Wall Street: Cỗ máy sản xuất khủng hoảng
Lịch sử 80 năm về cách quyền lực, hệ tư tưởng và lòng tham lam định hình nền tài chính hiện đại.
Tác giả: Bocchi981. (Đi ăn cắp nhớ ghi credit)
Hãy thử tưởng tượng mày đi bán 1 căn nhà với lời hứa nó không đổ sập trong 100 năm và đùng phát nó đổ ngã và bị phát hiện mày đã rút ruột công trình để bán cho khách hàng một sản phẩm kém chất lượng.
Đáng lẽ theo logic thông thường sẽ bị phạt thậm chí đi tù nhưng không, mày còn được thưởng và trả tiền để xây lại chính căn nhà đổ ngã đó.
Nghịch lý không? Nhưng đó là cách thảm kịch 2008 diễn ra và đéo đứa nào chịu trách nhiệm và phải đi tù.
Thằng thanh tra xây dựng – kẻ đã cấp cho nó cái chứng nhận "chống động đất cấp 9" cho một căn nhà xây bằng ván ép – chính là bọn cơ quan xếp hạng tín dụng (CRA). Mày nhét tiền cho nó, và nó sẽ đóng cho mày cái dấu an toàn nhất.
Thằng quan chức quy hoạch thành phố – kẻ đã xóa sổ toàn bộ quy chuẩn xây dựng và nói: "Cứ xây tự do đi, thị trường sẽ tự điều tiết" – chính là đám chính trị gia đã dỡ bỏ Glass-Steagall và ban hành các đạo luật phi điều tiết.
Thằng cung cấp xi măng, cốt thép giá rẻ – kẻ đã mở vòi cho vay vật liệu xây dựng gần như miễn phí, khuyến khích mọi thằng xây nhà càng nhanh càng tốt, bất kể chất lượng – chính là FED dưới thời Alan Greenspan.
Thằng môi giới bán hàng – kẻ đã nói dối khách hàng về chất lượng căn nhà để ăn hoa hồng chính là các ngân hàng cho vay và các ngân hàng đầu tư.
Chúng nó bán được "căn nhà nợ" là chúng nó ăn phí ngay lập tức. Căn nhà có sập sau đó cũng không phải việc của chúng.
Khi hàng loạt căn nhà sụp đổ và đè bẹp hàng triệu người dân, thằng chủ thầu xây dựng là mày không những không bị truy tố, không bị bỏ tù.
Ngược lại, chính quyền thành phố (chính phủ) còn đến, rút tiền thuế của chính những người dân vừa bị nhà đè, và đưa cho mày một hợp đồng mới béo bở, không cần đấu thầu, để "xây dựng lại" cơ sở hạ tầng. Không chỉ thế, mày còn dùng chính tiền đó để trả thưởng hậu hĩnh cho đám kiến trúc sư và đội ngũ bán hàng của mày vì đã "hoàn thành xuất sắc kế hoạch kinh doanh".
Và mày xây lại một tòa nhà thậm chí còn to hơn trước, với lời hứa hẹn rằng "lần này chúng tôi đã rút kinh nghiệm", trong khi vẫn dùng những thủ đoạn cũ.
Nhưng lần này nó bán thứ áo mới CLO nhưng cũng sẽ đốt cháy hàng triệu căn nhà một lần nữa và chính mày phải móc tiền ra cứu tụi nhà thầu Wall Street đó.
Đó chính là di sản của "Too Big to Fail".
Bài này sẽ khơi bày tất cả mọi thứ về kinh tế vĩ mô-tài chính-chính trị-xã hội-triết học mà các lớp Kinh tế ở trường Đại Học sẽ không bao giờ nói cho mày biết. Sẵn sàng thì thắt dây an toàn và ngồi đọc đi.
Tao biết mày sẽ nói là:
"Cái đéo gì thế này? Thằng này viết như một thằng du côn, giọng văn thì chợ búa, không có một cái mô hình toán học nào, không có một phương trình hồi quy nào cả. Toàn là lịch sử với chính trị.
Cái này mà gọi là phân tích kinh tế à?"
Bởi vì nếu mày đã học qua hàng trăm tín chỉ ở FTU/NEU về những mô hình toán học phức tạp, lý thuyết thị trường hiệu quả, và các định lý kinh tế tân cổ điển phải tiếp cận kinh tế như một môn khoa học chính xác, khách quan, phi chính trị sẽ thấy xa lạ với cách tao hệ thống hoá và mổ xẻ kinh tế dưới góc độ một bãi chiến trường của quyền lực, lòng tham và ý thức hệ.
Khi mày đọc về nhận ra rằng những cái tên như Glass-Steagall, Nixon Shock, Paul Volcker, Robert Rubin... đều đã được nghe giảng qua loa trong trường như những sự kiện lịch sử rời rạc nhưng chúng đã được tao xâu chuỗi tất cả chúng lại thành một câu chuyện duy nhất, một bản cáo trạng có logic nhân quả.
Tao biết mày sẽ đau đớn nhận ra rằng những công cụ tinh vi mà mình đã bỏ 4 năm để học – các mô hình định giá, lý thuyết danh mục đầu tư, nguyên tắc tối đa hóa giá trị cổ đông – không phải là những công cụ để tìm kiếm sự thật.
Chúng chỉ là những công cụ để tối ưu hóa hoạt động của chính cỗ máy tham lam.
Bởi vì toàn bộ bài viết này chủ yếu nói về một thứ duy nhất:
Financialized Capitalism (Chủ nghĩa tư bản tư bản tài chính hoá)
Marx sống trong thời đại công nghiệp thế kỷ 19, viết nên Das Kapital (Tư bản luận) nhờ việc nhìn vào ống khói từ các nhà máy ở Manchester và dây chuyền sản xuất.
Đối với ông, chủ nghĩa tư bản là về việc bóc lột giá trị thặng dư từ lao động sản xuất hàng hoá vật chất với mâu thuẫn cốt lõi nằm ở “phương thức sản xuất” - giữa thằng chủ xưởng và đứa công nhân.
Nhưng tao lại sống ở cái thời đại mà Marx dù thiên tài đến đâu cũng không thể hình dung ra được: một hệ thống nơi nhà máy quan trọng nhất lại là Wall Street.
Trong Financialized Capitalism, lợi nhuận khổng lồ không còn đến từ việc tạo ra một chiếc xe hơi tốt hơn hay một chiếc tủ lạnh bền hơn để bán cho người tiêu dùng mà nó đến từ:
Việc tạo ra và mua bán nợ.
Việc mua bán rủi ro của các món nợ đó.
Việc đánh cược vào sự biến động của tất cả những thứ trên.
Hãy tưởng tượng thế này:
Chủ nghĩa tư bản công nghiệp (thời Marx):
Giống như mày mở một nhà hàng phở. Mày phải mua xương, mua thịt, thuê đầu bếp, nấu ra một bát phở ngon và bán nó để kiếm lời. Lợi nhuận của mày đến từ việc tạo ra một sản phẩm thật.
Chủ nghĩa tư bản tài chính hóa (thế kỷ 21):
Mày không mở nhà hàng nào cả. Mày tạo ra một cái app giao hàng.
Mày không nấu một bát phở nào, nhưng mày ngồi giữa, thu phí của cả nhà hàng và thực khách trên mỗi giao dịch.
Sau đó, mày bắt đầu tạo ra các "sản phẩm phái sinh": mày bán các hợp đồng cá cược xem nhà hàng phở nào sẽ hot nhất vào tháng tới, mày bán "bảo hiểm" cho các nhà hàng phòng khi họ bị khách chê...
Lợi nhuận của mày đến từ việc luân chuyển và đánh cược vào dòng tiền, hoàn toàn tách rời khỏi việc bát phở có ngon hay không.
Tao sẽ không chỉ phân tích khủng hoảng 2008 mà còn là chính cái hệ điều hành của chủ nghĩa tư bản trong thế kỷ 21 này ở thời đại tài chính hoá.
Từ giờ trở đi, khi đọc bất kỳ tin tức nào về việc FED tăng lãi suất, hay một ngân hàng nào đó được cứu trợ, hay một đạo luật tài chính mới được thông qua, mày sẽ không chỉ nghĩ về "tác động kinh tế" theo sách vở nữa.
Mày sẽ tự động hỏi:
"Ai có lợi? Ai viết ra cái luật này? Câu chuyện thực sự đằng sau là gì?"
Đêm trường mùa đông hậu Đại suy thoái 1929
Thứ ba đêm tối năm ấy chứng kiến Dow Jones bốc hơi trong vòng hai tháng, những kẻ không bao lâu còn mơ trở thành tỷ phú thì đống cổ phiếu trong tay trở thành giấy lộn.
Hơn 9000 nhà băng phá sản, cứ ba ngân hàng thì có một cái sập tiệm làm 7 tỷ đôla tiền gửi người dân bốc hơi vì làm đéo gì có bảo hiểm tiền gửi FDIC như bây giờ thế là tiền tiết kiệm cả đời mất trắng ngay ở nơi họ nghĩ là an toàn nhất.
Vì không có tiền , người dân đồng loạt cắt giảm chi tiêu kéo theo doanh số bán hàng tiêu dùng như ô tô, hàng xa xỉ tụt dốc không phanh.
Cầu giảm → cung giảm đẩy hàng loạt nhà máy sa thải hàng loạt công nhân, giảm sản lượng hoặc đóng cửa vĩnh viễn. Từ 1929 đến 1933, sản xuất công nghiệp của Mỹ tụt gần 47%.
86,000 công ty, tập đoàn lớn nhỏ đóng cửa, kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ chuỗi cung ứng và việc làm.
Giá nông sản rớt thê thảm, kết hợp với hạn hán và bão bụi ở Great Plains, đã đẩy nông dân vào cảnh cùng quẫn.
Gần 10% tổng số trang trại ở Great Plains phải đổi chủ. Nhà cửa, đất đai bị tịch biên hàng loạt.
Nhưng những con số đó vẫn còn quá sạch sẽ so với tận cùng nỗi đau của đói nghèo và tuyệt vọng.
Ở đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng năm 1933, cứ 4 người lao động Mỹ lại có 1 người thất nghiệp với tỷ lệ thất nghiệp chính thức là 24.9%.
Ước tính gần 13 đến 15 triệu người tương đương với dân số Sài Gòn bây giờ không có việc làm.
Các khu nhà ổ chuột mọc lên như nấm trên khắp đất nước, được gọi một cách mỉa mai là “Hoovervilles” theo tên Tổng thống Herbert Hoover.
Chúng được dựng tạm bợ từ thùng gỗ, xe hơi cũ và bất cứ thứ gì người ta vơ vét được.
Đó là cái hậu quả của “sự điều chỉnh của thị trường tự do” khi con người bấp chấp mọi thứ chạy theo lòng tham, đẩy bong bóng vượt quá tầm kiểm soát rồi kéo lùi cả xã hội cùng gánh chịu.
Và nước Mỹ từ đống tro tàn xây nên một cái lồng quy định từ bài học xương máu năm 1929 gọi là Đạo luật Glass-Steagall năm 1933.
Mục đích của nó là dựng nên bức tường lửa , tách bách giữa ngân hàng thương mại (commercial banking) - nơi người dân gửi tiền tiết kiệm và doanh nghiệp vay vốn làm ăn và ngân hàng đầu tư (investment banking) - cái sòng bạc chuyên thực hiện các phi vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán và đầu cơ rủi ro.
Đạo luật này ngăn cấm không cho các ngân hàng dùng tiền gửi của người dân thứ được coi là huyết mạch của nền kinh tế để lao vào các canh bạc đầy rủi ro trên thị trường quốc tế.
Ở Việt Nam có vẻ xa lạ với khái niệm Ngân hàng đầu tư (investment bank) nhưng chúng có lịch sử từ khá lâu.
Nguồn gốc của của bọn này từ các nhà buôn (merchant bankers) ở châu Âu thế kỷ 19, như nhà Rothschilds hay Barings. Mấy tay này ban đầu buôn hàng hóa, nhưng dần dà lấn sân sang tài chính, đứng ra thu xếp vốn cho các dự án lớn như xây kênh đào, đường sắt.
Chúng nó không nhận tiền gửi của dân, mà dùng vốn tự có và huy động từ giới siêu giàu để làm ăn lớn.
Sự khác biệt cốt lõi giữa ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại (commercial bank), hay ngân hàng truyền thống mà mày hay dùng, nằm ở hai thứ: khách hàng và cách kiếm tiền.
Các Commercial Bank hoạt giống như chợ làng, phục vụ đại chúng từ bà bán rau đến doanh nghiệp nhỏ. Nó nhận tiền gửi tiết kiệm của mày, rồi lấy tiền đó cho người khác vay mua nhà, mua xe, kinh doanh nhỏ.
Nó sống bằng chênh lệch lãi suất (spread) - tức là lãi suất cho vay trừ đi lãi suất trả cho người gửi tiền (Regulation Q sẽ nói sau). Mô hình này khá đơn giản và được kiểm soát chặt chẽ để bảo vệ tiền của dân.
Nhưng Invesment Bank là chuyện khác, chúng là sòng bạc của giới tinh hoa với khách hàng là các tập đoàn lớn, chính phủ và các quỹ đầu tư chuyên nghiệp.
Nó không nhận tiền gửi lặt vặt mà công việc chính đến từ giúp các "tay chơi lớn" này huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu (gọi là underwriting), tư vấn các vụ mua bán, sáp nhập công ty (M&A), và tự mình giao dịch trên thị trường (proprietary trading).
Nó kiếm tiền từ phí dịch vụ và lợi nhuận từ các phi vụ đầu tư, giao dịch. Rủi ro cao hơn nhiều, và lợi nhuận cũng vậy.
Đạo luật Đạo luật Glass-Steagall năm 1933 được thiết để chặn việc hợp nhật hai con quái vật này lại với nhau gây rủi ro tài chính làm hàng triệu người dân mất tiền.
Nếu một Invesment Bank có phá sản thì người thiệt hại vẫn là cái đám tinh hoa và không ảnh hưởng gì tới tiền gửi người dân.
Hệ thống được giữ nguyên ổn định trong suốt 40 năm sau WW2 cùng với hệ thống Bretton Woods được lập ra năm 1944 cũng góp phần tạo ra sự ổn định nhờ neo giá trị đồng đô la vào vàng và các đồng tiền khác vào đô la, đồng thời cho phép các quốc gia áp đặt các biện pháp kiểm soát vốn (capital controls).
Ngành ngân hàng Mỹ lúc này làm đúng chức năng của mình: phục vụ nền kinh tế thực giúp người dân có chỗ gửi tiền an toàn, doanh nghiệp có chỗ vay lãi suất thấp trong thời gian dài và ngân hàng cũng được hưởng lợi nhờ lãi suất chênh lệch gửi& vay.
Wall Street trong những năm 1933-1981 lúc đó không phải là nơi để làm giàu nhanh nhất, mà là một ngành nghề có phần tẻ nhạt.
Lợi nhuận của nó cũng chỉ là một phần khiêm tốn trong tổng lợi nhuận của nền kinh tế.
Chức năng chính của Wall Street là phục vụ nền kinh tế thực.
Công việc của một tay chủ ngân hàng thời đó là thẩm định tín dụng của một công ty thép muốn mở rộng nhà máy, hoặc bảo lãnh phát hành cổ phiếu cho một hãng xe hơi đã có danh tiếng.
Chúng nó là những người trung gian, những người điều phối vốn, chứ không phải là những kẻ tạo ra sản phẩm từ không khí.
Sự đổi mới trong ngành tài chính gần như không tồn tại. Sản phẩm chỉ có vài món cơ bản: cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay.
Không có CDO, không có CDS, không có những công cụ phái sinh phức tạp.
Những người giỏi nhất, những bộ óc sáng tạo nhất tốt nghiệp từ MIT hay Caltech, họ không đến Wall Street.
Họ đến Bell Labs để phát minh ra bóng bán dẫn, đến Boeing để thiết kế chiếc 747, hoặc đến IBM để xây dựng máy tính mainframe.
Wall Street được coi là một nghề nghiệp an toàn, đáng kính, dành cho những người giỏi về quan hệ và bán hàng, chứ không phải là nơi dành cho các nhà phát minh hay những kẻ muốn thay đổi thế giới.
Văn hóa của nó là những bộ vest xám tẻ nhạt, không phải là văn hóa của những canh bạc nghìn tỷ.
Lương ở Wall Street cao, chắc chắn rồi, đủ để sống một cuộc đời thượng lưu. Nhưng nó không phải là thứ lương thưởng điên rồ, những con số hàng chục, hàng trăm triệu đô la như sau này. Mày làm ở Wall Street để trở nên giàu có, chứ không phải để trở thành một vị vua có thể khuynh đảo cả một quốc gia.
Trong khi Wall Street là một gã kế toán mẫn cán, thì quyền lực, sự hào nhoáng và giá trị thực sự của nền kinh tế Mỹ nằm ở những nơi khác.
Quyền lực thực sự nằm ở Detroit (thủ phủ xe hơi của General Motors, Ford), ở Seattle (Boeing), ở Thung lũng Silicon thời kỳ đầu (IBM, HP).
Những công ty như General Electric sản xuất mọi thứ từ động cơ máy bay đến tủ lạnh. AT&T, thông qua Bell Labs, đã phát minh ra những công nghệ làm thay đổi cả nhân loại. Đó mới là nơi giá trị thực sự được tạo ra. Trở thành một phó chủ tịch ở General Motors có sức nặng và uy tín xã hội hơn nhiều so với việc là một partner ở một công ty chứng khoán nhỏ.
Đây là những đế chế tạo ra những thứ mày có thể sờ được, lái được, bay được và tính toán được. Chúng nó định hình lối sống, văn hóa và sức mạnh địa chính trị của cả nước Mỹ và cả phương Tây trong Chiến tranh lạnh.
Thế rồi Ronald Reagan lên nắm quyền vào năm 1981 với một hệ tư tưởng hoàn toàn mới, thường được gọi là:
"Reaganomics".
Triết lý của nó gói gọn trong một câu: chính phủ là vấn đề, không phải giải pháp.
Họ tin rằng việc dỡ bỏ các quy định (deregulation) sẽ giải phóng thị trường, thúc đẩy cạnh tranh và mang lại sự thịnh vượng.
Và triết lý này được tạo nên bởi hai cái đầu vừa là thiên tài vừa là kẻ tội đồ tiếp tay đẩy hàng triệu người vào 1 địa ngục tăng trưởng nhân danh thị trường tự do.
Milton Friedman và Friedrich Hayek
“Thị trường tự điều tiết tốt hơn nhà nước” không phải câu khẩu hiệu – nó là một thứ tôn giáo kinh tế, được luyện trong lò chiến tranh lạnh, tôi bằng nỗi sợ cộng sản, rồi rải xuống toàn cầu như vũ khí ý thức hệ toàn cầu hoá định hình nên thương mại thế giới ngày nay.
Hayek sinh ra trong một gia đình thượng lưu ở Vienna năm 1899, chứng kiến đế quốc Áo-Hung tan rã sau WW1 nảy sinh một nỗi ám ảnh của ông ta về trật tự xã hội sụp đổ khi nhà nước can thiệp quá sâu vào nền kinh tế.
