Chernobyl - 01:23:40 | r/VietTalk
Hậu quả của những lời nói dối là gì? Tính mạng rẻ mạt của con người để chữa lỗi lầm cho đám chóp bu ngu xuẩn.
(Lưu ý: Bài viết mày sắp đọc là một công trình phân tích độc lập, dài hơn 11.000 từ và sẽ mất khoảng 45-50 phút để đọc hết. Nó sẽ đi sâu vào từng ngóc ngách của một thảm họa đã thay đổi thế giới).
1.Làm thế nào mà một nút bấm được thiết kế để cứu mạng người lại trở thành kíp nổ cho ngày tận thế?
2.Tại sao một lỗi kỹ thuật chết người, vốn đã được phát hiện và báo cáo từ 11 năm trước, lại bị một siêu cường hạt nhân cố tình chôn vùi?
3.Và làm thế nào mà sự dối trá của một vài quan chức ở một nhà máy điện lại có thể leo thang thành một chuỗi domino, không chỉ gây ra thảm họa hạt nhân tồi tệ nhất lịch sử, mà còn góp phần đào mồ chôn cả một đế chế?
Vào 1 giờ 23 phút sáng ngày 26 tháng 4 năm 1986, Lò phản ứng số 4 của nhà máy Chernobyl không chỉ nổ tung.
Nó đã châm ngòi cho một chuỗi domino sẽ kéo sụp cả một siêu cường.
Nhân loại đã trả một cái giá quá đắt cho bài học về quy luật phổ quát về bản chất của quyền lực và sự thật:
Bất kỳ một hệ thống quyền lực nào càng tập trung và càng cố gắng độc quyền sự thật, thì nó càng trở nên mù lòa trước thực tại.
Khi một hệ thống quyền lực (một đế chế, một triều đại, một đảng cầm quyền) tự cho mình là nguồn chân lý duy nhất, thì sự tồn tại của chính nó không còn phụ thuộc vào việc giải quyết các vấn đề thực tế nữa.
Thay vào đó, nó phụ thuộc vào việc duy trì ảo tưởng về sự toàn năng và không thể sai lầm.
Lúc này, sự thật khách quan không còn là một công cụ để ra quyết định, mà trở thành một mối đe dọa.
Một báo cáo về cây cầu sắp sập là mối đe dọa cho câu chuyện về "cơ sở hạ tầng vĩ đại".
Một con số về kinh tế suy thoái là mối đe dọa cho câu chuyện về "sự lãnh đạo sáng suốt".
Và một lõi lò phản ứng hạt nhân đang tan chảy là mối đe dọa cho câu chuyện về "sự ưu việt của công nghệ quốc gia".
Vì vậy, hệ thống bắt đầu làm một việc tự sát về lâu dài: nó tấn công những người mang tin xấu và thưởng cho những kẻ mang tin tốt, dù đó là tin giả.
Dần dần, nó tự xây quanh mình một cái kén bằng những báo cáo A4 dối trá, những con số được tô hồng, những lời trấn an vô căn cứ. Nó bắt đầu tin vào tấm bản đồ do chính mình vẽ ra, và phớt lờ vùng lãnh thổ đang chìm trong biển lửa.
Và đây là phần bi kịch không thể tránh khỏi của quy luật đó: Sự thật vật lý không tuân theo nghị quyết của Đảng.
Bức xạ vẫn cứ lan tỏa.
Dịch bệnh vẫn cứ lây lan.
Nền kinh tế vẫn cứ sụp đổ.
Sớm hay muộn, cái thực tại bị che giấu đó sẽ va chạm với thế giới ảo tưởng trên giấy tờ.
Vụ va chạm đó càng bị trì hoãn lâu bao nhiêu, thì vụ nổ cuối cùng sẽ càng thảm khốc bấy nhiêu.
Và cái giá cho sự sụp đổ đó không bao giờ được trả bởi những kẻ đã viết ra lời nói dối.
Nó luôn được trả bằng xương máu của những người đã bị buộc phải tin vào lời nói dối đó – những người lính cứu hỏa, những người thợ mỏ, những người dân thường.
Đây không phải là câu chuyện của riêng Liên Xô.
Nó là câu chuyện của vị quan che giấu tin dịch bệnh để giữ ghế, của vị tướng nướng quân trong một trận đánh đã thua chỉ để giữ thể diện, của bất kỳ bộ máy nào thà hy sinh dân chúng còn hơn thừa nhận mình đã sai.
Chernobyl chỉ là một trong những minh chứng đẫm máu nhất cho quy luật đó: Rằng nguyên tố phóng xạ nguy hiểm nhất không phải là uranium, mà là một lời nói dối được bảo vệ bởi quyền lực tuyệt đối.
Tao sẽ kể cho mày một câu chuyện đau lòng về một thảm kịch ngu ngốc bởi một hệ thống quyền lực mù loà hy sinh hàng triệu người chỉ để giữ cho nó không mất mặt mũi.
Cỗ máy quan liêu Liên Xô
Chernobylt không tự dưng từ trên trời rơi xuống mà mọc ra nhà máy hay một công ty nào đó thấy "thị trường tiềm năng" rồi xin giấy phép xây dựng đâu.
Tất cả là mệnh lệnh từ trên dội xuống.
Quyết định xây nhà máy này bắt nguồn từ một nghị quyết của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Xô và Hội đồng Bộ trưởng - nơi quyền lực Đảng và Nhà nước hoà trộn lẫn nhau như Việt Nam bây giờ.
Quyết định chiến lược về việc xây dựng một loạt nhà máy điện hạt nhân kiểu RBMK, bao gồm cả Chernobyl, đã được định hình trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 9 (1971-1975). Tên chính thức là Nhà máy điện hạt nhân V.I. Lenin.
Việc lựa chọn địa điểm và bắt đầu các công việc chuẩn bị đã diễn ra từ cuối những năm 1960.
Quyết định chính thức khởi công xây dựng được thông qua vào khoảng năm 1970.
Nó là một dự án khổng lồ kéo dài hơn một thập kỷ để xây nhà máy và thành phố Pripyat cho công nhân và chuyên gia cũng được xây dựng song song. Sau đó, các lò phản ứng được đưa vào vận hành theo từng giai đoạn:
Lò phản ứng số 1 bắt đầu xây dựng năm 1970, đi vào hoạt động năm 1977.
Lò phản ứng số 2 đi vào hoạt động năm 1978.
Lò phản ứng số 3 hoàn thành năm 1981.
Lò phản ứng số 4, nơi xảy ra thảm họa, hoàn thành vào cuối năm 1983.
Để xây 4 lò phản ứng này, Liên Xô mất 13-14 năm , đúng thời điểm xảy ra bi kịch năm 1986 lò phản ứng số 5 và 6 vẫn đang được xây dựng dở dang.
Moskva muốn dùng nó để làm biểu trưng cho sức mạnh công nghệ Soviet, một trong những nhà máy điện hạt nhân lớn nhất thế giới với công suất lên đến 6000 MW giải quyết nút thắt năng lượng chiến lược, cung cấp điện cho không chỉ khu vực Ukraine mà còn được kết nối với lưới điện quốc gia, phục vụ cho các tổ hợp công nghiệp-quân sự khổng lồ vốn ngốn cực kỳ nhiều điện năng.
Việc nó được đặt ở Ukraine cũng không phải ngẫu nhiên, đây là một trong những nước cộng hòa công nghiệp hóa và đông dân nhất của Liên Xô.
Trong một nền kinh tế không có "lợi nhuận", chi phí được tính bằng đồng rúp, vật liệu và nhân công được phân bổ từ trung ương.
Việc tìm ra một con số chính xác là cực kỳ khó vì hệ thống kế toán của Liên Xô rất mờ mịt.
Tuy nhiên, theo các ước tính và lời kể của những người trong cuộc, chi phí xây dựng cho giai đoạn đầu của nhà máy (2 lò phản ứng đầu tiên và thành phố Pripyat) vào khoảng 400 triệu rúp.
Toàn bộ nhà máy với 4 lò phản ứng có thể tốn gần 1 tỷ rúp vào thời điểm đó.
Con số "1 tỷ rúp" nghe có vẻ không quá lớn nếu quy đổi theo tỷ giá với đôla hời hợt mà buộc phải hiểu bối cảnh.
Đồng rúp của Liên Xô không thể tự do chuyển đổi và giá trị của nó được nhà nước ấn định một cách giả tạo.
Cái giá thực sự không nằm ở con số trên giấy tờ, mà nằm ở khối lượng tài nguyên khổng lồ mà nền kinh tế Liên Xô phải dồn vào đó.
Nó là hàng triệu tấn bê tông, hàng trăm ngàn tấn thép, hàng ngàn km dây cáp, và quan trọng nhất là sức lao động của hàng chục ngàn công nhân và bộ não của những kỹ sư giỏi nhất.
Và trong quá trình xây dựng đã để lại những chi phí của sự vội vã và cắt giảm từ lề lối làm việc kiểu Shturmovshchina (штурмовщина), dịch nôm na là "văn hóa bão táp" hay "làm việc kiểu xung kích".
Mục đích xây nhà máy không chỉ đơn thuần vì mục đích kinh tế hay an ninh năng lượng và giải quyết bằng bài toán kỹ thuật mà bởi các mốc thời gian chính trị: phải hoàn thành để chào mừng kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười, chào mừng Đại hội Đảng, v.v.
Kết quả là một chu kỳ quen thuộc: công việc ì ạch suốt cả năm vì thiếu vật tư và quản lý kém, rồi đến gần hạn chót thì tất cả lao vào làm việc ngày đêm một cách điên cuồng để kịp tiến độ. Trong cơn "bão táp" này, chất lượng bị vứt qua cửa sổ.
Quy trình an toàn bị bỏ qua, các bước kiểm tra kỹ thuật bị làm cho có lệ.
Qua các lời kể và các tài liệu KGB giải mật sau này bởi các điệp viên cài cắm tại công trường liên tục báo về Moskva cảnh báo về chất lượng xây dựng tồi tệ được đặt thẳng lên bàn Tổng bí thư Andropov.
Trong số đó, một báo cáo năm 1979 nói rằng:
"Trong quá trình xây dựng khối lò phản ứng thứ hai của Nhà máy điện Chernobyl, các sai lệch so với thiết kế và vi phạm công nghệ xây dựng và lắp đặt đã xảy ra ở một số khu vực"
Bê tông được trộn cẩu thả, không đủ mác, thậm chí có lẫn đất cát. Các tấm lợp bị lỗi, các mối hàn trên những đường ống quan trọng không đạt tiêu chuẩn nhưng vẫn được nghiệm thu và lắp đặt.
Công nhân thường xuyên bỏ qua các yêu cầu kỹ thuật.
Ví dụ, khi đổ bê tông cho sàn của lò phản ứng số 5 (nơi sẽ chịu tải hàng ngàn tấn thiết bị), họ đã dùng loại đá sỏi to hơn quy định, khiến cho bê tông không thể lấp đầy các kết cấu cốt thép, tạo ra những lỗ hổng chết người trong cấu trúc chịu lực.
Hệ thống phòng cháy chữa cháy bị lắp đặt cẩu thả. Dây điện có lớp cách nhiệt kém chất lượng, dễ gây chập cháy. Thậm chí đã có những sự cố rò rỉ phóng xạ nhỏ xảy ra ở lò phản ứng số 1 vào năm 1982 nhưng đã bị che đậy.
Những sai sót này không phải là bí mật.
Lãnh đạo cao nhất biết. Nhưng hệ thống đã bị tê liệt bởi chính nó. Việc thừa nhận những yếu kém này sẽ làm bẽ mặt cả một hệ tư tưởng, sẽ làm chậm tiến độ "vĩ đại" của các kế hoạch 5 năm.
Vì vậy, các cảnh báo bị phớt lờ.
Giám đốc nhà máy, Viktor Bryukhanov, là một nhà quản lý chứ không phải một nhà vật lý hạt nhân. Nhiệm vụ chính của ông ta là hoàn thành kế hoạch, đưa nhà máy vào hoạt động đúng hạn để nhận huân chương và tiền thưởng. Áp lực chính trị và áp lực sản lượng đã đè bẹp mọi lo ngại về an toàn.
Và ngay cả cơ chế hoạt động nhà máy này cũng sinh ra lắm vấn đề kể cả khi còn nằm trên giấy.
Công nghệ lò phản ứng RBMK-1000 (Reaktor Bolshoy Moshchnosti Kanalnyy, dịch nôm na là "Lò phản ứng kênh công suất cao") là một thiết kế thuần tuý của Liên Xô.
Nó chạy bằng cách nào?
Hãy hình dung như một nồi áp suất khổng lồ cực kỳ không ổn định, sử dụng than chì (graphite) để làm chậm các hạt neutron (nơ-tron) duy trì phản ứng dây chuyền để tạo ra năng lượng; nước sẽ được bơm qua các kênh riêng lẻ chứa nhiên liệu uranium để đun sôi, tạo hơi nước quay turbine máy phát điện.
Công nghệ này đơn giản nhưng cái sự nguy hiểm cũng nằm ngay trong chính thiết kế: tối ưu cho sản xuất rẻ và mục đích kép: vừa tạo ra điện, vừa có thể sản xuất plutonium cấp độ vũ khí một cách thuận tiện vì có thể thay nhiên liệu mà không cần tắt lò phản ứng.
Đây là một di sản từ thời Chiến tranh Lạnh, khi mục tiêu quân sự được đặt lên trên an toàn dân sự.
So với các nhà máy trên thế giới lúc bấy giờ, đặc biệt là loại lò phản ứng nước áp lực (PWR) của phương Tây, RBMK là một đứa con hoang đầy lỗi.
Nó có hai cái bẫy chết người mà bất kỳ kỹ sư hạt nhân phương Tây nào nhìn vào cũng phải rùng mình.
Thứ nhất là positive void coefficient (hệ số rỗng dương).
Trong lò phản ứng phương Tây, nếu nước làm mát bị mất đi hoặc sôi lên thành hơi, phản ứng hạt nhân sẽ tự động chậm lại và tắt ngấm. Đó là một cơ chế an toàn tự nhiên.
Còn với RBMK, khi nước sôi thành hơi, phản ứng không những không chậm lại mà còn tăng tốc một cách điên cuồng.
Lò càng nóng, nó càng muốn nóng hơn. Đây là một vòng lặp tự hủy diệt, một quả bom hẹn giờ được cài sẵn trong thiết kế.
Thứ hai là không có nhà chứa an toàn (containment building).
Các nhà máy phương Tây được đặt bên trong một cấu trúc bê tông cốt thép khổng lồ, dày cả mét, được thiết kế để chứa đựng toàn bộ phóng xạ trong trường hợp lõi lò tan chảy.
Cái vỏ bọc của Chernobyl thì mỏng manh hơn nhiều, chủ yếu để che chắn thời tiết chứ không phải để ngăn chặn một thảm họa hạt nhân.
Lý do? Rẻ hơn và xây nhanh hơn.
Từ một quyết định thuần túy kinh tế và chính trị, đánh đổi an toàn lấy tốc độ và chi phí.
Cơn ác mộng hành chính.
Cỗ máy quan liêu của Liên Xô không phải là một quy trình bàn giấy thông thường.
Nó là một con quái vật, một mê cung giấy tờ được thiết kế không phải để ra quyết định, mà để nghiền nát trách nhiệm cá nhân.
Mọi thứ đều phải "đúng quy trình", nhưng cái "quy trình" đó là một cơn ác mộng.
Để quản lý 1 siêu dự án 6000 MW này có hai cấu trúc quản lý chính: chính trị và kỹ trị.
Bề ngoài Chernobyl và thành phố Pripyat không phải là một "thành phố đóng" (closed city) như các trung tâm nghiên cứu vũ khí hạt nhân.
Pripyat thậm chí còn được xây dựng như một thành phố kiểu mẫu (atomgrad), một niềm tự hào để trưng ra cho thế giới thấy cuộc sống lý tưởng dưới chủ nghĩa xã hội. Nhưng đó chỉ là lớp vỏ bọc.
Bản thân nhà máy điện là một "cơ sở chế độ" (regime object - режимный объект), tức là một địa điểm có tầm quan trọng chiến lược và được đặt dưới sự giám sát an ninh nghiêm ngặt của KGB.
Sự tối mật ở đây không nằm ở việc che giấu sự tồn tại của nhà máy, mà là ở việc che giấu những vấn đề của nó.
Mọi thông tin liên quan đến sự cố, tai nạn, rò rỉ phóng xạ, sai sót trong xây dựng, hay thậm chí là dữ liệu về sức khỏe của công nhân, đều được coi là. bí mật nhà nước.
Việc tiết lộ những thông tin này được xem là hành vi chống phá, làm suy yếu hình ảnh công nghệ tiên tiến và bất khả chiến bại của Liên Xô.
KGB không chỉ có vai trò chống gián điệp hay phá hoại, mà còn là người gác cổng thông tin, đảm bảo rằng chỉ có câu chuyện thành công được lọt ra ngoài, còn mọi sự thật xấu xí phải được chôn vùi trong các báo cáo mật.
Đầu thứ nhất quản lý về mặt kỹ thuật là Ban giám đốc với người đứng đầu là Viktor Bryukhanov.
Về mặt chuyên môn, ông ta và bộ máy của mình chịu sự quản lý của Bộ Năng lượng và Điện khí hóa Liên Xô (Minenergo). Đây là tuyến quản lý theo ngành dọc, chịu trách nhiệm về các mục tiêu sản xuất, vận hành kỹ thuật và thực hiện các kế hoạch sản lượng điện mà cấp trên giao phó.
Nhiệm vụ của họ là làm cho nhà máy chạy, tạo ra megawatt, và hoàn thành chỉ tiêu.
Và cái thứ hai là Đảng uỷ (partkom - партком) , vụ này y chang Việt Nam khỏi nói nhiều.
Đảng uỷ không báo cáo lên Bộ năng lượng mà qua các kênh đảng theo đúng quy trình Đảng ủy thành phố Pripyat, rồi Đảng ủy tỉnh Kiev, rồi Trung ương Đảng Cộng sản Ukraine, và cuối cùng là Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (CPSU Central Committee) ở Moskva.
Vai trò của Đảng ủy là giám sát về mặt tư tưởng, đảm bảo lòng trung thành chính trị, và quan trọng nhất, thúc đẩy việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, tức là các Kế hoạch 5 năm.
Ủy ban Trung ương ở Moskva không quản lý nhà máy theo kiểu vi mô hàng ngày. Họ không gọi điện cho giám đốc nhà máy để hỏi về áp suất trong lò phản ứng.
Sự kiểm soát của họ là tuyệt đối nhưng mang tính hệ thống, thông qua hai kênh:
1.Thông qua bộ máy nhà nước:.
Trung ương Đảng đặt ra các chỉ tiêu sản xuất không tưởng trong các Kế hoạch 5 năm. Các chỉ tiêu này được chuyển xuống cho các Bộ, như Bộ Năng lượng. Bộ lại dồn áp lực xuống cho giám đốc nhà máy. Giám đốc, để giữ được ghế và nhận thưởng, phải tìm mọi cách để đạt chỉ tiêu, kể cả việc đốt cháy giai đoạn, bỏ qua quy trình an toàn.
2.Thông qua bộ máy Đảng:
Trung ương Đảng kiểm soát việc bổ nhiệm các vị trí chủ chốt. Giám đốc nhà máy và Bí thư Đảng ủy đều phải là những đảng viên trung thành, được "cơ cấu".
Đảng ủy tại nhà máy có quyền lực rất lớn, có thể can thiệp vào việc thăng chức, kỷ luật, và có thể hủy hoại sự nghiệp của một giám đốc kỹ thuật nếu người đó bị cho là "thiếu ý thức chính trị" hoặc không nỗ lực hoàn thành kế hoạch của Đảng.
Trong thực tế, quyền lực của Bí thư Đảng ủy thường lấn át cả Giám đốc.
Một quyết định kỹ thuật có thể bị bác bỏ nếu nó bị coi là cản trở mục tiêu chính trị.
Giám đốc Bryukhanov có thể là vua trong lĩnh vực kỹ thuật, nhưng Đảng ủy mới là người quyết định vị vua đó có được tại vị hay không.
Cái hệ thống hai đầu này tạo ra một môi trường làm việc độc hại, nơi sự trung thành chính trị và việc hoàn thành chỉ tiêu trên giấy tờ được coi trọng hơn cả thực tế kỹ thuật và an toàn vật lý. Ủy ban Trung ương ở Moskva đã tạo ra một cỗ máy áp lực, và những người quản lý ở Chernobyl chỉ là những bánh răng bị nghiền nát trong đó, buộc phải lựa chọn giữa sự nghiệp và sự an toàn.
Cuối cùng, họ đã không thể có cả hai.
Chỉ tiêu
Như mày đã thấy, tao lặp lại cái từ Chỉ tiêu (quota) là có lý do của nó.
Đó là điểm mù chết người của hệ thống kinh tế chỉ huy kiểu Soviet nơi lợi nhuận - thứ phản ánh hiệu quả nhu cầu thực tế bị bỏ qua chỉ để thay bằng thứ chỉ tiêu trừu tượng và nguy hiểm.
Không ai phải cố có 1 triệu đôla trong tay nhưng Quota là một mệnh lệnh chính trị, một thước đo lòng trung thành.
Cả hệ thống, từ đảng viên đến kỹ sư, đều bị cuốn vào vòng xoáy điên cuồng này.
Sự duy ý chí ảo tưởng, xa rời thực tế đặt ra những con số vô lý này không phải lỗi mà là sản phẩm tất yếu của hệ thống.
Tại một nhà máy như Chernobyl, nó biểu hiện ra thành một văn hóa vận hành cực kỳ độc hại.
Các đảng viên trung thành trong ban quản lý và cả những kỹ sư chịu áp lực nặng nề không đặt câu hỏi.
"Làm thế nào để vận hành an toàn và hiệu quả nhất?".
Thay vào đó, họ luôn bị ám ảnh bởi câu hỏi:
"Làm thế nào để hoàn thành và vượt mức chỉ tiêu sản xuất điện hàng tháng, hàng quý?
Họ luôn bị ép chạy theo những yêu cầu phi là mà phổ biến và nguy hiểm nhất là "sản xuất điện bằng mọi giá".
Điều này có nghĩa là lò phản ứng phải chạy liên tục, không được phép dừng.
Một kỹ sư muốn cho lò phản ứng số 1 ngừng hoạt động để bảo trì định kỳ theo đúng lịch trình kỹ thuật?
Yêu cầu đó có thể bị ban giám đốc hoặc đảng ủy gạt đi, bởi vì dừng lò đồng nghĩa với việc sản lượng điện trong ngày đó bằng không, ảnh hưởng đến chỉ tiêu của cả tháng.
Việc bảo trì thường xuyên bị trì hoãn, các thiết bị cũ kỹ không được thay thế đúng hạn, tất cả chỉ để kim đồng hồ đo megawatt không bao giờ ngừng quay.
Và một yêu cầu khác đến từ các nhà điều độ lưới điện ở Kiev. Họ cần một nguồn cung cấp điện ổn định cho mạng lưới. Nhưng lò phản ứng RBMK lại có một đặc tính chết người là cực kỳ khó kiểm soát và không ổn định khi hoạt động ở mức công suất thấp.
Các kỹ sư vận hành biết điều này.
Tuy nhiên, khi lưới điện không cần nhiều điện vào ban đêm, họ vẫn nhận được lệnh phải giảm công suất xuống mức thấp nhưng vẫn phải duy trì kết nối.
Điều này buộc các kỹ sư phải vận hành lò phản ứng trong một trạng thái bấp bênh, đi trên dây giữa việc tuân lệnh và một thảm họa tiềm tàng. Cái này cũng dẫn đến ngòi nổ sau này, lát nữa sẽ nói tiếp.
Vì để đạt chỉ tiêu đẹp đẽ một hành vi gian dối có hệ thống gọi là pripiski (приписки) – tức là khai khống số liệu – đã trở thành một phần của văn hóa.
Nếu sản lượng không đạt, người ta chỉ cần "điều chỉnh" con số trên báo cáo gửi lên cấp trên.
Mặc dù việc này phổ biến hơn trong sản xuất hàng hóa, tư duy "làm đẹp báo cáo" này cũng thấm vào mọi khía cạnh, tạo ra một ảo ảnh về sự thành công trong khi thực tế bên dưới đã mục ruỗng.
Ông già Brezhnev ở Moskva không hề biết chuyện gì đang xảy ra khi năm nào cũng nghe báo cáo láo "vượt chỉ tiêu", "hoàn thành xuất sắc", "cải tiến năng suất" dẫn đến mù loà dù là người ở đỉnh cao quyền lực.
Cuối cùng, hệ thống khuyến khích bằng tiền thưởng (premiya) đã đổ thêm dầu vào lửa. Hoàn thành và vượt chỉ tiêu đồng nghĩa với những khoản tiền thưởng lớn, có thể chiếm một phần đáng kể trong thu nhập của cả gia đình.
Nó quyết định khẩu phần ăn, nhà được cấp, chiếc xe mới và con cái học trường nào khiến các kỹ sư thành người đánh bạc, sẵn sàng chấp nhận rủi ro để nhận thường.
Cái thảm hoạ thì xa vời hơn là mất tiền cuối tháng biến sự an toàn thành chi phí xa xỉ không ai muốn trả.
Một cái ốc vít hỏng cũng mất 3 năm để sửa
Thử hình dung một yêu cầu đơn giản từ nhà máy Chernobyl, ví dụ như:
"Chúng tôi cần một loại thiết bị đo lường mới không có trong kế hoạch ban đầu vì thiết bị cũ không đáng tin cậy".
Yêu cầu này sẽ bắt đầu một cuộc hành trình gian khổ, cả đi lên và đi xuống.
Hành trình đi lên bắt đầu từ cấp nhà máy. Đầu tiên, một kỹ sư trưởng sẽ soạn thảo yêu cầu.
Bản yêu cầu này phải được Giám đốc nhà máy, Viktor Bryukhanov, ký.
Nhưng trước khi ông ta ký, nó phải được Đảng ủy (partkom) của nhà máy xem xét và đóng dấu, để đảm bảo nó "phù hợp với đường lối" và không phải là một sự đòi hỏi "gây rối".
Chỉ riêng vòng luẩn quẩn ở cấp nhà máy này đã có thể mất vài tuần, với hàng chục chữ ký và đóng dấu qua lại giữa các phòng ban nội bộ.
Sau khi thoát khỏi nhà máy, văn bản này không đi thẳng đến người có quyền quyết định cao nhất. Nó đi đến Bộ Năng lượng và Điện khí hóa (Minenergo) ở Moskva.
