đa nghi. Mày sẽ nhìn mọi thứ mới mẻ với một sự bình tĩnh đầy thù địch, mày sẽ rụt tay lại.
Nó đối lập hoàn toàn với cái trò “khách quan” hiện đại: mở toang cửa, liếm láp mọi mẩu tin tức, hùa theo mọi trend. Cái trò đó, đối với tao, là một gu thẩm mỹ tồi tệ, là đỉnh cao của sự hèn hạ.
7.
Giờ đến vụ học cách nghĩ.
Mấy trường học bây giờ quên mẹ nó cách dạy cái này rồi. Ngay cả trên đại học, mấy thằng cha giáo sư triết cũng vứt xó logic, coi nó như một thứ đồ cổ.
Cứ đọc sách của bọn Đức bây giờ thì biết. Chúng nó quên mẹ nó rằng tư duy là một kỹ năng, phải học, phải có thầy dạy, phải có ý chí để làm chủ, giống như học nhảy vậy. Đéo còn thằng Đức nào hiểu được cái cảm giác “phê” khi não mình nhảy múa, khi một ý tưởng tinh tế chạy rần rần khắp người.
Cái kiểu tư duy của bọn Đức bây giờ nó cứng như gỗ, vụng như nông dân. Bọn châu Âu nó nhìn vào và tưởng cả dân tộc Đức thằng nào cũng thế. Bọn Đức đã cụt mất đôi tay để cảm nhận sự tinh tế.
Việc chúng nó có thể nuốt nổi mấy thằng triết gia của mình, đặc biệt là thằng cha Kant, kẻ què quặt nhất về mặt khái niệm, đã cho thấy cái “gu” của bọn Đức nó mặn đến mức nào.
Một nền giáo dục ra hồn phải dạy mày biết “nhảy” bằng mọi thứ: bằng chân, bằng ý tưởng, bằng lời nói, và cả bằng cây bút — tức là phải học cách viết. Nhưng nói đến đây thì tao biết bọn Đức chịu, đéo hiểu tao nói cái gì.
Diễn giải:
Nietzsche chuyển sang nhiệm vụ thứ hai của một nền giáo dục thượng đẳng: học cách tư duy. Và gã tuyên bố rằng bọn Đức đã quên mẹ nó cách tư duy là gì.
Gã định nghĩa lại hoàn toàn hành động tư duy.
Đối với gã, tư duy không phải là một công việc nặng nhọc của bộ não.
Tư duy là một nghệ thuật, một kỹ năng của cơ thể, giống như nhảy múa. Một tư tưởng vĩ đại phải được cảm nhận bằng toàn bộ cơ thể, nó phải có sự nhẹ nhàng, sự linh hoạt, một “vũ điệu trong cơ thể”.
Ngược lại, gã chẩn đoán rằng lối tư duy của bọn Đức là hiện thân của sự vụng về.
Gã dùng những hình ảnh đầy khinh bỉ để mô tả nó: “cái dáng vẻ trí thức cứng như khúc gỗ”, “bàn tay thô kệch khi nắm bắt”, “đéo có những ngón tay để cảm nhận sự tinh tế.”
Gã còn chế giễu cả cái đức tính “cần cù” của chúng nó.
Việc bọn Đức có thể chịu đựng được những công việc trí óc nặng nhọc không chứng minh chúng nó có tài năng hay văn hóa.
Nó chỉ chứng minh chúng nó là những con bò cày khỏe mạnh. Chúng nó có sức bền, nhưng chúng nó thiếu lòng can đảm, niềm kiêu hãnh, và vũ điệu trong cơ thể.
Và để chứng minh cho sự thô thiển này, gã lôi ra con dê tế thần lớn nhất: Immanuel Kant. Gã gọi Kant là “cái thằng què quặt về khái niệm dị dạng nhất từng tồn tại.”
Netzsche chửi Kant què quặt vì mấy lý do sau:
Tội ác lớn nhất của lão: Lão đã chẻ thế giới ra làm hai.
Thế giới “hiện tượng”: Cái thế giới mà mày đang sống, đang sờ mó được. Lão nói đây chỉ là hàng giả, là phim do não mày chiếu.
Thế giới “tự thân” (Ding an sich): Cái “thế giới thật” đằng sau. Và lão nói gì về nó? Lão nói mày đéo bao giờ có thể biết được nó. Mày thấy trò lừa đảo chưa? Lão đã phát minh ra một thiên đường mới, nhưng lại là một thiên đường mà mày không bao giờ vào được. Đây là một hành động hèn nhát, một sự vu khống chống lại thế giới duy nhất mà chúng ta có.
Tiếp theo, lão bịa ra cái “Mệnh lệnh Tối cao” (kategorischer Imperativ). Nó là một bộ luật đạo đức phổ quát, cứng như bê tông, đéo quan tâm đến hoàn cảnh, đéo quan tâm đến cá nhân. Nó là đạo đức của một con robot giết chết mọi bản năng, mọi sự linh hoạt.
Và văn của lão? Nó là một cái bãi lầy của những từ ngữ trừu tượng. Đọc nó giống như nhai một cục cao su. Nó không nhảy múa, nó lết. Đó là văn của một thằng què.
Vậy tại sao bọn Đức lại tôn sùng một thằng què như vậy?
Vì lão đã cho chúng nó những lý do “triết học” để tự hào về chính những tật xấu của mình.
Sự cuồng “Nghĩa vụ”: Bọn Đức vốn đã là một lũ cuồng “nghĩa vụ” (
Pflicht). Kant đến và cho chúng nó một công thức triết học để biến sự vâng lời mù quáng thành “đức hạnh tối cao”. Lão đã hợp pháp hóa tâm lý nô lệ của chúng nó.Sự hèn nhát: Bọn Đức vừa muốn tỏ ra mình “khai sáng”, vừa sợ vứt bỏ Chúa. Kant đã cho chúng nó một lối thoát hoàn hảo. Lão dùng một cuốn sách để giết Chúa, rồi dùng một cuốn khác để hồi sinh Chúa như một “điều cần thiết cho đạo đức”. Một màn ảo thuật cho những kẻ hèn nhát.
cảm ơn Bocchi đã dày công nghiên cứu và cho ra bài dịch này
Với thời đại toàn mì ăn liền, reels, clip ngắn, tiktok, vài ba câu stt triết lý não tàn... Vẫn thấy đc những bài như này thật khâm phục.
Mình rất thích cách bạn suy nghĩ, diễn đạt vấn đề. Bạn có thể giới thiệu 1 vài đầu sách đc ko? Cám ơn!