"The Road to Serfdom" (Con đường dẫn tới chế độ nông nô) xuất bản vào năm 1944 là kinh thánh của ông ta và các nhà kinh tế học trường phái Áo nó giống như tiếng kêu tuyệt vọng của một người nhìn thấy thế giới đang tan rã với sự trỗi dậy của Chủ nghĩa phát xít.
Luận điểm cốt lõi của Hayek là một con dốc trơn: bất kỳ hình thức kế hoạch hóa tập trung nào của nhà nước, dù với ý định tốt đẹp nhất như đảm bảo phúc lợi xã hội hay việc làm, đều sẽ từ từ bào mòn tự do cá nhân và chắc chắn sẽ dẫn đến một chế độ độc tài toàn trị.
Đối với Hayek, không có lằn ranh giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ kiểu Thụy Điển và chủ nghĩa toàn trị kiểu Stalin; một khi đã bước chân vào con đường can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, cái kết cuối cùng là mất tự do.
Và với Phương Tây đang chạy đua với Liên Xô sau đống đổ nát từ chiến tranh thế giới thứ 2 , làn sóng đỏ và phe cánh tả trỗi dậy khắp châu Âu thì cái luận điểm của "The Road to Serform" đã mang lại một chân lý không gì tuyệt vời hơn: chống Liên Xô bằng cách thần thánh hóa thị trường.
Ông ta có phần đúng về mặt lâu dài chính Liên Xô đã sụp đổ do sự mù quáng của chế độ toàn trị tự che giấu lỗ hổng của nó nhưng việc thần thánh hoá Free Market cũng đem lại hậu quả to lớn không kém về sau.
Còn Friedman - hắn ta còn đi xa hơn cả Hayek.
Ông ta lập giáo phái tại Đại học Chicago, dạy ra nguyên một lứa học trò sẽ trở thành Bộ trưởng Kinh tế, Chủ tịch Ngân hàng Trung ương, và cố vấn chính phủ ở khắp nơi; từ Chile của Pinochet tới Anh của Thatcher, Mỹ của Reagan, và khắp Đông Âu hậu cộng sản.
Nếu Hayek là nhà tiên tri thâm trầm, thì Friedman là vị giáo sĩ đi đến từng con chiên. Qua cuốn "Capitalism and Freedom" (Tư bản và Tự do) năm 1962 và sau này là loạt phim truyền hình cực kỳ ảnh hưởng "Free to Choose" (Tự do lựa chọn) năm 1980, Friedman đã dịch cái triết lý phức tạp của Hayek ra thứ ngôn ngữ mà dân chúng có thể hiểu được
Friedman tin rằng nếu để thị trường tự điều tiết, mọi thứ sẽ hiệu quả nhất, còn chính phủ càng nhỏ càng tốt.
Trong đầu hắn, phúc lợi xã hội là hủy hoại động lực cá nhân, công đoàn là phá hoại hiệu suất, và mọi hình thức phân phối thu nhập đều là sai trái.
Điểm đáng chủ ý là cả hai tên này đều không hề quan tâm gì đến thực tế mà chỉ muốn áp dụng cái mô hình kinh tế của mình lên xã hội.
Hayek thừa nhận kỹ năng toán học của mình yếu và từ chối sử dụng thống kê để xây dựng lý thuyết kinh tế. Friedman thì biến mọi vấn đề xã hội thành bài toán tối ưu hóa đơn giản.
Và cả hai đều để lộ bản chất đạo đức giả của mình khi phê phán New Deal của Roosevelt đã cải thiện đời sống của hàng triệu người Mỹ thất nghiệp thông qua các chương trình việc làm, bảo hiểm soát xã hội và kiểm soát tài chính ngân hàng.
Chúng hành xử như kẻ mất trí. Hayket gọi New Deal là "bước đầu tiên trên con đường nô lệ" còn Fiedmand coi đó là "chủ nghĩa xã hội trá hình".
Nhưng sự thật là chính New Deal đã ngăn nước Mỹ đi vào con đường độc tài như ở Đức và Ý khi trao hết quyền lực xã hội vào tay một nhà nước phát xít.
Họ chê New Deal là "can thiệp nhà nước" nhưng vấn đề tồi tệ nhất của nó chính là không đi đủ xa để giải quyết bất bình đẳng cơ cấu của cải.
Fiedmand và Hayek muốn thị trường tự huỷ diệt chính nó mà không cần bàn tay nhà nước cứu lấy.
Đối với Hayek và trường phái Áo, cuộc Đại Suy thoái không phải là thất bại của chủ nghĩa tư bản tự do.
Ngược lại, nó là kết quả tất yếu của sự can thiệp của chính phủ trước đó.
Ông cho rằng Cục Dự trữ Liên bang (FED) đã tạo ra một bong bóng tín dụng giả tạo trong những năm 1920 bằng cách giữ lãi suất quá thấp, khuyến khích các khoản đầu tư sai lầm.
Vụ sụp đổ năm 1929, đối với Hayek, là một quá trình "thanh lý" đau đớn nhưng cần thiết để nền kinh tế tự chữa lành.
Chính sách New Deal của Roosevelt, với các biện pháp can thiệp, trợ cấp và điều tiết, đã ngăn cản quá trình thanh lọc tự nhiên này, và do đó chỉ kéo dài sự đau khổ.
Nghĩa là ông ta thà để mặc hàng triệu người lao động chết trong đói nghèo, bệnh tật vì tin một giấc mơ "thị trường sẽ tự điều tiết", đúng là biểu hiện của sự kiêu ngạo tri thức.
Friedman thì có một cách giải thích khác, nhưng cũng đổ lỗi cho chính phủ.
Trong công trình đồ sộ "A Monetary History of the United States" viết cùng Anna Schwartz, Friedman lập luận rằng nguyên nhân khiến cuộc suy thoái trở nên "Đại Suy thoái" là do một sai lầm thảm khốc của FED: họ đã để cho lượng cung tiền trong nền kinh tế sụt giảm một phần ba từ 1929 đến 1933 mà không làm gì cả.
Đối với Friedman, đó không phải là thất bại của thị trường, mà là thất bại thảm hại của một cơ quan chính phủ. Vì vậy, giải pháp không phải là thêm nhiều quy định và sự can thiệp kiểu New Deal, mà là một FED hoạt động theo quy tắc đơn giản để giữ cung tiền ổn định.
Mày thấy không?
Họ không thấy sự sụp đổ của thị trường.
Họ thấy sự sụp đổ do chính phủ gây ra, hoặc là do hành động sai lầm (Hayek) hoặc là do không hành động đúng lúc (Friedman).
Với lăng kính đó, họ coi New Deal là một liều thuốc độc, củng cố quyền lực nhà nước và bóp nghẹt cơ chế giá cả của thị trường tự do, thứ mà họ coi là thiêng liêng.
Và cái hệ tư tưởng này của họ bắt đầu lan rộng đến tận giai cấp lãnh đạo quốc gia sau này mà nổi tiếng chính là thủ tướng Anh Thatcher và tổng thống Ronald Reagan.
Friedman bắt đầu với câu lạc bộ những kẻ thất bại Mont Pelerin Society do ông ta thành lập vào năm 1947 với 39 thành viên từ 17 quốc gia. Đây không phải tổ chức học thuật đơn thuần mà là mạng lưới chính trị đẩy hệ tư tưởng của mình lên tầm chính sách quốc gia.
Còn Hayet sau khi được khuyên tự bỏ sự nghiệp chính trị thành lập Institute of Economic Affairs (IEA) năm 1955 và Atlas Economic Research Foundation năm 1981 với sứ mệnh "thúc đẩy thị trưởng tự do".
Chỉ từ vài think tank Neoliberal trong 30 năm đã mọc lên 400 think tank ở 70 quốc gia. Một con số đáng sợ chứng minh rằng đây rõ ràng là một chiến dịch tuyên truyền có tổ chức biểu hiện cụ thể qua chương trình TV "Free to Choose" trên PSB năm 1980 của Friedman.
Thay vì tranh luận học thuật khô khan, Friedman biến Neoliberalism thành "thần thoại giải phóng" - chính phủ là kẻ áp bức từ trên xuống, thị trường là "cứu tinh của người bình thường.
Đến cuối những năm 1970, khi mô hình kinh tế Keynesian (vốn ủng hộ sự can thiệp của chính phủ) bắt đầu lung lay vì lạm phát và đình trệ, tôn giáo thị trường của Hayek và Friedman đã có cơ hội lên ngôi.
Ronald Reagan và Margaret Thatcher ở Anh đã trở thành những tín đồ đắc đạo, biến những giáo điều này thành chính sách quốc gia, mở ra kỷ nguyên phi điều tiết mà di sản của nó chúng ta vẫn đang chứng kiến.
Và nó đã mở đường cho khủng hoảng 2008 vẫn còn định hình tài chính toàn cầu ngày nay.
Sự ngu dốt ảo tưởng của giáo phái này đã được thể hiện qua:
"Liệu pháp sốc" ở Chile
Năm 1970, Salvador Allende - chính trị gia thiên tả với giấc mơ xây dựng XHCN của riêng Chile lên nắm quyền nhờ giành chiến thắng trong cuộc bầu cử.
Nhưng chính những hành động của gã trong ba năm cầm quyền đã tạo ra một cơn ác mộng kinh tế và một xã hội bị xé toạc, cung cấp toàn bộ đạn dược cho phe cánh hữu và quân đội sau này dùng làm hình ảnh đe dọa.
Việc đầu tiên và chấn động nhất mà Allende làm là thực hiện lời hứa quốc hữu hóa các ngành công nghiệp chủ chốt.
Allende cho quốc hữu hoá Ngành đào quặng đồng - là đòn đánh trực diện vào lợi ích của tài phiệt nước Mỹ.
Ngành công nghiệp đồng của Chile, nguồn sống của cả đất nước, lúc đó nằm trong tay các tập đoàn khổng lồ của Mỹ như Anaconda và Kennecott. Allende đã quốc hữu hóa hoàn toàn ngành này mà gần như không bồi thường, một hành động khiến chính quyền Nixon ở Mỹ nổi giận và bắt đầu các chiến dịch ngầm để phá hoại kinh tế Chile.
Sau đó hắn tiếp tục quốc hữu hoá hệ thống ngân hàng và hàng loạt các công ty lớn biến toàn bộ giới tài phiệt và doanh nhân Chile thành kẻ thù không đội trời chung với chính phủ.
Chính quyền của Allende cũng đẩy nhanh việc tịch thu các đồn điền lớn (latifundios) và chia lại cho nông dân. Việc này, dù có ý định tốt, đã gây ra sự hỗn loạn trong sản xuất nông nghiệp và tạo ra một tầng lớp địa chủ căm thù chế độ.
Những hành động trên đã tạo ra một cơn bão kinh tế hoàn hảo, và đây chính là những hình ảnh mà phe Pinochet sau này dùng để tuyên truyền.
Để chi trả cho các chương trình xã hội và bù lỗ cho các xí nghiệp quốc hữu hóa làm ăn kém hiệu quả, chính phủ của Allende đã in tiền một cách vô tội vạ. Kết quả là siêu lạm phát.
Tỷ lệ lạm phát hàng năm đã tăng từ 35% năm 1971 lên hơn 500% vào năm 1973. Đồng tiền mất giá từng ngày. Lương mày được tăng 50%, nhưng giá một ổ bánh mì ngoài chợ đen tăng 200%.
Cùng với việc tăng lương cho công nhân, Allende lại ra lệnh đóng băng giá cả của các mặt hàng thiết yếu.
Kết quả là một thảm họa kinh tế kinh điển: cầu tăng vọt trong khi cung thì sụp đổ (do sản xuất đình trốn). Hàng hóa biến mất khỏi các cửa hàng. Những hình ảnh mang tính biểu tượng nhất của thời kỳ này là những hàng dài dằng dặc (colas). Người dân phải xếp hàng nhiều giờ chỉ để mua những thứ cơ bản như bánh mì, dầu ăn, đường, thậm chí cả giấy vệ sinh.
Khi hàng hóa không có ở thị trường chính thức, một thị trường chợ đen khổng lồ đã mọc lên, nơi mọi thứ đều có nhưng với cái giá cắt cổ. Xã hội chìm trong cảnh thiếu thốn và hỗn loạn.
Các chính sách của Allende và hậu quả kinh tế của chúng đã xé toạc xã hội Chile ra làm hai. Không có chỗ cho sự ôn hòa.
Tầng lớp trung lưu và thượng lưu đã phản kháng quyết liệt. Nổi tiếng nhất là cuộc đình công của những người lái xe tải vào năm 1972, được CIA của Mỹ bí mật tài trợ. Cuộc đình công này đã làm tê liệt hoàn toàn việc vận chuyển hàng hóa, khiến cho tình trạng thiếu hụt càng thêm trầm trọng.
Các nhóm cực tả và cực hữu vũ trang đối đầu nhau trên đường phố. Đất nước đứng bên bờ vực của một cuộc nội chiến.
Sau cuộc đảo chính đẫm máu lật đổ chính quyền của Salvador Allende năm 1973, nhà độc tài Augusto Pinochet đã trở thành kẻ quyền lực nhất Chile.
Friedman đến Chile một lần vào năm 1975 gặp nhà độc tài Pinochet có giảng vài bài , tuy không điều hành nền kinh tế trực tiếp nhưng cái đám nhà kinh tế Chile được đào tạo tại Đại học Chicago tức là học trò của Friedman và Arnold Harberger.
Bọn họ được gọi một cách vừa nể vừa khinh là "The Chicago Boys".
Đó là 25 nhà kinh tế người Chile bao gồm những cái tên chủ chốt như:
Sergio de Castro: Được coi là "bộ não" và là thủ lĩnh không chính thức của cả nhóm. Gã này sau đó trở thành Bộ trưởng Kinh tế rồi Bộ trưởng Tài chính, là kiến trúc sư trưởng của các chính sách kinh tế.
Rolf Lüders: Cũng giữ các chức vụ Bộ trưởng Kinh tế và Tài chính quan trọng.
José Piñera: Kẻ đã thực hiện cuộc "cách mạng" tư nhân hóa hệ thống hưu trí của Chile, một mô hình gây tranh cãi được sao chép ở nhiều nơi trên thế giới. Gã này là anh trai của Sebastián Piñera, người sau này hai lần trở thành tổng thống Chile.
Hernán Büchi: Trở thành Bộ trưởng Tài chính trong giai đoạn sau của chế độ, được ghi nhận là người đã vực dậy nền kinh tế sau cuộc khủng hoảng năm 1982 bằng một làn sóng cải cách thứ hai, thực dụng hơn.
Miguel Kast: Một nhà tư tưởng quan trọng, giữ nhiều chức vụ khác nhau từ Bộ trưởng Kế hoạch đến Chủ tịch Ngân hàng Trung ương.
Pinochet trao cho đám Chicago Boys này toàn quyền thực hiện một cuộc cách mạng kinh tế triệt để, dựa trên công thức mà họ đã học được: tư nhân hóa, phi điều tiết, tự do thương mại và cắt giảm chi tiêu công.
Kế hoạch này được gói gọn trong một tài liệu dày cộp có biệt danh là "El Ladrillo" (Cục Gạch), thứ mà chúng đã âm thầm chuẩn bị từ trước.
Và chúng nó đã làm đúng như vậy, một cách không khoan nhượng.
Chúng tư nhân hóa hàng trăm doanh nghiệp nhà nước, từ ngân hàng đến các công ty công nghiệp,điện lực, hãng hàng không, thậm chí cả hệ thống hưu trí và y tế.
Thay vì hệ thống hưu trí nhà nước, người lao động bị buộc phải gửi tiền tiết kiệm hưu trí của mình vào các quỹ tư nhân, biến an sinh xã hội thành một thị trường đầu tư tài chính.
Và để xả xích cho lòng tham của các tài phiệt tài chính, chúng xoá bỏ gần như mọi quy định về giá cả, tiền lương và kiểm soát tài chính cho phép các ngân hàng được thả tự do để cho vay và đầu cơ -> trực tiếp dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 1982.
Chúng dỡ bỏ các hàng rào thuế quan từ mức trung bình 94% xuống còn 10%, mở toang nền kinh tế cho cạnh tranh quốc tế. Và nó giết chết ngành công nghiệp nội địa không có khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu giá rẻ và biết cái gì rồi đấy, doanh nghiệp phá sản thì kéo theo thất nghiệp lao dốc không phanh.
Mọi hoạt động của công đoàn đều bị cấm hoặc hạn chế, tiền lương thực tế của người lao động bị sụt giảm, và quyền lợi của họ bị tước bỏ để tối đa hóa lợi nhuận cho giới chủ.
Để chống lại lạm phát phi mã dưới thời Allende, chúng nó đã cắt giảm chi tiêu công một cách tàn bạo. Ngân sách cho y tế, giáo dục và các dịch vụ xã hội đều bị co hẹp lại.
Đây chính là phiên bản thuần khiết nhất của học thuyết Friedman được áp dụng trong thực tế, một điều không thể làm được trong một xã hội dân chủ có tranh luận và phản kháng.
Kết quả ban đầu là một thảm họa kinh tế và xã hội.
Về mặt xã hội, cái giá phải trả cực kỳ đắt.
Tỷ lệ thất nghiệp, vốn ở mức thấp dưới thời Allende, đã tăng vọt một cách khủng khiếp. Trong giai đoạn 1974-1983, tỷ lệ thất nghiệp trung bình là 14.5%.
Đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng năm 1982-1983, con số này lên tới hơn 20%, thậm chí một số ước tính còn cho là 30%.
Tỷ lệ nghèo đói cũng bùng nổ. Đến cuối thập niên 80, gần một nửa dân số Chile sống dưới mức nghèo khổ.
Bất bình đẳng thu nhập tăng vọt, người giàu thì giàu lên nhanh chóng trong khi phần lớn người lao động thấy lương thực tế của mình giảm sút.
Các dịch vụ công như y tế và giáo dục, sau khi bị tư nhân hóa một phần và cắt giảm ngân sách, đã suy giảm chất lượng và trở nên đắt đỏ đối với người nghèo.
Về mặt kinh tế, sau một giai đoạn đầu có vẻ khả quan, mô hình này đã sụp đổ tan tành trong cuộc khủng hoảng năm 1982.
Với việc phi điều tiết hóa toàn diện, các ngân hàng được tháo xích. Chúng nó bắt đầu một cuộc chơi điên cuồng, không phải là cho các nhà máy vay tiền để sản xuất, mà là cho vay lẫn nhau, cho các công ty sân sau vay để đầu cơ bất động sản và cổ phiếu.
Các "grupos económicos" – tức là các tập đoàn tài phiệt thân hữu với chế độ – đã dùng các ngân hàng mà chúng vừa mua được với giá rẻ mạt để tự bơm vốn cho chính mình, tạo ra một bong bóng tín dụng khổng lồ; tương tự như vụ Trương Mỹ Lan: biến tiền gửi tiết kiệm của người dân thành của riêng để đi bơm vào các bong bóng.
Để bóp chết lạm phát, đám Chicago Boys đã làm một việc cực kỳ rủi ro: neo cứng tỷ giá đồng peso vào đô la Mỹ vào năm 1979.
Điều này, kết hợp với lãi suất trong nước cao ngất ngưởng, đã biến Chile thành một thỏi nam châm hút vốn ngoại.