Nhưng nó không lên thẳng bàn Bộ trưởng.
Nó sẽ được gửi đến một "cục" chuyên trách, gọi là glavk (главк), quản lý các nhà máy điện hạt nhân.
Ở đây, một đội quân quan chức bàn giấy sẽ mổ xẻ nó.
Yêu cầu này có phù hợp với Kế hoạch 5 năm không?
Chi phí lấy từ đâu?
Nó có ảnh hưởng đến chỉ tiêu của các nhà máy khác không?
Giai đoạn này có thể kéo dài hàng tháng trời, và văn bản sẽ được chuyền qua hàng chục văn phòng, mỗi nơi thêm vào một ghi chú, một yêu cầu giải trình, hoặc đơn giản là ngâm nó ở đó mãi không thèm giải quyết.
Nếu yêu cầu này đòi hỏi một công nghệ mới hoặc vật liệu đặc biệt, mọi thứ còn tồi tệ hơn.
Bộ Năng lượng sẽ phải gửi công văn sang các bộ khác để "tham khảo ý kiến" – một quy trình gọi là soglasovanie (согласование).
Cần thép đặc biệt? Phải hỏi Bộ Công nghiệp Luyện kim.
Cần linh kiện điện tử? Phải hỏi Bộ Công nghiệp Điện tử.
Mỗi bộ này lại có một bộ máy quan liêu y hệt, và họ chẳng có lý do gì phải vội vã trả lời. Quá trình tham vấn liên bộ này có thể kéo dài vô tận, từ vài tháng đến vài năm.
Nếu yêu cầu này đủ lớn để thay đổi kế hoạch sản xuất, nó phải được trình lên Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (Gosplan). Đây là cơ quan quyền lực nhất trong nền kinh tế, là nơi phân bổ mọi nguồn lực từ cây kim, sợi chỉ đến các lò phản ứng hạt nhân.
Đối với Gosplan, bất kỳ thay đổi nào cũng là một sự phiền toái vì nó làm xáo trộn bản kế hoạch tổng thể hoàn hảo trên giấy của họ. Việc thuyết phục được Gosplan gần như là không thể đối với một yêu cầu nhỏ lẻ.
Cuối cùng, nếu một quyết định cực kỳ quan trọng được thông qua ở cấp cao nhất, có thể là bởi một Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng hoặc bởi một nghị quyết của Trung ương Đảng, mệnh lệnh sẽ bắt đầu hành trình đi xuống.
Nhưng nó không đi nhanh hơn.
Lệnh từ trên xuống sẽ lại đi qua từng lớp cửa một.
Mỗi cấp (Bộ, Cục, Ban) sẽ nhận lệnh, diễn giải nó, rồi ban hành một chỉ thị riêng của mình để gửi xuống cấp dưới.
Khi mệnh lệnh cuối cùng đến tay Giám đốc nhà máy Chernobyl, nó có thể đã bị biến dạng hoặc đi kèm với hàng tá yêu cầu báo cáo và thủ tục rườm rà đến mức việc thực thi trở nên vô cùng khó khăn.
Về chi phí, nó không chỉ là lương của hàng ngàn, hàng vạn công chức ngồi trong các văn phòng ở Moskva và Kiev.
Chi phí lớn nhất là thời gian và sự bất lực.
Một vấn đề kỹ thuật đơn giản có thể mất 2-3 năm để được giải quyết.
Chính cái hệ thống này đã tạo ra một văn hóa làm việc độc hại: hoặc là không làm gì cả để tránh rắc rối, hoặc là phải tìm cách đi đường tắt.
Người ta phải dùng đến blat (блат) – tức là các mối quan hệ cá nhân, quen biết, lại quả – để vượt qua các rào cản quan liêu.
Cái quy trình quan liêu này chính là một trong những nguyên nhân sâu xa của thảm họa. Đáng lẽ người ta có thể xử lý cho thảm hoạ này ít nguy hiểm hơn nhưng không, chính hệ thống quan liêu đã đổ dầu vào lửa chỉ không ai muốn mình chịu trách nhiệm.
Kỹ sư hạt nhân Liên Xô
Đây là những người đứng ra vận hành cũng là chịu trách nhiệm chính chỉ vì bị ép tuân theo mệnh lệnh chính trị vô lý để đạt chỉ tiêu.
Lò đào tạo ra những kỹ sư và chuyên gia hạt nhân cho Liên Xô đều là những trường đại học kỹ thuật hàng đầu.
Đứng đầu trong số này là Viện Vật lý Kỹ thuật Moskva (MEPhI) và Viện Năng lượng Moskva (MPEI).
Đây được coi là những "Harvard" và "MIT" của ngành khoa học-kỹ thuật Xô Viết, nơi quy tụ những bộ óc xuất sắc nhất.
Ngoài ra, các Viện Bách khoa (Polytechnic Institute) lớn ở các nước cộng hòa khác, như Viện Bách khoa Kiev, cũng có những khoa chuyên ngành năng lượng và hạt nhân quan trọng.
Nền giáo dục của họ cực kỳ chuyên sâu. Một sinh viên không học "kỹ sư" chung chung; anh ta sẽ được đào tạo để trở thành "kỹ sư tuabin hơi cho nhà máy điện hạt nhân" hoặc "chuyên gia vật lý lò phản ứng".
Sau khi tốt nghiệp, sinh viên không tự đi xin việc. Họ phải tuân theo một hệ thống phân công bắt buộc của nhà nước gọi là raspredelenie (распределение).
Nhà nước đã bao cấp cho việc học, và giờ mày phải trả ơn bằng cách làm việc ở nơi nhà nước chỉ định trong vòng ba năm. Đây chính là con đường chính thức để một sinh viên mới ra trường có mặt tại Chernoby.
Và đây là lúc Blat (bôi trơn) xuất hiện.
Một vị trí ở Chernobyl, làm việc trong thành phố Pripyat, được coi là một "vị trí béo bở" vào thời điểm đó.
Pripyat là một thành phố mới, hiện đại, có tiêu chuẩn sống cao hơn nhiều so với mặt bằng chung của Liên Xô: nhà ở tốt hơn, cửa hàng cung cấp đầy đủ hàng hóa hơn, lương bổng cũng cao hơn.
Do đó, để được "phân bổ" về đây thay vì một nhà máy hẻo lánh ở Siberia hay vùng Ural, blat là một công cụ cực kỳ hữu hiệu.
Một cú điện thoại từ một ông bố bà mẹ có chức sắc, một lời gửi gắm của một giáo sư có ảnh hưởng, hay một mối quan hệ qua lại nào đó có thể giúp hồ sơ của một sinh viên được ưu tiên cho suất đi Chernobyl.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ.
Blat có thể giúp một kỹ sư trẻ có một khởi đầu tốt.
Nhưng để leo lên các vị trí quản lý cấp cao như Giám đốc hay Kỹ sư trưởng, con đường đó đòi hỏi nhiều hơn là quan hệ.
Nó yêu cầu một quá trình cày cuốc lâu dài trong hệ thống, phải chứng tỏ được năng lực (tức là khả năng hoàn thành chỉ tiêu) và quan trọng hơn cả là lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, nằm trong danh sách quy hoạch cán bộ của hệ thống nomenklatura.
Quy trình để một sinh viên trở thành kỹ sư vận hành trong phòng điều khiển ở Chernobyl là một con đường dài.
Khi một kỹ sư trẻ mới được phân công về nhà máy, anh ta sẽ không được vào phòng điều khiển ngay.
Anh ta sẽ bắt đầu từ những vị trí thấp nhất, có thể là đi tuần tra các thiết bị, làm việc ở các bộ phận phụ trợ để học hỏi và làm quen với cỗ máy khổng lồ này.
Việc thăng tiến dựa trên thâm niên, thành tích công tác, và phải vượt qua các kỳ thi nội bộ cực kỳ khắt khe để được cấp phép vận hành các thiết bị cao hơn. Con đường này có thể mất nhiều năm.
Về chất lượng đào tạo so với phương Tây, đây là một nghịch lý.
Về mặt lý thuyết, giáo dục của Liên Xô trong các lĩnh vực khoa học cơ bản như vật lý, toán học, và nhiệt động lực học là cực kỳ tốt, không hề thua kém, thậm chí có phần nhỉnh hơn phương Tây ở một số khía cạnh .
Các kỹ sư của họ không hề ngu dốt; họ là những người rất thông minh, được trang bị kiến thức lý thuyết vững chắc.
Tuy nhiên, điểm yếu chết người nằm ở văn hóa thực hành và ứng dụng:
Thứ nhất, văn hóa an toàn (safety culture) gần như không tồn tại. An toàn bị coi là một thứ xa xỉ, một rào cản đối với sản xuất. Không có một cơ quan quản lý hạt nhân độc lập và có thực quyền như ở phương Tây để giám sát và phạt nặng các vi phạm. An toàn là việc nội bộ của nhà máy, và nó thường bị hy sinh cho chỉ tiêu.
Thứ hai, họ lạc hậu về công nghệ điều khiển và mô phỏng.
Trong khi các nhà máy phương Tây đã bắt đầu sử dụng máy tính để chạy các mô phỏng phức tạp và hỗ trợ hệ thống điều khiển tự động, thì ở Chernobyl, mọi thứ vẫn dựa nhiều vào các thiết bị analog cũ kỹ và sự tính toán thủ công của con người.
Thứ ba, sự chuyên môn hóa quá sâu đã tạo ra những "chuyên gia đường hầm".
Một kỹ sư tuabin có thể không hiểu sâu về động học của lõi lò phản ứng, và ngược lại. Họ thiếu một tư duy hệ thống (systems thinking) để hiểu sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận của nhà máy.
Liên Xô đã tạo ra những bộ óc sắc bén nhưng lại nhốt họ trong một hệ thống què quặt.
Họ đào tạo ra những chuyên gia lý thuyết hàng đầu, nhưng lại buộc những chuyên gia đó phải làm việc trong một môi trường thực hành thiếu an toàn, lạc hậu về công nghệ, và bị bóp nghẹt bởi áp lực chính trị.
Chất lượng con người có thể tốt, nhưng chất lượng của cả hệ thống vận hành thì đã mục ruỗng từ gốc.
Đêm trước ngày thảm hoạ diễn ra
Nó xuất phát từ một mệnh lệnh chính trị trịch trượng phô trương.
Như đã nói về cái công nghệ lò phản ứng RBMK. Từ bản chất đã rủi ro mất an toàn khi lò quá nhiệt kể cả khi tắt đi.
Liên Xô đã thực hiện một cuộc thử nghiệm "thông minh" đến tuyệt vọng nhằm cố đấm ăn xôi để chứng minh sự an toàn của tất cả các lò RBMK khác đang hoạt động trên khắp Liên Xô nhằm tránh xảy ra một cơn địa chấn về kinh tế và làm bẽ mặt quốc thể trước phương Tây.
Họ làm như thế nào?
Giả sử trong trường hợp nhà máy mất toàn bộ điện từ bên ngoài (kịch bản mất điện toàn phần) các máy bơm nước làm mát khẩn cấp sẽ cần khoảng 60-75 giây để khởi động vì chúng chạy bằng động cơ diesel.
Trong khoảng một phút chết người đó, lõi lò phản ứng sẽ không có nước làm mát và có nguy cơ tan chảy.
Đây là một điểm yếu mà các kỹ sư Liên Xô biết rõ.
Họ đã nghĩ ra một giải pháp được cho là "thông minh": khi lò phản ứng ngừng hoạt động, các tua-bin hơi nước khổng lồ vẫn tiếp tục quay theo quán tính trong vài phút.
Ý tưởng là khai thác năng lượng từ vòng quay quán tính này để cung cấp điện tạm thời cho các máy bơm, bắc cầu qua cái "khoảng trống 60 giây" đó.
Cuộc thử nghiệm vào đêm 26 tháng 4 chính là để kiểm tra cái giả thuyết "thông minh" này.
Về mặt giấy tờ, đây là một phần bắt buộc trong quy trình nghiệm thu Lò phản ứng số 4.
Trước khi một lò phản ứng có thể được chính thức bàn giao và đi vào vận hành thương mại hoàn toàn, tất cả các hệ thống của nó phải được kiểm tra và ký nhận.
Cuộc thử nghiệm này là một trong những hạng mục cuối cùng trong danh sách đó.
Và đây là lần thứ tư thực hiện sau ba lần thất bại trước đó vào các năm 1982, 1984 và 1985.
Vì năng lượng tạo ra từ các tua-bin không đủ để cấp cho các máy bơm như thiết kế đúng là một sự bẽ mặt với các kỹ sư và nhà quản lý lò phản ứng.
Trước đó 10 năm vào ngày 30 tháng 11 năm 1975, tại Nhà máy điện hạt nhân Leningrad, một nhà máy "chị em" với Chernobyl và sử dụng cùng một loại lò phản ứng RBMK, một sự cố nghiêm trọng đã xảy ra.
Trong quá trình vận hành, một kênh nhiên liệu đã bị vỡ, gây rò rỉ phóng xạ.
Một ủy ban điều tra đã được thành lập, và họ đã phát hiện ra một sự thật gây sốc: khi các kỹ sư cố gắng tắt lò phản ứng, họ đã quan sát thấy một sự tăng vọt công suất đột ngột và không thể giải thích được, chính là hiệu ứng do cái đầu than chì của thanh điều khiển gây ra.
Một báo cáo chi tiết về sự cố này và về lỗ hổng thiết kế chết người của các thanh điều khiển đã được viết và gửi lên các cấp cao nhất của ngành năng lượng hạt nhân và các cơ quan quản lý của Liên Xô.
Họ biết.
Các nhà thiết kế lò phản ứng RBMK, đứng đầu là Viện Kurchatov, biết. Các bộ ngành liên quan đều biết. Họ biết rằng trong những điều kiện vận hành nhất định, cái nút được thiết kế để cứu mạng người lại có thể trở thành kẻ châm ngòi cho một vụ nổ.
Nhưng đối mặt với sự thật này sẽ tạo ra một cơn ác mộng về hậu cần, kinh tế và chính trị.
Thừa nhận cái lỗi này đồng nghĩa với việc thừa nhận rằng tất cả các lò phản ứng RBMK đang hoạt động trên toàn Liên Xô đều không an toàn.
Giải pháp kỹ thuật đúng đắn duy nhất là phải cho dừng hoạt động tất cả các lò phản ứng này và tiến hành một chiến dịch tốn kém và mất thời gian khổng lồ để thay thế hàng chục ngàn thanh điều khiển.
Việc này sẽ gây ra thiếu hụt điện năng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến các Kế hoạch 5 năm, và quan trọng hơn cả, là một cú tát trời giáng vào niềm tự hào của nền khoa học kỹ thuật Xô Viết.
Vì vậy, cỗ máy quan liêu đã làm điều mà nó giỏi nhất: che đậy và đưa ra một giải pháp trên giấy tờ.
Thay vì sửa lỗi phần cứng, họ đã chọn cách sửa lỗi bằng một cuốn sổ tay hướng dẫn. Bản báo cáo về sự cố Leningrad đã được đóng dấu "Tối mật" và cất vào kho lưu trữ.
Sau đó, họ ban hành một loạt các quy định vận hành mới, cực kỳ phức tạp, về cơ bản là đổ toàn bộ trách nhiệm lên đầu các kỹ sư vận hành.
Họ yêu cầu các kỹ sư phải liên tục tính toán và duy trì một chỉ số gọi là "biên độ phản ứng hoạt động" (ORM), tức là phải đảm bảo luôn có một số lượng thanh điều khiển tối thiểu nằm trong lõi lò để ngăn chặn hiệu ứng tích cực của đầu than chì.
Nói một cách dân dã, nó giống như việc biết rằng phanh của một loại xe buýt bị lỗi, nhưng thay vì thu hồi và sửa chữa toàn bộ số xe buýt đó, nhà sản xuất lại chỉ gửi cho các tài xế một cuốn cẩm nang dày cộp hướng dẫn họ cách lái xe sao cho không bao giờ phải phanh gấp.
Và chính những kỹ sư ở nhà máy điện Chernobyl cũng không hề hay biết gì cái lỗi hệ thống này.
Họ bị buộc phải chứng minh rằng thiết kế mình học ở Moskva hoạt động được. Áp lực phải thành công trong lần thử nghiệm cuối cùng trên Lò phản ứng số 4, trước khi nó đi vào kỳ bảo trì theo lịch, là cực kỳ lớn.
Còn đối với cấp lãnh đạo Liên Xô thay vì đối mặt với sự thật và tìm một giải pháp kỹ thuật khác (có thể là một hệ thống pin dự phòng tốt hơn, hoặc thiết kế lại hệ thống máy phát diesel), họ đã chọn con đường duy ý chí: ép cho thiết kế hiện tại phải hoạt động.
Đây là lỗi hệ thống từ cỗ máy quan liêu như đã nói.
Nó đến từ các viện thiết kế, những người không muốn thừa nhận sản phẩm của mình có lỗi.
Nó đến từ Bộ Năng lượng (Minenergo), cơ quan không muốn phải báo cáo lên cấp trên rằng họ đang vận hành một dàn nhà máy điện có nguy cơ rủi ro cao.
Nó đến từ các quan chức Đảng, những người có nhiệm vụ duy trì câu chuyện về sự ưu việt của công nghệ Xô Viết.
Việc hoàn thành cuộc thử nghiệm này sẽ trở thành một cái "dấu tích" trên giấy tờ, một bằng chứng (dù giả tạo) rằng "vấn đề đã được giải quyết", cho phép mọi người thở phào và đẩy trách nhiệm đi chỗ khác.
Vậy cái gì đã đẩy nó vào đúng cái đêm định mệnh đó?
Đó là một mệnh lệnh hoàn toàn khác, một mệnh lệnh đặc trưng cho sự rối loạn của hệ thống.
Cú ngả rẽ định mệnh sáng ngày 25 tháng 4
Ban đầu cuộc thử nghiệm được thực hiện với đội ngũ kỹ sư giàu kinh nghiệm nhất, những người đã được chuẩn bị và phổ biến quy trình.
Tuy nhiên, khi họ đang từ từ giảm công suất lò phản ứng để chuẩn bị, một cuộc gọi từ nhà điều độ lưới điện ở Kiev gọi đến.
Một nhà máy điện khác ở đâu đó đã bất ngờ ngừng hoạt động, và lưới điện cần Chernobyl tiếp tục cung cấp điện để đáp ứng nhu cầu.
Lệnh từ nhà điều độ là: "Tạm dừng việc giảm công suất, giữ lò phản ứng nối lưới".
Nhà máy, với tư cách là một nhà cung cấp, buộc phải tuân theo. Cuộc thử nghiệm bị hoãn lại gần 10 tiếng đồng hồ.
Trong suốt thời gian đó, lò phản ứng bị giữ ở mức 50% công suất, một trạng thái không ổn định kéo dài khiến cho một sản phẩm phụ của phản ứng hạt nhân là Xenon-135 tích tụ, "đầu độc" và làm cho lò phản ứng càng trở nên khó điều khiển hơn.
Để hiểu chuyện gì đã xảy ra, hãy hình dung lò phản ứng như một ngọn lửa.
Để lửa cháy, nó cần nhiên liệu (neutron).
Khi lửa cháy, nó tạo ra khói (sản phẩm phụ của phân hạch). Một trong những loại "khói" đó là I-ốt 135 (Iodine-135).
Bản thân I-ốt 135 không quá nguy hiểm, nhưng nó sẽ phân rã và biến thành một thứ cực kỳ độc hại cho ngọn lửa: Xenon-135.
Xenon-135 là một "miếng bọt biển" hút neutron siêu hạng. Nó nuốt chửng các neutron cần thiết để duy trì phản ứng dây chuyền.
Khi lò phản ứng hoạt động ổn định ở công suất cao, một sự cân bằng được thiết lập: Lượng Xenon-135 sinh ra từ I-ốt sẽ bị chính dòng neutron cực mạnh của lò phản ứng "đốt cháy" và tiêu hủy.
Lò phản ứng tự dọn dẹp "rác" của chính nó.
Nhưng khi họ nhận lệnh tạm dừng và giữ lò ở mức 50% công suất trong nhiều giờ, thảm họa bắt đầu âm thầm diễn ra.
Ở công suất thấp, dòng neutron yếu đi, không đủ sức để "đốt cháy" Xenon.
Trong khi đó, một lượng lớn I-ốt 135 đã tích tụ từ trước vẫn tiếp tục phân rã, sinh ra ngày càng nhiều Xenon-135. Cái "bọt biển" hút neutron ngày càng lớn, từ từ bóp nghẹt ngọn lửa.
Bây giờ đến cái domino định mệnh.
Mệnh lệnh "Tạm dừng việc giảm công suất, giữ lò phản ứng nối lưới" đến từ đâu?
Nó đến từ một sự cố cách Chernobyl hàng trăm kilomet về phía nam.
Theo các phân tích chi tiết, bao gồm cả cuốn sách "Midnight in Chernobyl" của Adam Higginbotham, một tuabin tại một nhà máy điện lớn khác - Nhà máy điện hạt nhân Nam Ukraine (South Ukraine Nuclear Power Plant) - đã bất ngờ gặp sự cố và ngắt kết nối khỏi lưới điện.
Việc này tạo ra một lỗ hổng công suất lớn và đột ngột trong toàn bộ lưới điện của nước cộng hòa Ukraine.
Người điều độ lưới điện ở Kiev, khi nhìn vào bản đồ năng lượng, đã thấy một thảm họa tiềm tàng: một nhà máy lớn vừa sập nguồn, và nhà máy lớn thứ hai là Chernobyl Unit 4 cũng đang trong quá trình giảm công suất để đi đến ngắt kết nối.
Nếu cả hai cùng offline, lưới điện có nguy cơ sụp đổ, gây mất điện trên diện rộng.
Từ góc nhìn của anh ta, một quyết định hoàn toàn hợp lý và cấp bách được đưa ra: gọi cho Chernobyl và ra lệnh cho họ giữ lại, tiếp tục phát điện để bù vào phần thiếu hụt.
Người điều độ này không hề biết rằng mình đang can thiệp vào một cuộc thử nghiệm an toàn cực kỳ nhạy cảm và nguy hiểm.
Và cũng không ai biết tên người này là ai, một người ẩn danh đúng nghĩa.
Các tài liệu chính thức của IAEA (Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế) đến các biên bản điều trần của Liên Xô và cả những cuốn sách lịch sử chi tiết nhất như của Adam Higginbotham hay Serhii Plokhy, người này chỉ được nhắc đến với chức danh: "người điều phối lưới điện Kiev" (the Kiev grid controller) hoặc "người điều phối của Kievenergo".
Có một vài lý do cho sự ẩn danh này.
Thứ nhất, trong hệ thống Xô Viết, cá nhân thường bị lu mờ trước chức năng của tập thể.
Anh ta chỉ là một "bánh răng" trong cỗ máy, thực hiện một nhiệm vụ được cho là hợp lý vào thời điểm đó.
Quyết định của anh ta, xét trên thông tin anh ta có, là hoàn toàn đúng đắn theo quy trình vận hành lưới điện: một nhà máy lớn sập nguồn, anh ta phải tìm cách bù đắp để tránh sụp đổ cả mạng lưới.
Anh ta không phải là người ra quyết định cuối cùng, mà chỉ là người thực thi nhiệm vụ giữ cho lưới điện ổn định.
Thứ hai, việc đổ lỗi cho một cá nhân ở cấp thấp như vậy không phải là mục tiêu của các cuộc điều tra sau này.
Cuộc điều tra của Liên Xô tập trung vào việc đổ lỗi cho các kỹ sư vận hành tại nhà máy, mà cụ thể là Dyatlov và ban quản lý, để bảo vệ cho những sai sót trong thiết kế của lò phản ứng.
Các cuộc điều tra quốc tế sau này lại tập trung vào việc vạch ra những lỗi hệ thống, từ thiết kế lò phản ứng cho đến văn hóa an toàn yếu kém. Trong bức tranh lớn đó, tên của một người điều phối viên trở nên không còn quan trọng.
Người điều phối đó, dù là ai, cũng chỉ là một nạn nhân khác của hệ thống. Anh ta ngồi trước một bảng điều khiển ở Kiev, nhìn thấy những con số và biểu đồ, và đưa ra một quyết định mà bất kỳ người điều phối lưới điện nào khác trên thế giới cũng có thể đưa ra trong hoàn cảnh tương tự.
Anh ta không thể biết rằng ở đầu dây bên kia, quyết định của mình đang đẩy một lò phản ứng vốn đã bất ổn vào một trạng thái nguy hiểm chết người.
Tại sao sự cố ở một nhà máy lại có thể gây ra hiệu ứng dây chuyền nghiêm trọng như vậy?
Đó chính là bản chất của lưới điện kế hoạch hóa tập trung của Liên Xô.
Nó được thiết kế để sản xuất sản lượng điện khổng lồ và ổn định để phục vụ cho các tổ hợp công nghiệp nặng, nhưng lại thiếu tính linh hoạt và dự phòng.
Nó luôn hoạt động ở mức cận biên, không có nhiều công suất dự trữ.
Mất đi một tổ máy lớn không phải là một sự bất tiện nhỏ, nó là một cuộc khủng hoảng có thể làm sụp cả một khu vực.
Hệ thống được xây dựng cho sự vĩ đại về quy mô, chứ không phải cho sự bền bỉ và khả năng chống chịu trước các cú sốc.
Như vậy, chuỗi domino hoàn hảo đã được thiết lập:
Domino 1 (Hệ thống): Một lưới điện quốc gia được thiết kế cứng nhắc, thiếu dự phòng, dễ bị tổn thương.
Domino 2 (Sự cố): Một nhà máy điện ở Nam Ukraine gặp sự cố, tạo ra lỗ hổng công suất.
Domino 3 (Mệnh lệnh): Một điều độ viên ở Kiev, hành động hợp lý theo tình thế, ra lệnh cho Chernobyl trì hoãn việc ngắt lò, không hề biết đến cuộc thử nghiệm.
Domino 4 (Vật lý): Sự trì hoãn này khiến lò phản ứng số 4 bị giữ ở trạng thái không ổn định trong nhiều giờ, dẫn đến việc bị đầu độc nặng bởi Xenon-135.
Domino 5 (Con người): Khi được phép tiếp tục, lò phản ứng đã trở nên cực kỳ khó điều khiển. Để chống lại chất độc Xenon và tăng công suất trở lại, đội ngũ vận hành dưới sự chỉ đạo của Dyatlov đã phải thực hiện những biện pháp cực đoan, vi phạm mọi quy tắc an toàn, cuối cùng dẫn đến vụ nổ.