Hàng tỷ đô la "tiền nóng" từ các ngân hàng quốc tế (chính là đống petrodollar được tái chế) đã đổ vào Chile để hưởng lãi suất cao và sự ổn định giả tạo của tỷ giá.
Trong khi sòng bạc tài chính đang lên đồng, thì các nhà máy, xí nghiệp thật sự lại đang chết dần. Việc mở toang cửa cho thương mại tự do đã giết chết các ngành công nghiệp nội địa không thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu giá rẻ (được trợ giá bởi đồng peso neo cao).
Nền kinh tế Chile ngày càng rỗng ruột, chỉ còn lại lớp vỏ tài chính phình to.
Và bữa tiệc nào cũng phải tàn có hai sự kiện xảy ra cùng lúc khiến nhạc phải tắt và bật đèn lên.
Ở Mỹ, Paul Volcker tăng lãi suất lên mức kỷ lục để chống lạm phát. Điều này làm hai việc: nó hút toàn bộ dòng "tiền nóng" đang ở Chile quay trở lại Mỹ để hưởng lãi suất cao hơn, và nó làm cho các khoản nợ bằng đô la mà các công ty Chile đã vay trở nên đắt đỏ hơn nhiều.
Giá đồng, mặt hàng xuất khẩu chính của Chile, lao dốc trên thị trường thế giới, làm cạn kiệt nguồn thu ngoại tệ của đất nước.
Đây là lúc quả bom phát nổ.
Dòng vốn tháo chạy: "Tiền nóng" đột ngột bốc hơi. Các ngân hàng Chile mất đi nguồn vốn rẻ mạt.
Vỡ nợ hàng loạt: Các công ty Chile, vốn đã vay nợ bằng đô la để đầu cơ, giờ đây không có doanh thu (vì kinh tế thực đã chết) và cũng không có đô la để trả nợ. Chúng bắt đầu phá sản hàng loạt.
Hệ thống ngân hàng sụp đổ: Khi các công ty phá sản, các ngân hàng ôm trọn đống nợ xấu đó. Vì chúng nó đã cho vay lẫn nhau một cách vô tội vạ, sự sụp đổ của một ngân hàng đã kéo theo cả một dàn domino. Toàn bộ hệ thống ngân hàng tư nhân của Chile, niềm tự hào của đám Chicago Boys, đã phá sản.
Cuộc sụp đổ này còn tệ hơn cả thời Allende làm GDP giảm 14.3%, thất nghiệp vọt lên hơn 20%.
Đây chính là lúc mà ngay cả nhà độc tài Pinochet cũng phải nhận ra rằng đức tin mù quáng vào thị trường tự do tuyệt đối là một sự tự sát.
Đối mặt với sự sụp đổ toàn diện và các cuộc biểu tình lan rộng, chính quyền Pinochet đã buộc phải phản bội lại chính những giáo điều của Chicago Boys.
Họ đã làm gì? Họ đã can thiệp vào nền kinh tế một cách mạnh mẽ, làm những việc mà trước đó họ chê bai là "xã hội chủ nghĩa".
Họ đã quốc hữu hóa lại hàng loạt ngân hàng và các công ty đang trên bờ vực phá sản để cứu chúng khỏi sụp đổ được gọi là "intervención".
Đây không phải là quốc hữu hóa theo kiểu xã hội chủ nghĩa để sở hữu vĩnh viễn, mà là một cuộc tiếp quản khẩn cấp để ngăn chặn sự lây lan.
Hãy tưởng tượng công an và quân đội ập vào một sòng bạc đang cháy. Việc đầu tiên họ làm là đá đít toàn bộ đám quản lý cũ ra ngoài, chiếm quyền kiểm soát, và dùng vòi rồng của nhà nước để dập lửa.
Chính quyền đã trực tiếp tiếp quản hàng loạt ngân hàng lớn nhất đang trên bờ vực phá sản, bao gồm cả những gã khổng lồ như Banco de Chile và Banco de Santiago. Một số ngân hàng nhỏ hơn và các công ty tài chính (financieras) quá thối nát thì bị cho thanh lý, đóng cửa vĩnh viễn.
Họ sa thải toàn bộ ban lãnh đạo cũ đã gây ra mớ hỗn độn và thay bằng những nhà kinh tế thực dụng hơn vào kiểm soát hoạt động, kiểm kê sổ sách và bắt đầu công việc dọn dẹp.
Họ tăng cường các quy định giám sát ngành tài chính, áp đặt lại một số biện pháp kiểm soát vốn và thậm chí tăng thuế quan để bảo vệ sản xuất trong nước.
Đây là phần bẩn thỉu nhất, nơi gánh nặng được chuyển từ vai các tài phiệt sang vai người dân đóng thuế.
Ngân hàng Trung ương Chile đã làm một việc không tưởng: họ đứng ra mua lại toàn bộ danh mục nợ xấu ("cartera vencida") của các ngân hàng.
Họ phát hành trái phiếu của Ngân hàng Trung ương để đổi lấy đống giấy nợ vô giá trị này. Hành động này ngay lập tức làm sạch sổ sách của các ngân hàng, bơm cho chúng một lượng vốn mới để chúng không bị sụp đổ.
Cái đống nợ xấu khổng lồ đó giờ đây nằm trên sổ sách của Ngân hàng Trung ương, tức là trở thành nợ của nhà nước.
Và ai trả nợ cho nhà nước?
Là người dân Chile.
Gánh nặng này, được gọi là "deuda subordinada" (nợ thứ cấp), đã được người dân Chile è cổ ra trả thông qua thuế má trong suốt nhiều thập kỷ sau đó. Đó chính là màn kịch kinh điển: tư nhân hóa lợi nhuận trong thời kỳ bong bóng, và xã hội hóa thua lỗ khi bong bóng vỡ.
Sau khi đã dập lửa, Pinochet nhận ra rằng để cái sòng bạc này mở cửa trở lại, nó cần có luật lệ. Đám Chicago Boys chính thống bị thất sủng, và một thế hệ kỹ trị thực dụng hơn, dẫn đầu là Hernán Büchi, được đưa lên. Chúng nó bắt đầu rèn lại cái xích đã bị tháo.
Cơ quan giám sát ngân hàng (Superintendencia de Bancos) được trao lại quyền lực thực sự. Các quy định nghiêm ngặt hơn về tỷ lệ an toàn vốn, giới hạn cho vay đối với các công ty liên quan (để chặn trò "sân sau" của các nhóm tài phiệt), và các tiêu chuẩn thẩm định tín dụng chặt chẽ hơn đã được áp đặt trở lại.
Để bảo vệ nền công nghiệp nội địa đang hấp hối, chính quyền đã từ bỏ chính sách tự do thương mại cực đoan và nâng mức thuế quan đồng loạt lên 35%. Đây là một sự thừa nhận cay đắng rằng việc mở toang cửa một cách ngây thơ đã giết chết nền kinh tế thực.
Nói cách khác, để cứu chủ nghĩa tư bản ở Chile, Pinochet đã phải dùng đến các công cụ của nhà nước, chính "bàn tay hữu hình" mà Friedman và Hayek luôn muốn chặt đi.
Sau cuộc khủng hoảng và sự thay đổi chính sách này, nền kinh tế Chile mới bắt đầu phục hồi và tăng trưởng ổn định hơn trong những năm cuối của chế độ độc tài, tạo ra cái gọi là "Phép màu Chile" (Miracle of Chile) mà những người ủng hộ Friedman thường hay khoe khoang, nhưng lại cố tình quên mất rằng phép màu đó chỉ đến sau khi các chính sách cực đoan ban đầu đã thất bại và bị đảo ngược một phần.
Dưới sự lãnh đạo của Bộ trưởng Tài chính Hernán Büchi thay vì neo cứng đồng nội tệ Peso vào đôla thì bây giờ thực hiện chính sách phá giá đồng tiền một cách kiểm soát, làm cho hàng xuất khẩu của Chile rẻ và cạnh tranh hơn so với đối thủ.
Họ vẫn giữ lại một số hàng rào thuế để bảo vệ một vài ngành công nghiệp non trẻ chứ không mở toan như trước.
Thay vì chỉ trông chờ vào đồng (kim loại), chính phủ đã tạo ra các chính sách khuyến khích và hỗ trợ các ngành xuất khẩu mới nổi như cá hồi, rượu vang, hoa quả và lâm sản. Đây là một thành công thực sự, giúp đa dạng hóa nền kinh tế.
Đây là bí mật đen tối nhất của "phép màu".
Làm thế nào để hàng hóa của Chile có thể cạnh tranh về giá trên thị trường thế giới?
Bằng cách vắt kiệt sức lao động trong nước.
Phép màu này được xây trên nền tảng của sự đàn áp chính trị. Dưới chế độ độc tài Pinochet:
Công đoàn bị cấm đoán hoặc vô hiệu hóa.
Lương bị giữ ở mức cực thấp và không được phép tăng đáng kể.
Người lao động không có quyền đình công hay đòi hỏi.
Điều này đã tạo ra một lực lượng lao động giá rẻ, ngoan ngoãn và có kỷ luật, một giấc mơ đối với các nhà tư bản trong và ngoài nước.
Nó giống như mày bắt một vận động viên tiêm steroid (vốn ngoại và chính sách hỗ trợ) và cấm anh ta không được nghỉ ngơi. Chắc chắn anh ta sẽ chạy nhanh hơn, nhưng cái giá là cơ thể anh ta bị hủy hoại từ bên trong.
Sau khi nhà nước đã dùng tiền thuế để gánh hết nợ nần và vực dậy các công ty, ngân hàng, chúng nó lại bắt đầu một làn sóng tư nhân hóa lần thứ hai.
Lần này, chúng nó bán lại những công ty "sạch sẽ", đã được cơ cấu lại, cho khu vực tư nhân – thường là chính những nhóm tài phiệt cũ đã được hưởng lợi từ trước.
Đây là một màn chuyển giao của cải khổng lồ. Nhà nước (tức người dân) chịu lỗ, còn giới tinh hoa thì mua lại được những tài sản tốt nhất với giá hời.
Vậy "Phép màu Chile" là có thật, nếu mày chỉ nhìn vào các con số tăng trưởng GDP, xuất khẩu và đầu tư trong giai đoạn cuối những năm 80 và 90.
Nhưng nó không phải là phép màu của thị trường tự do.
Nó là phép màu của chủ nghĩa tư bản độc tài (authoritarian capitalism).
Công thức của nó là: một liều thuốc cực mạnh của nhà nước can thiệp để dọn dẹp khủng hoảng, kết hợp với sự đàn áp chính trị để giữ giá lao động ở mức rẻ mạt, và cuối cùng là một vụ chuyển giao tài sản công cho giới tinh hoa.
Cái "phép màu" đó đã để lại một di sản cháy âm ỉ: sự bất bình đẳng khổng lồ. Chile trở thành một trong những quốc gia bất bình đẳng nhất trong khu vực.
Và những cuộc biểu tình bạo lực đòi cải cách xã hội đã làm rung chuyển Chile trong những năm gần đây chính là hóa đơn mà xã hội đang đòi lại cho bữa tiệc của giới tinh hoa mấy chục năm về trước.
Cuộc thử nghiệm ở Chile cho thấy một sự thật trần trụi: khi được áp dụng một cách thuần khiết, học thuyết thị trường tự do đã gây ra bất ổn xã hội nghiêm trọng và dẫn đến một cuộc khủng hoảng kinh tế tàn khốc, đến mức chính nhà độc tài bảo trợ cho nó cũng phải quay lưng lại với nó để cứu vãn tình hình.
Nhưng những con cá mập ở Wall Street và D.C không ngu, chúng nó biết và âm thầm quan sát Chile như một cuộc thử nghiệm để sau này tái áp dụng để tạo ra một thị trường kiểm soát còn nặng nề hơn mang dáng vẻ tự do qua hàng loạt Domino tiếp theo dồn dập gây ra khủng hoảng 2008.
Đạo luật DIDMCA 1980
Đây là domino đầu tiên cho hàng loạt chính sách của đám Neoliberal sau này thả xích cho con quái vật Wall Street vì lợi nhuận mà bấp chấp tất cả.
Chuyện bắt đầu từ cú sốc Nixon năm 1971, khi Mỹ đơn phương xé bỏ hệ thống Bretton Woods, tức là chấm dứt việc neo đồng đô la vào vàng.
Để hiểu tại sao, mày phải nhớ lại bản chất của hệ thống Bretton Woods: Mỹ đã hứa với cả thế giới rằng, bất kỳ lúc nào, các ngân hàng trung ương nước ngoài cũng có thể mang 35 đô la Mỹ đến và đổi lấy một ounce vàng từ kho Fort Knox.
Lời hứa này là mỏ neo cho toàn bộ hệ thống tài chính toàn cầu.
Nhưng rồi Mỹ sa lầy vào một cuộc chiến cực kỳ tốn kém ở Việt Nam (phần "Súng" - Guns).
168 tỷ đô la đã bị đốt cháy trong toàn bộ cuộc chiến (1961-1975)
• 25 tỷ đô la chỉ riêng năm 1967
• 120 tỷ đô la từ 1965-1973, trong khi Great Society chỉ nhận được 15.5 tỷ đô la
• Mỹ chi 300.000 đô la cho mỗi kẻ địch bị giết ở Việt Nam, nhưng chỉ 88 đô la cho mỗi người trong các chương trình chống nghèo đói
Cùng lúc đó, ở trong nước, Tổng thống Johnson khởi động chương trình Great Society đầy tham vọng để chống đói nghèo và bất bình đẳng (phần "Bơ" - Butter), với các chương trình khổng lồ như Medicare và Medicaid. Johnson sau này thừa nhận ông không thể sở hữu cả “người phụ nữ mà ông thực sự yêu - Great Society” và “con đĩ chiến tranh ở phía bên kia đại dương”.
Để trả cho cả hai cuộc chiến – một ở nước ngoài và một ở trong nước – chính phủ Mỹ đã làm cái việc dễ nhất: in thêm hàng núi đô la mà không tăng thuế tương xứng.
Cùng lúc đó, hai vết nứt khác bắt đầu xuất hiện trên thân tàu:
Thâm hụt thương mại: Lần đầu tiên trong thế kỷ 20, vào cuối những năm 60, Mỹ bắt đầu nhập siêu. Các nền kinh tế của Đức và Nhật Bản, sau khi được Mỹ tái thiết, đã trở nên cực kỳ cạnh tranh. Nước Mỹ đang mua hàng của thế giới nhiều hơn là bán hàng cho thế giới, nghĩa là đô la càng chảy ra nước ngoài nhiều hơn, chất đống trong kho dự trữ của các nước khác.
Sự mất niềm tin và cú "đòi nợ" của châu Âu: Các nước châu Âu, đặc biệt là Pháp dưới thời Tổng thống Charles de Gaulle, không ngu. Họ nhìn thấy Mỹ đang in tiền như giấy lộn và nhận ra rằng số đô la trôi nổi trên thế giới đã vượt xa rất nhiều lần trữ lượng vàng thực tế ở Fort Knox. De Gaulle đã công khai gọi thẳng mặt Mỹ là đang lợi dụng "đặc quyền cắt cổ" (exorbitant privilege) và cho tàu chiến chở đô la đến Mỹ để đòi đổi lấy vàng thỏi. Các nước khác như Thụy Sĩ cũng bắt đầu làm theo. Đây thực chất là một cuộc "tấn công ngân hàng" (bank run) vào kho vàng của Mỹ.
Đô la mất giá, thế giới tài chính chao đảo.
Đến mùa hè năm 1971, tình hình trở nên không thể cứu vãn. Trữ lượng vàng của Mỹ đang bốc hơi nhanh chóng. Nixon và các cố vấn của ông ta đứng trước hai lựa chọn: hoặc là phá giá đô la một cách nhục nhã (tức tăng giá vàng), hoặc là làm một việc không tưởng.
Vào đêm ngày 15 tháng 8 năm 1971, Nixon đã chọn việc không tưởng. Gã lên truyền hình và tuyên bố "tạm thời" đình chỉ khả năng quy đổi đô la ra vàng.
"Tạm thời" ở đây có nghĩa là "vĩnh viễn".
Nói một cách trần trụi, Nixon đã làm một việc mà bất kỳ con nợ nào cũng làm khi không còn khả năng chi trả: gã tuyên bố "bùng nợ". Gã đã đơn phương xé bỏ lời hứa cốt lõi đã duy trì trật tự tài chính thế giới suốt gần 30 năm. Hệ thống Bretton Woods chết ngay vào khoảnh khắc đó.
Mỹ cần một cái neo mới cho đồng tiền của mình, và cái neo đó chính là dầu mỏ.
Vào tháng 7 năm 1974, Tổng thống Nixon đã cử Bộ trưởng Tài chính của mình, William Simon, thực hiện một chuyến công du bí mật đến thành phố Jeddah của Saudi Arabia.
Nhiệm vụ của Simon là thuyết phục Hoàng gia Saudi chấp nhận một thỏa thuận có tính sống còn đối với cả hai bên.
Lời đề nghị mà Simon đặt lên bàn, nói theo ngôn ngữ chợ búa, là thế này.
Phía Mỹ nói:.
"Bọn tao sẽ là vệ sĩ riêng cho hoàng gia của mày. Bọn tao sẽ bán cho mày những vũ khí tối tân nhất, huấn luyện quân đội cho mày, và đảm bảo an ninh tuyệt đối cho các mỏ dầu của mày khỏi bất kỳ kẻ nào dám đụng đến. Bọn tao sẽ đảm bảo sự tồn vong của triều đại nhà Saud."
Đổi lại, phía Saudi phải làm hai việc:
Định giá dầu bằng đô la: Mày phải bán toàn bộ dầu của mày chỉ bằng đô la Mỹ, và dùng ảnh hưởng của mày để ép toàn bộ khối OPEC cũng phải làm như vậy.
Tái chế lợi nhuận: Toàn bộ số tiền đô la khổng lồ mà mày kiếm được từ việc bán dầu (petrodollars), mày phải dùng để mua lại trái phiếu kho bạc của bọn tao và đầu tư vào hệ thống tài chính của Mỹ.
Thế là hệ thống petrodollar ra đời.
Bất cứ quốc gia nào muốn mua dầu đều phải có đô la. Điều này tạo ra một nhu cầu toàn cầu, vĩnh viễn đối với đồng tiền của Mỹ, củng cố vị thế thống trị của nó mà không cần đến vàng.
Tại sao cả hai bên cùng gật đầu? Bởi vì đây là cuộc hôn nhân hoàn hảo được xây dựng dựa trên sự sợ hãi và lợi ích.
Đối với Mỹ: Đây là một nước cờ thiên tài. Bằng cách buộc mặt hàng quan trọng nhất thế giới phải được định giá bằng đô la, họ đã tạo ra một nhu cầu giả tạo nhưng vĩnh viễn đối với đồng tiền của mình. Bất kỳ quốc gia nào muốn mua dầu đều phải mua đô la trước. Nó đã thay thế étalon-vàng (gold standard) bằng một thứ còn mạnh hơn: étalon-dầu (oil standard). Hơn nữa, việc Saudi Arabia dùng tiền lãi để mua trái phiếu Mỹ có nghĩa là Mỹ đã tìm được một nhà tài trợ khổng lồ để chi trả cho các khoản thâm hụt ngân sách ngày càng tăng của mình.
Đối với Saudi Arabia: Đây là một lựa chọn sinh tồn. Vua Faisal và hoàng gia biết rằng họ đang ngồi trên một biển dầu nhưng lại cực kỳ yếu về quân sự. Lời đề nghị của Mỹ không chỉ là một thỏa thuận kinh tế, nó là một hiệp ước bảo kê an ninh. Họ đổi một phần chủ quyền kinh tế để lấy sự đảm bảo về an ninh từ siêu cường quân sự số một thế giới.
Thỏa thuận này sau đó được chính thức hóa một cách công khai dưới cái tên có vẻ vô thưởng vô phạt là "Ủy ban Hợp tác Kinh tế chung Hoa Kỳ-Saudi Arabia".
Nhưng về bản chất, nó là một hiệp ước bí mật đã định hình lại toàn bộ trật tự tài chính và địa chính trị toàn cầu trong suốt 50 năm tiếp theo.
Và từ đó, đồng đô la không còn được bảo chứng bằng vàng nữa, mà bằng dầu mỏ và tàu sân bay.
Thế là đống tiền đôla chảy vào túi các nước xuất khẩu dầu trong OPEC sau các cú sốc giá dầu vào những năm 1973 và 1979.
Mày xài kiểu gì đối với hàng trăm tỷ đôla dư thừa trong khi nền kinh tế quá nhỏ để hấp thụ số tiền đó.
Mày không thể xây hết đường sá, bệnh viện trong một năm được. Để tiền mặt thì lạm phát ăn mòn, mà cất dưới gối thì sợ bị cướp. Chúng nó cần một nơi an toàn và sinh lời để cất tiền.
Thế là chúng lại gửi ngược vào chính hệ thống tài chính phương Tây, chủ yếu là các ngân hàng lớn ở New York và London.
Các gã khổng lồ như Citibank, Chase Manhattan (Mỹ) và các ngân hàng ở London đã trải thảm đỏ mời chào. Họ lập ra các chi nhánh đặc biệt chỉ để phục vụ những khách hàng siêu giàu này. Đối với OPEC, đây là cách an toàn và thanh khoản nhất để giữ tiền.
Các chính phủ OPEC đã dùng một phần lớn lợi nhuận từ dầu mỏ để mua nợ của chính phủ Mỹ.
Điều này tạo ra một vòng tuần hoàn đẹp như mơ cho Mỹ: tiền mà người Mỹ trả cho tiền xăng ở trạm bơm, sau một vòng chu du qua sa mạc, cuối cùng lại quay về Washington D.C. để cho chính phủ Mỹ vay lại, giúp tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách khổng lồ.
Quá trình này được gọi là "tái chế petrodollar" (petrodollar recycling).
Đây chính là lúc ngành ngân hàng Mỹ thay đổi.
Trước khi Garn-St. Germain ra đời, các ngân hàng vẫn bị Glass-Steagall kìm kẹp, không được đầu cơ chứng khoán trong nước.
Nhưng giờ đây, các gã khổng lồ như Citibank, Chase Manhattan, Bank of America đột nhiên thấy mình ngập trong một biển tiền gửi từ các quốc gia dầu mỏ.
Chúng nó phải làm gì với đống tiền này để sinh lời?
Chúng nhìn ra thế giới. Bị giới hạn ở sân nhà, chúng bắt đầu một cuộc chơi mới ở sân khách.
Các nền kinh tế phương Tây lúc đó đang trong tình trạng lạm phát đình trệ (stagflation) – vừa lạm phát cao, vừa tăng trưởng ì ạch. Nhu cầu vay vốn trong nước rất yếu.
Khách hàng "VIP" của chúng nhắm tới là các chính phủ của những nước đang phát triển, đặc biệt là ở Mỹ Latinh (Mexico, Brazil, Argentina), những nước cũng đang khát vốn để phát triển và để trả cho chính hóa đơn dầu mỏ đắt đỏ của mình
Các ngân hàng Mỹ đã điên cuồng cho vay.
Walter Wriston, CEO của Citibank thời đó, có một câu nói nổi tiếng thể hiện tinh thần của cả một thời đại: "Countries don't go bankrupt" (Các quốc gia không phá sản).
"Countries don't go out of business....The infrastructure doesn't go away, the productivity of the people doesn't go away, the natural resources don’t go away. And so their assets always exceed their liabilities, which is the technical reason for bankruptcy. And that's very different from a company."
Với niềm tin đó, họ bơm hàng chục, hàng trăm tỷ đô la cho Mexico, Brazil, Argentina vay với lãi suất thả nổi dưới dạng các khoản vay hợp vốn (syndicated loans) được dàn xếp bởi một nhóm nhỏ các ngân hàng thương mại quốc tế lớn mà ít khi xét đến khả năng trả nợ thực sự.
Họ không quan tâm, vì họ có quá nhiều tiền và phải đẩy chúng đi đâu đó vì tiền để nằm yên một chỗ là chết, là mất giá vì lạm phát.
Cơ chế đó hoạt động thế này:
Một ngân hàng đứng ra làm chủ chi (Lead Arranger): Ví dụ, chính phủ Mexico muốn vay 1 tỷ đô la. Citibank sẽ đứng ra làm ngân hàng chủ chốt, dàn xếp toàn bộ thương vụ.
Kêu gọi các ngân hàng khác "góp hụi": Citibank sẽ không tự mình cho vay cả 1 tỷ. Nó sẽ giữ lại một phần, ví dụ 200 triệu, và mời một dàn các ngân hàng khác (cả lớn và nhỏ) cùng tham gia góp vốn, mỗi thằng một ít. Bằng cách này, rủi ro được chia nhỏ ra cho nhiều bên.
Hợp đồng lãi suất thả nổi: Đây là cái bẫy chết người. Hầu hết các khoản vay này không có lãi suất cố định. Chúng có lãi suất thả nổi (floating interest rate), thường được neo vào lãi suất LIBOR (Lãi suất liên ngân hàng London) cộng với một biên độ lợi nhuận (spread). Điều này có nghĩa là rủi ro về việc lãi suất tăng trong tương lai sẽ được đẩy hoàn toàn về phía người đi vay (các nước Mỹ Latinh), chứ không phải các ngân hàng.
Đây là một cơn sốt cho vay toàn cầu, được thúc đẩy bởi lòng tham của các ngân hàng và sự sẵn có của nguồn vốn petrodollar.
Nó bơm cho các ngân hàng lớn của Mỹ một lượng vốn khổng lồ, giá rẻ.
Nó thúc đẩy các ngân hàng này vươn ra toàn cầu, tạo ra một thị trường cho vay quốc tế rủi ro và ít được kiểm soát.
Nó làm gia tăng quyền lực và quy mô của một nhóm nhỏ các ngân hàng đa quốc gia, khiến họ ngày càng có ảnh hưởng lớn hơn đối với nền kinh tế toàn cầu
Đối với các chính phủ ở Mỹ Latinh, cơn mưa tiền này giống như một giấc mơ.
Nhu cầu cấp bách: Họ tuyệt vọng cần đô la để trả cho các hóa đơn nhập khẩu dầu mỏ đã tăng vọt và để tài trợ cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng đầy tham vọng.
Điều kiện dễ dãi: Các ngân hàng, trong cơn sốt đẩy tiền đi, đã cho vay với rất ít điều kiện ràng buộc và thẩm định lỏng lẻo. Việc nhận được một khoản vay hàng trăm triệu đô la trở nên dễ dàng một cách đáng ngờ.
Tuy nhiên vì lạm phát vẫn tăng phi mã có lúc nhảy lên hai con số.
Nguyên nhân trực tiếp và tàn bạo nhất chính là hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ.
Năm 1973: Khối OPEC, để trả đũa việc Mỹ ủng hộ Israel, đã cấm vận dầu mỏ. Giá dầu tăng vọt gấp bốn lần trong một thời gian ngắn.
Năm 1979: Cuộc cách mạng Hồi giáo ở Iran lại gây ra một cú sốc giá dầu thứ hai.
Xăng dầu là huyết mạch của nền kinh tế. Khi giá xăng dầu tăng, chi phí vận chuyển và sản xuất mọi thứ, từ thực phẩm đến đồ nhựa, đều tăng theo.
Cú sốc này không chỉ đẩy giá cả lên cao (lạm phát do chi phí đẩy), mà nó còn bóp nghẹt hoạt động kinh tế, gây ra suy thoái.
Đồng đô la mất giá từng ngày. Nền móng cho lạm phát đã được xây từ trước đó.
Như đã nói, chính phủ Mỹ trong những năm 60 và đầu 70 đã in tiền một cách vô tội vạ để chi trả cho cả Chiến tranh Việt Nam ("Súng") và các chương trình xã hội Great Society ("Bơ").
Hành động này đã làm ngập thế giới trong đô la và cuối cùng dẫn đến việc Tổng thống Nixon phải xé bỏ hệ thống Bretton Woods vào năm 1971, chấm dứt việc neo đô la vào vàng. Khi đồng đô la không còn bị ràng buộc bởi vàng, không còn gì có thể ngăn cản chính phủ in thêm tiền.
Giá trị của đồng đô la giảm mạnh so với các đồng tiền khác, làm cho hàng nhập khẩu trở nên đắt đỏ hơn, góp phần đẩy lạm phát trong nước lên cao.
Khi người dân thấy giá cả tăng, họ đòi tăng lương. Các công đoàn lao động lúc đó còn rất mạnh và họ đã thành công trong việc đàm phán các hợp đồng tăng lương theo lạm phát.
Khi doanh nghiệp phải trả lương cao hơn, họ lại tăng giá bán sản phẩm để bù lại. Việc này lại làm lạm phát tăng, và người lao động lại tiếp tục đòi tăng lương. Nó tạo ra một vòng xoáy lương-giá (wage-price spiral) không có hồi kết.
Để giết chết con quái vật lạm phát này, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (FED) lúc đó là Paul Volcker đã làm một việc chưa từng có: ông ta siết chặt chính sách tiền tệ và đẩy lãi suất lên những mức không tưởng, có lúc lãi suất cơ bản (prime rate) chạm ngưỡng 21.5% vào năm 1981.
Hành động này, được gọi là "Cú sốc Volcker", đã thành công trong việc ghìm cương lạm phát, nhưng nó cũng đẩy nền kinh tế vào suy thoái và gây ra một cuộc khủng hoảng tàn khốc cho một loại định chế tài chính đặc biệt: các Hiệp hội Tiết kiệm và Cho vay (Savings & Loan Associations - S&Ls).
Bọn S&Ls này, còn gọi là "thrifts", là những ngân hàng chuyên phục vụ giấc mơ Mỹ. Mô hình của chúng nó rất đơn giản và cổ lỗ: "vay ngắn, cho vay dài".
Chúng nó nhận tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn của dân, trả lãi suất thấp và bị kiểm soát bởi một quy định gọi là Regulation Q.
Mục đích ban đầu nghe có vẻ tốt đẹp: ngăn chặn các ngân hàng cạnh tranh ngu xuẩn bằng cách nâng lãi suất huy động để rồi phải lao vào các khoản cho vay rủi ro hòng bù lại, một hành vi được cho là đã góp phần gây ra cuộc Đại Suy thoái.
Sau đó, chúng nó lấy tiền này cho người dân vay mua nhà dài hạn, thường là 30 năm, với lãi suất cũng thấp và cố định.
Mô hình này hoạt động như thế này:
Ví dụ một thằng S&L tên là "An Cư Bank" vào thời hoàng kim của nó, ví dụ năm 1965.
Vay Ngắn (Borrow Short): Đây là phía huy động vốn. Ông A, một công dân bình thường, mang 10,000 đô la tiền tiết kiệm cả đời đến gửi ở An Cư Bank.
Vì có Regulation Q, An Cư Bank chỉ được phép trả cho ông A lãi suất tối đa là 3%/năm.
Đây chính là "vay ngắn", bởi vì về bản chất, đây là một khoản nợ ngắn hạn của ngân hàng. Ông A có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào ông ta muốn.
Cái mạng sống của An Cư Bank phụ thuộc vào việc giữ được tiền gửi của ông A và hàng triệu người khác.
Cho Vay Dài (Lend Long): Đây là phía sử dụng vốn, nơi ngân hàng kiếm tiền.
Bà B muốn mua một căn nhà nhưng không đủ tiền, bà cần vay 100,000 đô la. An Cư Bank lấy tiền gửi của ông A và 9 người khác, gom lại rồi cho bà B vay số tiền đó. Chúng nó ký một hợp đồng thế chấp (mortgage) thời hạn 30 năm, với lãi suất cố định là 5%/năm. Đây chính là "cho vay dài".
An Cư Bank giờ đây trở thành chủ nợ của bà B, nhưng đồng thời nó cũng bị kẹt với khoản vay này và mức lãi suất 5% đó trong suốt 30 năm. Khoản vay này là một tài sản dài hạn trên sổ sách của ngân hàng.
Miếng lời của An Cư Bank nằm ở chênh lệch giữa hai con số trên: nó trả 3% cho bên "vay ngắn" (ông A) nhưng thu về 5% từ bên "cho vay dài" (bà B).
Chênh lệch 2% này, gọi là "biên độ lãi ròng" (net interest margin), là lợi nhuận của nó.
Cứ duy trì được như vậy trong một môi trường lãi suất ổn định, nó sống khỏe re, an toàn và có lời đều đặn. Cả một ngành công nghiệp được xây dựng dựa trên sự ổn định này.
Cái mô hình này chỉ ngon ăn khi lãi suất thị trường nằm im.
Regulation Q chính là thứ đảm bảo sự ổn định giả tạo đó ở phía "vay ngắn", nó giữ chi phí vốn ở mức thấp. Nhưng khi lạm phát phi mã và FED dưới thời Volcker đẩy lãi suất thị trường lên 15%, thảm kịch xảy ra.
Ông A giờ thấy mình quá ngu khi để tiền ở An Cư Bank hưởng lãi 3% trong khi có thể gửi ở một quỹ thị trường tiền tệ khác hưởng 12%. Ông ta rút tiền. Hàng triệu người khác cũng làm vậy.
An Cư Bank đứng trước lựa chọn: hoặc là để mất hết tiền gửi và chết, hoặc là phải tìm cách trả lãi cao hơn, ví dụ 13%, để giữ chân ông A.
Nhưng bi kịch là, nó vẫn chỉ thu được 5% từ khoản vay đã ký với bà B từ nhiều năm trước. Giờ nó phải trả 13% để huy động vốn nhưng chỉ thu về 5% từ tài sản của mình.
Lỗ sặc máu.
Sự chênh lệch về kỳ hạn (maturity mismatch) giữa tài sản (dài hạn) và nợ (ngắn hạn) đã trở thành một bản án tử hình.
Cả một ngành công nghiệp, vốn là trụ cột cho thị trường nhà đất và có một lobby chính trị cực mạnh, đang sụp đổ. Quốc hội phải hành động.
Và Đạo luật Garn-St. Germain năm 1982 chính là cái phao cứu sinh mà họ ném ra.
Đạo luật này làm hai việc chính:
Thứ nhất là cho phép các S&Ls và ngân hàng cung cấp tiền gửi tiết kiệm trong dân chúng có thể cạnh tranh trực tiếp với các quỹ đầu tư trên thị trường tiền tệ nghĩa là khai tử luôn Regulatory Q.
Thứ hai cũng là quan trọng nhất, các S&Ls giờ có thể lấn sang các sàn cá cược đầy rủi ro từ tiền nhàn rỗi của khách hàng. Thay vì chỉ dừng lại ở cho vay mua nhà ổn định nhưng nhàn chán, ít sinh lời thì giờ đây tụi nó có thể cho vay thương mại, vay tiêu dùng (mô hình như FE Credit) , đầu tư vào bất động sản thương mại (phân lô bán nền) với hy vọng có thể kiếm được lợi nhuận cao hơn để bù lỗ.
Nói trắng ra, đây là một hành động chữa cháy bằng xăng. Thay vì xử lý tận gốc vấn đề, chính phủ lại "tháo xích" cho một ngành đang hấp hối, cho phép nó đánh bạc lớn hơn với hy vọng gỡ lại vốn.
Bọn S&Ls, vốn quen với mô hình "vay ngắn, cho vay dài" an toàn nhưng cổ lỗ, đột nhiên được "giải phóng".
Hàng rào đạo đức sụp đổ trước. Một thế hệ chủ ngân hàng mới, những kẻ cơ hội và liều lĩnh, đã nhảy vào ngành S&L.
Họ nhận ra một sự thật chết người: nhờ có bảo hiểm tiền gửi của chính phủ (do FSLIC cung cấp) đã được tăng lên 100,000 đô la, họ có thể huy động vốn một cách dễ dàng vì người dân an tâm có chính phủ sẽ trả nợ nếu ngân hàng sụp.
Với nguồn vốn an toàn đó, các ông chủ S&L bắt đầu đánh bạc. Họ dùng tiền gửi của dân để đầu tư vào những thứ điên rồ nhất: xây khu nghỉ dưỡng giữa sa mạc, tài trợ cho các vụ thâu tóm bằng trái phiếu rác, và đổ tiền vào các dự án bất động sản thương mại đầy tính đầu cơ.
Rủi ro thì người gửi tiền và chính phủ gánh, còn nếu thắng thì họ hưởng trọn. Đây chính là "rủi ro đạo đức" (moral hazard) ở mức độ tồi tệ nhất.
Vì có quá nhiều tiền nảy sinh ra gian lận và tham nhũng với vụ án tai tiếng của Charles Keating và ngân hàng Lincoln Savings and Loan.
Keating đã dùng ngân hàng của mình như một con heo đất, rút ruột hàng tỷ đôla của người dân vào các dự án đầu cơ đầy rủi ro và chi trả cho lối sống xa hoa.
Nghĩa là tiền của một công nhân gửi ở ngân hàng để lấy số tiết kiệm ít ỏi mỗi năm để cho tên này mua rượu Sâm-panh hạng sang trên du thuyền.
Không chỉ thế còn dùng tiền để hối lộ các chính trị gia mà tai tiếng nhất là vụ "Keating Five" – năm thượng nghị sĩ quyền lực đã can thiệp để ngăn các nhà quản lý sờ gáy hắn.
Đây chỉ là phần nổi của tảng băng trôi, phần ngầm hơn chính là việc gian lận kế toán, các khoản vay mờ ám cho người nhà và bạn bè không cần xác minh thu nhập thông thường trở thành chuyện thường ngày của ngành ngân hàng.
Khi bong bóng bất động sản thương mại, đặc biệt là ở các bang như Texas và California, bắt đầu xì hơi vào giữa những năm 80, các khoản đầu tư rủi ro của bọn S&Ls bắt đầu bốc hơi.
Những khoản vay mà chúng đã cấp một cách vô tội vạ trở thành nợ xấu hàng loạt.
Và đây là cú đổ sụp cuối cùng. Các S&Ls bắt đầu phá sản hàng loạt. Con số không phải là một vài, mà là hàng trăm. Quỹ bảo hiểm FSLIC, vốn được lập ra để xử lý vài vụ phá sản nhỏ lẻ, đã nhanh chóng cạn kiệt và chính nó cũng phá sản.
Đến năm 1989, tình hình đã trở nên không thể cứu vãn. Chính phủ Mỹ dưới thời tổng thống Bush cha buộc phải can thiệp.