Một sự cố ở một nơi, gây ra bởi sự yếu kém của cả một hệ thống, đã kích hoạt một thảm họa ở một nơi khác.
Ca trực đêm 26 tháng 4 năm 1986
Sau khi Ê-kíp giàu kinh nghiệm ban ngày ra về giao ca đêm cho những người ít kinh nghiệm hơn với sự chỉ huy cũng là đạo diễn cho thảm kịch là Anatoly Dyatlov, Phó Tổng kỹ sư vận hành.
Ông ta không phải là người của ca trực, nhưng ông ta ở đó để giám sát và đảm bảo cuộc thử nghiệm phải được hoàn thành.
Dyatlov là hiện thân của áp lực hệ thống, một người đàn ông cứng rắn, độc đoán, bị ám ảnh bởi việc phải có kết quả.
Cái danh mục thử nghiệm thất bại ba lần trước đó là cái gai trong mắt của ban lãnh đạo nhà máy với lò phản ứng số 4 sắp hoàn thành giai đoạn nghiệm thu để đi vào bảo trì.
Chỉ còn sót lại chính cuộc thử nghiệm này là hạng mục cuối cùng , khó nhằn nhất.
Giám đốc Bryukhanov và Kỹ sư trưởng Fomin muốn tống khứ nó đi cho xong chuyện, để họ có thể báo cáo lên Moskva rằng "đã hoàn thành 100% kế hoạch nghiệm thu Lò phản ứng số 4".
Và họ đã giao nhiệm vụ này cho người phó có năng lực, quyết đoán, và cũng tàn nhẫn nhất của mình: Dyatlov.
Vậy Dyatlov làm điều đó để làm gì, cho ai?
Ông ta làm cho chính mình, và thông qua đó, phục vụ cho tất cả những kẻ ngồi trên ông ta.
Cho ban lãnh đạo: Hoàn thành thử nghiệm có nghĩa là Giám đốc Bryukhanov sẽ nhận được Huân chương Lenin, Kỹ sư trưởng Fomin sẽ được thăng chức.
Cho hệ thống: Bộ Năng lượng sẽ báo cáo thành tích lên Trung ương Đảng rằng một tổ máy công suất 1000 MW nữa đã được đưa vào vận hành thành công, góp phần hoàn thành Kế hoạch 5 năm.
Cho bản thân Dyatlov: Đây là một canh bạc sự nghiệp. Nếu thành công, ông ta sẽ củng cố danh tiếng là một người quản lý "nói được làm được", một người có thể giải quyết những vấn đề mà người khác bó tay. Điều này sẽ mở đường cho chức Kỹ sư trưởng, hoặc thậm chí là Giám đốc một nhà máy khác trong tương lai.
Và điều này ảnh hưởng trực tiếp đến "tem phiếu", hay đúng hơn là toàn bộ chất lượng sống của ông ta.
Trong hệ thống bao cấp, tiền lương chỉ là một phần.
Phần quan trọng hơn là các đặc quyền. Nếu cuộc thử nghiệm thành công và lò phản ứng được nghiệm thu, sẽ có một đợt thưởng lớn (premiya), có thể bằng nhiều tháng lương, cho toàn bộ ban quản lý và các kỹ sư chủ chốt.
Thất bại đồng nghĩa với việc mất khoản tiền thưởng béo bở này.
Nhưng nó còn hơn cả tiền. Thành công sẽ mang lại những thứ mà tiền không mua được:
Sự nghiệp: Như đã nói, đó là con đường thăng tiến, mà thăng tiến đồng nghĩa với mọi thứ.
Đặc quyền: Cấp bậc cao hơn có nghĩa là một căn hộ lớn hơn, được ưu tiên trong danh sách chờ mua xe hơi (một thứ có thể phải chờ cả chục năm), được quyền mua sắm ở các cửa hàng đặc biệt dành cho cán bộ (nơi có hàng hóa chất lượng cao không bán ra ngoài), và được cấp những suất nghỉ dưỡng (putevka) ở những khu nghỉ mát cao cấp tại Biển Đen.
Nếu thất bại lần thứ tư, Dyatlov sẽ là người hứng chịu hậu quả trực tiếp.
Nó sẽ là một vết đen trong hồ sơ, cho thấy ông ta bất tài. Ông ta sẽ mất khoản tiền thưởng kếch xù, và con đường sự nghiệp sẽ bị khựng lại.
Nỗi sợ thất bại và lòng tham thành công đã trở thành một động lực khủng khiếp.
Ông ta không chỉ làm việc vì mệnh lệnh, ông ta đang chiến đấu cho địa vị, cho đặc quyền, và cho cái tôi của một chuyên gia không chấp nhận thất bại.
Ông ta đã đặt cược tất cả những thứ đó vào một cuộc thử nghiệm, và cái giá phải trả là một thảm họa toàn cầu.
Dưới quyền ông ta là ê-kíp của ca trực đêm, những người lính thực sự trên chiến trường.
Hai cái tên quan trọng nhất trong phòng điều khiển là:
Aleksandr Akimov, Trưởng ca của Lò phản ứng số 4. Một kỹ sư giàu kinh nghiệm, khoảng 33 tuổi. Về mặt danh nghĩa, ông ta là người chỉ huy cao nhất của ca trực.
Leonid Toptunov, Kỹ sư điều khiển lò phản ứng chính. Đây là một chàng trai rất trẻ, mới 25 tuổi, và đây mới là lần đầu tiên anh ta làm việc độc lập ở bảng điều khiển trong một ca đêm. Anh ta là người có nhiệm vụ trực tiếp điều khiển các thanh kiểm soát. Và nực cười là anh ta chỉ mới có vài tháng kinh nhiệm.
Đêm đó, anh ta bị ném vào vị trí nóng nhất, vào thời điểm nguy hiểm nhất. Toptunov giống như Yuri Gagarin bay vào vũ trụ, biết rõ rằng con tàu có một lỗi chết người, đã cố gắng cảnh báo ban chỉ huy mặt đất, nhưng bị họ quát vào tai nghe:
"Cứ bay đi, nếu không mày sẽ không bao giờ được nhìn thấy mặt đất nữa".
Họ đã phải đối mặt với một cơn ác mộng theo từng giai đoạn.
Đầu tiên, khi bắt đầu lại quy trình sau nhiều giờ trì hoãn, lò phản ứng, vốn đã bị "đầu độc" bởi Xenon, đã tụt công suất một cách thảm hại xuống dưới 30 megawatt, gần như bằng không.
Đây là một mức cực kỳ nguy hiểm và theo quy định, họ phải dừng lò ngay lập tức.
Đây là lúc bi kịch con người bắt đầu.
Chàng kỹ sư trẻ Toptunov đã nhận ra nguy hiểm và từ chối tiếp tục.
Nhưng Dyatlov, với quyền lực và sự áp đảo của mình, đã chửi bới và đe dọa sẽ hủy hoại sự nghiệp của cả Toptunov và Akimov nếu họ không tìm cách nâng công suất lò phản ứng lên mức cần thiết cho cuộc thử nghiệm.
Dưới sự ép buộc tàn bạo đó, Akimov đã phải ra lệnh cho Toptunov làm một việc bị cấm tuyệt đối: rút gần như toàn bộ các thanh kiểm soát ra khỏi lõi lò phản ứng để "đánh thức" nó dậy.
Đúng như lời cảnh báo từ 10 năm trước ở Nhà máy điện hạt nhân Leningrad , Họ đã rút quá nhiều thanh điều khiển ra ngoài.
Khi cuộc thử nghiệm bắt đầu, các máy bơm chính được ngắt, dòng nước làm mát giảm đi.
Nhiệt độ trong lò tăng vọt.
Chỉ trong vài giây, Akimov nhìn thấy các chỉ số trên bảng điều khiển nhảy dựng lên một cách điên loạn, báo hiệu một sự tăng công suất không thể kiểm soát.
Trong khoảnh khắc hoảng loạn đó, ông đã làm điều mà bất kỳ kỹ sư hạt nhân nào cũng sẽ làm: ông hét lên và nhấn nút AZ-5, nút SCRAM, hệ thống tắt khẩn cấp lò phản ứng.
Khi Akimov nhấn nút AZ-5, ông không hề biết mình đang kích hoạt một cái bẫy chết người đã được gài sẵn từ năm 1975. Ông đã hành động đúng theo bản năng và logic của một kỹ sư, nhưng lại bị chính thiết kế của cỗ máy và sự dối trá của hệ thống phản bội.
Hành động này giống như tháo phanh của một chiếc xe tải đang lao xuống dốc. Lò phản ứng lúc này đã mất đi gần như toàn bộ hệ thống an toàn của nó, trở nên cực kỳ bất ổn.
Nhưng họ đã phải đối mặt với sự phản bội cuối cùng của cỗ máy. Nút AZ-5, đáng lẽ phải cứu họ, lại chính là thứ đã giết họ.
Do lỗi thiết kế chết người của các thanh kiểm soát (có đầu bịt bằng than chì), khi chúng bắt đầu đi vào, thay vì dập tắt phản ứng ngay lập tức, chúng lại tạm thời làm phản ứng ở đáy lò bùng lên dữ dội.
Trong một phần nghìn giây, công suất lò phản ứng đã tăng vọt lên gấp nhiều lần mức thiết kế.
Hai vụ nổ liên tiếp xé toạc lò phản ứng.
Vụ nổ đầu tiên là hơi nước, vụ thứ hai là do hydro, thổi bay nóc lò nặng 2.000 tấn và phun ra bầu trời một cột lửa và bụi phóng xạ chết người.
Những gì họ phải đối mặt sau đó là địa ngục trần gian.
Họ không thể tin rằng lò phản ứng đã nổ. Hệ thống báo động, dây điện, mọi thứ đều bị phá hủy.
Các bức tường rung chuyển.
Dyatlov, trong cơn sốc, vẫn khăng khăng rằng đó chỉ là một vụ nổ bồn chứa hydro và lò phản ứng vẫn còn nguyên.
Akimov và Toptunov, dù đã bắt đầu cảm thấy những dấu hiệu đầu tiên của nhiễm độc phóng xạ (nôn mửa không kiểm soát, da chuyển màu đồng), vẫn tin rằng họ phải làm mát lò phản ứng.
Trong một hành động dũng cảm nhưng vô vọng, Akimov, Toptunov và một số người khác đã ở lại nhà máy suốt nhiều giờ, lội qua dòng nước nhiễm xạ nặng, cố gắng mở các van bằng tay để bơm nước vào một lõi lò phản ứng không còn tồn tại.
Họ đã nhận những liều phóng xạ chí tử trong nỗ lực cứu vãn một thứ đã tan thành mây khói.
Kết cục của họ thật bi thảm.
Akimov và Toptunov đều qua đời sau đó vài tuần tại một bệnh viện ở Moskva vì hội chứng nhiễm xạ cấp tính, da họ đã bị hủy hoại hoàn toàn.
Cho đến cuối cùng, họ vẫn tin rằng mình đã làm đúng quy trình. Họ không hề hay biết chính cái nút AZ-5 lại là nút bấm tử thần.
Dyatlov sống sót, bị kết án 10 năm tù nhưng được ân xá sớm vì lý do sức khỏe, và qua đời năm 1995 vì bệnh tim, một phần do hậu quả của phóng xạ.
Ông ta luôn cho rằng thảm họa là do lỗi thiết kế của lò phản ứng, chứ không phải do hành động của mình.
Họ là những con người được đào tạo để vận hành một cỗ máy, nhưng cuối cùng lại bị chính cỗ máy đó và hệ thống tạo ra nó nghiền nát.
Che giấu tội ác bằng mọi cách
Thảm kịch sau khi vụ nổ xảy ra chỉ mới bắt đầu , tấn bi kịch tồi tệ hơn diễn ra chỉ vì Liên Xô cố gắng bưng bít vụ việc bởi chính hệ thống mù dở của mình.
Khi chuông báo cháy reo lên tại trạm cứu hỏa số 2 ở Pripyat và trạm số 17 ngay tại nhà máy vào khoảng 1 giờ 28 phút sáng ngày 26 tháng 4, mệnh lệnh mà họ nhận được chỉ là: "Cháy trên mái nhà máy điện Chernobyl
Không một lời nào về một vụ nổ hạt nhân. Không một lời cảnh báo về phóng xạ. Trong đầu họ, đây là một vụ cháy công nghiệp, có thể là do chập điện hoặc tuabin quá nhiệt. Họ lao đi làm nhiệm vụ như hàng trăm lần trước đó.
Những đội cứu hỏa đầu tiên, dưới sự chỉ huy của hai viên trung úy trẻ là Vladimir Pravik và Viktor Kibenok, đã đến hiện trường trong vòng vài phút. Họ mặc trên người những bộ đồ lính cứu hỏa bằng vải bạt thông thường, đội mũ bảo hiểm và đi ủng. Những thứ này có thể cản được nhiệt độ cao, nhưng lại hoàn toàn vô hình và vô dụng trước kẻ thù thực sự: tia gamma.
Cảnh tượng họ đối mặt không giống bất cứ thứ gì họ từng thấy. Lửa bốc lên từ mái nhà, nhưng nó không có màu vàng cam bình thường.
Nó có một màu sắc kỳ lạ, một dải màu xanh lam, đỏ rực và những màu sắc khác mà sau này người ta mới biết là do các đồng vị phóng xạ đang cháy tạo ra.
Trên mặt đất xung quanh, họ nhìn thấy những mảnh vật liệu màu đen, sáng lấp lánh.
Một số người lính cứu hỏa tò mò còn nhặt chúng lên. Họ không biết rằng họ đang cầm trên tay những mảnh than chì từ lõi lò phản ứng, mỗi mảnh là một nguồn phát phóng xạ cực mạnh, đủ để giết chết một người trong thời gian ngắn.
Nhiệm vụ của họ là dập tắt đám cháy trên mái của phòng tuabin, nơi liền kề với lò phản ứng số 4 đã bị phá hủy, để ngăn ngọn lửa lan sang Lò phản ứng số 3.
Họ đã leo lên nóc nhà, kéo vòi rồng, và chiến đấu với ngọn lửa trong một môi trường mà mức độ phóng xạ cao đến không thể đo đếm nổi. Họ đang đứng ngay cạnh một lõi lò phản ứng hạt nhân đang mở toang hoác ra trời.
Chỉ trong vòng 15-20 phút, kẻ thù vô hình bắt đầu tấn công. Họ cảm thấy một vị kim loại nồng nặc trong miệng.
Da mặt họ có cảm giác như bị hàng ngàn cây kim châm chích.
Rồi họ bắt đầu ho dữ dội, không thể kiểm soát, và nôn mửa. Đó là những dấu hiệu đầu tiên của hội chứng nhiễm xạ cấp tính (ARS). Cơ thể họ đang bị các tia gamma bắn phá, phá hủy các tế bào từ bên trong.
Sau khoảng một giờ, khi đám cháy trên mái cơ bản được khống chế, những người lính cứu hỏa này được đưa đi.
Da của họ đã chuyển sang một màu nâu sẫm, được gọi là "vết rám nắng hạt nhân".
Nhưng bi kịch nhất là giai đoạn tiếp theo. Sau khi được đưa đến bệnh viện ở Pripyat rồi được chuyển lên Bệnh viện số 6 Moskva, họ trải qua một "giai đoạn tiềm ẩn".
Nó được gọi là hội chứng nhiễm xạ cấp tính (Acute Radiation Syndrome).
Cơn nôn mửa chấm dứt, họ có vẻ khỏe lại, thậm chí còn có thể đi lại, nói chuyện, viết thư về cho gia đình.
Họ và các bác sĩ đã có một tia hy vọng mong manh. Nhưng đó chỉ là sự im lặng của tử thần. Trong giai đoạn này, tủy xương, lá lách và hệ bạch huyết của họ, những nơi sản sinh ra tế bào máu và miễn dịch, đã chết hoàn toàn.
Rồi giai đoạn cuối cùng ập đến, một sự tra tấn kéo dài trong hai tuần. Hệ miễn dịch của họ không còn nữa.
Da của họ, bị tấn công bởi cả tia gamma từ xa và các hạt beta dính trực tiếp lên người, bắt đầu phồng rộp, thối rữa và bong ra khỏi cơ thể.
Câu chuyện của Vasily Ignatenko, một trong những người lính cứu hỏa đầu tiên, được vợ anh là Lyudmila kể lại, đã trở thành biểu tượng cho sự kinh hoàng này.
Da anh tuột ra từng mảng, tóc rụng hết. Phổi và gan của anh bắt đầu phân hủy. Anh ho ra từng mảnh nội tạng của chính mình.
Cơ thể anh trở thành một vết thương hở khổng lồ. 28 người lính cứu hỏa và nhân viên nhà máy trong đợt ứng phó đầu tiên đó đã lần lượt qua đời trong sự đau đớn tột cùng như vậy.
Họ là những người anh hùng đã ngăn chặn một thảm họa còn tồi tệ hơn, nhưng họ đã bị ném vào trận chiến đó một cách mù quáng. Họ bị chính quyền của mình lừa dối.
Cái giá cho sự dũng cảm của họ là một cái chết mà không kẻ thù nào có thể nghĩ ra.
Và khi họ chết, cơ thể họ vẫn còn nhiễm xạ đến mức phải được chôn trong những chiếc quan tài bằng kẽm được hàn kín, đặt dưới những tấm bê tông dày ở một nghĩa trang tại Moskva, bị phong ấn vĩnh viễn khỏi thế giới.
Cuộc họp né tránh trách nhiệm.
Ngay sau khi nhận được tin báo từ Giám đốc nhà máy Viktor Bryukhanov, các quan chức cao nhất của thành phố Pripyat đã tập trung tại boong-ke bên dưới tòa nhà hành chính.
Đám đảng ủy này bao gồm những cái tên chủ chốt: chính Bryukhanov và Kỹ sư trưởng Nikolai Fomin, các bí thư Đảng ủy của nhà máy và thành phố, Chủ tịch Ủy ban Chấp hành thành phố (thị trưởng) Vladimir Voloshko, và người đứng đầu lực lượng dân phòng địa phương.
Màn kịch lấp liếm và giảm nhẹ sự việc bắt đầu ngay lập tức.
Bryukhanov, dù đã tận mắt thấy mái lò phản ứng số 4 bị thổi bay, vẫn báo cáo trong cuộc họp rằng đây là một tai nạn nghiêm trọng, nhưng lò phản ứng vẫn còn nguyên vẹn và đang được làm mát.
Ông ta đã nói dối, hoặc tự lừa dối mình, bởi vì sự thật quá khủng khiếp để có thể chấp nhận. Fomin, một kẻ cuồng tín vào công nghệ hạt nhân, cũng hùa theo.
Họ vẽ ra một bức tranh về một vụ nổ bồn chứa hydro, một sự cố có thể kiểm soát được.
Dựa trên cái tiền đề giả dối này, họ đã đưa ra một loạt quyết định "trấn an dư luận" mà thực chất là những hành động bưng bít chết người.
Quyết định đầu tiên và tức thời nhất là phong tỏa thành phố.
Họ ra lệnh cho lực lượng công an (militsiya) chặn tất cả các con đường ra vào Pripyat.
Không một ai được rời đi. Lý do chính thức là để "tránh gây hoang mang". Nhưng lý do thực sự là để ngăn chặn thông tin rò rỉ ra thế giới bên ngoài.
Quyết định thứ hai, tàn nhẫn không kém, là cắt toàn bộ đường dây điện thoại đường dài. Các cuộc gọi từ Pripyat ra bên ngoài đều bị chặn. Người dân bị cô lập hoàn toàn, không thể báo tin cho người thân, không thể biết được chuyện gì đang thực sự xảy ra.
Đây là một hành động kiểm soát thông tin kinh điển của KGB, được thực hiện để đảm bảo rằng câu chuyện duy nhất được kể là câu chuyện của nhà nước.
Trong khi đó, họ vẫn để cho thành phố hoạt động như bình thường. Các trường học vẫn mở cửa vào sáng thứ Bảy. Trẻ em vẫn chơi đùa ngoài đường. Các đám cưới vẫn được cử hành. Họ đã biến 50.000 cư dân của Pripyat thành những con tin trong một thí nghiệm phóng xạ khổng lồ, tất cả chỉ để duy trì ảo ảnh về sự "bình thường".
Báo cáo họ gửi về Moskva cũng phản ánh chính sự dối trá ban đầu này. Cuộc gọi của Bryukhanov cho Vladimir Dolgikh, Bí thư Trung ương Đảng, vào rạng sáng đã thiết lập nên câu chuyện chính thức:
"Có một tai nạn, một vụ hỏa hoạn, nhưng lò phản ứng an toàn và đang được làm mát. Mức độ phóng xạ trong tầm kiểm soát".
Thông điệp này được lặp lại trong các báo cáo điện tín sau đó lên tận bộ chính trị ĐCSLX .
Moskva, cách đó hàng ngàn cây số, chỉ nhận được những thông tin đã được lọc qua lăng kính của sự sợ hãi và chối bỏ. Họ không biết rằng họ đang ra quyết định dựa trên những lời nói dối.
Những cái tên chịu trách nhiệm chính cho màn kịch này ở cấp địa phương là:
Viktor Bryukhanov, Giám đốc nhà máy: Người khởi xướng lời nói dối ban đầu.
Nikolai Fomin, Kỹ sư trưởng: Người củng cố và bảo vệ lời nói dối đó bằng uy tín kỹ thuật của mình.
Các quan chức Đảng ủy thành phố Pripyat: Những người đã thực thi các biện pháp phong tỏa và kiểm soát thông tin, mà đứng đầu là các bí thư không được nêu tên rõ ràng và Chủ tịch Ủy ban Chấp hành Vladimir Voloshko.
Họ không phải là những con quỷ.
Họ là sản phẩm của một hệ thống nơi việc báo cáo tin xấu là một tội ác còn nặng hơn cả việc gây ra thảm họa.
Họ đã hành động theo bản năng sinh tồn của một quan chức Xô Viết: che đậy, giảm nhẹ, và chờ lệnh từ cấp trên.
Sự im lặng và trì hoãn của họ trong 36 giờ đầu tiên đã khiến hàng ngàn người phải trả giá bằng sức khỏe và tính mạng.
Họ đã chọn bảo vệ hệ thống thay vì bảo vệ người dân, và đó là tội ác không thể tha thứ của họ.
Và chỉ một năm sau đó vào tháng 7 năm 1987, không phải ở một phòng xử án trang trọng tại Moskva, mà là trong một hội trường văn hóa được trưng dụng vội vã ở thị trấn Chernobyl, ngay trên vùng đất nhiễm xạ., họ đã phải chịu trách nhiệm như con dê tế thần để gánh hậu quả cho cả hệ thống khỏi tự soi vào cái lõi ngu ngốc và mù quáng.
Ba bị cáo chính – Bryukhanov, Fomin và Dyatlov – xuất hiện với vẻ ngoài tàn tạ, ốm yếu, trông như những cái bóng của chính mình sau hơn một năm điều tra và phơi nhiễm phóng xạ. Fomin thậm chí đã suy sụp tinh thần và cố gắng tự tử trước phiên tòa.
Nhưng phiên toà giống một vở kịch hơn là nơi đi tìm công lý và sự thật.
Công tố viên đóng vai người thực thi công lý của nhà nước, hùng hồn lên án sự liều lĩnh, vô kỷ luật và vi phạm quy tắc một cách trắng trợn của các bị cáo. Lời buộc tội của ông ta tập trung gần như hoàn toàn vào những sai lầm trong đêm vận hành thử nghiệm, biến các bị cáo thành những kẻ bất tài và ngạo mạn.
Tội danh chính, vũ khí hạng nặng nhất mà công tố viên sử dụng, nằm ở Luật hình sự Liên Xô ở điều 220, khoản 2. Tội danh này nói về việc:
"vi phạm các quy định an toàn tại các nhà máy có nguy cơ cháy nổ cao, gây ra thiệt hại về người và các hậu quả nghiêm trọng khác
Đây là tội danh hoàn hảo để nhắm vào Dyatlov, Fomin và Bryukhanov. Nó tập trung thẳng vào những hành động của họ trong đêm xảy ra tai nạn: tiến hành một cuộc thử nghiệm không được chuẩn bị kỹ lưỡng, vi phạm hàng loạt các quy trình vận hành, và rút quá nhiều thanh điều khiển ra khỏi lò phản ứng.
Bằng cách tập trung vào tội danh này, phiên tòa đã vẽ nên một bức tranh rằng nhà máy vốn an toàn, nhưng chính những người này đã vận hành nó một cách cẩu thả và liều lĩnh, gây ra vụ nổ. Tội danh này mang mức án cao nhất là 10 năm tù, và nó đã được áp dụng triệt để.
Nhưng đó chưa phải là tất cả. Để "gia cố" cho bản án, đặc biệt là nhắm vào vai trò quản lý của Bryukhanov, họ còn sử dụng thêm hai điều luật nữa: Điều 165 và Điều 167.
Điều 165 là tội "Lạm dụng quyền lực hoặc chức vụ". Tội danh này là cái móc pháp lý để buộc tội Bryukhanov không chỉ với tư cách là một kỹ sư, mà còn là một nhà quản lý tồi. Nó bao gồm việc ông ta đã không đảm bảo việc đào tạo chuyên môn cho nhân viên, thiếu kiểm soát kỷ luật lao động, và quan trọng hơn cả, nó là cái cớ để trừng phạt, dù chỉ là bề nổi, hành vi báo cáo láo và che giấu thông tin ngay sau vụ nổ. Tuy nhiên, như đã nói, tòa án không đào sâu vào khía cạnh này để tránh làm liên lụy đến các cấp cao hơn.
Điều 167 là tội "Tắc trách" hoặc "Thiếu trách nhiệm trong thi hành công vụ gây hậu quả nghiêm trọng". Đây là một tội danh mang tính "bổ sung", có thể áp dụng cho cả ba người, về cơ bản nói rằng họ đã không làm tròn bổn phận của mình, thể hiện sự yếu kém trong quản lý và giám sát, dẫn đến thảm kịch.
Thẩm phán đóng vai người điều khiển vở kịch. Vai trò của ông ta là đảm bảo phiên tòa đi đúng kịch bản, bác bỏ hoặc phớt lờ những nỗ lực của các bị cáo khi họ cố gắng đề cập đến các lỗi thiết kế của lò phản ứng. Bất kỳ lập luận nào thách thức câu chuyện "lỗi con người" đều bị coi là không liên quan.