Tất nhiên "can thiệp" chỉ là mỹ từ che đậy cho việc người dân đóng thuế è cổ ra trả tiền cho đống cứt tụi nó gây ra dưới hình thức Đạo luật Cải cách, Phục hồi và Thực thi các Định chế Tài chính (FIRREA) vào năm 1989.
Qua FIRREA , một cơ quan liên bang mới được thành lập với tên gọi là Resolution Trust Corporation (RTC) có nhiệm vụ tiếp quản các S&Ls đã phá sản, bán tháo tài sản của chúng (thường với giá rẻ mạt), và quan trọng nhất là dùng tiền ngân sách để trả lại tiền cho những người gửi tiền đã được bảo hiểm.
Người Mỹ phải gánh chịu khoản tiền khổng lồ ước tính tầm khoảng 124 đến 132 tỷ đô la- đến từ tiền thuế của mình dưới dạng quỹ cứu trợ của chính phủ. Nếu tính cả cả các chi phí gián tiếp thì tổng thiệt hại lên đến hơn160 tỷ đôla. Điều chỉnh theo lạm phát thì tương đương với 383 tỷ đôla vào năm 2024.
Chỉ vì lòng tham sinh ra từ việc mất kiểm soát bởi chính phủ tạo ra với lý do "phi điều tiết", "thị trường tự do" mà đã mất đến hàng trăm tỷ đôla để dọn dẹp đống hỗn loạn này nhưng nó chỉ mới là bắt đầu cho màn kịch bi thảm hơn vào năm 2008.
Sự Trỗi Dậy Của Securitization
Cái phanh đầu tiên bị tháo ra chính là Secondary Mortgage Market Enhancement Act (SMMEA) 1984: Tạo Ra Thị Trường và bán niềm tin "An Toàn".
Vụ S&L và đạo luật SMMEA không chỉ liên quan, chúng nó là hai mặt của cùng một đồng xu độc hại: một mặt là tháo xích cho bọn cho vay, mặt kia là tạo ra một cái chợ để chúng nó bán tháo rủi ro.
Nó mở đường cho MBS - Mortgage-Backed Securities (MBS) - hay Chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp - đơn giản là cách Wall Street biến cái nợ nhà của mày thành tiền mặt cho bọn chúng.
Khi mày mua nhà ,thông thường ngân hàng là chủ nợ chính trong vòng 20-30 năm tiếp theo, cách này được gọi là "originate-to-hold" (tạo ra để giữ). Trong mô hình này, ngân hàng phải cực kỳ cẩn thận, được áp dụng ở Việt Nam.
Nếu mày vỡ nợ, nó mất tiền. Vì vậy, nó phải soi lý lịch tín dụng của mày rất kỹ.
Nhưng đối với MBS chúng không giữ khoản nợ đó mà đóng gói lại hàng trăm, hàng nghìn khoản vay khác nhau như một đống thịt rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở đây là các SPV - Special Purpose Vehcile (loại công ty lập ra chỉ để phục vụ cho 1 mục đích như ốc mượn hồn) với các khoản vay hàng loạt giống hệt nhau về lãi suất, thời hạn, mức độ rủi ro.
Đây là lý do vì sao mày đi mua nhà ở Mỹ, Châu Âu có thể an tâm với lãi suất cố định 6-7% trong suốt 30 năm vì bọn ngân hàng không phải đứa ôm quả bom nợ cuối cùng mà được chuyển cho đứa khác ôm hộ.
SPV này chia các chồng giấy nợ này thành nhiều loại “tranches” (từ tiếng Pháp có nghĩa là “lát cắt”) như sau:
• Senior tranches: Ít rủi ro, lãi suất thấp, được trả tiền trước
• Mezzanine tranches: Rủi ro vừa, lãi suất vừa
• Junior/Equity tranches: Rủi ro cao, lãi suất cao, chết đầu tiên khi có sự cố.
Bằng cách chia một đống nợ hổ lốn ra thành nhiều lát với mức độ rủi ro khác nhau, chúng nó đã tạo ra một ảo ảnh về sự an toàn.
Chúng nó có thể đến gặp một quỹ hưu trí bảo thủ và nói:
"Hãy mua cái lát 'senior' này. Nó được xếp hạng AAA, an toàn như vàng. Hàng nghìn người phải vỡ nợ cùng lúc thì ông mới mất tiền".
Cái logic đó nghe có vẻ không thể xảy ra, và nó đã thuyết phục được cả thế giới tài chính.
Cái trò bịp bợm này được tiếp sức bởi bọn cơ quan xếp hạng tín dụng (Credit Rating Agencies - CRAs) như Moody's và S&P.
Tụi này không bán gì ngoài niềm tin vào con dấu "hãy tin vào đánh giá rủi ro của bọn tao" và được trả tiền bởi chính bọn SPV bán hàng (issuer-pays) , dán hàng loạt nhãn AAA cho đống MBS ngang hàng trái phiếu chính phủ Mỹ với lời hứa bất động sản không bao giờ vỡ nợ.
Tưởng tượng một thằng học sinh trả tiền cho thầy giáo để chấm điểm bài thi của chính nó.
Mày nghĩ kết quả sẽ thế nào? Wall Street, những kẻ tạo ra các sản phẩm MBS và CDO, chính là người trả tiền cho các CRA để xếp hạng những sản phẩm đó.
Chúng nó dùng những mô hình toán học phức tạp để biện minh rằng rủi ro đã được đa dạng hóa, nhưng thực tế là chúng nó chỉ đang hợp pháp hóa một trò lừa đảo.
Nếu không có những con dấu AAA giả tạo này, các quỹ hưu trí và nhà đầu tư bảo thủ đã không bao giờ đụng vào mớ giấy nợ này.
Nhưng chúng nó nói láo và không phải chịu trách nhiệm gì cả.
Khi bong bóng vỡ vào năm 2008, hàng nghìn tỷ đô la tài sản được xếp hạng AAA bỗng chốc trở thành rác rưởi, và các nhà đầu tư kiện bọn CRA ra tòa vì đã lừa dối họ.
Luật sư của bọn CRA đã đứng dậy và dùng một cái khiên pháp lý gần như bất bại: Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ về tự do ngôn luận (First Amendment).
Chúng nó lập luận rằng một xếp hạng tín dụng không phải là một lời cam kết về sự thật khách quan, mà nó chỉ là một "ý kiến" (opinion) mang tính chủ quan, giống như một bài phê bình phim trên báo.
Và ở Mỹ, "ý kiến" thì được quyền tự do ngôn luận bảo vệ. Chúng nó nói rằng, cái mác "AAA" không có nghĩa là "khoản đầu tư này sẽ không bao giờ mất giá", mà nó chỉ có nghĩa là "chúng tôi tin rằng khả năng vỡ nợ của khoản đầu tư này là rất thấp".
Mày thấy trò hề chưa?
Chúng nó bán một sản phẩm với cái giá của một sự thẩm định chuyên gia, một phân tích khoa học, và các nhà đầu tư trên toàn thế giới đã mua nó với niềm tin như vậy.
Các quỹ hưu trí, các công ty bảo hiểm, các ngân hàng trung ương... nhiều nơi trong số đó bị luật pháp ràng buộc chỉ được mua những tài sản có xếp hạng cao nhất.
Bọn CRA đã bán cho họ cái chìa khóa để mở kho tiền, và họ thu phí cho mỗi cái chìa khóa đó. Nhưng khi cái chìa khóa đó mở ra một căn phòng trống không, chúng nó lại nói:
"Ồ, đó chỉ là ý kiến của chúng tôi về cái chìa khóa thôi mà."
Sau đó các SPV này bán ra thị trường sản phẩm MBS như trái phiếu , mỗi tháng mày trả tiền thuê nhà thì nó chảy thẳng vào túi các nhà đầu tư ở đây là Hedge Fund - cá mập cỡ bự theo thứ tự ưu tiên dựa trên tỷ lệ phần trăm, ai mua càng nhiều cổ phần thì nhận nhiều tiền hơn.
Tức là chúng nó đang bán cái giấy nợ cho nhau y hệt như cổ phiếu, nếu mày và những người khác không trả được nợ và phá sản thì ngân hàng gốc không hề liên can vì chúng nó đã ăn phần tiền từ MBS trước đó rồi.
Đó là mô hình "originate-to-distribute" (tạo ra để phân phối) - một cuộc cách mạng về lòng tham, thằng ngân hàng không còn phải đóng vai trò quản lý rủi ro mày phá sản trong dài hạn nữa mà chỉ còn là đứa bán hàng hưởng hoa hồng.
Nó nhận ra rằng thay vì nhận từng giọt tiền lãi của mày trong 30 năm, nó có thể nhận một cục tiền tươi ngay lập tức bằng cách bán khoản nợ của mày đi. Lợi nhuận tức thì, không còn rủi ro dài hạn.
Động lực của nó thay đổi 180 độ: từ việc tìm kiếm những người vay tốt, nó chuyển sang việc tạo ra càng nhiều khoản vay càng tốt, bất kể chất lượng, để có hàng mà bán cho Wall Street.
Còn bọn nhà đầu tư cá mập thì chúng nó có được khoản tiền đều đặn từ mồ hôi mày làm ra mỗi tháng, đa dạng được danh mục đầu tư với hàng nghìn khoản vay bất động sản và hưởng được lãi suất thả nổi cao hơn so với trái phiếu chính phủ Mỹ thông thường mà lại cam đoan tỷ lệ vỡ nợ gần như bằng 0.
Đó là cú lừa ảo tưởng mà bọn Wall Street tự che mắt mình.
Nhờ đạo luật SMMEA năm 1984 vụ việc mua bán MBS càng mở rộng thêm vết nứt rủi ro tài chính Hoa Kỳ.
Thứ nhất là gạt bỏ quyền của các tiểu bang (preemption of state laws) trong việc giới hạn các quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm của họ đầu tư vào các MBS tư nhân.
Trước đó, nhiều bang có luật "blue sky" thận trọng, cấm các quỹ này mua những tài sản rủi ro. SMMEA dí súng vào đầu các bang và nói:
"Bọn mày không được cấm. Nếu một MBS được xếp hạng tín nhiệm cao, nó là một khoản đầu tư hợp pháp cho tất cả mọi người
Hành động này đã đột ngột mở ra một thị trường khổng lồ, một cái hố không đáy sẵn sàng mua bất cứ thứ gì Wall Street tạo ra.
Thứ hai là đòn chí mạng, càng củng cố thêm vị thế nói láo của bọn CRA. Miễn là MBS tư nhân phát hành được chấm con dấu AAA thì được công nhận trên toàn quốc, sẽ được coi là an toàn tương đương với trái phiếu chính phủ.
Nói cách khác, nó đã trao quyền giám sát của nhà nước cho một nhóm công ty tư nhân – Moody's và S&P.
Thay vì chính phủ phải thẩm định, giờ đây chỉ cần một cái dấu "AAA" là món hàng tự động được coi là an toàn tuyệt đối. Nó hợp pháp hóa sự lười biếng và tạo ra một xung đột lợi ích khổng lồ, vì chính những kẻ bán hàng (ngân hàng đầu tư) lại là người trả tiền cho các CRA để thẩm định sản phẩm của mình.
REMIC Tax Legislation 1986: Tối Ưu Hóa Lợi Nhuận và Tạo Khuôn "Chia Chác"
Nhờ có SMMEA tạo ra thị trường nhưng nhiêu đó là chưa đủ để tạo ra dòng chảy thẳng từ tiền người mua nhà vào tay các quỹ đầu tư.
Trước năm 1986, việc gộp các khoản vay thế chấp lại thành một quỹ để bán cho nhà đầu tư gặp một rào cản lớn về thuế: cái quỹ đó có thể bị coi là một công ty và bị đánh thuế thu nhập doanh nghiệp.
Sau đó, các nhà đầu tư nhận tiền lãi từ quỹ lại bị đánh thuế thu nhập cá nhân. Cái cảnh "đánh thuế hai lần" này làm giảm đáng kể lợi nhuận.
REMIC ra đời để xóa bỏ rào cản này. Nó tạo ra một cấu trúc pháp lý đặc biệt, một "công cụ" (conduit), cho phép các khoản thanh toán từ những người vay mua nhà "chảy" thẳng qua quỹ này đến tay các nhà đầu tư mà không bị đánh thuế ở cấp độ quỹ.
Đây là cơ chế "pass-through", nó làm cho việc chứng khoán hóa trở nên cực kỳ hiệu quả về mặt thuế và lợi nhuận tăng vọt.
Quan trọng hơn, cấu trúc REMIC cho phép bọn Wall Street thái quả bom nợ này ra thành nhiều lát (gọi là tranches) với mức độ rủi ro và lợi nhuận khác nhau, bán cho những nhà đầu tư có khẩu vị khác nhau.
Lát an toàn nhất (senior tranche) nhận tiền đầu tiên và có rủi ro thấp nhất (nhưng lãi suất cũng thấp).
Lát rủi ro nhất (junior tranche) nhận tiền cuối cùng, ăn rủi ro đầu tiên nếu có vỡ nợ, nhưng được hứa hẹn lãi suất cao nhất.
Chính cái cơ chế "chia chác" rủi ro này đã là nền tảng để sau này chúng tạo ra các CDO (Nghĩa vụ nợ có tài sản đảm bảo) phức tạp, nơi những lát rủi ro nhất được giấu đi và những lát an toàn nhất được bán ra như những món hàng thượng hạng.
SEC Rule 3a-7 (1992): Bật Đèn Xanh Cuối Cùng và Tạo Ra "Vùng Tối"
Đây là nhát búa cuối cùng dỡ bỏ hàng rào pháp lý. Đạo luật Công ty Đầu tư năm 1940 (Investment Company Act of 1940) là một bộ luật cực kỳ nghiêm ngặt được tạo ra sau cuộc Đại Suy thoái để bảo vệ nhà đầu tư khỏi các quỹ tương hỗ lừa đảo.
Theo định nghĩa, một cái quỹ gộp các khoản thế chấp lại cũng có thể bị coi là một "công ty đầu tư" và phải tuân thủ bộ luật này, điều sẽ khiến việc chứng khoán hóa trở nên cực kỳ phức tạp và tốn kém.
Quy tắc 3a-7 do Ủy ban Chứng khoán (SEC) ban hành năm 1992 đã tạo ra một miễn trừ đặc biệt.
Nó nói rằng:
"OK, mấy cái quỹ chuyên đóng gói và bán các chứng khoán đảm bảo bằng tài sản (asset-backed securities) này sẽ không bị coi là 'công ty đầu tư' và sẽ không phải tuân theo các quy định nghiêm ngặt đó nữa, miễn là chúng đáp ứng một số điều kiện".
Đây chính là hành động đã tạo ra một hệ thống ngân hàng trong bóng tối (shadow banking system) khổng lồ.
Nó cho phép hàng nghìn tỷ đô la chứng khoán được tạo ra và giao dịch trong một vùng xám pháp lý, một sân chơi không có trọng tài, nằm ngoài tầm mắt của các cơ quan quản lý của nhà nước.
Từ ba cái búa này biến MBS từ sản phẩm nợ trở thành chính thống và không phải chịu bất kỳ sự kiểm soát nào của chính phủ, cứ mặc sức chạy đua theo lòng tham vô đáy không cần biết ngày nào cỗ máy sản xuất nợ này nổ tung.
MMEA tạo ra nhu cầu và cái mác an toàn giả tạo.
REMIC cung cấp một dây chuyền sản xuất linh hoạt và siêu lợi nhuận.
Và SEC Rule 3a-7 đã tắt hết đèn trong nhà máy, cho phép cỗ máy hoạt động trong bóng tối mà không ai giám sát.
Bọn ngân hàng có thể cho vay bừa bãi mà không cần quan tâm đến chất lượng tín dụng, vì chúng biết rằng chỉ cần vài ngày là có thể đóng gói món nợ đó lại, dán tem "an toàn", và đẩy nó đi qua một đường cao tốc thuế ưu đãi đến tay một nhà đầu tư nào đó trên thế giới.
Rủi ro được chuyển đi, còn lợi nhuận thì ở lại. Quả bom 2008 chỉ còn chờ ngày bấm nút.
Sự Sụp Đổ Của Glass-Steagall
Glass-Steagall là cái gai trong mắt Big Bank khi chúng thèm khát được lấy tiền gửi của người dân lao các canh bạc tài chính toàn cầu suốt nhiều thập kỷ.
Kẻ cầm đầu cho trào lưu này trong số những kẻ quyền lực nhất Wall Street chính là Citicorp trước đó là Ngân hàng National City Bank, tiền thân của gã khổng lồ phố Wall Citibank ngày nay, kẻ mà lịch sử đã chỉ mặt gọi tên là một trong những thủ phạm chính gây ra cuộc Đại Suy thoái 1929.
Vào những năm 1920, National City Bank là một trong những ngân hàng thương mại lớn nhất và quyền lực nhất thế giới.
Nó làm đúng cái việc mà một commercial bank phải làm: nhận tiền gửi tiết kiệm của hàng triệu người dân và doanh nghiệp.
Nhưng bên trong nó lại có một con quái vật thứ hai, một công ty con trên danh nghĩa là "độc lập" nhưng thực chất được điều hành hoàn toàn bởi ngân hàng mẹ. Con quái vật đó tên là National City Company. Đây chính là cánh tay ngân hàng đầu tư (invesment bank) của nó.
Nhiệm vụ của National City Company là bảo lãnh phát hành và bán các loại chứng khoán – cổ phiếu và trái phiếu – cho công chúng.
Mối liên hệ "mật thiết" của nó với vụ sụp đổ 1929 nằm ở cách nó đã lạm dụng một cách trắng trợn sự tin tưởng của khách hàng gửi tiền để làm giàu cho mảng ngân hàng đầu tư.
Dưới sự lãnh đạo của CEO Charles E. Mitchell, một tay bán hàng bậc thầy, chúng đã hoàn thiện một cỗ máy lừa đảo:
Bảo lãnh phát hành "rác": National City Company đã bảo lãnh phát hành và mua về những loại chứng khoán cực kỳ rủi ro, bao gồm cả những khoản trái phiếu vớ vẩn từ các chính phủ đang trên bờ vực phá sản ở Mỹ Latinh (như trái phiếu Peru).
Biến nhân viên ngân hàng thành kẻ lùa gà: Mitchell đã biến toàn bộ nhân viên của National City Bank, từ giao dịch viên đến quản lý chi nhánh, thành một đội quân bán hàng. Họ được huấn luyện và thưởng hậu hĩnh để dụ dỗ, mời chào những khách hàng đến gửi tiết kiệm mua những loại chứng khoán rủi ro do chính National City Company đang bán ra. Những người dân bình thường, vốn tin tưởng vào sự an toàn của ngân hàng, đã trở thành những con chiên ngây thơ bị lùa vào sòng bạc. Nghe quen không? 100 năm sau nó lại tái diễn ở SCB của Trương Mỹ Lan.
Dùng tiền gửi để cho vay mua chứng khoán rác: Đây là tội ác tày trời nhất. National City Bank đã dùng chính tiền gửi của khách hàng để cho các khách hàng khác vay, rồi lại dùng khoản vay đó để mua những chứng khoán rác do National City Company phát hành. Chúng nó đã tạo ra một vòng tuần hoàn khép kín, nơi tiền tiết kiệm an toàn được dùng làm nhiên liệu để đốt lò cho những canh bạc đầu cơ.
Bán phá giá cổ phiếu và lừa dối nhà đầu tư: Khi thị trường bắt đầu có dấu hiệu sụp đổ, Mitchell và các lãnh đạo khác đã bí mật bán tháo hàng triệu đô la cổ phiếu của chính ngân hàng mình, trong khi vẫn khuyến khích công chúng mua vào.
Những hành vi này đã bị phanh phui trong Cuộc điều tra Pecora của Thượng viện Mỹ sau năm 1929. Charles Mitchell đã bị lôi ra điều trần và trở thành biểu tượng cho sự tham lam và vô trách nhiệm của Phố Wall.
Chính những lời khai và bằng chứng từ vụ National City Bank đã là viên gạch cuối cùng, thuyết phục Quốc hội Mỹ rằng không thể nào để một con sói (ngân hàng đầu tư) và một người chăn cừu (ngân hàng thương mại) sống chung trong một chuồng.
Lịch sử trớ trêu thay , nó lại lặp lại 2 lần.
Nó được thực hiện bởi Sanford "Sandy" Weill, một kẻ có tham vọng và quyền lực vô biên.
Weill không xuất thân từ tầng lớp tinh hoa "tiền cũ" của Phố Wall.
Gã bắt đầu sự nghiệp từ những vị trí thấp nhất và đi lên bằng một chiến lược duy nhất: mua lại và sáp nhập.
Thay vì tự mình xây dựng, gã đi thâu tóm các công ty khác, sáp nhập chúng lại, cắt giảm chi phí, và tạo ra những đế chế ngày càng lớn hơn.
Trong suốt những năm 70 và 80, gã đã xây dựng một công ty môi giới khổng lồ tên là Shearson. Sau khi bán nó, gã tiếp tục xây dựng một đế chế khác là Travelers Group, một tập đoàn tài chính-bảo hiểm. Nhưng tham vọng của gã còn lớn hơn thế
Giấc mơ của Weill là tạo ra một "siêu thị tài chính" (financial supermarket), một gã khổng lồ mà ở đó khách hàng có thể làm mọi thứ: gửi tiền, vay vốn, mua bảo hiểm, và giao dịch chứng khoán.
Giấc mơ này, tất nhiên, là hoàn toàn bất hợp pháp dưới thời Glass-Steagal.
Thay vì chờ đợi luật pháp thay đổi, Weill đã quyết định đi một nước cờ táo tợn: cứ làm trước rồi buộc chính phủ phải hợp pháp hóa cho mình.
Bên phía Citicorp, kẻ ngồi đối diện và bắt tay với Sandy Weill là John S. Reed, Chủ tịch kiêm CEO của Citicorp lúc đó.
Nếu Sandy Weill là một tay "gangster" M&A khát máu, một kẻ ngoại đạo đi lên từ việc thâu tóm, thì John Reed là một gã "bố già" trí thức, một nhà chiến lược đã dành cả đời để leo lên đỉnh từ bên trong chính Citibank.
John Reed là một nhân vật hoàn toàn trái ngược với Weill.
Reed được biết đến là một nhà quản lý có đầu óc chiến lược, bị ám ảnh bởi công nghệ và hiệu quả hoạt động. Gã chính là người đã vực dậy Citibank khỏi bờ vực phá sản vào đầu những năm 1990 sau những khoản nợ xấu khổng lồ ở Mỹ Latinh. Gã cũng được coi là cha đẻ của mô hình ngân hàng tiêu dùng toàn cầu hiện đại và là người đã thúc đẩy mạnh mẽ việc sử dụng máy ATM.
Reed là người đã biến Citibank thành một thương hiệu toàn cầu thực sự, hiện diện ở hàng trăm quốc gia. Gã nhìn thấy tương lai của ngành tài chính là sự hợp nhất và quy mô khổng lồ.
Đến cuối những năm 90, Reed nhận ra rằng mô hình ngân hàng thương mại thuần túy đang dần trở nên lỗi thời và kém lợi nhuận.
Giống như Weill, gã cũng nhìn thấy một tương lai nơi một công ty duy nhất có thể cung cấp mọi dịch vụ tài chính. Bức tường Glass-Steagall là một cái nhà tù đối với tham vọng của gã.
Vào tháng 4 năm 1998, hai tên này đã đạo diễn một vụ sáp nhập khổng lồ trị giá 70 tỷ đô la giữa Citicorp (một trong những công ty mẹ ngân hàng thương mại lớn nhất) và Travelers Group (một gã khổng lồ về bảo hiểm và ngân hàng đầu tư, do chính Weill điều hành).
Thỏa thuận ban đầu được dàn xếp như một "cuộc sáp nhập của những kẻ ngang hàng", với cả Weill và Reed cùng giữ chức Co-CEO (đồng giám đốc điều hành).
Nhưng trong một cái lồng có hai con hổ thì chỉ có một con được sống. Nhanh chóng sau đó, một cuộc đấu đá quyền lực tàn khốc đã nổ ra giữa hai phong cách lãnh đạo hoàn toàn trái ngược. Và Sandy Weill, với bản năng của một tay chơi M&A lọc lõi, đã chiến thắng. John Reed đã bị đẩy ra khỏi chính đế chế mà ông ta đã giúp tạo ra vào năm 2000.
Vậy, đối tác của Weill trong ván cờ lịch sử đó chính là John Reed – một nhà chiến lược nhìn xa trông rộng, người đã đồng ý bắt tay với một con cá mập để tạo ra một con quái vật Leviathan, nhưng cuối cùng lại bị chính con cá mập đó nuốt chửng.
Vụ sáp nhập này đã tạo ra Citigroup, một con quái vật tài chính vi phạm trực tiếp các điều khoản cốt lõi của Glass-Steagall.
Đây là một hành động thách thức trắng trợn. Weill và đối tác của mình, John Reed của Citicorp, đã đặt cược rằng chính phủ sẽ không dám phá vỡ một định chế tài chính quá lớn vừa mới ra đời.
Chúng đã đặt các nhà quản lý và Quốc hội vào một tình thế đã rồi.
Cục Dự trữ Liên bang (FED), dưới sự chủ trì của Alan Greenspan, một tín đồ của chủ nghĩa tự do và phi điều tiết của Hakeyk và Fiedman, đã "nháy mắt" cho qua bằng cách cấp cho Citigroup một giấy phép miễn trừ tạm thời, cho họ vài năm để Quốc hội thay đổi luật .
Cái đồng hồ đếm ngược đã được bật.
Đây là lúc cỗ máy lobby vận hành hết công suất.
Đây không phải là một cuộc vận động đơn lẻ. Đó là một cơn bão tiền.
Trong những năm dẫn đến việc xóa bỏ Glass-Steagall, ngành tài chính, bảo hiểm và bất động sản đã chi hơn 300 triệu đô la cho việc vận động hành lang và hàng trăm triệu đô la khác cho các khoản đóng góp chiến dịch.
Họ sử dụng các hiệp hội hùng mạnh như Financial Services Roundtable để thúc đẩy nghị trình của mình.
Nhưng tiền không phải là vũ khí duy nhất. Chúng còn có một vũ khí lợi hại hơn: "cửa xoay" (revolving door), nơi các quan chức cấp cao của chính phủ và các lãnh đạo Wall Street đổi chỗ cho nhau một cách nhịp nhàng.
Đây là câu chuyện cổ tích mà bọn kỹ trị và lobby sẽ kể cho mày nghe:
"Khi một người như X (ví dụ như Hank Paulson) rời Phố Wall để phục vụ đất nước, ông ta phải tuân thủ các quy tắc đạo đức cực kỳ nghiêm ngặt.
Ông ta bị buộc phải bán toàn bộ cổ phiếu của mình ở Goldman Sachs để tránh mọi xung đột lợi ích.
Hơn nữa, ông ta còn phải ký cam kết sẽ không tham gia vào các quyết định trực tiếp mang lại lợi ích riêng cho công ty cũ của mình. Ông ta hành động vì lợi ích quốc gia, không phải vì lợi ích của Phố Wall.
Việc có kinh nghiệm trong ngành là một lợi thế, giúp ông ta hiểu rõ vấn đề để đưa ra quyết định đúng đắn, chứ không phải là một sự thiên vị."
Nghe có vẻ cao quý và hợp lý vãi lồn, đúng không? Nhưng đó chỉ là một màn kịch được dựng lên để che đậy sự thật.
Việc một bộ trưởng xuất thân từ Phố Wall không "nương tay" với nơi làm việc cũ là một điều phi tự nhiên và gần như không thể xảy ra.
Nó không phải là sự thiên vị trắng trợn kiểu "tao sẽ cho Goldman Sachs thêm tiền". Nó tinh vi hơn nhiều.
Sự nương tay nằm ở hệ điều hành tư duy.
Một thằng đã dành cả đời để leo lên đỉnh của Goldman Sachs, toàn bộ thế giới quan, các mối quan hệ, và cách giải quyết vấn đề của nó đã được định hình bởi văn hóa của Phố Wall.
Đối với nó, sự ổn định và lợi nhuận của các ngân hàng lớn đồng nghĩa với sự ổn định và lợi nhuận của cả nền kinh tế.
Khi khủng hoảng xảy ra, phản xạ tự nhiên của Hank Paulson không phải là "làm sao để cứu những người dân mất nhà?".
Phản xạ của gã là "làm sao để cứu hệ thống thanh khoản và ngăn chặn sự sụp đổ dây chuyền của các định chế tài chính?".
Gã không cần phải nhận một cuộc gọi nào từ CEO của Goldman. Bộ não của gã đã được lập trình sẵn để nghĩ giống như CEO của Goldman.
Gã sẽ tự động đưa ra những giải pháp có lợi nhất cho những kẻ giống mình, vì hắn thực sự tin rằng đó là cách duy nhất để cứu tất cả mọi người. Đó không phải là xung đột lợi ích, đó là sự đồng nhất về lợi ích.
Cái trò bán hết cổ phiếu trước khi nhậm chức chỉ là một màn kịch để qua mắt công chúng.
Nó có hoạt động không? Có, về mặt kỹ thuật. Gã không còn sở hữu trực tiếp cổ phiếu Goldman nữa. Nhưng nó chẳng giải quyết được cái mẹ gì.
Miếng bánh lợi ích được duy trì bằng những cách khác:
Mạng Lưới Quan Hệ (The Network): Gía trị lớn nhất của một thằng như Paulson không nằm ở cổ phiếu. Nó nằm ở mạng lưới quan hệ. Tất cả những người đang điều hành Phố Wall đều là bạn bè, đồng nghiệp cũ, hoặc đàn em của gã. Khi gã rời chính phủ, gã sẽ quay trở lại cái mạng lưới đó. Gã biết rằng nếu gã đưa ra những chính sách có lợi cho "anh em", cánh cửa sẽ luôn rộng mở chào đón gã trở về với những vị trí béo bở ở các quỹ đầu tư hay ban giám đốc.
Sự Giàu Có Đã Tích Lũy: Gã đã rời Goldman với một gia tài hàng trăm triệu đô la. Gã không cần phải lo lắng về tiền bạc. Sự giàu có đó cho phép gã hành động một cách "vô tư", nhưng cái thế giới quan đã tạo ra sự giàu có đó thì không bao giờ thay đổi.
Lợi Ích Tương Lai (The Deferred Paycheck): Đây là phần quan trọng nhất. Hãy coi công việc ở chính phủ như một khoản đầu tư. Mày chấp nhận giảm lương trong vài năm để có được quyền lực và kiến thức nội bộ vô giá. Sau khi rời chính phủ, mày sẽ "rút tiền" từ khoản đầu tư đó. Mày sẽ được trả hàng trăm nghìn đô la cho một bài diễn thuyết, được mời vào ban giám đốc của các tập đoàn lớn, hoặc trở thành một nhà tư vấn cấp cao. Càng "giúp đỡ" ngành tài chính khi còn tại vị, tấm séc trả cho mày sau này càng lớn.
Vậy nên, việc bán cổ phiếu chỉ là một hành động mang tính biểu tượng, một trò ảo thuật để đánh lạc hướng. Nó giống như một tay trùm mafia tuyên bố đã "rửa tay gác kiếm" bằng cách bán đi khẩu súng lục của mình, trong khi toàn bộ đế chế và mạng lưới của gã vẫn còn nguyên vẹn.
Quyền lực thực sự không nằm ở những tờ cổ phiếu, nó nằm ở vị trí của mày trong hệ thống.
Nhân vật điển hình nhất cho việc này là Robert Rubin.
Gã này là cựu đồng chủ tịch của Goldman Sachs trong suốt 26 năm, sau đó làm Bộ trưởng Tài chính dưới thời Bill Clinton từ 1995 đến 1999.
Toàn bộ thế giới quan mà hắn ta tin là: cái gì tốt cho Goldman Sachs thì tốt cho nước Mỹ.
Chính trong nhiệm kỳ của hắn, quá trình dỡ bỏ Glass-Steagall được thúc đẩy mạnh mẽ nhất. Gã lập luận rằng các luật lệ này đã "lỗi thời" và làm "giảm khả năng cạnh tranh" của các ngân hàng Mỹ.
Cùng lúc đó, một người phụ nữ tên là Brooksley Born, chủ tịch của một cơ quan quản lý nhỏ (CFTC), đã cố gắng gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự nguy hiểm của thị trường phái sinh OTC (bao gồm cả CDS) và đề xuất giám sát nó.
Rubin, cùng với Alan Greenspan và cấp phó của mình là Larry Summers, đã hợp lực để dập tắt nỗ lực này. Họ đã gây áp lực lên Quốc hội, lập luận rằng việc giám sát phái sinh sẽ "gây ra hậu quả nghiêm trọng" và bóp nghẹt sự đổi mới.
Họ đã thành công. Thị trường CDS nghìn tỷ đô la đã được cho phép hoạt động trong bóng tối, không có một sự giám sát nào.
Và sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở chính phủ và Glass-Steagall bị xóa sổ, Rubin đã đi đâu?
Gã đến ngồi vào ghế giám đốc và sau đó là chủ tịch của chính Citigroup, với mức lương hàng chục triệu đô la. Một sự trùng hợp quá hoàn hảo.
Trong suốt một thập kỷ tiếp theo, Rubin đã nhận được tổng cộng hơn 126 triệu đô la tiền lương và thưởng từ Citigroup.
Với một bên là cú đấm thép của Citigroup, một bên là cơn mưa tiền lobby, và một bên là sự ủng hộ từ bên trong chính phủ bởi những người như Rubin và Greenspan, bức tường Glass-Steagall không thể nào đứng vững.
Và cú đấm cuối cùng cho sự mỉa mai là gì? Chính Citigroup, được xây dựng trên sự sụp đổ của Glass-Steagall và phình to nhờ các công cụ phái sinh không bị kiểm soát, đã trở thành một trong những nạn nhân lớn nhất của khủng hoảng 2008 và phải nhận gói cứu trợ khổng lồ từ tiền thuế của dân.
Đạo luật Gramm-Leach-Bliley năm 1999, được đặt theo tên các nhà tài trợ chính trị của nó, đã chính thức đóng chiếc đinh cuối cùng vào cỗ quan tài của Glass-Steagall. Tổng thống Bill Clinton đã ký nó thành luật, hoàn tất cuộc đảo chính.
Cách chúng nó thực hiện là một sự kết hợp của
(1) hành động thách thức pháp luật một cách trắng trợn để buộc chính phủ phải chạy theo,
(2) sử dụng sức mạnh tài chính áp đảo để mua chuộc ảnh hưởng chính trị,
và (3) cài cắm những người của mình vào các vị trí quyền lực nhất trong chính phủ để dọn đường từ bên trong.
Đó là một bài học kinh điển về cách quyền lực thực sự vận hành, nơi luật pháp không định hình thị trường, mà thị trường uốn cong luật pháp theo ý muốn của nó.
Deregulation Hoàn Toàn Thị Trường Derivatives (phái sinh)
Derivative, hay "chứng khoán phái sinh", chính là đỉnh cao của sự trừu tượng hóa trong tài chính, nơi Wall Street tạo ra tiền từ những thứ không hề tồn tại trong thế giới vật chất có thể sờ-nắm-chạm.
Nó là sàn cá cược hợp pháp cho cái thứ không hề tồn tại trên đời.
Để hiểu nó là cái đéo gì, hãy quên mấy cái định nghĩa phức tạp đi. Về bản chất, derivative là một hợp đồng, một vụ cá cược giữa hai bên về giá trị tương lai của một thứ khác.
Giá trị của cái hợp đồng này được "phái sinh" từ một "tài sản cơ sở". Tài sản cơ sở đó có thể là bất cứ thứ gì: giá một cổ phiếu (như Apple), giá một thùng dầu, lãi suất ngân hàng, tỷ giá đô la/yên, hay thậm chí là thời tiết.
Tưởng tượng hai thằng nông dân cá cược với nhau xem tháng sau trời có mưa không.
Thằng A tin là sẽ mưa, thằng B tin là sẽ khô hạn.
Chúng nó ký một tờ giấy:
"Nếu mưa, B trả A 10 triệu. Nếu khô hạn, A trả B 10 triệu".
Cái tờ giấy ghi vụ cá cược đó chính là derivative. Giá trị của nó thay đổi từng ngày dựa trên dự báo thời tiết, nhưng không có một giọt mưa thật nào được trao đổi cả.
Wall Street đã lấy cái ý tưởng đơn giản này và biến nó thành một sòng bạc toàn cầu với hai mục đích chính:
Phòng hộ rủi ro (Hedging): Đây là cái vỏ bọc hợp pháp mà chúng nó luôn rao giảng. Một hãng hàng không sợ giá xăng dầu tăng, nó có thể mua một hợp đồng derivative để "khóa" giá xăng ở mức hiện tại trong vòng 6 tháng tới. Nếu giá xăng tăng thật, hãng sẽ có lời từ hợp đồng để bù lại chi phí. Đây là cách sử dụng hợp lý.
Đầu cơ (Speculation): Đây mới là nơi cuộc chơi thật sự diễn ra và là nơi 99% tiền được tạo ra. Đây là hành động cá cược thuần túy vào sự biến động giá cả mà không hề sở hữu tài sản cơ sở.
Và "vũ khí" derivative tối thượng đã gây ra khủng hoảng 2008 chính là Credit Default Swap (CDS).
Một cái CDS về cơ bản là một hợp đồng bảo hiểm cho một khoản nợ.
CDS được phát minh vào khoảng năm 1994 bởi một nhóm chủ ngân hàng trẻ tại J.P Morgan đứng đầu bởi một người phụ nữ tên là Blythe Masters.
Vào đầu những năm 1990, các ngân hàng quốc tế lớn như J.P. Morgan bị ràng buộc bởi các quy tắc an toàn vốn quốc tế gọi là Hiệp ước Basel I.
Nôm na là, với mỗi khoản vay mà ngân hàng cấp ra, nó bắt buộc phải giữ lại một lượng vốn nhất định (khoảng 8%) làm của để dành, phòng khi con nợ phá sản.
Lúc đó, J.P. Morgan đang có một khoản tín dụng khổng lồ trị giá 4.8 tỷ đô la cấp cho tập đoàn dầu khí Exxon.