Luật sư bào chữa có vai diễn bi kịch nhất. Trong một phiên tòa trình diễn của Liên Xô, họ không thể thực sự bào chữa. Họ không thể phản biện lại cáo trạng của nhà nước hay đưa ra các bằng chứng về lỗi hệ thống. Làm vậy đồng nghĩa với việc tự sát về mặt nghề nghiệp. Vai trò của họ chỉ là tạo ra một ảo giác về một quy trình pháp lý công bằng, có tranh tụng, chủ yếu là xin giảm nhẹ hình phạt dựa trên các tình tiết như nhân thân tốt hoặc áp lực công việc.
Khán giả quốc tế, tức là một vài nhà báo nước ngoài được phép tham dự, cũng là một phần của vở kịch. Sự hiện diện của họ là để Liên Xô có thể tuyên bố với thế giới rằng "chúng tôi đã xét xử một cách công khai". Nhưng họ bị kiểm soát gắt gao, chỉ được tiếp cận những phần được cho phép của phiên tòa.
Bằng cách kết hợp các tội danh này, phiên tòa đã xây dựng một câu chuyện rất rành mạch: Bryukhanov là một nhà quản lý yếu kém và tắc trách (Điều 165, 167). Fomin, với tư cách kỹ sư trưởng, cũng thiếu trách nhiệm tương tự. Và Dyatlov, kẻ thực thi tại hiện trường, đã vi phạm một cách trắng trợn các quy tắc an toàn (Điều 220).
Và kết cục của vở kịch, mức án được đưa ra, đã phơi bày toàn bộ sự giả dối của nó. So với một thảm kịch đã làm ô nhiễm một nửa châu Âu, gây ra cái chết và bệnh tật cho hàng trăm ngàn người, bản án là một sự sỉ nhục. Bryukhanov, Fomin và Dyatlov mỗi người nhận mức án tối đa cho tội danh của họ: 10 năm trong trại lao động.
Phiên tòa đã cố tình lảng tránh việc đào sâu vào chuỗi báo cáo gian dối sau vụ nổ.
Lý do rất đơn giản. Nếu thực sự truy tố tội báo cáo láo một cách nghiêm túc, câu hỏi tiếp theo sẽ là:
"Họ đã báo cáo láo cho ai? Và tại sao những người ở Kiev và Moskva lại tin hoặc không hành động dựa trên những lời nói dối đó?".
Việc này sẽ vạch ra một con đường trách nhiệm dẫn thẳng lên các cấp cao nhất của Đảng và chính phủ. Nó sẽ phơi bày sự tê liệt và đồng lõa của cả một hệ thống. Đó là điều không thể chấp nhận được. Tội che giấu thông tin là tội của cả hệ thống, vì vậy, họ chỉ có thể trừng phạt những kẻ thực thi ở cấp thấp nhất.
Cuối cùng, phiên tòa đã thành công trong việc tạo ra ba vật tế thần. Ba người đàn ông đã bị bỏ tù, và hệ thống có thể tuyên bố rằng công lý đã được thực thi. Vở kịch đã kết thúc, và những kẻ chịu trách nhiệm thực sự – một thiết kế lò phản ứng đầy rẫy lỗi lầm và một nền văn hóa chính trị được xây dựng trên sự dối trá – đã thoát tội và tiếp tục ngồi ở hàng ghế quan tòa.
Nhưng đó là câu chuyện của 1 năm sau, bây giờ quay trở lại với Chernobyl chỉ vài giờ sau khi nó nổ tung, tin tức truyền về Moskva dựa trên màn báo cáo láo của Bryukhanov.
Màn kịch bị chọc thủng
Trong cái mớ hỗn loạn của những lời nói dối và sự hoảng loạn tại Chernobyl, có một người đã nhìn thấu sự thật kinh hoàng, nhưng tiếng nói của ông đã bị bóp nghẹt bởi chính cỗ máy quan liêu mà ông phục vụ.
Người đó là Valery Legasov, Phó Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Kurchatov, một trong những nhà hóa học vô cơ hàng đầu của Liên Xô.
Ông không phải là người đầu tiên nhận được tin, nhưng ông là nhà khoa học cấp cao đầu tiên hiểu được quy mô thực sự của thảm họa chỉ qua những mẩu thông tin rời rạc.
Ngay sau vụ nổ lúc 1:23 sáng 26/4/1986, Bryukhanov (giám đốc nhà máy) và Fomin (kỹ sư trưởng) đã gọi điện về Kiev rồi từ đó thông tin được truyền đến Bộ Năng lượng ở Moscow.
Bản báo cáo đầu tiên? “Không có nổ. Không có rò rỉ phóng xạ. Chỉ là cháy mái nhà. Đám cháy đã được kiểm soát.”
Bộ Chính trị, bao gồm cả Tổng bí thư Mikhail Gorbachev, ban đầu hoàn toàn không tin vào kịch bản tồi tệ nhất. Họ tin vào báo cáo chính thức: lò phản ứng an toàn, chỉ là một vụ cháy nhỏ.
Tuy nhiên, khi các chỉ số phóng xạ từ các trạm quan trắc bắt đầu cho thấy những con số bất thường và các báo cáo từ hiện trường ngày càng mâu thuẫn, sự hoang mang bắt đầu len lỏi vào Điện Kremlin.
Họ biết có chuyện gì đó không ổn, nhưng không biết nó tồi tệ đến mức nào.
Các nhà phóng xạ học Liên Xô công tác tại Viện Địa hoá và Vật lý Môi trường ở Moscow, một trong những người đầu tiên phân tích mẫu phóng xạ bay tới từ phía Ukraine, dù ở cách hiện trường cả ngàn cây số.
Valery Legasov không hề đơn độc trong cuộc chiến của mình.
Đằng sau ông là hàng chục, thậm chí hàng trăm nhà khoa học, kỹ sư, nhà vật lý khác trên khắp Liên Xô.
Có những người đã phát hiện ra mức phóng xạ tăng vọt ở Minsk và các thành phố khác và bắt đầu gọi điện báo động.
Có những người đã tham gia vào ủy ban điều tra, phỏng vấn các nhân chứng, phân tích dữ liệu. Và có những người, từ nhiều năm trước, đã biết về các khiếm khuyết của lò RBMK và đã cố gắng lên tiếng trong im lặng.
Họ không ở Pripyat.Họ ở Moscow nhưng khi thấy lớp bụi mịn đọng lại trên kính phòng thí nghiệm, đã nghi ngờ. Không mùi. Không màu.
Nhưng máy đo Geiger thứ không biết nói dối réo loạn như có ai vừa dội bom nguyên tử ngay trên mái nhà.
Lúc đó, họ đang làm việc với mẫu không khí và nước ngưng tụ thu thập từ các trạm quan trắc xung quanh Moscow.
Thay vì thấy các đồng vị phóng xạ bình thường (như uranium tự nhiên hay thorium rất yếu), bà thấy dấu vết của iodine-131, cesium-137 và tellurium-132 – những đồng vị chỉ xuất hiện khi lõi hạt nhân bị phá vỡ.
Đó là dấu hiệu của thần chết rõ ràng rằng đây không phải rò rỉ do thử bom mà là một nhà máy điện nổ tung.
Họ biết đây không thể là thử nghiệm vũ khí – vì sẽ có rung địa chấn, có sóng áp suất. Không có. Chỉ có thứ bụi chết người đang rơi từ trời xuống, vô hình, âm thầm, và đến từ phía tây nam – tức Ukraine, Belarus, hoặc Baltic.
Cái đáng sợ nhất: khi họ báo cáo, phản ứng của cấp trên là im lặng. Nhiều người bảo “máy bị hỏng”, “ nhầm rồi”, hoặc “đừng làm quá vấn đề – tránh hoang mang không cần thiết”.
Sau đó họ gửi một bản memo nội bộ, trong đó liệt kê sự xuất hiện bất thường của iodine-131, cesium-137 và một số đồng vị phân hạch khác – và cảnh báo đây là sản phẩm của sự cố lõi lò, không thể nào là rò rỉ nhỏ được.
Bản memo này sau đó được chuyển tay qua các tầng kỹ thuật của Viện Kurchatov, nơi Legasov đang làm Phó Viện trưởng và chính điều đó đã khiến ông nghi ngờ sâu sắc vào bản tường trình chính thức từ Bryukhanov và Fomin (tức ban lãnh đạo nhà máy Chernobyl).
Ulana Khomyuk trong phim của HBO không phải là người thật. Mỗi hành động của Khomyuk trong phim đều là phản chiếu của những việc làm có thật của nhiều người:
Khi bà ta phát hiện phóng xạ ở Minsk và gọi điện đi khắp nơi, bà ta đại diện cho các nhà khoa học có thật ở Belarus và Ukraine đã làm chính xác điều đó.
Khi bà ta đến Moskva và phỏng vấn Dyatlov, Akimov, Toptunov trong bệnh viện, bà ta đại diện cho các điều tra viên đã cố gắng ghi lại lời khai của những người trong cuộc trước khi họ qua đời.
Khi bà ta lục tìm các tài liệu trong kho lưu trữ và phát hiện ra báo cáo về sự cố ở nhà máy Leningrad, bà ta đại diện cho những nhà khoa học đã biết về sự thật bị che giấu đó.
Và khi bà ta đứng bên cạnh Legasov, thách thức ông, thúc đẩy ông nói ra sự thật, bà ta đại diện cho tiếng nói lương tâm khoa học mà chính Legasov cũng đang đấu tranh bên trong mình.
Vì vậy, Khomyuk không có thật, nhưng những gì bà ta làm và đại diện thì hoàn toàn có thật.
Bà là một "bóng ma" được tạo ra để vinh danh những con người bằng xương bằng thịt, những anh hùng vô danh đã chiến đấu cho sự thật trong bóng tối.
Việc tạo ra bà không làm giảm đi tính chính xác của bộ phim, mà ngược lại, nó giúp người xem hiểu được một sự thật sâu sắc hơn: Legasov không phải là một người hùng đơn độc, ông là gương mặt đại diện của cả một tập thể những nhà khoa học chân chính bị mắc kẹt trong một hệ thống dối trá.
Lúc này, Legasov, với tư cách là một chuyên gia hàng đầu, đã được triệu tập vào một ủy ban chính phủ khẩn cấp được thành lập để đối phó với vụ việc.
Trong cuộc họp đầu tiên của ủy ban chỉ một mô tả ngắn gọn là “Có một sự cố kỹ thuật tại tổ máy số 4, cần chuyên gia hỗ trợ phân tích.”, khi nghe mô tả về một đám cháy có màu sắc kỳ lạ và những mảnh vỡ xung quanh nhà máy, Legasov đã ngay lập tức nhận ra thảm kịch.
Ông biết rằng chỉ có một thứ có thể cháy với màu sắc như vậy và văng ra khỏi lò phản ứng: đó là than chì từ lõi lò.
Điều này chỉ có thể có nghĩa là lõi lò phản ứng đã bị phá hủy hoàn toàn và đang mở toang ra khí quyển. Ông biết nếu iodine-131 đã bay tới Moscow thì nghĩa là lõi lò đã nổ tung, không thể có chuyện “cháy nhẹ”.
Ông đã cố gắng giải thích điều này cho các quan chức trong ủy ban, nhưng tiếng nói khoa học của ông đã va phải một bức tường của sự hoang mang và chủ nghĩa quan liêu.
Bộ Chính trị, vẫn còn bán tín bán nghi và không muốn tin vào một sự thật có thể làm rung chuyển cả hệ thống, đã quyết định cử một đội đặc nhiệm đến tận nơi để xác minh.
Họ cần một người có đủ quyền lực chính trị để ra quyết định và một chuyên gia có đủ trình độ để hiểu chuyện gì đang xảy ra.
Người được cử đi với tư cách là người đứng đầu Ủy ban Chính phủ là Boris Shcherbina, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô.
Shcherbina là một quan chức Đảng cứng rắn, một người chuyên giải quyết các cuộc khủng hoảng công nghiệp, nhưng ông ta hoàn toàn không có kiến thức về vật lý hạt nhân.
Ông ta là hiện thân cho quyền lực của Đảng.
Và người được cử đi cùng ông ta, với tư cách là chuyên gia khoa học, chính là Valery Legasov.
Khi họ đến Pripyat vào tối ngày 26 tháng 4, gần 20 giờ sau vụ nổ, Shcherbina vẫn mang trong mình sự hoài nghi và thái độ trịch thượng của một quan chức cấp cao.
Ông ta vẫn tin vào báo cáo chính thức rằng lò phản ứng còn nguyên vẹn.
Trong cuộc họp đầu tiên tại boong-ke ở Pripyat, khi các tướng lĩnh và chuyên gia địa phương báo cáo về mức độ phóng xạ cực cao, Shcherbina đã nổi giận, cho rằng họ đang gieo rắc hoang mang.
Bọn Bryukhanov, Formin vẫn cứ khăng khăng con số 3,6 roentgen/giờ vẫn nằm ở mức an toàn vì máy đo Geiger tiêu chuẩn mà mấy nhà máy hạt nhân dùng chỉ ở mức đó, còn nếu cao hơn thì nó dừng.
Giống như thằng mù tả màu: nó chỉ đúng trong sự mù quáng.
Chỉ đến khi Tướng Vladimir Pikalov, Tổng chỉ huy Lực lượng Hóa học của Quân đội Liên Xô, đã quyết định chấm dứt màn kịch.
Pikalov không phải là một quan chức bàn giấy. Ông là một người lính, một chuyên gia về chiến tranh hóa học, sinh học và phóng xạ. Ông hiểu rằng mày không thể tranh cãi với vật lý.
Khi ông quay trở lại boong-ke, người phủ đầy bụi, ông không cần phải nói nhiều. Ông chỉ cần đưa ra con số mà thiết bị của mình đã ghi lại. Các nguồn tin khác nhau ghi lại những con số khác nhau, nhưng tất cả đều là những con số không tưởng. Bộ phim HBO đã kịch tính hóa nó thành "15.000 roentgen".
Các báo cáo khác thì nói rằng máy đo đã ghi nhận hàng ngàn roentgen mỗi giờ ở những vị trí khác nhau.
Một con số có thể giết chết một người không được bảo vệ chỉ trong vài phút.
Trong căn hầm ngột ngạt đó, con số của Pikalov giống như một tiếng sét. Mọi cuộc tranh cãi chấm dứt. Sự im lặng bao trùm. Shcherbina chết lặng. Cái thế giới quan liêu dựa trên báo cáo giấy tờ của ông ta vừa bị một sự thật vật lý không thể chối cãi đập tan thành từng mảnh.
Đó chính là khoảnh khắc sự thật được xác lập. Nó không đến từ các cuộc họp hay các bản báo cáo, mà đến từ hành động liều lĩnh của một vị tướng đã dám đối mặt trực tiếp với con quái vật.
Từ giây phút đó, Shcherbina không còn tin vào Bryukhanov nữa. Ông ta quay sang Legasov, và cuộc chiến thực sự để cứu vãn thảm họa bắt đầu, hỏi rằng:
"Chuyện này nghĩa là sao?".
Legasov, với vẻ mặt mệt mỏi, đã trả lời một cách thẳng thắn:
"Nghĩa là lõi lò đã nổ tung, và chúng ta đang ở giữa một thảm họa hạt nhân có quy mô không thể tưởng tượng nổi".
Từ khoảnh khắc đó, bức tường dối trá bắt đầu sụp đổ. Shcherbina, từ một kẻ hoài nghi, đã buộc phải tin vào sự thật khoa học và trao quyền cho Legasov đưa ra các quyết định kỹ thuật. Nhưng đã quá muộn.
Gần một ngày trời đã trôi qua trong sự bưng bít và do dự, và cái giá phải trả cho sự chậm trễ đó là vô cùng đắt.
Bại lộ ra thế giới
Và khi Moskva không còn có thể che giấu bằng những người bị bịt mắt trong biên giới thì những cơn gió mang theo bụi phóng xạ vén tấm màn Chernobyl ra ngoài thế giới.
Vào sáng thứ Hai, ngày 28 tháng 4 năm 1986, tại Nhà máy điện hạt nhân Forsmark ở Thụy Điển cách đó 1.000km về phía Tây Bắc, một công nhân trên đường đi làm vào ca đã vô tình đi qua một cổng kiểm soát phóng xạ.
Chuông báo động reo lên inh ỏi.
Điều này thật vô lý, vì anh ta đang đi vào nhà máy, không phải đi ra.
Các kỹ sư Thụy Điển ngay lập tức cho rằng nhà máy của chính họ đang bị rò rỉ. Họ nhanh chóng sơ tán toàn bộ nhà máy trong sự hoảng loạn.
Nhưng sau khi kiểm tra kỹ lưỡng, họ không tìm thấy bất kỳ sự rò rỉ nào từ các lò phản ứng của mình. Cùng lúc đó, các trạm quan trắc khác trên khắp Scandinavia cũng bắt đầu báo cáo về mức độ phóng xạ trong không khí cao bất thường.
Các nhà khoa học Thụy Điển đã làm một việc rất nhanh gọn: họ phân tích các hạt phóng xạ trong không khí.
Các đồng vị mà họ tìm thấy, như I-ốt 131 và Xenon-133, là dấu vân tay đặc trưng của một lò phản ứng hạt nhân bị sự cố, không phải của một vụ nổ vũ khí hạt nhân. Sau đó, họ kiểm tra bản đồ khí tượng.
Hướng gió chỉ thẳng về một hướng: phía đông nam, từ lãnh thổ Liên Xô.
Bằng chứng đã quá rõ ràng. Chính phủ Thụy Điển ngay lập tức liên hệ với đại sứ quán Liên Xô ở Stockholm, yêu cầu một lời giải thích. Phản ứng ban đầu của Moskva là một lời nói dối trắng trợn và kinh điển:
"Chúng tôi không có thông tin gì về bất kỳ tai nạn hạt nhân nào trên lãnh thổ Liên Xô".
Nhưng lời nói dối đó chỉ tồn tại được vài giờ.
Cơn mưa phóng xạ tiếp tục lan rộng. Phần Lan, Đan Mạch, Na Uy, sau đó là Đức, Áo, Thụy Sĩ... tất cả đều ghi nhận mức độ phóng xạ tăng vọt. Áp lực quốc tế trở nên không thể chịu đựng nổi. Bức tường im lặng đã vỡ.
Vào 9 giờ tối ngày 28 tháng 4, kênh tin tức buổi tối của nhà nước Liên Xô, Vremya, đã đưa ra một thông báo ngắn ngủi, lạnh lùng, chỉ vỏn vẹn vài chục từ, thừa nhận rằng một "tai nạn" đã xảy ra tại nhà máy điện Chernobyl, một trong các lò phản ứng đã bị hư hại và "các biện pháp đang được tiến hành để khắc phục hậu quả".
Màn kịch đã hạ, nhưng theo một cách miễn cưỡng và nhục nhã nhất.
Thảm họa Chernobyl không được đưa ra tranh luận chính thức tại Hội đồng Bảo an như một cuộc khủng hoảng an ninh quốc tế hay một hành động xâm lược.
Áp lực và các cuộc "chất vấn" chủ yếu diễn ra qua các kênh ngoại giao song phương và đặc biệt là thông qua Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA).
Chính tại một phiên họp đặc biệt của IAEA ở Vienna vào tháng 8 năm 1986, Liên Xô mới thực sự bị "chất vấn" trước toàn thế giới.
Họ đã phải cử một phái đoàn, do chính Valery Legasov dẫn đầu, đến để trình bày một báo cáo chi tiết, và lần đầu tiên, tương đối trung thực về nguyên nhân và quy mô của thảm họa.
Đó là một khoảnh khắc của sự bẽ bàng chưa từng có, một siêu cường thế giới bị buộc phải thừa nhận những yếu kém chết người trong công nghệ và sự tắc trách của hệ thống trước cộng đồng khoa học quốc tế.
Thảm họa Chernobyl đã dạy cho Gorbachev và giới lãnh đạo Liên Xô một bài học cay đắng: trong thời đại của vệ tinh, của các cảm biến nhạy bén và của sự kết nối khoa học toàn cầu, chính sách bưng bít thông tin (iron curtain) đã trở nên lỗi thời.
Sự thật có thể bị trì hoãn, nhưng không thể bị chôn vùi vĩnh viễn, đặc biệt là khi nó được gió mang đi khắp châu lục.
Sơ tản thành phố: Lời nói dối trở về sau 3 ngày.
Sau khi Boris Shcherbina đối mặt với sự thật phũ phàng rằng lò phản ứng đã nổ tung, con người quan liêu và hoài nghi trong ông ta chết đi, nhường chỗ cho một vị chỉ huy quyết đoán và tàn nhẫn của cuộc chiến chống lại thảm họa.
Ông ta đã biến từ một kẻ không tin, trở thành người ra những mệnh lệnh có quy mô lớn nhất trong lịch sử thời bình.
Hành động quan trọng đầu tiên của Shcherbina, sau khi sự thật được xác nhận bởi Tướng Pikalov và nhà khoa học Valery Legasov, là ra lệnh sơ tán toàn bộ thành phố Pripyat.
Quyết định này được đưa ra vào rạng sáng ngày 27 tháng 4, sau gần 36 giờ trì hoãn chết người.
Shcherbina, người chỉ vài giờ trước đó còn bác bỏ việc sơ tán là "gieo rắc hoang mang" giờ đây đã hiểu rằng không còn lựa chọn nào khác.
Ông ta huy động một lực lượng khổng lồ: hàng ngàn chiếc xe buýt từ Kiev và các vùng lân cận được điều đến Pripyat.
Vào 2 giờ chiều ngày 27 tháng 4, một thông báo ngắn gọn được phát trên loa phóng thanh, yêu cầu 50.000 cư dân chuẩn bị "sơ tán tạm thời trong ba ngày" và chỉ được mang theo giấy tờ và một ít đồ dùng cá nhân.
Cuộc sơ tán diễn ra một cách có trật tự đến kỳ lạ, nhưng lời hứa "ba ngày" là một lời nói dối để trấn an.
Shcherbina và Legasov biết rằng những người này sẽ không bao giờ có thể quay trở lại nhà của họ.
Đối với gần 50.000 cư dân của Pripyat, cuộc sơ tán ngày 27 tháng 4 năm 1986 không phải là một chuyến đi tạm thời.
Đó là một cuộc đày ải vĩnh viễn, khởi đầu cho một bi kịch kéo dài suốt phần đời còn lại của họ, một bi kịch của bệnh tật, của sự kỳ thị và của một nỗi nhớ nhà không bao giờ nguôi.
Sau khi được đưa đi trên hàng ngàn chiếc xe buýt, họ đã bị phân tán khắp nơi trên Liên Xô.
Nhưng họ không được chào đón như những nạn nhân cần được che chở.
Thay vào đó, họ phải đối mặt với một kẻ thù mới: sự sợ hãi và kỳ thị. Họ bị gọi bằng một cái tên miệt thị là "Chernobyltsy" (người Chernobyl).
Ở những nơi họ đến, người dân địa phương xa lánh họ, sợ rằng họ mang theo "bệnh phóng xạ" như một thứ bệnh truyền nhiễm.
Con cái của họ bị bạn bè ở trường học trêu chọc và bắt nạt.
Họ mất nhà cửa, mất tài sản, mất cộng đồng, và giờ đây họ mất cả nhân phẩm. Họ trở thành những người tị nạn trên chính quê hương của mình.
Sau này, chính quyền đã xây dựng một thành phố mới tên là Slavutych để làm nơi ở cho nhiều công nhân nhà máy và gia đình của họ, nhưng nó không bao giờ có thể thay thế được Pripyat, thành phố trẻ trung và hiện đại mà họ đã từng gọi là nhà.
Về sức khỏe, những phận người đó đã phải gánh chịu những vết sẹo vô hình nhưng tàn khốc.
Dù liều phóng xạ họ nhận không đủ cao để gây ra Hội chứng Nhiễm xạ Cấp tính như những người lính cứu hỏa, nó đủ để gieo mầm cho những căn bệnh sẽ nảy nở nhiều năm sau đó.
Hậu quả rõ ràng và được chứng minh rõ nhất là một đại dịch ung thư tuyến giáp ở những người là trẻ em và thanh thiếu niên vào thời điểm xảy ra thảm họa.
Lý do là vì đám mây phóng xạ chứa một lượng lớn I-ốt 131.
Khi lò phản ứng nổ, một trong những chất độc hại nhất bay vào không khí là I-ốt 131 phóng xạ.
Tuyến giáp của con người, đặc biệt là của trẻ em, giống như một "nhà kho" luôn khao khát i-ốt để hoạt động. Nó không thể phân biệt được i-ốt thường và i-ốt 131 phóng xạ. Vì vậy, khi một đứa trẻ hít thở không khí hoặc uống sữa từ những con bò đã ăn cỏ nhiễm xạ, toàn bộ lượng I-ốt 131 đó sẽ được tuyến giáp "hút" vào và tích trữ lạ.
Hàng ngàn trường hợp đã được ghi nhận ở Ukraine, Belarus và Nga, một con số cao bất thường so với trước đây.
Giải pháp để chống lại mũi tên độc này lại cực kỳ đơn giản: những viên thuốc kali i-ốt (potassium iodide).
Nếu một người uống viên thuốc này trước khi hoặc ngay sau khi tiếp xúc với phóng xạ, tuyến giáp của họ sẽ được lấp đầy bằng i-ốt thường, an toàn. Nó giống như việc lấp đầy "nhà kho" bằng hàng thật. Khi những kẻ mạo danh I-ốt 131 đến, chúng sẽ không còn chỗ chứa và sẽ bị cơ thể đào thải ra ngoài.
Nhưng có một điều kiện tiên quyết: nó là một cuộc chạy đua với gió. Viên thuốc phải được uống kịp thời. Vài giờ sau khi đám mây phóng xạ đi qua, tác dụng của nó sẽ giảm đi đáng kể.
Liên Xô thất bại không phải vì họ không có thuốc. Họ thất bại vì ba lý do cốt lõi của hệ thống:
1.Sự Dối Trá Là Ưu Tiên Số Một:
Mày không thể vừa bí mật che giấu một thảm họa hạt nhân, vừa công khai phát hàng triệu viên thuốc chống phóng xạ cho người dân.
Hai hành động này triệt tiêu lẫn nhau. Việc phát thuốc sẽ là một lời thú tội, một sự thừa nhận rằng có một mối nguy hiểm chết người đang lan rộng.
Trong 36 giờ đầu tiên, và cả nhiều ngày sau đó, ưu tiên của Điện Kremlin là giữ thể diện và kiểm soát thông tin, không phải bảo vệ sức khỏe người dân. Họ đã chọn bảo vệ lời nói dối thay vì bảo vệ tuyến giáp của con cái họ.
2.Sự Tê Liệt Của Cỗ Máy Quan Liêu:
Ngay cả khi sự thật không thể che giấu được nữa, cỗ máy hành chính khổng lồ của Liên Xô cũng không thể phản ứng kịp.
Các kho dự trữ thuốc ở đâu? Ai có quyền ra lệnh phân phát? Làm thế nào để đưa thuốc đến hàng trăm ngôi làng hẻo lánh một cách nhanh chóng?
Hệ thống được thiết kế để thực hiện các kế hoạch 5 năm, chứ không phải để ứng phó với một cuộc khủng hoảng di chuyển với tốc độ của gió.
3.Sự Ngu Dốt Có Chủ Đích: Nhà nước đã cố tình để người dân của mình trong bóng tối.
Không có một cảnh báo nào trên TV hay đài phát thanh.
Người dân ở Kiev vẫn cho con cái họ tham gia diễu hành ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5 dưới một bầu trời nhiễm xạ. Họ vẫn tiếp tục uống sữa tươi từ những con bò ăn cỏ độc mà không hề hay biế.
Một số người, khi nghe tin đồn, đã tự tìm cách chữa trị bằng cách uống dung dịch i-ốt dùng để sát trùng vết thương, một chất cực độc gây bỏng nội tạng, trong một nỗ lực tuyệt vọng để tự cứu mình.
Các nghiên cứu dài hạn khác cũng cho thấy sự gia tăng nguy cơ mắc các bệnh như đục thủy tinh thể và các vấn đề về tim mạch ở nhóm dân số bị di tản.
Nhưng vết thương lớn nhất có lẽ là về tinh thần.
Tỷ lệ trầm cảm, rối loạn lo âu, và rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD) trong cộng đồng người Chernobyl là cực kỳ cao. Họ sống trong nỗi lo sợ thường trực về bệnh tật, về tương lai của con cái, và với nỗi đau mất mát không bao giờ nguôi ngoai. Nỗi sợ hãi vô hình về phóng xạ còn tàn phá sức khỏe của họ hơn cả chính bản thân bức xạ.
Còn thành phố Pripyat bây giờ thì sao?
Nồng độ phóng xạ đã giảm đi chưa?
Câu trả lời là có, đã giảm đi rất nhiều, nhưng nó vẫn là một nơi nguy hiểm.
Các đồng vị có chu kỳ bán rã ngắn như I-ốt 131 (8 ngày) đã biến mất từ lâu.
Nguồn phóng xạ chính hiện nay đến từ Caesium-137 và Strontium-90, với chu kỳ bán rã khoảng 30 năm. Gần 40 năm đã trôi qua, nên mức độ phóng xạ nền trong không khí đã giảm đáng kể, đủ an toàn cho các chuyến tham quan ngắn ngày có hướng dẫn viên.
Tuy nhiên, "an toàn" là một từ tương đối. Phóng xạ không phân bố đồng đều. Pripyat đầy rẫy những "điểm nóng" (hotspots).
Mày có thể đi bộ trên một con đường với mức phóng xạ an toàn, nhưng chỉ cần bước vào một đám rêu, chạm vào một vật kim loại bị bỏ lại, hoặc tệ nhất là đi xuống tầng hầm của bệnh viện, nơi những bộ quần áo của lính cứu hỏa đã bị vứt bỏ, máy đo Geiger sẽ kêu lên điên cuồng với mức phóng xạ có thể gây nguy hiểm chỉ sau vài giờ.
Các phép đo của những người đã liều lĩnh vào đó cho thấy mức phóng xạ có thể lên tới 1.200 micro-sievert mỗi giờ (µSv/h) hoặc hơn tại một số điểm nóng như chiếc ủng.
Để so sánh, giới hạn phơi nhiễm an toàn cho công chúng từ một địa điểm hạt nhân là khoảng 1.000 µSv trong một năm. Điều đó có nghĩa là, chỉ cần đứng ở đó một giờ đồng hồ, mày sẽ nhận đủ liều phóng xạ của cả một năm.
Nếu bây giờ nó còn nguy hiểm như vậy, hãy tưởng tượng vào cái đêm đó. Nồng độ phóng xạ cao hơn gấp nhiều, nhiều lần, vì các đồng vị có chu kỳ bán rã ngắn nhưng cường độ mạnh vẫn còn tồn tại. Những bộ quần áo đó không chỉ là những vật bị nhiễm xạ; chúng chính là những nguồn phát xạ chết người.
Khi những người lính cứu hỏa được đưa vào, các y tá và bác sĩ của Bệnh viện Pripyat đã lao vào cứu chữa mà không có bất kỳ đồ bảo hộ chống phóng xạ nào. Họ không được cảnh báo. Họ chỉ thấy những bệnh nhân bị bỏng nặng, buồn nôn và trong tình trạng sốc.
Họ đã phải đối mặt với một cơn ác mộng.
Họ tiếp xúc trực tiếp với những cơ thể đang phát ra tia gamma. Họ hít thở không khí chứa đầy bụi phóng xạ từ quần áo và hơi thở của các bệnh nhân.
Mỗi lần họ chạm vào da bệnh nhân, truyền dịch, hay lau rửa vết thương, họ đang tự nhận vào mình một liều phóng xạ. L
Lời kể của Lyudmila Ignatenko, vợ của người lính cứu hỏa Vasily, đã mô tả lại cảnh tượng kinh hoàng trong bệnh viện, nơi các y tá phải vật lộn để chăm sóc cho những người đàn ông đang phân rã từ bên trong.
Vậy chuyện gì đã xảy ra với họ? Đây là một trong những tội ác lớn nhất của sự che giấu: không có một con số thống kê chính thức, đáng tin cậy nào về số phận của đội ngũ y tế ở Pripyat đêm đó. Họ không được tính vào danh sách những nạn nhân trực tiếp.
Tuy nhiên, dựa trên những gì chúng ta biết về phóng xạ, có thể suy ra số phận của họ:
Họ không nhận liều phóng xạ cực lớn trong thời gian ngắn như những người lính cứu hỏa, nên hầu hết họ không chết vì Hội chứng Nhiễm xạ Cấp tính (ARS) trong vài tuần.
Thay vào đó, họ đã nhận những liều phóng xạ đủ cao để gây ra những hậu quả lâu dài. Nhiều người trong số các y tá và bác sĩ đó sau này đã mắc các bệnh ung thư (đặc biệt là ung thư máu, ung thư tuyến giáp), đục thủy tinh thể, và các bệnh mãn tính khác liên quan đến phóng xạ.
Cái chết của họ không nhanh chóng và kịch tính như những người lính cứu hỏa. Nó là một cái chết từ từ, đau đớn, kéo dài hàng năm, hàng thập kỷ sau đó. Họ chết trong im lặng, và cái chết của họ thường được ghi nhận là do "suy tim" hay "ung thư" thông thường, chứ không được chính thức công nhận là hậu quả trực tiếp của đêm làm việc định mệnh đó.
Họ là những anh hùng đã làm tròn lời thề Hippocrates, nhưng đã bị chính hệ thống mà họ phục vụ xóa sổ khỏi lịch sử. Họ đã bị bỏ lại phía sau, trở thành một phần của con số thống kê khổng lồ và vô danh của những nạn nhân dài hạn của Chernobyl.
Và còn đó những kẻ thù truyền kiếp như Plutonium-239, với chu kỳ bán rã là 24.100 năm.
Chất độc này sẽ còn tồn tại ở đó lâu hơn cả lịch sử văn minh của loài người.
Vì vậy, dù thiên nhiên đang dần chiếm lại thành phố, với cây cối mọc xuyên qua các tòa nhà và động vật hoang dã đi lại tự do, Pripyat sẽ không bao giờ an toàn cho con người định cư lâu dài.
Nó sẽ mãi mãi là một thành phố ma, một bảo tàng ngoài trời của một bi kịch không bao giờ kết thúc, một lời nhắc nhở rằng có những sai lầm mà con người không bao giờ có thể sửa chữa được.
Tiếp theo sau khi di tản quá chậm trễ, Shcherbina phải đối mặt với một vấn đề còn kinh khủng hơn: dập tắt ngọn lửa hạt nhân đang cháy âm ỉ trong lõi lò phản ứng, thứ đang phun ra hàng tấn vật liệu phóng xạ vào khí quyển.
Legasov giải thích rằng không thể dùng nước, vì nó sẽ tạo ra phản ứng hơi nước và có thể gây thêm các vụ nổ hydro.
Shcherbina ngay lập tức nắm lấy kế hoạch này.
Ông ta sử dụng quyền lực của mình để huy động các phi đội trực thăng quân sự từ khắp nơi.
Hàng trăm chuyến bay cảm tử đã được thực hiện. Các phi công, gần như không có đồ bảo hộ đúng chuẩn, đã bay lơ lửng trên miệng địa ngục, đối mặt với mức phóng xạ cực lớn để thả từng bao vật liệu xuống. Một chiếc trực thăng đã vướng vào cần cẩu và rơi thẳng xuống đống đổ nát.
Bất chấp nguy hiểm, Shcherbina vẫn ra lệnh tiếp tục. Ông ta hiểu rằng đây là một cuộc chiến tranh, và trong chiến tranh, phải có thương vong.
Trong vài ngày, họ đã ném hơn 5.000 tấn vật liệu vào miệng lò phản ứng.
Shcherbina đã biến Chernobyl thành một trung tâm chỉ huy quân sự. Ông ta làm việc gần như không ngủ, liên tục họp với các nhà khoa học, kỹ sư và tướng lĩnh.
Ông ta lắng nghe Legasov, người mà ban đầu ông ta coi thường, và dựa vào chuyên môn khoa học của ông để đưa ra các quyết định sống còn.
Mối quan hệ giữa hai người họ, một quan chức Đảng và một nhà khoa học, đã trở thành trục chính của nỗ lực khắc phục thảm họa. Shcherbina cung cấp quyền lực chính trị để thực thi, còn Legasov cung cấp tri thức khoa học để dẫn đường.
Từ một quan chức bàn giấy, Boris Shcherbina đã trở thành một vị tướng ngoài mặt trận.
Ông ta đã ra những mệnh lệnh tàn nhẫn, huy động hàng trăm ngàn người (được gọi là những người dọn dẹp - liquidators) vào vùng đất chết, nhưng những hành động đó, dù gây tranh cãi, có thể đã ngăn chặn một thảm họa còn tồi tệ hơn gấp nhiều lần.
Ông ta đã phải trả giá cho những ngày tháng ở Chernobyl bằng chính sức khỏe của mình và qua đời chỉ 4 năm sau đó.
Nhiệm vụ cảm tử của ba anh hùng vô danh
Trong khoảng một tuần sau vụ nổ đầu tiên, các nhà khoa học và ban chỉ huy ở Chernobyl đã phải đối mặt với một kịch bản tận thế thực sự, một mối đe dọa có thể khiến thảm họa ban đầu trông như một sự cố nhỏ. Vụ nổ hơi nước thứ hai mà họ lo sợ có một cơ chế vật lý đơn giản nhưng hậu quả thì không thể tưởng tượng nổi.
Hãy hình dung thế này. Sau vụ nổ đầu tiên, lõi lò phản ứng không còn là những thanh nhiên liệu rắn.
Nó đã tan chảy, tạo thành một khối dung nham phóng xạ cực nóng, hơn 2000 độ C, gồm uranium, than chì, cát và bê tông. Các nhà khoa học gọi khối dung nham chết người này là corium.
Khối corium này, nặng hàng trăm tấn, bắt đầu từ từ ăn mòn, làm tan chảy lớp bê tông dày bên dưới sàn lò phản ứng và đang trên đường đi xuống các tầng hầm của nhà máy.
Và ngay bên dưới lò phản ứng là một cái bẫy chết người mà chính các kỹ sư Liên Xô đã thiết kế: một hệ thống bể chứa nước khổng lồ, gọi là bể barboter (bubbler pools).
Các bể này chứa khoảng 20.000 tấn nước, vốn được dùng để ngưng tụ hơi nước trong các sự cố nhỏ. Nhưng bây giờ, nó đã trở thành ngòi nổ c ho một quả bom hơi nước khổng lồ.
Kịch bản mà Valery Legasov và các nhà khoa học khác lo sợ đến mất ngủ là: khối corium nóng chảy sẽ xuyên thủng lớp bê tông cuối cùng và đổ ụp xuống các bể nước bên dưới.
Đây được gọi là một vụ nổ nhiệt (thermal explosion) hay tương tác nhiên liệu-chất làm mát.
Hãy tưởng tượng việc đổ một muỗng nước vào một chảo dầu đang cháy phừng phừng, nó sẽ nổ tung tóe.
Bây giờ, việc đổ gần 200 tấn "dầu" nóng chảy ở 2000 độ C vào một "cái chảo" chứa 20.000 tấn nước.
Lượng nhiệt khổng lồ từ corium sẽ làm cho hàng ngàn tấn nước bốc hơi ngay lập tức, trong một phần nghìn giây.
Sự giãn nở thể tích đột ngột và cực lớn này bên trong một không gian kín sẽ tạo ra một vụ nổ vật lý, không phải nổ hạt nhân, nhưng có sức công phá kinh hoàng.
Các ước tính vào thời điểm đó cho rằng vụ nổ này có thể có sức công phá tương đương 2 đến 4 megaton, mạnh hơn hàng trăm lần quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima.
Vậy tại sao nó lại có nguy cơ "san phẳng một nửa châu Âu"? Cụm từ này không có nghĩa là một sóng xung kích vật lý sẽ thổi bay các thành phố. Sự kinh hoàng nằm ở hậu quả phóng xạ. Một vụ nổ mạnh như vậy sẽ:
Phá hủy toàn bộ nhà máy điện Chernobyl: Nó sẽ thổi bay cả ba lò phản ứng còn lại (số 1, 2 và 3), vốn vẫn đang chứa đầy nhiên liệu hạt nhân và chỉ vừa mới được cho ngừng hoạt động.
Tung toàn bộ kho phóng xạ vào khí quyển: Việc phá hủy ba lò phản ứng còn nguyên vẹn này sẽ giải phóng toàn bộ nhiên liệu hạt nhân của chúng ra ngoài. Đám mây phóng xạ tạo ra sẽ lớn hơn thảm họa ban đầu gấp nhiều, nhiều lần.
Tạo ra một vùng đất chết trên diện rộng: Đám mây phóng xạ khổng lồ này sẽ khiến phần lớn Ukraine, Belarus và một phần lớn của Nga trở nên không thể ở được trong hàng trăm, thậm chí hàng ngàn năm. Nó sẽ đầu độc vĩnh viễn nguồn nước, đất đai, và nông nghiệp của một khu vực rộng lớn được mệnh danh là "giỏ bánh mì của châu Âu". Gió sẽ tiếp tục mang đám mây tử thần đó đi khắp lục địa, gây ra hậu quả sức khỏe và môi trường trên một quy mô chưa từng có trong lịch sử loài người
Đó mới là ý nghĩa thực sự của việc "san phẳng": về mặt sinh học và khả năng sinh tồn.
Để ngăn chặn kịch bản tận thế này, chỉ có một cách duy nhất: phải tháo cạn nước trong các bể barboter trước khi khối corium chạm tới nó.
Một nhiệm vụ gần như tự sát đã được đặt ra.
Ba người đàn ông đã tình nguyện thực hiện: hai kỹ sư của nhà máy là Alexei Ananenko và Valeri Bezpalov, những người biết vị trí chính xác của các van xả, và một người lính tên là Boris Baranov, người sẽ cầm đèn soi đường cho họ.
Alexei Ananenko, một trong ba người, đã có những cuộc phỏng vấn sau này và cung cấp những chi tiết quan trọng, giúp lột bỏ lớp màn huyền thoại để lộ ra sự thật trần trụi.
Ông kể rằng khi được giao nhiệm vụ, ông chỉ đơn giản trả lời:
"Được thôi, tôi sẽ đi"
Đối với ông, đó là công việc. Ông là người duy nhất trong ca trực biết chính xác vị trí của các van xả, và nếu ông không đi, sẽ không ai làm được.
Nhiệm vụ của họ diễn ra trong một môi trường còn hơn cả địa ngục.
Họ được trang bị bộ đồ lặn (wetsuit), không phải là bộ giáp chống phóng xạ, mà chủ yếu là để giữ cho họ không bị ướt sũng trong dòng nước lạnh và nhiễm xạ.
Họ lội xuống những hành lang tối đen như mực bên dưới lò phản ứng, mực nước ngập đến đầu gối.
Boris Baranov cầm một chiếc đèn pin, nhưng nó nhanh chóng bị hỏng hoặc ánh sáng của nó quá yếu ớt trong màn đêm đặc quánh.
Ananenko kể lại rằng họ đã phải tìm đường đi trong bóng tối, chủ yếu bằng cách sờ nắn.
Ông nhớ có một đường ống lớn chạy dọc hành lang, và ông biết rằng các van xả nằm ở cuối đường ống đó. Họ cứ thế men theo đường ống mà đi.
Khi đến nơi, họ đã tìm thấy hai cái van và dùng sức để mở chúng.
Ananenko nói rằng khoảnh khắc đáng nhớ nhất là khi họ nghe thấy tiếng nước gầm lên và ào ạt chảy đi.
Họ biết mình đã thành công. Họ nhanh chóng quay trở ra, và được các đồng nghiệp chào đón bằng những tiếng reo hò vui mừng. Nhiệm vụ đó chỉ kéo dài 20-30 phút nhưng là nửa giờ đánh cược vận mệnh nhân loại.
Ai cũng nghĩ họ sẽ chết vài ngày sau.
Báo chí phương Tây gọi họ là “divers of death” – những thợ lặn cảm tử.”
Toàn bộ nhiệm vụ diễn ra rất nhanh. Ananenko nhấn mạnh:
"Chúng tôi đi nhanh hơn trên phim nhiều... Tại sao ư? Bởi vì nếu đi chậm, liều phóng xạ nhận được sẽ cao hơn"
Ba người đàn ông đó, bằng hành động của mình, đã cứu châu Âu khỏi một kịch bản còn đen tối hơn cả những gì chúng ta đã biết về Chernobyl.
Và đây là phần quan trọng nhất: sức khỏe của họ sau đó và tại sao họ vẫn sống.
Câu chuyện phổ cho rằng cả ba người đã chết vì nhiễm xạ cấp tính chỉ vài tuần sau đó là hoàn toàn sai sự thật. Đây là một sự thật gây sốc cho nhiều người. Cả ba người đều sống sót qua giai đoạn nguy hiểm nhất.
Boris Baranov qua đời vào năm 2005, tức là 19 năm sau thảm họa, do một cơn đau tim.
Alexei Ananenko và Valeri Bezpalov đều sống sót. Tính đến những năm gần đây, cả hai vẫn còn sống và khỏe mạnh một cách đáng kinh ngạc. Họ đã được tổng thống Ukraine trao tặng Huân chương Dũng cảm vào năm 2018.
Vậy tại sao họ lại có thể sống sót dù đã tiếp xúc với nước nhiễm xạ nặng? Có một vài lý do khoa học quan trọng:
Nước là một tấm khiên chống phóng xạ: Đây là điều mấu chốt và khá ngược đời.
Mặc dù nước trong các hành lang bị nhiễm xạ, chính lớp nước với mật độ phân tử dày đặc, có khả năng hấp thụ và làm suy yếu tia gamma một cách đáng kinh ngạc đó lại hoạt động như một tấm khiên hiệu quả, che chắn cho họ khỏi luồng phóng xạ gamma cực mạnh từ khối corium nóng chảy phía trên và các mảnh vỡ của lò phản ứng bên dưới.
Họ nhận một liều phóng xạ đáng kể, nhưng không đến mức gây tử vong ngay lập tức.Đây là lý do tại sao trong các nhà máy điện hạt nhân, các thanh nhiên liệu đã qua sử dụng luôn được cất giữ dưới những bể nước sâu.
Họ di chuyển nhanh:
Như Ananenko đã nói, họ làm nhiệm vụ rất nhanh để giảm thiểu thời gian phơi nhiễm. Tổng liều phóng xạ phụ thuộc vào cường độ và thời gian. Họ đã giảm thiểu yếu tố thời gian một cách tối đa.
Họ không bị bỏng beta:
Bộ đồ lặn, dù không cản được tia gamma, lại có một tác dụng cực kỳ quan trọng: nó ngăn không cho nước nhiễm xạ tiếp xúc trực tiếp với da của họ. Điều này đã cứu họ khỏi những vết bỏng beta khủng khiếp, thứ đã góp phần giết chết các lính cứu hỏa và các kỹ sư như Akimov và Toptunov, những người đã bị ướt sũng trong bộ quần áo thông thường.
Câu chuyện của họ vì thế còn vĩ đại hơn.
Họ không phải là những người tử vì đạo đi vào chỗ chết một cách mù quáng.
Họ là những kỹ sư chuyên nghiệp đã sử dụng kiến thức, lòng dũng cảm và sự nhanh trí của mình để thực hiện một nhiệm vụ nguy hiểm chết người và đã thành công.
Sự sống sót của họ là một sự kết hợp may mắn của vật lý và sự chuẩn bị:
Vật lý: Nước là một tấm khiên chống tia gamma tuyệt vời.
Chuẩn bị: Bộ đồ lặn đã bảo vệ họ khỏi sự tiếp xúc trực tiếp với chất nhiễm xạ.
Hành động: Họ di chuyển cực nhanh, giảm thiểu thời gian phơi nhiễm.
Họ không phải là bất tử. Họ đã đánh một canh bạc với các quy luật vật lý, và nhờ sự hiểu biết, lòng dũng cảm và một chút may mắn, họ đã thắng.
Họ đã sống để kể lại câu chuyện, để đối mặt với những di chứng sức khỏe lâu dài, và để trở thành những bằng chứng sống cho cả sự kinh hoàng của thảm họa lẫn lòng dũng cảm phi thường của con người.
Alexei Ananenko sau nhiệm vụ ông tiếp tục làm việc trong ngành hạt nhân một thời gian, nhưng sức khỏe của ông suy giảm dần. Ông đã phải trải qua nhiều ca phẫu thuật. Một trong những di chứng rõ ràng nhất là ông bị đục thủy tinh thể nặng, một trong những hậu quả phổ biến nhất của việc phơi nhiễm phóng xạ. Thị lực của ông bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngoài ra, ông cũng phải đối mặt với các vấn đề sức khỏe mãn tính khác và phải thường xuyên theo dõi y tế.
Cuộc sống của ông là một chuỗi ngày vật lộn với các di chứng, một lời nhắc nhở thường trực về 30 phút trong lòng đất năm đó.
Valeri Bezpalov kín tiếng hơn, nhưng số phận của ông cũng tương tự. Ông cũng tiếp tục làm việc tại nhà máy Chernobyl cho đến khi nó đóng cửa hoàn toàn. Giống như Ananenko, ông cũng phải sống dưới cái bóng của phóng xạ, đối mặt với các nguy cơ sức khỏe và sự suy giảm thể chất đến sớm hơn bình thường.
Còn Boris Baranov, người lính cầm đèn, đã qua đời vào năm 2005 vì một cơn đau tim. Ông hưởng thọ 65 tuổi.
Nghe qua thì có vẻ là một cái chết tự nhiên, nhưng khoa học đã chứng minh một sự thật đáng sợ: phơi nhiễm phóng xạ liều cao làm tăng đáng kể nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch. Bức xạ không chỉ gây ung thư, nó còn làm tổn thương các mạch máu, gây xơ vữa động mạch và các vấn đề về tim. Cái chết của Baranov, dù không được chính thức ghi nhận là do Chernobyl, rất có thể là một hậu quả gián tiếp nhưng trực tiếp của nhiệm vụ năm đó.
Vậy tại sao họ lại phải chịu những hậu quả này?
Liều phóng xạ họ nhận, dù không đủ để gây ra Hội chứng Nhiễm xạ Cấp tính (ARS) và giết chết họ trong vài tuần, vẫn là một liều cực lớn so với mức an toàn. Liều phóng xạ đó đã hoạt động như một quả bom hẹn giờ cài vào DNA của họ. Nó gây ra những tổn thương ở cấp độ tế bào mà cơ thể không thể sửa chữa hoàn toàn.
Những di chứng sức khỏe lâu dài mà họ và những Liquidators khác phải đối mặt bao gồm:
Nguy cơ ung thư cao: Không chỉ ung thư tuyến giáp, mà còn là ung thư máu (leukemia), ung thư phổi, và các khối u rắn khác.
Bệnh tim mạch: Như trường hợp của Baranov, đây là một trong những sát thủ thầm lặng nhất.
Đục thủy tinh thể: Mắt là một trong những bộ phận nhạy cảm nhất với bức xạ.
Suy giảm hệ miễn dịch: Khiến họ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng và các bệnh khác hơn.
Tổn thương tâm lý: Sống với nỗi sợ hãi thường trực rằng một ngày nào đó căn bệnh ung thư sẽ xuất hiện là một sự tra tấn về tinh thần.
Họ đã sống sót sau nhiệm vụ cảm tử, nhưng họ không bao giờ có được một cuộc sống bình thường trở lại. Họ là những cựu chiến binh của một cuộc chiến vô hình, và những vết thương của họ, dù không nhìn thấy được, vẫn tiếp tục hành hạ họ cho đến cuối đời. Họ đã thoát khỏi tầng hầm của Lò phản ứng số 4, nhưng họ không bao giờ thực sự thoát khỏi cái bóng của nó.
Liquidators - Những người dọn dẹp hay "robot sinh học" (biorobots)
Đến lúc thảm hoạ lên đến đỉnh điểm thì chính những kẻ vận hành hệ thống còn cố gắng che giấu và bưng bít câu chuyện vờ như nó không quá tệ.
Ban đầu Liên Xô sử dụng chính những con robot để đi vào vùng đất chết nhằm dọn dẹp những mảnh than chì và nhiên liệu hạt nhân có độ phóng xạ cực cao văng ra từ Lò phản ứng số 4 và nằm la liệt trên mái nhà của Lò phản ứng số 3.
Nếu không dọn, những người làm việc bên dưới và việc xây dựng "cái lồng sắt" Sarcophagus sẽ không thể tiến hành để giam những phóng xạ lại không phóng ra bên ngoài.
Những con robot, biểu tượng cho sức mạnh công nghệ, đã "chết" hàng loạt không chỉ vì bức xạ quá cao, mà còn vì chúng được triển khai dựa trên một nền tảng của sự dối trá và nhu cầu giữ thể diện của Liên Xô.
Ban đầu, có hai sự thật cùng tồn tại ở Chernobyl.
Sự thật thứ nhất là phiên bản dành cho thế giới và công chúng: một tai nạn nghiêm trọng nhưng tình hình "về cơ bản" đã được kiểm soát.