Exxon là một trong những công ty vững chắc nhất thế giới, được xếp hạng tín dụng AAA, rủi ro vỡ nợ gần như bằng không.
Thế nhưng, theo luật chơi của Basel, J.P. Morgan vẫn phải trích ra một cục vốn khổng lồ (khoảng 384 triệu đô la) để dự phòng cho khoản vay cực kỳ an toàn này. Đối với các chủ ngân hàng, đây là một sự lãng phí khủng khiếp.
Cục tiền đó là "tiền chết", bị đóng băng và không thể dùng để cho vay hay đầu tư vào những thương vụ khác sinh lời cao hơn.
Trước đó, để giải phóng cục vốn này, J.P. Morgan chỉ có một cách: bán khoản nợ của Exxon cho một ngân hàng khác.
Nhưng cách này rất tệ. Exxon là khách hàng VIP. Họ chọn làm ăn với J.P. Morgan vì uy tín và mối quan hệ.
Nếu J.P. Morgan bán nợ của họ đi, nó giống như một cái tát vào mặt, một hành động cho thấy J.P. Morgan không còn coi trọng mối quan hệ đó nữa.
Nhóm của Blythe Masters đã nghĩ ra một giải pháp thiên tài. Họ tự hỏi:
"Tại sao chúng ta phải bán cả khoản nợ? Cái chúng ta thực sự muốn loại bỏ là 'rủi ro vỡ nợ'. Vậy tại sao không bán chỉ riêng cái rủi ro đó thôi?"
Và đây là cách họ thực hiện ván cờ đầu tiên:
Tìm người mua rủi ro: Họ đã tìm đến Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Châu Âu (EBRD). EBRD là một tổ chức đang muốn tìm kiếm các khoản đầu tư an toàn để kiếm một khoản lãi suất nhỏ nhưng ổn định.
Thiết kế hợp đồng: J.P. Morgan đã tạo ra một hợp đồng mới toanh, chính là cái CDS đầu tiên. Hợp đồng này quy định:
J.P. Morgan sẽ trả cho EBRD một khoản phí đều đặn hàng quý (giống như phí bảo hiểm).
Đổi lại, nếu Exxon vỡ nợ (một khả năng cực kỳ xa vời), EBRD sẽ phải trả cho J.P. Morgan toàn bộ số tiền mà Exxon còn nợ.
Kết quả "đôi bên cùng có lợi":
Đối với J.P. Morgan: Họ vẫn giữ khoản vay của Exxon trên sổ sách, vẫn duy trì quan hệ khách hàng, vẫn ăn tiền lãi từ Exxon. Nhưng vì "rủi ro vỡ nợ" đã được chuyển giao hoàn toàn cho EBRD, họ có thể đến gặp các nhà quản lý và lập luận rằng họ không cần phải giữ cục vốn dự phòng 384 triệu đô la kia nữa. Cục vốn đó được giải phóng để đi thực hiện các phi vụ khác.
Đối với EBRD: Họ nhận được một khoản tiền phí đều đặn khi bảo hiểm cho một rủi ro mà họ tin là sẽ không bao giờ xảy ra. Đối với họ, đó là "tiền miễn phí".
Cái khoản phí mà J.P. Morgan trả cho EBRD, đối với EBRD, nó chỉ đơn giản là doanh thu. Giống như tiền mày trả cho Netflix hay tiền mày mua một ly cà phê vậy. Nó chảy vào quỹ hoạt động chung của EBRD.
Sau đó, EBRD dùng mớ doanh thu đó (cùng với tất cả các nguồn thu khác) để thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình – tức là cho vay và đầu tư vào các dự án ở các nước Đông Âu để thúc đẩy kinh tế thị trường, đúng như sứ mệnh của nó.
Đây là lúc mày thấy sự khác biệt cốt lõi:
Một công ty bảo hiểm thật sự (như Prudential hay Bảo Việt): Khi nhận tiền phí của mày, luật pháp bắt nó phải trích ra một phần lớn và bỏ vào một cái quỹ dự phòng (reserve fund) an toàn. Cục tiền đó phải được đầu tư vào những thứ ít rủi ro như trái phiếu chính phủ, để đảm bảo rằng lúc nào cũng có sẵn tiền mặt để bồi thường cho khách hàng khi có sự cố xảy ra. Chúng nó bị giám sát cực kỳ chặt chẽ về việc này.
Thằng bán CDS (như EBRD và sau này là AIG): Vì CDS là một sản phẩm phái sinh hoạt động trong "vùng tối" và không bị coi là hợp đồng bảo hiểm, chúng nó không bị luật pháp bắt buộc phải lập ra một quỹ dự phòng tương xứng. Chúng nó chỉ dựa vào các mô hình toán học của riêng mình để tự đánh giá rủi ro.
Trong cái thương vụ đầu tiên đó, mô hình của EBRD nói rằng: "Xác suất Exxon vỡ nợ gần như bằng không". Vì vậy, chúng nó coi cái khoản phí nhận được gần như là 100% lợi nhuận. Chúng nó không cần lập quỹ dự phòng riêng cho cái deal này, vì chúng nó tin rằng sẽ không bao giờ phải trả tiền. Chúng nó chỉ cần đảm bảo rằng tổng thể tài sản của cả tổ chức đủ mạnh để "cân" được cái rủi ro cực nhỏ này.
Phát minh của Blythe Masters đã mở ra một chiếc hộp Pandora.
Nó đã biến "rủi ro vỡ nợ" từ một hậu quả phải gánh chịu thành một món hàng có thể mua bán một cách độc lập khỏi chính khoản nợ gốc.
Và khi mày có thể mua bán rủi ro, mày cũng có thể đánh cược vào nó. Sòng bạc CDS toàn cầu đã được khai sinh từ chính thương vụ tưởng chừng như an toàn và hợp lý này.
Và đây là lúc AIG bước vào cuộc chơi. Cụ thể là một chi nhánh nhỏ ở London có tên là AIG Financial Products (AIGFP).
Nó hoạt động như thế này:
Ngân hàng A cho công ty X vay tiền.
Ngân hàng A sợ công ty X vỡ nợ, nên nó đi mua một cái CDS từ gã khổng lồ bảo hiểm AIG.
Ngân hàng A trả phí bảo hiểm đều đặn cho AIG. Nếu công ty X vỡ nợ thật, AIG sẽ phải trả toàn bộ khoản nợ đó cho ngân hàng A.
Thằng AIG này lấy uy tín ở đâu ra để bảo lãnh? Nó dùng chính cái xếp hạng tín dụng AAA hoàn hảo của công ty mẹ AIG.
Với cái mác AAA đó, AIGFP được coi là an toàn tuyệt đối, là tảng đá vững chắc nhất. Các ngân hàng ở Wall Street, như Goldman Sachs, đã đến gặp AIGFP và nói:
"Bọn tao có đống CDO này, mày bán bảo hiểm (CDS) cho nó đi."
AIGFP đã đồng ý bán hàng chục, hàng trăm tỷ đô la hợp đồng CDS.
Nhưng chúng nó bảo lãnh bằng cái gì?
Bằng niềm tin.
Chúng nó gần như không giữ một đồng vốn dự trữ nào cho các hợp đồng này.
Mô hình toán học của chúng nó cho thấy khả năng các CDO được xếp hạng AAA bị vỡ nợ là gần như bằng không, với xác suất 99.85% là an toàn.
Chúng tin rằng chúng chỉ đang thu phí bảo hiểm mà không bao giờ phải trả tiền bồi thường.
Chúng nó đã bán bảo hiểm bão ở một nơi chúng tin rằng sẽ không bao giờ có bão. Từ đống tiền thu về AIG tiếp tục đem đi đánh cược vào các khoản đầu tư rủi ro nên chúng gần như không bao giờ đủ tiền mặt.
Vậy là từ đống nợ đất đai ban đầu như MBS chúng đã tiến hoá như thế này:
1.MBS (Mortgage-Backed Security): Các ngân hàng cho vay mua nhà bừa bãi (subprime mortgage), rồi đóng gói hàng nghìn khoản vay này lại thành một trái phiếu gọi là MBS và bán đi.
2.CDO (Collateralized Debt Obligation): Wall Street lấy những lát rủi ro nhất, khó bán nhất (mezzanine/junior tranches) của các MBS khác nhau, và cả những loại nợ khác, rồi lại đóng gói chúng một lần nữa thành một sản phẩm mới gọi là CDO.
Đây là hành động gom rác lại rồi gọi nó là một kho báu.
3. CDS (Credit Default Swap): Để bán được những cái CDO rác rưởi này, Wall Street cần một cái tem bảo hành.
Chúng nó đến gặp AIG và mua bảo hiểm CDS cho các CDO đó. Với cái bảo hiểm từ AIG (có mác AAA), những cái CDO rác rưởi đó bỗng nhiên cũng được coi là an toàn và được xếp hạng AAA.
Mối quan hệ của chúng nó là một vòng tuần hoàn khép kín:
MBS là nguyên liệu thô.
CDO là sản phẩm tái chế từ phần tồi tệ nhất của nguyên liệu thô.
Và CDS là cái mác "an toàn" giả tạo được dán lên sản phẩm tái chế đó để bán nó cho những nhà đầu tư ngây thơ.
Cả sòng cá cược Wall Street đã lao vào cơn nghiện như thế chỉ để bán một tờ giấy lấy niềm tin xanh từ tương lai giá sẽ không bao giờ rớt xuống.
Các ngân hàng lớn như Goldman Sachs, JP Morgan tạo ra các sản phẩm derivative này và bán cho khách hàng.
Chúng đứng giữa, kết nối người mua và người bán, và ăn chênh lệch giá (bid-ask spread). Chúng không quan tâm ai thắng ai thua, miễn là có nhiều người chơi, chúng sẽ thu được phí giao dịch.
Những loại derivative phức tạp đến mức chỉ chúng nó mới hiểu, rồi bán cho các quỹ hưu trí và nhà đầu tư khác với cái giá cắt cổ, thường ẩn chứa những rủi ro mà khách hàng không nhìn thấy.
Và để hợp thức hoá sàn cá cược chúng nó sử dụng chính phủ và quốc hội Mỹ để làm con rối trong sàn cược hàng trăm nghìn tỷ đôla thông qua Đạo luật Hiện đại hóa Hợp đồng Tương lai Hàng hóa năm 2000 (Commodity Futures Modernization Act of 2000).
CFMA tạo ra vùng tối pháp lý cho phép các hợp đồng phái sinh giao dịch qua quầy (OTC), đặc biệt là CDS, sẽ không bị coi là "hợp đồng tương lai" hay "chứng khoán".
Điều này có nghĩa là chúng nó sẽ không chịu sự giám sát của cả Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai (CFTC) lẫn Ủy ban Chứng khoán (SEC).
Đây là một cái lỗ đen pháp lý được cố tình tạo ra. Mọi cảnh báo từ những người như Brooksley Born, chủ tịch CFTC lúc đó, về sự nguy hiểm của một thị trường phái sinh không được kiểm soát đều bị phớt lờ và dập tắt bởi chính các quan chức cấp cao trong chính quyền Clinton và FED.
Và Thượng nghị sĩ Phil Gramm, một tay có quan hệ mật thiết với ngành tài chính, chính là kiến trúc sư trưởng của màn kịch này.
Thủ đoạn của gã này là một bài học kinh điển về vận động hành lang.
Hắn đã giấu cái dự luật dài 262 trang này vào bên trong một dự luật chi tiêu liên bang khổng lồ (omnibus spending bill) dài 11,000 trang, một thứ bắt buộc phải được thông qua để chính phủ không bị đóng cửa.
Gã đã làm việc này vào lúc nửa đêm, trong những ngày cuối cùng của phiên họp Quốc hội năm 2000, khi không một ai có đủ thời gian hay sự tỉnh táo để đọc và hiểu hết những gì họ đang biểu quyết.
Đó là một cú đâm lén hoàn hảo, hợp pháp hóa một sòng bạc nghìn tỷ đô la mà không có một cuộc tranh luận công khai nào.
Clinton ký vì Bộ Ngân khố, Fed, và SEC đều gật đầu từ trước. Bộ ba quyền lực lúc đó – Robert Rubin (cựu CEO Goldman Sachs, lúc đó là Bộ trưởng Tài chính), Larry Summers (kế nhiệm Rubin), và Alan Greenspan (Chủ tịch Fed) – chính là chân gỗ Wall Street trong Nhà Trắng.
Họ dùng lý luận “đổi mới tài chính”, “giảm chi phí vốn”, “quản trị rủi ro” để làm bình phong.
Trong khi thực tế là tụi ngân hàng đầu tư sẽ in ra hàng tỷ đô derivative từ không khí.
Phil Gramm sau đó về làm cố vấn cấp cao cho UBS, một ngân hàng Thuỵ Sĩ dính chàm nặng trong các vụ derivative độc hại.
Đó là cái giá ông ta được trả: hủy diệt rào chắn pháp lý đổi lấy ghế đệm trong hệ thống ngân hàng toàn cầu.
Rubin thì sau khi rời Bộ Tài chính nhảy vào Citigroup, lãnh đạo một thời gian, chính là chỗ khạc ra đống derivative CDO rồi ôm bom.
Summers thì ăn đẫy từ các bài diễn thuyết trả tiền và quan hệ sân sau với các quỹ đầu tư.
Greenspan về hưu mở consulting firm, viết sách, hút tiền từ giới tài phiệt mà hắn đã từng “quản lý”.
Bong bóng nhà đất: thổi phổng và nổ tung như thế nào?
Sau khi cú nổ bong bóng Dotcom vào những năm 2001 khi các công ty công nghệ Mỹ bơm giá trị lên quá đà , tiền nhận được không đổ vào đầu tư năng lực cạnh tranh thì tờ Barron's tung bài Warning: internet companies are running out of cash–fast cảnh báo 50 công ty dot-com sắp cạn tiền mặt song song với đó FED siết dòng tiền rẻ lại làm hàng loạt domino sụp khiến cái bong bóng này nổ tung, thị trường bốc hơi 5000 tỷ đô chỉ trong 2 năm tiếp theo , hơn 1.6 triệu việc làm chủ yếu trong ngành công nghệ bị xoá phổ.
Hàng loạt startup chết sạch, kéo theo làn sóng sa thải, phá sản, và một loạt thành phố (như San Francisco, Seattle) chuyển từ boom sang recession chỉ trong 6 tháng.
Do đầu tư tư nhân sụt mạnh, GDP Mỹ cũng dính đòn:
Năm 2001, nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái chính thức từ tháng 3 đến tháng 11, tăng trưởng GDP tụt xuống 0.8% rồi -0.3% trong quý 3, ngay thời điểm tệ nhất (dữ liệu từ BEA – Cục phân tích kinh tế Hoa Kỳ). Tăng trưởng mất đà vì doanh nghiệp ngừng đầu tư, hộ gia đình mất niềm tin, thị trường việc làm teo tóp.
Và khi cảm thấy mất an toàn người ta chạy vào một nơi trú ẩn tưởng chừng là bền vững nhất: bất động sản.
Để chống lại sự suy thoái dotcom và trấn an nền kinh tế sau cú sốc 11/9/2001, FED dưới thời chủ tịch Alan Greenspan liên tục cắt giảm lãi suất vay qua đêm của các ngân hàng thương mại với nhau (federal funds rate) từ mức 6% đầu năm 2001 hạ xuống chỉ còn 1.75% vào cuối năm và xuống mức thấp nhất lịch sử 1% vào giữa năm 2003.
Vì sao FED hạ lãi suất lại bơm ra một đống tiền rẻ ra thị trường?
Bởi vì luật bắt buộc ngân hàng phải có một lượng tiền mặt dự trữ tối thiểu trong tài khoản tại Fed vào cuối ngày (gọi là reserve requirement).
Tức là nếu hôm nay ngân hàng ABC có quá nhiều khách rút tiền, hoặc cho vay hơi nhiều → nó thiếu tiền mặt để đạt chuẩn → phải đi vay tạm tiền mặt của ngân hàng XYZ – ngân hàng đang dư tiền dự trữ.
Và vì chuyện này xảy ra vào cuối ngày, nên gọi là vay qua đêm (overnight lending).
Chính là lãi suất mà các ngân hàng tính cho nhau khi thực hiện khoản vay qua đêm đó.
Nó được “gợi ý” (thực ra là ép buộc) bởi Fed thông qua cái gọi là Federal Funds Target Rate – một con số mà Fed đặt ra làm chuẩn, rồi bơm/hút thanh khoản để kéo thị trường về gần đó.
Nếu thị trường liên ngân hàng mà dám “phớt lờ” cái mục tiêu của Fed?
Fed sẽ đạp lãi suất liên ngân hàng về đúng chỗ ngay lập tức bằng cách bơm/hút tiền qua Open Market Operations – mua hoặc bán trái phiếu chính phủ với các ngân hàng thương mại.
Nếu Fed đặt lãi suất mục tiêu là 2%, thì các ngân hàng sẽ cho nhau vay qua đêm ở quanh mức đó, nhưng nếu các ngân hàng khan tiền thì sao?
Họ sẽ nhảy vào mua một đống trái phiếu từ ngân hàng, trả bằng tiền in ra từ không khí chỉ bằng cái bàn tính bơm ra lượng tiền lớn khiến các ngân hàng phải giải lãi suất cho qua đêm xuống lại vì nếu lãi suất quá cao không thể cạnh tranh lại.
Chỉ là cung > cầu, bài toán kinh tế đơn giản.
Ngược lại, nếu lãi suất rơi xuống 1.5% vì thừa tiền?
Fed sẽ bán trái phiếu chính phủ cho đám ngân hàng → hút tiền ra khỏi hệ thống → thiếu thanh khoản → lãi suất overnight tự tăng lên gần 2%.
Và sau quyết định hạ lãi suất này nó kéo theo một loạt tiền có trong hệ thống trở nên rẻ hơn như:
Lãi suất thẻ tín dụng
Vay mua nhà (mortgage)
Lãi vay doanh nghiệp
Trái phiếu doanh nghiệp
Lãi suất tiết kiệm ngân hàng
Đều được neo vào Federal Funds Rate + spread rủi ro. Tức là chỉ cần Fed nâng cái này lên 0.25% → mấy chục triệu người Mỹ thấy tiền vay nhà, vay tiêu dùng tăng ngay.
Ngược lại, Fed hạ lãi suất → dòng tiền rẻ bắt đầu chảy ra, ai cũng có thể đi vay với lãi suất thấp.
Kẻ hưởng lợi đầu tiên từ lãi suất thấp này chính là những kẻ đứng ở thượng nguồn con đập: các ngân hàng lớn (primary bank), các tập đoàn khổng lồ, các quỹ đầu tư hàng trăm nghìn tỷ đôla múc được được dòng nước mát lành của đống 'tiền rẻ' đó.
Chúng nó vay được hàng tỷ, hàng nghìn tỷ đô la với chi phí gần như bằng không.
Chúng nó dùng số tiền này để làm gì?
Chúng nó không mang đi phát cho người nghèo.
Chúng nó đi mua tài sản: cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản, thậm chí là mua lại chính cổ phiếu của công ty mình để đẩy giá lên.
Điều này ngay lập tức làm cho những người sở hữu tài sản, tức là đám giàu có, trở nên giàu hơn một cách chóng mặt trên giấy tờ.