Việc thừa nhận mức độ phóng xạ thực tế, cao đến mức không thể tưởng tượng nổi, sẽ là một sự tự thú về quy mô thật của thảm họa, một điều không thể chấp nhận được về mặt chính trị.
Sự thật thứ hai, sự thật mà các nhà khoa học như Legasov và các tướng lĩnh tại hiện trường biết rõ, là mức độ phóng xạ ở một số nơi, đặc biệt là trên mái nhà của Lò phản ứng số 3, là một địa ngục trần gian, lên đến hàng ngàn, thậm chí hơn 10.000 roentgen mỗi giờ – một liều đủ để giết chết người trong vài chục phút.
Bi kịch xảy ra khi sự dối trá của phiên bản thứ nhất ảnh hưởng trực tiếp đến việc mua sắm và triển khai công nghệ.
Khi Liên Xô nhận ra họ không thể dọn dẹp mái nhà bằng sức người, họ tìm đến các giải pháp robot.
Một trong những câu chuyện điển hình nhất là việc họ đặt mua một con robot cảnh sát điều khiển từ xa có tên là "Joker" từ Tây Đức.
Khi các kỹ sư Đức hỏi phía Liên Xô về môi trường hoạt động để họ có thể "làm cứng" (radiation harden) các linh kiện điện tử cho phù hợp, phía Liên Xô, vì xấu hổ hoặc do mệnh lệnh phải giảm nhẹ tình hình, đã cung cấp một con số sai lệch. Họ báo cáo rằng mức phóng xạ mà robot sẽ phải đối mặt là khoảng 2.000 roentgen/giờ.
Các kỹ sư Đức đã làm đúng như yêu cầu: họ chế tạo một con robot có thể hoạt động tốt trong môi trường 2.000 roentgen/giờ.
Nhưng khi con robot Joker được đưa lên mái nhà ở Chernobyl, nó đã phải đối mặt với thực tế: một môi trường phóng xạ cao hơn gấp 5 đến 6 lần so với thông số mà nó được thiết kế để chịu đựng.
Kết quả là, các mạch bán dẫn của nó bị dòng tia gamma bắn phá tơi tả.
Con robot chỉ kịp loạng choạng di chuyển một chút, quay vài vòng tại chỗ rồi "chết" cứng đơ. Nó đã bị chính lời nói dối của khách hàng giết chết.
Không chỉ robot của phương Tây, ngay cả niềm tự hào của công nghệ Liên Xô cũng không chịu nổi.
Họ đã triển khai robot STR-1, một cỗ máy có thiết kế dựa trên các xe tự hành Lunokhod nổi tiếng đã từng đổ bộ lên mặt trăng.
Nhưng bức xạ trên nóc nhà Chernobyl còn tàn khốc hơn cả bức xạ trong vũ trụ. Môi trường đó không chỉ có tia gamma mà còn có dòng neutron và các hạt beta cực mạnh. Con STR-1, dù rất cứng cáp, cũng nhanh chóng trở thành một đống sắt vụn.
Khoảnh khắc nhục nhã nhất là khi Tướng Nikolai Tarakanov, người chỉ huy chiến dịch dọn dẹp trên mái, phải đứng trước các binh sĩ của mình và thừa nhận rằng công nghệ của một siêu cường đã thất bại.
Việc các con robot thất bại hàng loạt là một minh chứng hùng hồn cho thấy sự nguy hiểm của một hệ thống đặt việc giữ thể diện chính trị lên trên sự thật khoa học.
Vật lý không biết nói dối. Mức phóng xạ là một hằng số tàn nhẫn, và nó đã phơi bày một cách không thương tiếc sự yếu kém của một bộ máy được xây dựng dựa trên những báo cáo láo.
Đó là lúc khái niệm "robot sinh học" (biorobot) ra đời. Khi sắt thép và silicon đầu hàng, hệ thống đã quay sang sử dụng công cụ cuối cùng của nó: xương thịt của con người.
Đó là những người lính dự bị và quân nhân được huy động vào cái chết được định sẵn.
Bọn họ không được "hỏi" theo cái cách mà một người tự do được hỏi. Họ được ra lệnh.
Và họ không "biết chắc" mình sẽ đi vào chỗ chết, bởi vì sự thật đã bị bóp méo một cách có chủ đích.
Tướng Tarakanov và ban chỉ huy không tập hợp binh lính lại và nói:
"Ai trong số các đồng chí muốn đi lên đó và nhận một liều phóng xạ gây chết người để dọn dẹp?".
Không. Họ đã biến nó thành một chiến dịch quân sự, một hành động của lòng yêu nước.
Họ là những người lính dự bị, những chàng trai trẻ vừa mới hoàn thành nghĩa vụ quân sự, được gọi tái ngũ từ khắp nơi trên Liên Xô.
Lệnh triệu tập chỉ ghi chung chung là "tham gia diễn tập quân sự" hoặc "khắc phục hậu quả thiên tai".
Khi đến nơi, họ được các chính ủy (zampolit) nói về một kẻ thù vô hình đang đe dọa Moskva, đe dọa châu Âu.
Họ được nói rằng đây là mặt trận của một cuộc chiến tranh mới, và họ là những người lính được chọn để bảo vệ nhân dân.
Lòng yêu nước, nỗi sợ hãi về một kẻ thù hạt nhân (dù là do chính mình gây ra), và kỷ luật quân đội đã được trộn lẫn thành một liều thuốc tinh thần cực mạnh. Họ không được lựa chọn, họ chỉ có thể tuân lệnh.
Và cái gọi là "trang bị" của họ là một trò đùa tàn nhẫn.
Hãy hình dung một người lính mặc bộ quân phục dã chiến thông thường.
Sau đó, những người thợ may tại chỗ sẽ khâu vội vào đó những tấm chì mỏng, nặng trịch: một miếng che ngực, một miếng che lưng, một miếng che bộ hạ. Họ đội một cái mũ bay bằng da, đeo một cặp kính bảo hộ, và một cái khẩu trang bằng vải được gọi là "cánh hoa" (lepestok), thứ gần như vô dụng với bụi phóng xạ.
Tổng cộng, bộ "giáp" tự chế đó nặng khoảng 25-30 kg.
Nó vụng về, nóng nực, và quan trọng nhất, nó gần như không có tác dụng gì trong việc ngăn chặn tia gamma, thứ đang bắn xuyên qua cơ thể họ như những viên đạn vô hình.
Nó chỉ mang lại một ảo giác về sự an toàn, một sự trấn an tâm lý rẻ tiền.
Công việc của họ, được gọi một cách mỹ miều là "dọn dẹp", thực chất là một cuộc chạy đua với tử thần được tính bằng giây.
Một nhóm nhỏ sẽ đứng sau một bức tường bê tông che chắn. Khi có lệnh, một người lính sẽ hít một hơi thật sâu, nín thở, và lao ra khoảng không trống trải của mái nhà.
Mái nhà đó là một bãi tha ma của những mảnh than chì và nhiên liệu hạt nhân vỡ vụn.
Những mảnh than chì từ lõi lò, những mảnh nhiên liệu uranium, bê tông... tất cả đều văng lên đó. Mỗi mảnh vỡ đó là một cục pin phát ra tia gamma cực mạnh. Toàn bộ cái mái nhà đó đã biến thành một cái chảo lửa phóng xạ khổng lồ, chiếu thẳng xuống khu vực xung quanh
Nhiệm vụ của anh ta là dùng một cái xẻng, xúc nhanh một xẻng đầy những mảnh vỡ chết người đó, chạy đến mép mái và ném chúng xuống dưới, vào đống đổ nát của Lò phản ứng số 4.
Sau đó, anh ta phải quay đầu và chạy thục mạng về vị trí an toàn trước khi tiếng còi báo hết giờ vang lên .
Thời gian cho mỗi lượt chạy chỉ kéo dài từ 45 đến 90 giây.
Có khoảng 3.828 người lính đã tham gia vào nhiệm vụ dọn dẹp trên mái nhà này.
Ba ngàn tám trăm hai mươi tám "robot sinh học" bằng xương bằng thịt.
Họ đã làm được cái việc mà máy móc không thể. Họ đã dọn sạch mái nhà, cho phép việc xây dựng cái lồng Sarcophagus được tiến hành.
Hậu quả sau đó khôn lường đến mức không một con số nào có thể thống kê hết.
Ngay sau khi hoàn thành nhiệm vụ, nhiều người đã cảm thấy vị kim loại trong miệng, buồn nôn, và đau đầu.
Họ được trao một giấy chứng nhận "Người dọn dẹp", một khoản tiền thưởng nhỏ khoảng 100-400 rúp, và được cho giải ngũ. Nhưng đó mới chỉ là khởi đầu.
Vài năm sau, "kẻ thù vô hình" bắt đầu đòi nợ.
Ung thư tuyến giáp, ung thư máu (leukemia), các bệnh về tim mạch, đục thủy tinh thể, suy giảm hệ miễn dịch... đã lần lượt tấn công họ.
Nhiều người đã chết trong đau đớn khi còn rất trẻ. Những người sống sót thì phải vật lộn với bệnh tật triền miên và một cuộc chiến quan liêu khác: cuộc chiến đòi nhà nước công nhận bệnh tật của họ là do phơi nhiễm phóng xạ để được hưởng trợ cấp.
Họ đã thắng một số trận đánh quan trọng. Nhờ áp lực không ngừng nghỉ, các chính phủ Nga, Ukraine và Belarus đã phải ban hành các luật lệ công nhận địa vị của Liquidators và cung cấp cho họ một số quyền lợi nhất định.
Các quyền lợi này bao gồm một khoản trợ cấp hàng tháng (dù rất nhỏ), được ưu tiên chăm sóc y tế, và một số đặc quyền khác như miễn phí đi lại bằng phương tiện công cộng.
Một số cá nhân, sau nhiều năm kiện tụng mệt mỏi, đã thắng kiện và buộc nhà nước phải trả tiền bồi thường hoặc cấp nhà ở.
Nhưng họ đã thua trong cuộc chiến lớn.
Những khoản trợ cấp mà họ nhận được chỉ là một sự an ủi nhỏ nhoi, không thể nào bù đắp được những mất mát về sức khỏe, về khả năng lao động và những nỗi đau mà họ phải chịu đựng. Nhiều người đã chết trong nghèo khó trước khi kịp nhận được bất kỳ sự công nhận nào. Và cho đến tận ngày nay, vẫn còn hàng ngàn người đang tiếp tục cuộc chiến pháp lý để chứng minh bệnh tật của mình.
Họ đã đi vào vùng đất chết đó không phải vì họ biết chắc mình sẽ chết, mà vì họ tin rằng họ đang cứu sống người khác.
Họ đã bị hệ thống lợi dụng lòng yêu nước và sự ngây thơ để thực hiện một nhiệm vụ mà chính hệ thống đó, vì sự dối trá và yếu kém của mình, đã không thể giải quyết bằng công nghệ. Họ là những anh hùng, nhưng cũng là những nạn nhân bi thảm nhất của một cuộc chiến không được tuyên bố.
Sarcophagus - Lồng sắt nhốt lò phản ứng số 4 vĩnh viễn
Sau khi những người lính cứu hỏa bị nướng chín, những người thợ mỏ đào đường hầm bên dưới lò phản ứng, và ba người hùng cảm tử vô hiệu hóa quả bom hơi nước, cuộc chiến ở Chernobyl bước sang một giai đoạn mới.
Nó không còn là cuộc chiến để dập lửa, mà là cuộc chiến để chôn cất con quái vật. Và giải pháp duy nhất, một ý tưởng vừa vĩ đại vừa tuyệt vọng, là xây dựng một thứ chưa từng có trong lịch sử: một cái lồng sắt khổng lồ để nhốt vĩnh viễn Lò phản ứng số 4.
Cái lồng đó được đặt tên là "Object Ukrytiye" (Объект "Укрытие"), có nghĩa là "Nơi trú ẩn", nhưng thế giới biết đến nó với một cái tên mang tính biểu tượng hơn: Sarcophagus.
Kế hoạch xây dựng cái Sarcophagus này không phải là một bản thiết kế kỹ thuật được nghiền ngẫm hàng năm trời.
Nó được phác thảo trong sự hỗn loạn và cấp bách tột độ, ngay tại hiện trường, trên những mẩu giấy nhàu nát bởi chính các nhà khoa học và kỹ sư trong ủy ban của Legasov và Shcherbina.
Họ phải đối mặt với một bài toán không tưởng: làm thế nào để xây dựng một cấu trúc bê tông và thép nặng hàng trăm ngàn tấn ngay bên cạnh một lõi lò phản ứng đang phát ra bức xạ chết người, trên một nền đất đã bị ô nhiễm và có nguy cơ sụp lún?
Kế hoạch cuối cùng được đưa ra là một giải pháp của sự liều lĩnh và sáng tạo.
Họ sẽ không xây dựng nó theo cách thông thường từ dưới lên.
Thay vào đó, họ sẽ xây dựng nó theo từng phần riêng lẻ ở những khu vực an toàn hơn, cách xa lò phản ứng, rồi sử dụng những cần cẩu khổng lồ để lắp ráp chúng lại với nhau như một bộ đồ chơi Lego khổng lồ của tử thần.
Toàn bộ công trình được chia thành nhiều giai đoạn.
Đầu tiên, họ phải dọn dẹp khu vực xung quanh Lò phản ứng số 4, một công việc mà các "robot sinh học" đã phải thực hiện.
Tiếp theo, họ phải đào một đường hầm bên dưới lò phản ứng để xây dựng một tấm đệm bê tông cốt thép khổng lồ, được trang bị hệ thống làm mát bằng nitơ lỏng.
Đây chính là nhiệm vụ của những người thợ mỏ đến từ Tula, những người đã đào 150 mét đường hầm trong hơn một tháng trong điều kiện nóng bức và phóng xạ.
Tấm đệm này có hai mục đích: ngăn không cho khối corium nóng chảy làm ô nhiễm nguồn nước ngầm và tạo ra một nền móng vững chắc cho cấu trúc Sarcophagus.
Vì sao lại là mạch nước ngầm?
Sau khi nguy cơ về vụ nổ hơi nước thứ hai được vô hiệu hóa, các nhà khoa học đối mặt với một nỗi kinh hoàng khác: khối corium nóng chảy, như một con quái vật từ địa ngục, vẫn đang từ từ ăn mòn lớp bê tông bên dưới lò phản ứng.
Nếu nó chạm đến mạch nước ngầm, nó sẽ gây ra một thảm họa ô nhiễm phóng xạ vĩnh viễn cho toàn bộ lưu vực sông Dnieper, nguồn cung cấp nước cho hơn 50 triệu người ở Đông Âu. Họ phải ngăn nó lại.
Giải pháp được đưa ra là đào một đường hầm dài 150 mét ngay bên dưới nền móng của Lò phản ứng số 4.
Mục đích là để tạo ra một không gian đủ lớn để xây một tấm đệm bê tông khổng lồ và lắp đặt một hệ thống làm mát bằng nitơ lỏng, về cơ bản là để "đóng băng" mặt đất bên dưới và chặn đường con quái vật.
Nhưng ai có thể đào một đường hầm trong điều kiện như vậy?
Chỉ có thể là những người thợ mỏ, những người quen với việc lao động trong lòng đất.
Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Than đá Liên Xô, Mikhail Shchadov, đã đích thân đến vùng Donbas và Tula, những trung tâm khai thác than lớn nhất.
Ông không "hỏi" họ có muốn đi không.
Ông tập hợp họ lại và nói thẳng:
"Các đồng chí, chúng ta cần các anh. Đây không phải là chuyện tiền bạc. Đây là chuyện cứu sống hàng triệu người. Cứu sống con cái của chúng ta, cứu sống Tổ quốc".
Lời kêu gọi được đặt trong bối cảnh của một cuộc chiến tranh, và họ là những người lính được triệu tập ra mặt trận.
Nhiều người là lính dự bị, họ nhận được lệnh và họ tuân theo. Họ không biết chắc mình sẽ chết, nhưng họ biết đây là một nhiệm vụ cực kỳ nguy hiểm, một nhiệm vụ mà chỉ họ mới có thể làm được
.
Và họ đã bước vào một môi trường làm việc còn hơn cả địa ngục.
Thứ nhất là cái nóng.
Phía trên họ chỉ vài mét bê tông là một lò phản ứng hạt nhân đang nóng chảy ở 2000 độ C.
Nhiệt độ trong đường hầm luôn ở mức 50-60 độ C, cộng với độ ẩm cao.
Nó nóng đến mức không một ai có thể chịu đựng được khi mặc quần áo bảo hộ.
Tại sao không có quạt?
Vì bật quạt đồng nghĩa với việc thổi luồng bụi nhiễm xạ vào sâu hơn trong đường hầm, thẳng vào phổi những người còn sống.
Không khí “mát” là một ảo ảnh: cái họ cần không phải là gió, mà là bầu khí quyển không mang chất giết người vi mô.
Nhưng làm gì có? Cái họ đang hít là bụi than pha bức xạ ,mỗi hạt là một cái kim xuyên vào phổi, rồi nằm đó như một phiên tòa âm thầm kéo dài suốt 10 năm sau.
Thêm nữa: hệ thống quạt có thể chập điện, tạo ra tia lửa , và tia lửa trong một hầm kín nhiễm khí và bụi than là vé một chiều đến địa ngục.
Thổi gió vào hỏa ngục, không làm mát nó mà làm nó lan nhanh hơn.
Vì vậy, họ đã làm một việc không thể tưởng tượng nổi: họ cởi bỏ gần như tất cả, làm việc trong tình trạng gần như khỏa thân, chỉ còn lại đôi ủng và một chiếc mặt nạ phòng độc "cánh hoa" (lepestok) vô dụng.
Hình ảnh những người thợ mỏ trần truồng, mình đẫm mồ hôi, dùng xẻng và cuốc chim đào đất trong lòng đất nhiễm xạ đã trở thành một biểu tượng cho sự đối đầu trần trụi giữa con người và thảm họa hạt nhân.
Thứ hai là bức xạ.
Mặc dù lớp đất đá phía trên đã che chắn phần lớn tia gamma, nhưng không khí họ hít thở đầy bụi phóng xạ.
Mỗi cuốc đất họ đào lên, mỗi hơi thở họ hít vào đều là một liều phóng xạ đi thẳng vào cơ thể.
Họ làm việc theo ca, mỗi ca chỉ vài giờ, nhưng cường độ lao động thì kinh hoàng. Họ đã đào đường hầm đó bằng tay, với xẻng và xe cút kít, suốt ngày đêm.
Họ đã hoàn thành công việc của 180 ngày chỉ trong vòng 36 ngày.
Khoảng 10.000 thợ mỏ đã được huy động cho nhiệm vụ này, làm việc theo từng kíp xoay vòng. Họ đã đào xong đường hầm, và sau đó các công nhân xây dựng đã đổ đầy bê tông vào đó, tạo ra một tấm khiên vững chắc bên dưới lò phản ứng.
Một điều trớ trêu và bi thảm là, cuối cùng, cái hệ thống làm mát bằng nitơ lỏng mà họ đã liều mạng để tạo không gian lắp đặt lại không bao giờ được sử dụng.
Các nhà khoa học sau đó nhận ra rằng khối corium đã tự nguội đi và đông cứng lại nhanh hơn dự kiến.
Nhưng vào thời điểm đó, không ai dám cược vào điều đó. Sự hy sinh của những người thợ mỏ được coi là một biện pháp bảo hiểm cần thiết.
Sau khi hoàn thành?
Chẳng có huy chương.
Chẳng có bảng vàng.
Chỉ có một chuyến tàu đưa họ về lại vùng mỏ.
Con số chính thức mà nhà chức trách đưa ra là 30-60 roentgens trong khi họ báo lại thực tế cao gấp 5 lần.
Không ai đo liều nhiễm xạ. Không ai theo dõi y tế. Không ai kiểm tra hậu quả lâu dài.
Họ đã không chết ngay lập tức. Nhưng họ đã nhận vào cơ thể mình những liều phóng xạ sẽ từ từ giết chết họ sau này.
Nhiều người bắt đầu ho máu, suy phổi, đau xương.
Ung thư, tim mạch, đột tử – bắt đầu rải rác sau vài năm.
Nhưng chẳng ai được công nhận là “nạn nhân Chernobyl” – vì họ không ở trong nhà máy. Họ chỉ đào. Họ “tình nguyện”. Họ là cái bóng.
Người ta ước tính rằng trong số những người thợ mỏ đó, cứ bốn người thì có một người chết hoặc bị tàn tật nặng trước tuổi 40.
Số còn lại sống lay lắt.
Một số được mời kể chuyện trong vài cuộc phỏng vấn muộn sau khi Liên Xô sụp đổ.
Nhiều người nghèo đến chết, không bảo hiểm, không trợ cấp.
Không tượng đài ở Moskva. Không huy chương quốc gia.
Chỉ là những cái tên mờ trong danh sách công nhân bị lãng quên – những “hệ thống làm mát bằng xác người” đã hoàn thành nhiệm vụ.
Họ đã đi vào lòng đất không phải vì họ muốn chết, mà vì họ được yêu cầu phải hy sinh. Và họ đã chấp nhận, với lòng dũng cảm trần trụi và thầm lặng của những người lao động, đào một ngôi mộ tập thể cho chính mình để cứu sống hàng triệu người khác.
Cuộc chiến bắt đầu
Hàng trăm ngàn công nhân, binh lính và kỹ sư đã được huy động. Họ làm việc theo ca, mỗi ca chỉ kéo dài vài giờ, thậm chí vài phút ở những khu vực nguy hiểm nhất, để hạn chế liều phơi nhiễm.
Họ đã xây dựng những bức tường bê tông khổng lồ, dày nhiều mét, được gọi là "bức tường thác nước" (cascade walls), để che chắn cho các khu vực làm việc. Họ đã lắp dựng những dầm thép khổng lồ, mỗi dầm nặng hàng trăm tấn, để làm khung cho mái nhà.
Mọi thứ đều được điều khiển từ xa hết mức có thể, nhưng sự can thiệp của con người là không thể tránh khỏi.
Sarcophagus là một kỳ công kỹ thuật chính vì nó là một thảm kịch con người.
Tốc độ của nó được mua bằng sức khỏe và tính mạng của 90.000 người, và nó chỉ có thể thực hiện được bởi một cỗ máy nhà nước có khả năng huy động và hy sinh công dân của mình một cách tàn nhẫn như trong một cuộc chiến tranh tổng lực.
Đầu tiên, hãy nói về kỳ công kỹ thuật.
Họ đã không xây cái Sarcophagus theo cách thông thường.
Không ai có thể đứng ngay cạnh lò phản ứng để đổ bê tông hay hàn các dầm thép. Thay vào đó, họ đã áp dụng một phương pháp xây dựng lai giữa kỹ thuật quân sự và sự sáng tạo trong tuyệt vọng.
Kế hoạch là xây dựng từ xa và lắp ráp tại chỗ. Các khối bê tông khổng lồ và các kết cấu thép được chế tạo sẵn ở những khu vực an toàn, cách xa lò phản ứng.
Sau đó, họ sử dụng những chiếc cần cẩu khổng lồ, một số được nhập khẩu từ Đức, để cẩu những khối nặng hàng trăm tấn này và đặt chúng vào đúng vị trí như chơi một bộ lego của tử thần.
Họ đã phát minh ra kỹ thuật "bức tường thác nước" (cascade wall), tức là xây các bức tường theo từng bậc thang, mỗi bức tường mới sẽ tựa vào bức tường cũ và che chắn cho công nhân khi họ xây bức tường tiếp theo, tiến dần vào trung tâm của địa ngục. Đây là một giải pháp kỹ thuật thông minh và liều lĩnh, được vẽ ra trên bàn ăn trong các cuộc họp thâu đêm của các kỹ sư.
Nhưng làm thế nào để thực hiện được điều đó trong 206 ngày? Đây là lúc thảm kịch con người bắt đầu. Tốc độ đó chỉ có thể đạt được bằng cách áp dụng phương pháp "lấy thịt đè người" của Liên Xô.
Trong cơn khủng hoảng, cỗ máy quan liêu đã bị gạt sang một bên.
Ủy ban chính phủ do Shcherbina đứng đầu có quyền lực gần như tuyệt đối.
Họ có thể ra lệnh cho bất kỳ nhà máy nào trên toàn Liên Xô phải ngừng sản xuất mọi thứ khác và chỉ tập trung sản xuất thép và bê tông cho Chernobyl. Họ có thể trưng dụng bất kỳ đoàn tàu nào, bất kỳ tài nguyên nào mà không cần hỏi ý kiến ai. Toàn bộ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã dồn toàn lực cho một mục tiêu duy nhất.
90.000 người đó, phần lớn là quân nhân dự bị và công nhân được huy động, đã làm việc không ngừng nghỉ 24/7.
Tốc độ được tạo ra bằng cách ném những "làn sóng" người vào công việc.
Một nhóm công nhân sẽ vào làm việc trong một khoảng thời gian rất ngắn, có thể là vài giờ hoặc thậm chí chỉ vài phút ở những khu vực nguy hiểm nhất. Khi họ nhận đủ liều phóng xạ cho phép (hoặc hơn), họ sẽ được rút ra và một nhóm khác sẽ vào thay thế ngay lập tức. Đó là một dây chuyền sản xuất được vận hành bằng con người, với nguồn cung dường như vô tận.
Hạn chót phải hoàn thành Sarcophagus trước mùa đông tháng 11 là một mệnh lệnh không thể thương lượng. Các nhà khoa học lo sợ rằng một cấu trúc còn dang dở sẽ không chịu nổi sức nặng của tuyết và có thể sụp đổ, làm tung lên một đám mây bụi phóng xạ mới.
Vì áp lực thời gian, các quy định về an toàn và giới hạn phơi nhiễm phóng xạ thường bị bỏ qua. Sức khỏe lâu dài của 90.000 người đó đã bị đặt xuống hàng thứ yếu so với mục tiêu trước mắt là phải niêm phong con quái vật.
Vì vậy, cái Sarcophagus đã được hoàn thành trong 206 ngày không phải là một phép màu.
Đó là kết quả của một phép tính tàn nhẫn: kết hợp sự sáng tạo kỹ thuật của một số ít bộ óc thiên tài với sự hy sinh có thể dự báo trước của hàng chục ngàn người.
Nó là một biểu tượng cho thấy một hệ thống độc đoán, khi bị dồn vào chân tường, có thể đạt được những kỳ tích phi thường, nhưng cái giá cho những kỳ tích đó luôn được trả bằng máu và sức khỏe của chính những người dân mà nó tuyên bố bảo vệ.
Mỗi mét khối bê tông đó đều thấm đẫm mồ hôi và cả những liều phóng xạ mà những người công nhân đã gánh chịu.
Nhưng bi kịch chưa dừng lại ở đó Sarcophagus ược xây trong 206 ngày vội vã, đã được dự tính chỉ có tuổi thọ 30 năm.
Đến những năm 2000, nó đã mục ruỗng, nứt nẻ và có nguy cơ sụp đổ.
Một cú sụp đổ sẽ tung ra một đám mây bụi phóng xạ khổng lồ, một thảm họa Chernobyl 2.0.
Ukraine, một quốc gia non trẻ với nền kinh tế kiệt quệ sau khi Liên Xô sụp đổ, hoàn toàn không có khả năng tự mình chi trả một dự án trị giá hàng tỷ euro để giải quyết vấn đề này.
Thảm họa nằm trên đất của họ, nhưng hậu quả của nó thì mang tính toàn cầu.
Đây là lúc "cuộc chơi" bắt đầu. Các nước phương Tây, chủ yếu là khối G7 và Liên minh châu Âu (EU), đã phải vào cuộc.
Nhưng không phải vì lòng từ thiện. Họ làm vậy vì lợi ích tự vệ. Một đám mây phóng xạ nữa từ Chernobyl sẽ lại bay qua bầu trời của họ.
Vì vậy, việc tài trợ cho cái vòm thép NSC là một khoản đầu tư cho an ninh của chính họ. Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu (EBRD) được giao nhiệm vụ quản lý quỹ tài trợ khổng lồ này, một quỹ được đóng góp bởi hơn 40 quốc gia.
Nếu cái Sarcophagus đầu tiên là một bi kịch của chiến tranh lạnh, thì cái vòm thép thứ hai – New Safe Confinement (NSC) – lại là một tấm gương phản chiếu toàn bộ sự trắc trở và đấu đá chính trị của thế giới hậu Xô Viết.
Nó là một công trình được xây dựng bằng tiền của phương Tây, trên mảnh đất của một Ukraine đang giằng co, để niêm phong di sản của Liên Xô, và tất cả diễn ra dưới cái bóng ngày càng lớn của một nước Nga đang thay đổi.
Các nhà tài trợ phương Tây, khi đổ hàng tỷ euro vào dự án, đã yêu cầu sự minh bạch và hiệu quả. Nhưng họ đã phải đối mặt với bộ máy hành chính quan liêu và nạn tham nhũng của Ukraine.
Đã có những lo ngại rằng tiền tài trợ bị sử dụng không hiệu quả hoặc thất thoát. Điều này tạo ra một sự căng thẳng liên tục: một bên là các nhà tài trợ muốn kiểm soát chặt chẽ từng đồng euro, một bên là Ukraine, vừa phải nỗ lực quản lý một siêu dự án chưa từng có, vừa cảm thấy bị đối xử như một đứa trẻ cần giám sát.
Các tranh cãi về hợp đồng, giấy phép, và các tiêu chuẩn kỹ thuật đã làm trì hoãn dự án trong nhiều năm.
Sự thay đổi vai trò của Nga - đây mới là cuộc đấu đá địa chính trị thực sự.
Trước năm 2014: Nga, với tư cách là quốc gia kế thừa chính của Liên Xô, có một phần trách nhiệm và cũng là một trong những nhà tài trợ cho quỹ. Họ có những chuyên gia hàng đầu thế giới về lò phản ứng RBMK. Dù có những bất đồng, về cơ bản họ vẫn là một phần của giải pháp.
Sau năm 2014: Khi Nga sáp nhập Crimea và cuộc chiến ở Donbas nổ ra, mọi thứ thay đổi. Nga từ một đối tác khó tính trở thành một đối thủ công khai của Ukraine và phương Tây.
Sự hợp tác trong các dự án như Chernobyl trở nên cực kỳ độc hại về mặt chính trị. "Cuộc đấu đá" của Nga không còn nằm ở việc tranh cãi về thiết kế của cái vòm thép, mà là ở cuộc chiến địa chính trị lớn hơn.
Họ sử dụng vị thế của mình để gây khó khăn, tạo ra một môi trường căng thẳng, và biến mọi vấn đề liên quan đến Ukraine thành một mặt trận trong cuộc đối đầu với phương Tây.
Mặc dù họ không trực tiếp phá hoại việc xây dựng NSC, nhưng sự thù địch của họ đã phủ một bóng đen lên toàn bộ nỗ lực hợp tác quốc tế.
Cuối cùng, sau rất nhiều trì hoãn về kỹ thuật, thiếu hụt ngân sách phải kêu gọi tài trợ thêm, và những căng thẳng chính trị, cái vòm thép NSC khổng lồ cũng được hoàn thành và trượt vào vị trí vào năm 2016, và chính thức đi vào hoạt động năm 2019.
Nó là cấu trúc di động trên mặt đất lớn nhất từng được con người xây dựng, một kỳ công thực sự của kỹ thuật.
Nhưng nó cũng là một tượng đài cho một thế giới đầy phức tạp.
Một cái lồng thép do phương Tây tài trợ, được một tập đoàn của Pháp (Novarka) xây dựng, để niêm phong di sản của Liên Xô, trên đất của một Ukraine độc lập đang ở trong tình trạng chiến tranh với Nga.
Toàn bộ quá trình xây dựng nó, kéo dài hơn hai thập kỷ, đã phản ánh chính xác sự tan rã của trật tự cũ và sự hình thành một cuộc đối đầu mới. Việc niêm phong một lò phản ứng hạt nhân đã khó, việc đối phó với những tàn dư phóng xạ của địa chính trị còn khó hơn.
Không ai dám chắc về con số 100 năm
Con số 100 năm không phải là một con số ngẫu nhiên hay một lời hứa hẹn suông. Nó là tuổi thọ thiết kế (design life).
Các kỹ sư đã tính toán dựa trên những vật liệu tốt nhất, các mô hình dự báo về sự ăn mòn, sự xuống cấp của bê tông và thép trong môi trường khắc nghiệt đó để đưa ra một con số.
Nhưng đó là một sự đảm bảo có điều kiện. Nó giống như hãng xe nói rằng động cơ sẽ chạy được 300.000 km, với điều kiện mày phải thay dầu, bảo dưỡng định kỳ và không lái nó như một thằng điên.
Cái vòm thép NSC cũng vậy. Tuổi thọ 100 năm của nó phụ thuộc hoàn toàn vào việc bảo trì liên tục và cực kỳ tốn kém.
Bên trong nó là một hệ thống thông gió khổng lồ để kiểm soát độ ẩm, ngăn không cho kết cấu thép bị rỉ sét. Nó có các cảm biến để theo dõi nhiệt độ, phóng xạ, và sự ổn định của cấu trúc.
Việc vận hành và duy trì toàn bộ hệ thống đó đòi hỏi một nguồn kinh phí và nhân lực chuyên môn khổng lồ, năm này qua năm khác, trong suốt một thế kỷ.
100 năm đó không phải là một sự đảm bảo tuyệt đối, mà là một cam kết rằng các thế hệ tương lai sẽ tiếp tục đổ tiền và công sức vào để giữ cho nó đứng vững.
Và nếu hết thời hạn 100 năm thì sao?
Đây mới là lúc thấy được quy mô thực sự của vấn đề. Cái vòm thép NSC không phải là một cái lăng mộ để niêm phong vĩnh viễn. Chức năng thực sự của nó là một nhà chứa an toàn và một xưởng tháo dỡ khổng lồ.
Bên trong cái vòm đó, treo lơ lửng trên trần là một hệ thống cần cẩu robot điều khiển từ xa cực kỳ phức tạp.
Nhiệm vụ của chúng trong vòng 100 năm tới là:
Tháo dỡ cái Sarcophagus cũ: Sử dụng các công cụ robot, người ta sẽ từ từ, cẩn thận cắt và dỡ bỏ từng mảnh của cái lồng bê tông cũ kỹ, không ổn định đang bao bọc lò phản ứng.
Xử lý lõi lò phản ứng: Sau khi dỡ bỏ xong cái lồng cũ, nhiệm vụ còn khó khăn hơn gấp bội bắt đầu. Họ sẽ phải dùng những cần cẩu robot đó để xử lý hàng trăm tấn vật liệu chứa nhiên liệu hạt nhân (FCM) và khối corium đã đông cứng còn sót lại bên trong lò phản ứng số 4.
Toàn bộ quá trình này được dự kiến sẽ mất hàng chục năm. Cái vòm thép NSC chỉ có tác dụng tạo ra một không gian an toàn, một cái "phòng sạch" khổng lồ để các robot có thể làm việc mà không làm rò rỉ thêm bụi phóng xạ ra môi trường.
Vậy sau 100 năm, kế hoạch trên lý thuyết là toàn bộ những thứ nguy hiểm nhất bên trong Lò phản ứng số 4 đã được lấy ra, phân loại, và chuyển đến một nơi an toàn hơn. Những vật liệu phóng xạ cao này sẽ được chuyển đến một kho chứa địa chất sâu (deep geological repository), một hầm mộ được đào sâu trong lòng đất, được thiết kế để tồn tại và cách ly khối chất thải đó khỏi sinh quyển trong hàng chục ngàn năm.
Nhưng đó là kế hoạch trên giấy, không ai dám chắc chắc hoàn toàn. Kế hoạch đó phụ thuộc vào những thứ không thể dự báo trước:
Sự ổn định chính trị: Liệu Ukraine có tồn tại và ổn định trong 100 năm tới để tiếp tục công việc? Cuộc chiến tranh với Nga năm 2022, khi quân đội Nga chiếm đóng Chernobyl trong một thời gian ngắn, đã cho thấy toàn bộ dự án mong manh đến mức nào.
Nguồn tài trợ: Ai sẽ tiếp tục trả tiền cho công việc bảo trì và tháo dỡ trong 50, 70, hay 90 năm nữa, khi những người ra quyết định ban đầu đã chết hết?
Công nghệ: Liệu chúng ta có phát triển được những robot đủ tốt để thực hiện một công việc tháo dỡ phức tạp và nguy hiểm chưa từng có tiền lệ này không?
Cái vòm thép NSC đã mua cho chúng ta 100 năm. Nhưng nó không phải là một giải pháp. Nó là một sự trì hoãn rất đắt đỏ. Nó là một canh bạc, đặt cược rằng thế hệ con cháu của chúng ta sẽ giàu có hơn, thông minh hơn, và may mắn hơn chúng ta để có thể giải quyết dứt điểm mớ hỗn độn mà thế hệ trước đã tạo ra.
Buổi báo cáo của Valery Legasov ở Vienna vào tháng 8 năm 1986
Đây là khoảng khắc đấu tranh giữa lương tâm một nhà khoa học và một cái bánh răng trung thành với sự dối trá của hệ thống.
Bốn tháng sau thảm họa, thế giới vẫn còn quay cuồng trong sự hoang mang và giận dữ.
Áp lực quốc tế buộc Liên Xô phải đưa ra một lời giải thích chính thức tại một phiên họp đặc biệt của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) ở Vienna.
Đây là một sự kiện chưa từng có tiền lệ. Một siêu cường vốn quen che giấu mọi thứ nay bị buộc phải giải trình về một thất bại nội bộ trước các chuyên gia hạt nhân hàng đầu thế giới. Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào phái đoàn Liên Xô, và người được chọn để đối mặt với "bầy sói" đó là Valery Legasov.
Legasov không bị KGB dí cho một tờ giấy và bắt đọc.
Ông ta được giao nhiệm vụ trình bày một bản báo cáo chính thức, dày cộp, đã được một ủy ban lớn soạn thảo và được Bộ Chính trị phê duyệt.
Và cái câu chuyện chính thức trong bản báo cáo đó rất rõ ràng: Thảm họa Chernobyl 100% là do lỗi của con người.
Kịch bản mà Moskva muốn thế giới nghe là một nhóm kỹ sư vận hành ngu ngốc, vô kỷ luật và liều lĩnh đã vi phạm hàng loạt các quy định an toàn, dẫn đến một tai nạn đáng tiếc. Theo kịch bản này, thiết kế của lò phản ứng RBMK về cơ bản là an toàn, chỉ có con người làm cho nó trở nên nguy hiểm.
Khi Legasov đứng trước hội đồng, ông ta đã bắt đầu bài trình bày dài 5 tiếng của mình bằng cách thuật lại câu chuyện đó.
Ông liệt kê từng lỗi lầm, từng quy định mà các kỹ sư ở phòng điều khiển số 4 đã vi phạm. Các nhà khoa học phương Tây lắng nghe, có phần hoài nghi, nhưng đó vẫn là câu chuyện nằm trong dự đoán của họ.
Nhưng rồi, khi đi sâu vào phân tích chuỗi sự kiện kỹ thuật, Legasov đã làm một điều không ai ngờ tới. Ông ta đã đi chệch khỏi kịch bản. Ông không chỉ nói cái gì đã xảy ra, mà bắt đầu giải thích tại sao những hành động của các kỹ sư lại gây ra hậu quả khủng khiếp đến vậy.
Đây là lúc ông ta lựa chọn.
Thay vì chỉ đổ lỗi cho Toptunov vì đã rút quá nhiều thanh điều khiển, Legasov bắt đầu giải thích về cái gọi là hệ số rỗng dương (positive void coefficient).
Ông giải thích rằng chính thiết kế của lò phản ứng đã khiến nó trở nên cực kỳ bất ổn ở mức công suất thấp, một trạng thái mà các kỹ sư bị buộc phải duy trì. Ông ngụ ý rằng các kỹ sư đã bị đặt vào một cái bẫy được thiết kế sẵn.
Và rồi ông ta tung ra quả bom thật sự, một sự thật đã bị chôn vùi từ sự cố ở nhà máy Leningrad năm 1975.
Ông giải thích chi tiết về lỗi thiết kế của nút tắt khẩn cấp AZ-5. Ông mô tả cách các đầu bịt bằng than chì của thanh điều khiển, khi được đưa vào, đã tạm thời làm phản ứng tăng vọt thay vì dập tắt nó. Ông đã nói với cả thế giới rằng, trong những điều kiện nhất định, cái nút được thiết kế để cứu mạng người lại chính là kẻ đã kích nổ quả bom.
Cả khán phòng chết lặng.
Những gì Legasov vừa nói đã vượt xa việc đổ lỗi cho một vài cá nhân. Ông đã công khai thừa nhận rằng toàn bộ 16 lò phản ứng RBMK đang hoạt động trên khắp Liên Xô đều có một lỗ hổng thiết kế chết người.
Ông đã vạch áo cho người xem lưng, không chỉ là lưng của Chernobyl, mà là lưng của cả ngành công nghiệp hạt nhân Xô Viết.
Các nhà khoa học phương Tây, từ hoài nghi chuyển sang kinh ngạc, và cuối cùng là dành cho ông một sự tôn trọng miễn cưỡng vì lòng dũng cảm và sự trung thực khoa học đó.
Lần đầu tiên, họ có cảm giác mình đang nghe sự thật.
Nhưng cái giá cho sự trung thực đó là cực đắt. Ở Vienna, Legasov được ca ngợi như một người hùng. Nhưng khi trở về Moskva, ông bị coi là một kẻ phản bội.
Ông đã làm bẽ mặt quốc thể, đã thừa nhận điểm yếu của Liên Xô trước kẻ thù thời chiến tranh lạnh.
Tên của ông bị gạch khỏi danh sách trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động Xã hội chủ nghĩa. Ông bị các đồng nghiệp xa lánh, sự nghiệp của ông bị đóng băng.
Legasov đã không nói ra toàn bộ sự thật ở Vienna, ông vẫn phải bám vào cái sườn "lỗi con người" mà Moskva đã dựng lên.
Nhưng ông đã hé mở một vết nứt trên bức tường dối trá, và vết nứt đó đủ lớn để ánh sáng của sự thật khoa học có thể lọt qua.
Đó là một hành động của lương tâm, một hành động đã cứu vãn danh dự cho khoa học nhưng lại hủy hoại cuộc đời ông.
Và hai năm sau đó, vào đúng ngày kỷ niệm thảm họa, ông đã tự kết liễu đời mình, để lại những cuốn băng ghi âm chứa đựng toàn bộ sự thật không bị kiểm duyệt, như một lời trăn trối cuối cùng.
Cái đó là hành động cuối cùng của Valery Legasov, một nỗ lực để lại di chúc cho lịch sử, một "thông điệp trong chai" được ném vào đại dương của sự dối trá, với hy vọng mong manh rằng một ngày nào đó nó sẽ dạt vào bờ.
Theo các nguồn tin được công bố và lời kể của những người thân cận, Legasov đã ghi âm những suy nghĩ không bị kiểm duyệt của mình vào năm cuốn băng cassette (five cassette tapes) trong những ngày cuối cùng trước khi ông tự sát vào ngày 26 tháng 4 năm 1988, đúng hai năm sau thảm họa.
Đây không phải là một bản báo cáo khoa học khô khan. Nó là một lời tự sự, một lời thú tội, và một bản cáo trạng.
Trong đó, ông nói chi tiết về những gì mình đã không thể nói ở Vienna: sự kiêu ngạo và thiếu năng lực của ban quản lý nhà máy, những sai sót trong thiết kế lò phản ứng mà ông và các nhà khoa học khác đã biết từ lâu, văn hóa dối trá và che đậy đã ăn sâu vào toàn bộ ngành công nghiệp hạt nhân Xô Viết, và cả sự thất vọng, nỗi dằn vặt của cá nhân ông khi phải đồng lõa với một phần của sự dối trá đó.
Ngay sau khi cái chết của Legasov được phát hiện, KGB đã hành động ngay lập tức. Căn hộ và văn phòng của ông đã bị niêm phong và khám xét một cách kỹ lưỡng.
Họ biết rằng một nhà khoa học cấp cao, người biết quá nhiều và đang ở trong trạng thái tuyệt vọng, có thể đã để lại những tài liệu cực kỳ nguy hiểm cho thể diện của nhà nước. Và họ đã tìm thấy những cuốn băng trong két sắt tại văn phòng của ông và tịch thu chúng.
Đây là lúc câu chuyện trở nên phức tạp giữa sự thật và huyền thoại.
Kịch bản chính thức là KGB đã thu giữ toàn bộ.
Tuy nhiên, có một giả thuyết khác, được củng cố bởi bộ phim "Chernobyl" của HBO, cho rằng Legasov đã lén đưa một phần hoặc toàn bộ số băng đó cho một đồng nghiệp hoặc cất giấu ở một nơi khác trước khi tự sát.
Ông đủ thông minh để biết rằng KGB sẽ đến tìm chúng. Dù vậy, không có bằng chứng xác thực nào cho thấy KGB đã không tìm thấy toàn bộ số băng. Điều chắc chắn là, nhà nước đã nắm trong tay di chúc của ông.
Nhưng Legasov đã chết vào một thời điểm rất đặc biệt. Chính sách Glasnost (cởi mở) của Gorbachev đang bắt đầu có hiệu lực. Sự im lặng tuyệt đối không còn khả thi như trước. Cái chết của một nhà khoa học lỗi lạc như Legasov, người đã được quốc tế biết đến sau phiên họp ở Vienna, đã tạo ra một làn sóng chấn động không thể phớt lờ.
Vì vậy, một điều không tưởng đã xảy ra. Thay vì chôn vùi hoàn toàn, một phiên bản đã được biên tập và cắt xén rất nhiều của những cuốn băng đó đã được cho phép xuất bản trên tờ báo chính thức của Đảng Cộng sản, tờ Pravda, vào tháng 5 năm 1988, chỉ một tháng sau cái chết của ông.
Đây là một động thái có tính toán: nhà nước công bố một phần sự thật để xoa dịu dư luận và tỏ ra mình đang "cởi mở", nhưng vẫn cắt bỏ đi những phần chỉ trích gay gắt nhất đối với hệ thống và các quan chức cấp cao.
Sau đó, khi Liên Xô sụp đổ, các phiên bản đầy đủ hơn của những đoạn ghi âm đó dần dần được các nhà báo và những người có liên quan tiết lộ.
Nhưng cho đến tận ngày nay, không ai dám chắc 100% rằng toàn bộ nội dung của cả năm cuốn băng đã được công bố. Có thể một số phần đã bị xóa vĩnh viễn. Có thể một số cuốn băng vẫn còn nằm đâu đó trong các kho lưu trữ của cơ quan an ninh Nga.
Còn người đồng chí Boris Shcherbina qua đời vào ngày 22 tháng 8 năm 1990, đúng là chỉ hơn 4 năm sau khi ông bị ném vào địa ngục Chernobyl.
Dù nguyên nhân cái chết chính thức không bao giờ được nhà nước Liên Xô công bố là "do nhiễm phóng xạ" – một sự thừa nhận mà họ không bao giờ muốn đưa ra cho một quan chức cấp cao – nhưng trong giới khoa học và những người trong cuộc, không ai nghi ngờ rằng chính liều phóng xạ khổng lồ mà ông hấp thụ trong những tháng ngày chỉ huy tại Chernobyl đã phá hủy sức khỏe và giết chết ông một cách từ từ.
Cái chết của ông không ồn ào, nhưng nó là một cái chết được báo trước, cái giá phải trả cho việc đứng ở tuyến đầu.
Boris không nhận được một tấm huân chương nào nữa cho riêng chiến dịch Chernobyl, bởi vì không ai muốn trao huân chương cho một thất bại, một nỗi ô nhục quốc thể. Phần thưởng của ông cho Chernobyl không phải là một ngôi sao vàng gắn trên ngực áo. Phần thưởng của ông là một cái chết từ từ do phóng xạ.
Cuối cùng, vinh quang và những tấm huân chương trên giấy tờ không thể bảo vệ ông khỏi kẻ thù vô hình. Ông ta đã chết, không phải trong im lặng và bị lãng quên, mà như một lời nhắc nhở phũ phàng rằng phóng xạ không phân biệt cấp bậc hay danh hiệu. Dù mày là một người lính hay một Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, khi mày đối mặt với một lõi lò phản ứng đang tan chảy, cái giá phải trả là như nhau.
Di sản lời thú tội của Legasov
Lời thú tội của Legasov ở Vienna không chỉ đóng sập cánh cửa sự nghiệp của ông, mà nó đã châm ngòi cho hai cuộc cách mạng diễn ra song song: một cuộc chạy đua điên cuồng để sửa chữa những quả bom hẹn giờ đang hoạt động trên khắp Liên Xô, và một cuộc cách mạng toàn cầu về tư duy an toàn hạt nhân.
Đầu tiên, hãy nói về số phận của 16 lò phản ứng RBMK còn lại.
Lời thú tội của Legasov đã biến chúng từ niềm tự hào công nghệ thành một mối đe dọa hiện hữu. Moskva không thể phớt lờ được nữa.
Một chương trình khẩn cấp, tốn kém và cực kỳ phức tạp đã được triển khai để "vá" lại những lỗ hổng chết người này. Họ đã thực hiện một loạt các thay đổi kỹ thuật quan trọng.
Sửa thanh điều khiển: Đây là ưu tiên hàng đầu. Họ đã thay đổi thiết kế của các thanh điều khiển, tăng số lượng chất hấp thụ neutron và loại bỏ hiệu ứng tích cực của đầu than chì khi bắt đầu đưa thanh vào. Về cơ bản, họ đã vô hiệu hóa cái bẫy chết người của nút AZ-5.
Tăng độ giàu nhiên liệu: Họ bắt đầu sử dụng nhiên liệu uranium có độ giàu cao hơn một chút, từ 2.0% lên 2.4%. Sự thay đổi nhỏ này giúp ổn định các phản ứng vật lý bên trong lõi lò, làm giảm đáng kể "hệ số rỗng dương" nguy hiểm.
Tăng số lượng chất hấp thụ cố định: Họ đã lắp đặt thêm các thanh hấp thụ neutron cố định vào lõi lò. Những thanh này hoạt động như những cái "phanh" vĩnh viễn, giúp kìm hãm "con ngựa bất kham" RBMK.
Hệ thống tắt khẩn cấp nhanh hơn: Họ đã thiết kế lại hệ thống AZ-5 để các thanh điều khiển có thể được đưa vào lõi lò nhanh hơn nhiều, giảm thời gian từ khoảng 18 giây xuống chỉ còn vài giây.
Về chi phí, không có một con số chính xác nào được công bố do tính chất mờ mịt của nền kinh tế Xô Viết.
Nhưng đây là một chương trình quốc gia có quy mô khổng lồ, tiêu tốn hàng tỷ rúp và đòi hỏi nỗ lực của hàng ngàn nhà khoa học và kỹ sư trong nhiều năm. Nó là cái giá phải trả cho một thập kỷ chôn vùi sự thật.
Quan trọng hơn, thảm họa Chernobyl đã tạo ra một tiêu chuẩn an toàn mới cho toàn bộ ngành công nghiệp hạt nhân trên trái đất.
Trước Chernobyl, an toàn hạt nhân là một vấn đề nội bộ của mỗi quốc gia. Các nhà máy của Mỹ, Pháp, Nhật Bản và Liên Xô hoạt động trong những cái bong bóng riêng, ít khi chia sẻ thông tin về các sự cố hay bài học kinh nghiệm. Chernobyl đã phá tan cái ảo tưởng "chuyện đó không thể xảy ra ở đây".
Kết quả trực tiếp và quan trọng nhất là sự thành lập của Hiệp hội các nhà vận hành hạt nhân thế giới (WANO) vào năm 1989.
Lần đầu tiên trong lịch sử, các nhà vận hành nhà máy điện hạt nhân từ khắp nơi trên thế giới, kể cả từ Đông và Tây, đã ngồi lại với nhau. WANO đã tạo ra một hệ thống "kiểm tra chéo" (peer review), nơi các chuyên gia từ một nước sẽ đến thanh tra và đánh giá các nhà máy ở một nước khác, chia sẻ kinh nghiệm và chỉ ra các điểm yếu.
An toàn không còn là bí mật quốc gia, nó trở thành một trách nhiệm toàn cầu
Một khái niệm mới đã ra đời - Văn hóa an toàn (Safety Culture) . Nó không chỉ là việc tuân thủ các quy định trên giấy tờ, mà là việc xây dựng một văn hóa nơi mỗi công nhân, mỗi kỹ sư đều có quyền và trách nhiệm đặt câu hỏi về an toàn, và có thể cho dừng hoạt động của nhà máy nếu cảm thấy có rủi ro, mà không sợ bị trừng phạt.
Các công ước của IAEA, như Công ước về An toàn Hạt nhân, đã được củng cố, yêu cầu các quốc gia thành viên phải có một cơ quan quản lý độc lập và phải báo cáo công khai về các biện pháp an toàn của mình.
Còn Rosatom, tập đoàn năng lượng hạt nhân nhà nước của Nga ngày nay và là người kế thừa của ngành công nghiệp hạt nhân Xô Viết, họ có học được gì không?
Câu trả lời là họ buộc phải học.
Sự sống còn của Rosatom với tư cách là một nhà xuất khẩu công nghệ hạt nhân hàng đầu thế giới phụ thuộc hoàn toàn vào uy tín về an toàn. Không một quốc gia nào sẽ mua một lò phản ứng từ một công ty có tiền sử che giấu thảm họa.
Rosatom vẫn đang vận hành một số lò RBMK đã được hiện đại hóa, nhưng chúng đã khác xa so với những người anh em của chúng vào năm 1986.
Có 7/16 lò phản ứng RBMK-1000 đang hoạt động tại ba nhà máy điện hạt nhân từ thời Liên Xô bao gồm:
Kursk: 2 lò phản ứng (lò số 3, 4).
Leningrad: 2 lò phản ứng (lò số 3, 4).
Smolensk: 3 lò phản ứng (lò số 1, 2, 3).
Quan trọng hơn, các thiết kế lò phản ứng mới của họ, như dòng VVER, đã tích hợp tất cả các tiêu chuẩn an toàn của phương Tây mà RBMK không có: một tòa nhà chứa an toàn (containment building) kiên cố, các hệ thống làm mát thụ động (tự hoạt động mà không cần điện), và một thiết kế vật lý có "hệ số rỗng âm" (lò sẽ tự động tắt khi có sự cố).
Bài học lớn nhất mà Rosatom và cả thế giới đã học được từ Chernobyl là: một tai nạn hạt nhân ở bất cứ đâu đều là một tai nạn cho tất cả mọi người.
Cái bóng ma của Chernobyl và Legasov đã buộc ngành công nghiệp này phải bước ra khỏi bóng tối của sự tự mãn và bí mật, bước vào một kỷ nguyên mới của sự minh bạch và trách nhiệm, dù là một cách miễn cưỡng.
Legasov đã chết chỉ để cứu cả thế giới khỏi 16 quả bom Chernobyl còn sót lại chờ ngày nổ tung và huỷ diệt thế giới nhưng ông vẫn bị một hệ thống dối trá vùi dập cho đến ngày cuối cùng trong đời chỉ để giữ cái thể diện “không mất mặt với phương Tây”.
Cú đóng đinh cuối cùng vào cỗ quan tài Liên Xô
20 năm sau khi Chernobyl xảy ra vào năm 2006, Gorbachev thừa nhận rằng :
“The nuclear meltdown at Chernobyl 20 years ago this month, even more than my launch of perestroika, was perhaps the main cause of the Soviet Union’s collapse five years later. Indeed, the Chernobyl catastrophe was a historic turning point: there was the era before the disaster, and there is the very different era that has followed”
Trong bài viết đó, ông còn viết thêm:
“Chernobyl opened my eyes like nothing else: it showed the horrible consequences of nuclear power, even when it is used for non‑military purposes… I started to think about time in terms of pre‑Chernobyl and post‑Chernobyl.”
Chernobyl không chỉ là một thảm họa hạt nhân.
Nó là một liều thuốc hiện hình, một khoảnh khắc sự thật phơi bày toàn bộ căn bệnh ung thư đã di căn bên trong cơ thể của Liên Xô.
Nó không phải là nguyên nhân duy nhất, nhưng nó chính là nhát cuốc quyết định đào mồ chôn một đế chế đã sống quá lâu bằng sự dối trá.
Nền tảng của quyền lực Liên Xô dựa trên hai trụ cột chính: sức mạnh quân sự và ảo tưởng về sự ưu việt của công nghệ và hệ thống.
Họ có Sputnik, có bom hạt nhân, có những nhà máy khổng lồ.
Họ tuyên truyền rằng hệ thống kế hoạch hóa tập trung của họ là khoa học nhất, hiệu quả nhất.
Chernobyl đã dùng một vụ nổ duy nhất để thổi bay toàn bộ cái ảo tưởng đó.
Nó không phải là một quả bom của Mỹ, nó là một thất bại "cây nhà lá vườn", một sản phẩm thuần túy của chính hệ thống đó.
Vụ nổ đã chứng minh rằng công nghệ mà họ tự hào là một cỗ máy đầy lỗi lầm, và hệ thống quản lý của họ là một mớ hỗn độn của sự quan liêu, bất tài và vô trách nhiệm.
Nhưng cú đấm chí mạng hơn cả là vào trụ cột của sự dối trá.
Toàn bộ hệ thống Xô Viết vận hành dựa trên việc kiểm soát thông tin tuyệt đối.
Đảng quyết định cái gì là sự thật.
Nhưng đám mây phóng xạ thì không tuân theo mệnh lệnh của Đảng. Nó không cần visa để bay qua biên giới.
Khi các nhà khoa học ở Thụy Điển đo được phóng xạ và vạch mặt Liên Xô, bức tường im lặng đã sụp đổ. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhà nước Xô Viết bị buộc phải thừa nhận một thất bại thảm khốc, không phải vì họ muốn, mà vì họ bị bắt quả tang.
Đối với hàng trăm triệu người dân Liên Xô, đây là một khoảnh khắc thức tỉnh.
Họ nhận ra rằng cái chính quyền luôn rao giảng về việc bảo vệ nhân dân đã sẵn sàng để họ hít thở không khí nhiễm độc, để con cái họ diễu hành dưới mưa phóng xạ trong ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5 ở Kiev, tất cả chỉ để giữ thể diện.
Lòng tin, thứ xi măng gắn kết xã hội, đã tan thành tro bụi. Chính sách Glasnost (cởi mở) mà Gorbachev đang cố gắng khởi động đã bị Chernobyl biến thành một cuộc thử lửa không thể kiểm soát.
Ông ta muốn mở hé một cái cửa sổ, nhưng Chernobyl đã thổi bay cả bức tường.
Sau đó là cú đấm kinh tế.
Chi phí để dọn dẹp thảm họa là một con số không tưởng, ước tính lên tới hàng trăm tỷ đô la. Nó là một vết thương tài chính không bao giờ lành, hút cạn máu của một nền kinh tế vốn đã kiệt quệ vì chạy đua vũ trang và sự kém hiệu quả cố hữu.
Hàng trăm ngàn người phải di tản, hàng ngàn kilomet vuông đất đai màu mỡ trở thành vùng đất chết.
Nó là một gánh nặng kinh tế mà Liên Xô, trong những ngày tàn của mình, không thể nào gánh nổi.
Và cuối cùng, nó đã châm ngòi cho quả bom hẹn giờ của chủ nghĩa dân tộc. Thảm họa xảy ra trên đất Ukraine, gây hậu quả nặng nề nhất cho Ukraine và Belarus.
Trong tâm thức của người dân những nước này, đó là một tội ác do Moskva gây ra trên quê hương của họ. Các phong trào môi trường phản đối năng lượng hạt nhân đã nhanh chóng biến thành các phong trào chính trị đòi độc lập.
Chernobyl đã cho họ một lý do cụ thể, một nỗi đau chung, một biểu tượng hữu hình cho sự áp bức và vô trách nhiệm của quyền lực trung ương. Nó đã biến những tiếng thì thầm về độc lập thành những tiếng gào thét trên đường phố.
Việc Gorbachev thừa nhận là dấu hiệu cho ông ta - người đứng đầu một con thuyền đang chìm không thể cứu nổi nó.
Một hệ thống có thể tồn tại qua các cuộc khủng hoảng kinh tế, các cuộc chiến tranh, nhưng nó không thể tồn tại khi nền tảng đạo đức của nó đã bị phơi bày là một sự dối trá và người dân đã hoàn toàn mất hết niềm tin. Chernobyl đã làm chính xác điều đó. Nó đã buộc đế chế phải nhìn vào gương, và hình ảnh phản chiếu là một con quái vật đang tự ăn chính mình từ bên trong.
Kết
Đây là một thảm hoạ sinh ra từ lòng tham, sự ngu dốt, sợ hãi và vô trách nhiệm không chỉ bởi những con người vận hành mà do lỗi của cả một hệ thống sinh ra bằng sự dối trá sẵn sàng bưng bít mọi tội lỗi chỉ để không gánh hậu quả về phía mình.
Ngay từ khâu xây dựng, thiết kế, vận hành chính công nghệ RMBK đã là lỗi mang trong mình một quả bom hạt nhân trong người, đáng buồn thay chính nút tắt nguồn AZ-5 thay vì dập tắt lại nút thả quả bom còn kinh khủng hơn cả Hiroshima và Nagasaki.
Thảm hoạ khôn lường vẫn còn ám ảnh thế giới đáng lẽ đã không nguy hiểm nếu không nằm trong cỗ máy quan liêu hành chính Soviet chấp nhận sự dối trá để cầu an, lừa dối cả người đứng đầu nó là Gorbachev lẫn Boris Shcherbina phản ứng quá chậm trễ và tiếp tục giữ mặt mũi thể diện ngay sau đó ban hành“vùng cấm 30 km” sau Chernobyl là một con số chính trị, không phải khoa học.
Quyết định sơ tán Pripyat đưa ra trễ 36 tiếng vì đợi “dữ liệu phóng xạ đủ chắc”. Nhưng dữ liệu đó lại bị chỉnh.
Hệ thống đo tự động bị vô hiệu, báo cáo từ các trạm khí tượng bị làm mờ hoặc sửa. KGB có mặt từ ngày đầu nhưng báo cáo theo hướng giảm nhẹ.
Những bản đồ nhiễm xạ thật sự chỉ được cấp cho một vài viện sĩ đầu ngành. Còn lãnh đạo tỉnh – thậm chí cả chỉ huy quân đội cũng chỉ được biết con số trung bình, không phải cực đại.
Ai quyết?
Boris Shcherbina là người điều phối toàn bộ chiến dịch phản ứng.
Nhưng ông ta cũng bị nhốt trong cái lồng thông tin.
Những người như Legasov, Pikalov (Tổng chỉ huy hóa học quân sự) và Scherbina đề nghị phong tỏa ít nhất 100km, nhưng bị cản bởi Gosplan và Bộ Giao thông: nếu mở rộng vùng cấm quá xa, các tuyến đường sắt, vận tải lương thực, các nông trại tập thể – vốn là xương sống của hệ thống cung ứng lương thực Liên Xô – sẽ bị tê liệt. Mùa gieo hạt năm đó sắp bắt đầu.
Viện Kurchatov có tính toán cho rằng vùng cần cách ly đúng mức phải từ 200–300km, tùy hướng gió. Nhưng báo cáo đó không được dùng trong họp chính thức.
Nó được đóng dấu “Nội bộ – Không phổ biến”, vì nếu tung ra thì cả Kiev, Gomel, và nhiều tỉnh sẽ phải sơ tán ít nhất một phần dân số. Họ sợ phản ứng dây chuyền: dân hoảng, hệ thống y tế vỡ, cán bộ bỏ trốn, nền kinh tế nông nghiệp miền Tây Xô Viết tê liệt.
Cuối cùng, nhà nước chọn vùng 30km vì đó là con số “đủ lớn để thể hiện hành động”, nhưng “đủ nhỏ để bảo vệ tính liên tục của hệ thống”.
Đó là một quyết định chính trị nguỵ trang dưới lớp áo “phân tích rủi ro”.
Cái giá là hàng chục nghìn trẻ em bị ung thư tuyến giáp, và hàng trăm nghìn người sống suốt đời trong bóng ma phóng xạ. Nhưng với đảng, điều quan trọng nhất là giữ được ảo giác kiểm soát.
Nhưng trong tình thái hiểm nghèo, tuyệt vọng nhất của nhân loại - một mầm mống của hy vọng vẫn sót lại trong chiếc hộp Pandora mọc lên từ cõi hư không.
Đó là những anh hùng vô danh không hề để lại một chút tên tuổi nào trong sử xanh nhưng đã cứu thế giới khỏi một bi kịch tồi tệ hơn Chernobyl ta biết trong sách lịch sử.
Họ là ai?
Là những anh lính hoả như Vasily Ignatenko, Kỹ sư Akimov và Toptunov đã ở lại nhà máy suốt nhiều giờ, lội qua dòng nước nhiễm xạ nặng, cố gắng mở các van bằng tay để bơm nước vào một lõi lò phản ứng không còn tồn tại
Những nhà khoa học chân chính như Valery Legasov và đồng nghiệp trong Viện Năng lượng Nguyên tử Kurchatov đã phát hiện ra thảm hoạ và nhanh chóng báo cáo vì lương tri khoa học.
Họ phải lựa chọn giữa sự nghiệp và lương tâm, và cuối cùng đã chọn vạch trần một phần sự thật trước thế giới, để rồi phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.
Là Boris Shcherbina và tướng Tarakanov ra quyết định lạnh lùng đẩy hàng trăm ngàn người vào cõi chết và cũng gánh chịu chính gì họ đã hạ lệnh bằng cái chết vì nhiễm phóng xạ.
Là ba người anh hùng Alexei Ananenko, Valeri Bezpalov, Boris Baranov lặng xuống dòng nước đen chứa đầy phóng xạ giải cứu thế giới khỏi một thảm hoạ thứ hai.
Là 3.828 biorobot (robot sinh học) thực hiện nhiệm vụ dọn dẹp nơi vùng đất chết và gánh chịu hậu quả từ lời nói dối kinh hoàng của hệ thống chỉ để nhận 400 rúp và mang thương tật vĩnh viễn.
Là 400 thợ mỏ Tula Basin đào hầm trong cái nhiệt độ 50-60 °C cởi trần, chỉ mặc quần lót, đi ủng và đeo mặt nạ phòng độc rẻ tiền Lepestok – gần như vô dụng trước phóng xạ gamma.
Là 600.000 -800.000 liquidators (người dọn dẹp) đã tham gia toàn bộ chiến dịch xử lý hậu quả Chernobyl, trong đó ít nhất 90.000–100.000 người trực tiếp tham gia xây dựng Sarcophagus (quan tài bê tông) bao phủ Lò phản ứng số 4 sau vụ nổ.
Shelter Object – được hoàn thành vào tháng 11/1986, chỉ 7 tháng sau vụ nổ, trong điều kiện khắc nghiệt chưa từng có. Không có tiền lệ kỹ thuật. Không có thiết bị robot đủ bền. Cuối cùng, chính xác người là phần mềm thay thế.
Một phần đáng kể trong số đó đã chết trong 5–10 năm sau vì ung thư, tim mạch, suy giảm miễn dịch, hoặc mất tích trong hệ thống y tế Xô Viết. Còn lại hàng trăm nghìn người sống sót với hậu quả sức khỏe kéo dài cả đời – và một chính quyền đã rã đám, bỏ mặc họ như thể chưa từng tồn tại.
Vậy cái giá của Chernobyl là gì?
Cái giá đó không nằm ở số tiền phải bỏ ra để dọn dẹp, không nằm ở diện tích đất bị ô nhiễm.
Cái giá đó nằm ở chính sự tương phản tàn nhẫn: mạng người được coi là một đơn vị tài nguyên rẻ mạt để hệ thống ném vào ngọn lửa, nhưng đối với mỗi gia đình, mỗi phận người, đó là cả một thế giới bị sụp đổ.
Họ là những con tốt thí trên một bàn cờ mà vua và hậu đã tự chiếu hết chính mình bằng sự dối trá, và rồi những con tốt bị bỏ lại để gánh chịu toàn bộ tàn cuộc.
Những anh hùng của Chernobyl không mặc áo choàng, không có siêu năng lực.
Họ không bay lượn.
Họ leo lên những cái thang, họ lội qua dòng nước đen, họ dùng xẻng và tay trần.
Sự vĩ đại của họ không đến từ sức mạnh, mà đến từ chính sự trần trụi và dễ bị tổn thương của con người khi đối mặt với một thảm họa phi nhân tính.
Họ là những người như chúng ta, những người có gia đình để yêu thương, có những ước mơ bình dị.
Nhưng họ đã bị đặt vào một tình thế mà hành động duy nhất họ có thể làm là bước về phía trước, bước vào lò lửa, không phải vì họ muốn chết, mà vì họ được dạy rằng đó là cách duy nhất để người khác được sống.
Họ đã sống và chết như thể không còn gì để mất, chỉ để chữa một lỗi lầm không phải do họ gây ra, để dọn dẹp mớ hỗn độn của một hệ thống đã mù lòa trước sự thật.
Và đó là di sản cuối cùng, là bài học đau đớn nhất từ Chernobyl.
Nó dạy cho chúng ta rằng, nguyên tố phóng xạ nguy hiểm nhất không phải là Plutonium hay Caesium. Nguyên tố nguy hiểm nhất là sự mục ruỗng của sự thật trong một bộ máy quyền lực. Bởi vì khi sự thật bị chôn vùi, cái giá để đào nó lên sẽ luôn được trả bằng xương máu của những người vô tội.
Cái nực cười là con số chính thức thương vong mà Moskva đưa ra từ năm 1987 đến nay vẫn dừng lại ở mức thấp và vô lý: 31 người.
Nước Nga kế thừa di sản của Liên Xô vẫn không thay đổi gì, nó không phải là một lời nói dối hoàn toàn, mà là một sự thật đã bị bóp méo một cách tàn nhẫn bằng cách chơi chữ.
Con số 31 này chỉ bao gồm hai nhóm người cực kỳ hẹp:
Hai công nhân của nhà máy đã chết ngay trong đêm xảy ra vụ nổ (một người chết vì vụ nổ hơi nước, người còn lại chết vì bỏng nhiệt).
29 người khác, chủ yếu là lính cứu hỏa và nhân viên nhà máy trong ca trực đó, đã qua đời trong vòng vài tuần đến vài tháng sau đó vì Hội chứng Nhiễm xạ Cấp tính (ARS).
Bằng cách định nghĩa "nạn nhân của Chernobyl" chỉ là những người chết ngay lập tức hoặc chết vì ARS, nhà nước Liên Xô đã có thể đóng hồ sơ vụ việc với một con số "có thể chấp nhận được".
Bất kỳ ai chết vì ung thư 5, 10, hay 20 năm sau đó, theo định nghĩa này, đều không được tính. Họ chết vì "ung thư", không phải vì "Chernobyl". Đó là một thủ thuật quan liêu kinh điển để xóa sổ hàng trăm ngàn nạn nhân ra khỏi lịch sử.
Cái con số thật sự, như trong phim HBO đã nói, là một cuộc tranh cãi không hồi kết của các nhà khoa học, và nó sẽ không bao giờ có một con số chính xác.
Lý do là vì mày không thể chỉ vào một người bị ung thư phổi 20 năm sau và nói chắc chắn 100% rằng đó là do Chernobyl. Mày chỉ có thể tính toán số ca ung thư gia tăng bất thường trong một cộng đồng bị phơi nhiễm.
Đây là những con số quan trọng nhất từ các tổ chức quốc tế:
Con số cốt lõi - 4.000 người: Đây là con số được công nhận rộng rãi nhất, đến từ Diễn đàn Chernobyl của Liên Hợp Quốc (bao gồm cả WHO và IAEA) vào năm 2005. Con số này ước tính có thể có tới 4.000 ca tử vong do ung thư trong tương lai, nhưng chỉ tính trong nhóm bị phơi nhiễm nặng nhất, bao gồm khoảng 600.000 người (Liquidators, người dân bị di tản, và những người sống trong các khu vực ô nhiễm nặng).
Đại dịch ung thư tuyến giáp: Đây là hậu quả sức khỏe duy nhất có thể quan sát và đo đếm được một cách rõ ràng. Ủy ban Khoa học của Liên Hợp Quốc về Tác động của Bức xạ Nguyên tử (UNSCEAR) báo cáo có khoảng 20.000 trường hợp ung thư tuyến giáp đã được chẩn đoán ở những người là trẻ em hoặc thanh thiếu niên vào năm 1986. May mắn là, ung thư tuyến giáp có tỷ lệ chữa khỏi rất cao (trên 99%), vì vậy số người chết trực tiếp vì nó tương đối thấp.
Con số tối đa - 93.000 người: Con số gây tranh cãi này cũng đến từ một báo cáo của WHO/IAEA, nhưng nó là một phép ngoại suy. Các nhà khoa học đã áp dụng mô hình rủi ro lên toàn bộ dân số châu Âu đã bị phơi nhiễm ở mức độ thấp, và đưa ra con số tử vong tiềm năng có thể lên tới 93.000 người. Con số này bị nhiều nhà khoa học khác cho là quá cao và mang tính suy đoán.
Cái khoảng cách khổng lồ giữa 4.000 và 93.000 chính là lý do tại sao không bao giờ có một "con số thật" duy nhất.
Vậy cái giá thật sự mạng sống con người là rẻ hay quá đắt để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng chỉ vì sự dối trá và mù quáng?
Từ Chernobyl ta đã nhận ra được một bài học kinh điển của mọi chế độ quan liêu trên khắp thế giới, từ văn minh Lưỡng Hà đến Trung Quốc hiện đại trong Đại Dịch COVID-19 rằng:
Chúng nó thà chọn tin vào những con số vô hồn dối trá trên giấy A4 còn hơn mở mắt to rằng nhìn đám cháy đang nuốt chửng căn nhà mà vẫn kêu “mọi chuyện vẫn trong tầm kiểm soát”
Nó không chỉ phớt lờ những người nói thật, nó coi họ như một mầm bệnh.
Những Valery Legasov, những nhà khoa học, những người lính cứu hỏa nhìn thấy tận mắt sự thật – họ trở thành những mối đe dọa cho câu chuyện "mọi chuyện vẫn trong tầm kiểm soát".
Và hệ thống sẽ tìm cách vô hiệu hóa, làm mất uy tín, hoặc chôn vùi họ cùng với sự thật mà họ mang theo.
Hy vọng không thể đặt vào một hệ thống mà bản năng sinh tồn của nó là tự lừa dối chính mình. Chernobyl dạy chúng ta rằng, cuối cùng, trách nhiệm nhìn thẳng vào đám cháy và gọi nó đúng bằng tên của nó – một đám cháy, chứ không phải "một sự cố tỏa nhiệt ngoài dự kiến" – thuộc về lương tâm của mỗi cá nhân.
From r/VietTalk
Bocchi981
NGUỒN
Alexievich, S. (1997). Voices from Chernobyl: The Oral History of a Nuclear Disaster. Dalkey Archive Press.
American Nuclear Society. (2021, October 15). The man held responsible for the Chernobyl accident has died. Nuclear Newswire. https://www.ans.org/news/article-3397/viktor-died/
Fitzpatrick, S. (2001). The Russian Revolution. Oxford University Press.
Getze, G. (1987, July 29). 6 Guilty in Chernobyl Blast, Sentenced to Labor Camps. Los Angeles Times. https://www.latimes.com/archives/la-xpm-1987-07-29-mn-4448-story.html
Gorbachev, M. S. (n.d.). Turning point at Chernobyl. The Gorbachev Foundation. Retrieved July 30, 2025, from https://www.gorby.ru/en/presscenter/publication/show_25057/
Gregory, P. R. (2004). The Political Economy of Stalinism: Evidence from the Soviet Secret Archives. Cambridge University Press.
Higginbotham, A. (2019). Midnight in Chernobyl: The Untold Story of the World's Greatest Nuclear Disaster. Simon & Schuster.
Holloway, D. (1994). Stalin and the Bomb: The Soviet Union and Atomic Energy, 1939-1956. Yale University Press.
International Atomic Energy Agency. (1992). INSAG-7: The Chernobyl Accident: Updating of INSAG-1 (Safety Series No. 75-INSAG-7). IAEA. https://www-pub.iaea.org/MTCD/Publications/PDF/Pub913e_web.pdf
International Atomic Energy Agency. (1996). One Decade after Chernobyl: Summing up the Consequences of the Accident. IAEA. https://www-pub.iaea.org/MTCD/Publications/PDF/Pub1001_web.pdf
International Atomic Energy Agency. (2006). Environmental Consequences of the Chernobyl Accident and their Remediation: Twenty Years of Experience. IAEA. https://www-pub.iaea.org/MTCD/Publications/PDF/Pub1239_web.pdf
ITN Archive. (n.d.). Chernobyl: A Rare Look Inside The Full Story Of The Nuclear Disaster [Video]. YouTube.
Johnson, T. (Director). (2006). The Battle of Chernobyl [Film]. Discovery Channel.
Ledeneva, A. V. (1998). Russia's Economy of Favours: Blat, Networking and Informal Exchange. Cambridge University Press.
Mathew, A. (2024, April 12). The Chernobyl trio who prevented a catastrophic nuclear explosion and saved millions of lives. GOOD. https://www.good.is/the-chernobyl-trio-who-prevented-a-catastrophic-nuclear-explosion-and-saved-millions-of-lives
National History Day. (n.d.). How the Chernobyl Disaster Transformed Nuclear Safety and Regulations. https://national.nhd.org/api/FileApi/View/9f566358-ecb6-484c-8bd8-e1a697dba5be/1f40e11d-cb0d-478e-ba18-f5da3cb76b83/00000000-0000-0000-0000-000000000000/d7b5ba6d-c2e5-44db-a3f0-d6f86a94eb2d
Nove, A. (1992). An Economic History of the USSR, 1917-1991. Penguin Books.
Plokhy, S. (2018). Chernobyl: History of a Tragedy. Basic Books.
Schmemann, S. (1986, April 29). SOVIET ANNOUNCES NUCLEAR ACCIDENT AT ELECTRIC PLANT. The New York Times. https://www.nytimes.com/1986/04/29/world/soviet-announces-nuclear-accident-at-electric-plant.html
Solnick, S. L. (1998). Stealing the State: Control and Collapse in Soviet Institutions. Harvard University Press.
United Press International. (1987, July 7). Six officials of the Chernobyl nuclear power station went... UPI Archives. https://www.upi.com/Archives/1987/07/07/Six-officials-of-the-Chernobyl-nuclear-power-station-went/3303552628800/
Williams, N. (2006). The Chernobyl Accident 20 Years On: An Assessment of the Health Consequences and the International Response. Ciência & Saúde Coletiva, 11(4), 1229–1240. https://doi.org/10.1590/S1413-81232006000400002
Wilson Center. (n.d.). “An Explosion Occurred in Power Unit No. 4”: The Story of Chernobyl in Documents. https://www.wilsoncenter.org/blog-post/explosion-occurred-power-unit-no-4-the-story-chernobyl-documents
World Nuclear Association. (2021, May). Chernobyl Accident 1986. https://world-nuclear.org/information-library/safety-and-security/safety-of-plants/chernobyl-accident.html
The Gurdian, Tragedy of Chernobyl does not end with simple switch-off, https://www.theguardian.com/world/2000/dec/16/ameliagentleman