Sau đó chỉ một phần rất nhỏ của dòng sông 'tiền rẻ' này mới trôi xuống hạ nguồn - đến tay người lao động thông qua lương, dự án xây dựng hạ tầng , tuyển dụng thêm nhân viên mới. Nó tạo ra một cảm giác tăng trưởng nóng tức thời, một sự thịnh vượng chung cho toàn xã hội tạm thời.
Ai cũng thấy mình dễ kiếm việc, lương cao hơn nhưng cái giá là gì? Ai phải trả? Đây là cái bẫy mà bọn chuyên gia kinh tế cố gắng né tránh.
Như như mọi dòng sông khác, nước ở thượng nguồn có thể có sạch, trong và mát nhưng đến tận hạ lưu thì nó dơ bẩn và lắm nhiều bụi đất và chất thải từ đám ở đầu và giữa ỉa ra.
Vật giá bắt đầu leo thang từ nhà , xe, xăng, thực phẩm thiết yếu đều vì cái lượng tiền khổng lồ này chênh lệch với lượng hàng hoá có sẵn trên thị trường.
Thử tưởng tượng 1 trái táo vốn mua với giá 1 đôla bây giờ do tiền cung lên quá nhiều dẫn đến việc mất giá 1 trái táo = 1,5 đôla. Cái sự tăng lên 0,5 đôla đấy không đến từ hàng hoá khan hiếm mà chủ yếu do tiền nhiều hơn so với nhu cầu thực tế mà người dân có thể tiêu thụ.
Bọn kinh tế học gọi bằng thuật ngữ: Hiệu ứng Cantillon (Cantillon Effect).
Nó nói rằng những người nhận được tiền mới đầu tiên sẽ có lợi nhất, vì họ được tiêu tiền khi giá cả chưa tăng.
Những người nhận được tiền cuối cùng (người lao động, người về hưu) sẽ chịu thiệt hại nặng nhất, vì họ phải dùng đồng lương của mình để mua hàng hóa và dịch vụ với một cái giá đã bị lạm phát.
Tức là một nghịch lý tàn nhẫn diễn ra hàng chục năm nay mỗi lần FED điều chỉnh lãi suất khiến cả thế giới chạy theo:
Tài sản của người giàu (cổ phiếu, bất động sản) tăng giá phi mã, làm cho họ giàu lên một cách thực chất. Đây gọi là lạm phát tài sản (asset inflation).
Tiền mặt và tiền lương của người nghèo và tầng lớp trung lưu bị mất giá trị vì giá cả hàng hóa tăng lên. Đây là lạm phát giá tiêu dùng (consumer price inflation).
Cùng một hành động bơm tiền, nhưng nó tạo ra hai kết quả hoàn toàn trái ngược cho hai nhóm người.
Nó không phải là một công cụ trung lập để thúc đẩy kinh tế.
Nó là một cỗ máy khổng lồ, hoạt động một cách có hệ thống để gia tăng bất bình đẳng.
Nó lấy sức mua từ những người sống bằng tiền lương và chuyển nó cho những người sống bằng lợi nhuận từ tài sản.
Và khi FED nhận ra lạm phát đã quá cao và phải nâng lãi suất trở lại, những người đầu tiên cảm nhận nỗi đau chính là những người dân bình thường qua các khoản vay nhà và vay tiêu dùng, trong khi đám giàu có đã kịp chốt lời từ khối tài sản khổng lồ của mình.
Đó là một ván cờ đã được sắp đặt để phần thắng luôn nghiêng về một phía.
Vậy bây giờ là lúc mày hiểu tại sao cái bong bóng nhà đất này từ 2001-2005 nó tăng vọt và đến năm 2008 bắt đầu vội vàng điều chỉnh lại.
Quá Trình Bơm Bong Bóng
Khi tiền rẻ đổ ra quá nhiều làm việc vay tiền mua nhà trở nên cực kỳ hấp dẫn, khiến người công nhân cũng cảm giác mình có thể mua được căn nhà trị giá hàng trăm ngàn đôla.
Theo Robert Shiller, giá nhà thực tế (đã điều chỉnh lạm phát) từ 1895 đến 1995 - tức 100 năm - gần như không đổi.
Dữ liệu chính phủ Mỹ cũng cho thấy từ 1953 đến 1995, chênh lệch giữa giá nhà thực tế lẫn mức thu nhập hầu như không thay đổi.
Nhưng đến năm 2002, chỉ trong 7 năm, giá nhà đã tăng gần 30% sau khi điều chỉnh lạm phát.
Với áp lực tạo ra lợi nhuận , các ngân hàng đã nới lỏng tiêu chuẩn cho vay một cách mạo hiểm như các khoản vay thế chấp rủi ro như ARM (vay có lãi suất điều chỉnh) và các khoản vay dưới chuẩn (subprime mortgage) cho những người có lịch sử tín dụng xấu, những người mà trước đây không bao giờ đủ điều kiện vay.
Đó là các khoản vay NINJA loans (No Income, No Job, No Assets) không cần chứng minh thu nhập hay tài sản thế chấp gì hết chỉ cần lời khai của người đi vay kể cả có nói dối và gian lận.
Những người đi vay ở đây chủ yếu là các Subprime Borrowers có điểm tín dụng FICO dưới 620 từng trễ hạn, phá sản và bị tịch thu tài sản với tỷ lệ nợ/thu nhập trên 50% tức là 10 đồng thì 5 đồng chỉ để trả nợ.
Một người mua nhà chỉ cần phải trả trước 2% khoản vay , chỉ phải trả lãi + gốc cho số tiền 98% còn lại thậm chí nhiều khoản vay không cần trả trước mà vẫn có thể nhận ngay khoản tiền lên đến 103-15% giá trị căn nhà.
Tức là vì lợi nhuận béo bở, bọn tài chính ngân hàng, môi giới sẵn sàng đánh cược cho vay nợ đối với những người mà chúng trước giờ luôn từ chối bước vào cửa ngân hàng chỉ vì tin cái bong bóng này sẽ không bao giờ vỡ, nếu có ai phá sản thì chỉ cần tịch thu căn nhà và đem bán lại vẫn có lời vì càng ngày giá càng lên cao.
Ví dụ cho mày thấy, một công nhân xây dựng ở Califỏnia mỗi tháng chỉ kiếm được $3000 (tức là $36.000/năm) -> tất nhiên là đéo có tiền để mua căn nhà kia.
Mà kể cả có tiền đi chăng nữa thì với lãi suất 6.5%/năm cho 30 năm thì mỗi tháng vẫn phải trả số tiền 2,020$ là bằng 67% thu nhập mỗi tháng của anh ta.
Nhưng trong cơn sốt nhà đất vào những năm 2005 này với ARM 2/28 có lãi suất cố định 2 năm đầu và thả nổi theo thị trường 28 năm còn lại thì việc mua căn nhà 400.000 đôla đó càng trở nên dễ dàng trong tầm tay.
Vì anh công nhân đó không cần trả trước bất kỳ khoản tiền nào, trong 2 năm đầu chỉ cần trả tiền lãi 2.5% tức là khoảng $1578/tháng cũng không cần chứng minh thu nhập gì.
Nhưng sau khi hết hạn trăng mật qua năm thứ 3 bắt đầu ác mộng khi lãi suất giờ thả nổi theo thị trường lên đến 7.5% vì FED đã bắt đầu lo ngại về lạm phát tháng 6 năm 2004 đến tháng 6 năm 2006, FED đã thực hiện một chiến dịch tăng lãi suất quyết liệt, nâng lãi suất quỹ liên bang từ 1% lên tới 5.25%.
Tiền nợ anh công nhân này bây giờ mỗi tháng phải trả đến 2797$ tức là 93% tiền lương mỗi tháng.
Đến lúc này là vỡ nợ và bị tịch thu nhà (foreclosure) và bong bóng bắt đầu vỡ từ đây khi anh công nhân và hàng triệu người lao động khác cũng mất khả năng trả nợ.
Một làn sóng tịch thu nhà khiến nguồn cung tăng đột biến , cung > cầu làm giá nhà lao dốc không phanh vì bán nhưng không ai mua đành phải giảm giá sâu đến mức lỗ.
Đống MBS ban đầu được đảm bảo bằng chính các khoản vay thế chấp đó gãy dòng tiền vì hai thứ: người vay hết tiền + căn nhà rớt giá.
Thế là MBS đổ sụp kéo theo các CDO, vốn được tạo ra bằng cách đóng gói những lát rủi ro nhất của MBS, còn sụp đổ thảm hại hơn.
Những tài sản được xếp hạng AAA ngày hôm trước bỗng chốc trở thành giấy lộn.
AIG, thông qua chi nhánh AIGFP, đã bán hàng trăm tỷ đô la CDS – tức hợp đồng bảo hiểm – cho các CDO này.
Khi CDO sụp đổ, AIG đột nhiên phải đối mặt với các yêu cầu bồi thường khổng lồ. Trong năm 2007 , chỉ tính riêng quý 4 đã mất đến 11.5 tỷ đôla từ CDOs
Vì tin rằng rủi ro là bằng không, AIG đã không giữ đủ tiền dự phòng để chi trả. Trong khi đó họ đã bán đống CDS tổng giá trị lên đến 527 tỷ đôla bao gồm:
230 tỷ đô la bảo hiểm cho các khoản vay doanh nghiệp
149 tỷ đô la bảo hiểm cho thế chấp nhà ở hạng prime
70 tỷ đô la bảo hiểm cho nợ doanh nghiệp/CLOs
78 tỷ đô la bảo hiểm cho multi-sector CDOs
Họ bị các ngân hàng đối tác yêu cầu ký quỹ (collateral call) tức là đòi số tiền hàng tỷ đô la, một khoản tiền mà họ không có, đẩy họ đến bờ vực phá sản.
Ngày 15 tháng 9, 2008, cả ba rating agencies đồng loạt hạ xếp hạng AIG xuống dưới AA-.
Hậu quả tức thì đến ngay với:
• Tổng yêu cầu collateral tăng từ 23.44 tỷ lên 32 tỷ đô la chỉ trong một ngày
• Collateral shortfall của AIG tăng từ 4.5 tỷ lên 12.4 tỷ đô la
• Societe Generale một mình đã tăng yêu cầu collateral 5.5 tỷ đô la
Lehman Brothers phá sản
Cùng với AIG là Lehman Brothers - tay chơi liều lĩnh nhất cùng rơi vòng xoáy nợ nần , mất khả năng trả nợ.
Họ không chỉ là một nhà môi giới, họ đã trở thành một trong những nhà cho vay dưới chuẩn lớn nhất thông qua việc thâu tóm các công ty cho vay thế chấp.
Một ngân hàng thương mại (như An Cư Bank trong ví dụ cũ) có một nguồn vốn cực kỳ ổn định: tiền gửi tiết kiệm của hàng triệu người dân. Nguồn vốn này rất "dính", ít khi bị rút ra hàng loạt.
Lehman Brothers, một ngân hàng đầu tư thuần túy, không có cái mỏ neo đó. Nó giống như một gã nghiện cờ bạc chuyên nghiệp. Gã không dùng tiền của mình. Gã sống bằng tiền vay nóng theo ngày và uy tín hão.
Tiền của chúng nó đến từ ba nguồn chính, tất cả đều cực kỳ mong manh.
Nguồn 1: Tiệm Cầm Đồ Của Giới Tài Chính (Thị trường Repo)
Đây là nguồn sống hàng ngày, là hơi thở của Lehman. Repo (Repurchase Agreement) là một thị trường cho vay qua đêm khổng lồ.
Nó giống như một tiệm cầm đồ. Hàng đêm, Lehman sẽ mang đống tài sản của mình (trái phiếu chính phủ, và trớ trêu thay, cả đống MBS độc hại) đi "cầm" cho các định chế tài chính khác (như các quỹ thị trường tiền tệ) để lấy tiền mặt trang trải hoạt động. Sáng hôm sau, nó phải quay lại chuộc đồ với một cái giá cao hơn một chút (chính là lãi suất).
Đây chính là gót chân Achilles của chúng nó. Nguồn sống của Lehman phụ thuộc vào việc thằng chủ tiệm cầm đồ có còn tin mày vào mỗi buổi sáng hay không.
Khi các đối tác bắt đầu nghi ngờ chất lượng của món đồ mà Lehman mang đi cầm (đống MBS), họ đã đồng loạt từ chối cho vay. Vòi oxy bị ngắt đột ngột.
Nguồn 2: Giấy Nợ Ngắn Hạn (Thương phiếu - Commercial Paper)
Đây là một dạng giấy vay nợ không có tài sản đảm bảo mà các tập đoàn lớn phát hành để huy động vốn ngắn hạn. Nó hoàn toàn dựa trên uy tín và xếp hạng tín dụng của công ty.
Lehman đã phát hành hàng tỷ đô la thương phiếu. Nhưng khi tin đồn xấu bắt đầu lan ra và các cơ quan xếp hạng tín dụng dọa hạ bậc tín nhiệm của Lehman, không một ai dám mua giấy nợ của nó nữa. Cái vòi nước này cũng bị khóa lại.
Nguồn 3: Đòn Bẩy Điên Rồ (Vốn Chủ Sở Hữu Mỏng Như Giấy)
Đây là phần cốt lõi. Sau khi đã vay mượn từ hai nguồn trên, chúng nó có một lượng vốn khổng lồ. Nhưng chỉ một phần rất nhỏ trong đó là tiền thật của chúng nó (vốn chủ sở hữu). Phần còn lại là tiền đi vay.
Tỷ lệ đòn bẩy của các ngân hàng đầu tư thời đó có thể lên tới 30:1 hoặc 40:1. Điều này có nghĩa là, với mỗi 1 đồng vốn tự có, chúng nó vay thêm 30-40 đồng nữa để đánh bạc.
Mày thấy sự nguy hiểm chưa? Nếu giá trị tài sản của chúng nó chỉ cần giảm hơn 3%, toàn bộ vốn chủ sở hữu sẽ bốc hơi. Chúng nó sẽ phá sản.
Và việc cho phép chúng nó dùng đòn bẩy điên rồ như vậy là nhờ một quyết định nới lỏng quy định của Ủy ban Chứng khoán (SEC) vào năm 2004.
Khi thị trường sụp đổ, giá trị của những tài sản này bốc hơi, bảng cân đối kế toán của Lehman xuất hiện một lỗ hổng khổng lồ.
Họ đã cố gắng che giấu các khoản lỗ bằng những mánh khóe kế toán, nhưng niềm tin của thị trường đã cạn kiệt. Các ngân hàng khác ngừng cho Lehman vay các khoản vay qua đêm, thứ vốn là huyết mạch của các ngân hàng đầu tư.
Bàn tay cứu vớt từ Hàn Quốc
Lúc đó hy vọng lớn nhất lại đến từ một nơi không ai ngờ tới: Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc (Korea Development Bank - KDB), một ngân hàng quốc doanh xứ sở Kim Chi.
KDB, dưới sự lãnh đạo của CEO Min Euoo-sung (trớ trêu thay lại là cựu sếp của Lehman tại Hàn Quốc), đã nhìn thấy một cơ hội ngàn vàng. Họ muốn biến KDB từ một ngân hàng nội địa thành một tay chơi toàn cầu, và việc thâu tóm một phần của một cái tên huyền thoại như Lehman Brothers là con đường tắt nhanh nhất.
Người Hàn không ngu. Họ biết Lehman đang ở trong tình trạng thối rữa. Họ không muốn mua cả một đống rác. Đề nghị của họ rất rõ ràng và khôn ngoan:
Mua một phần, không phải tất cả: KDB muốn mua khoảng 25% cổ phần của Lehman với giá khoảng 4-5 tỷ đô la, với quyền được nâng lên 49% trong tương lai.
Tách "rác" ra khỏi "vàng": Đây là điều kiện tiên quyết. KDB yêu cầu Lehman phải tách toàn bộ đống tài sản bất động sản và chứng khoán độc hại của mình ra và bỏ vào một "ngân hàng xấu" (bad bank) riêng. KDB sẽ chỉ đầu tư vào phần "sạch sẽ" còn lại của Lehman – mảng ngân hàng đầu tư và quản lý tài sản.
Về cơ bản, họ muốn làm chính xác những gì mà sau này chính phủ Mỹ đã làm: cứu phần tốt và để phần xấu tự chết.
Thỏa thuận đã gần như đi đến hồi kết. Nhưng nó đã sụp đổ vào phút chót vì hai lý do chính:
Sự Phản Đối Từ Chính Phủ Hàn Quốc: Các nhà quản lý tài chính ở Seoul đã cảnh báo KDB rằng đây là một thương vụ quá rủi ro. Họ không muốn một ngân hàng quốc doanh dùng tiền của nhà nước để đi cứu một con bạc sắp chết ở Phố Wall.
Sự Kiêu Ngạo Của Dick Fuld: Đây mới là lý do chí mạng. Fuld tin rằng Lehman Brothers, một đế chế 158 năm, vẫn còn giá trị khổng lồ và ông ta không chấp nhận một cái giá "rẻ mạt". Trong khi KDB đưa ra một mức giá hợp lý dựa trên tình hình thực tế (khoảng 6.40 đô la/cổ phiếu), Fuld lại khăng khăng đòi một cái giá trên trời (khoảng 17.50 đô la/cổ phiếu).
Gã đã chơi một ván bài tố tất, tin rằng mình có thể dọa nạt đối phương. Gã tin rằng Lehman "quá lớn để sụp đổ" và cuối cùng chính phủ Mỹ sẽ phải ra tay. Gã đã sai.
Khi các cuộc đàm phán với KDB chính thức sụp đổ vào ngày 9 tháng 9 năm 2008, đó chính là dấu chấm hết. Niềm tin cuối cùng của thị trường bốc hơi. Cổ phiếu Lehman lao dốc không phanh.
Vào ngày 15 tháng 9 năm 2008, Lehman Brothers nộp đơn xin phá sản, trở thành vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.
Cái lý do "dạy cho thị trường một bài học" là lời giải thích công khai, nhưng sự thật đằng sau đó là một mớ hỗn độn của áp lực chính trị, những rào cản pháp lý, và sự tính toán sai lầm thảm hại.
Áp lực từ Bắc Kinh
Hank Paulson, Bộ trưởng Tài chính của một siêu cường, phải bay sang Bắc Kinh không phải để ra lệnh, mà là để trấn an và cầu xin chủ nợ lớn nhất của mình.
Trước khi Lehman Brother sụp đổ, hai gã khổng lồ cho vay thế chấp được chính phủ bảo lãnh là Fannie Mae và Freddie Mac đang trên bờ vực phá sản.
Fannie Mae và Freddie Mac không phải là công ty bình thường.
Chúng nó là hai con quái vật lai, hai đứa con hoang của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội.
Chúng nó có thân xác của một công ty tư nhân – với cổ đông, CEO, và mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Nhưng chúng nó lại mang trong mình linh hồn của một cơ quan nhà nước – được khai sinh bởi Quốc hội và sống bằng một lời hứa bảo kê ngầm của chính phủ.
Tên đầy đủ của chúng nó là Federal National Mortgage Association (Fannie Mae) và Federal Home Loan Mortgage Corporation (Freddie Mac).
Chúng nó được Quốc hội Mỹ tạo ra với một nhiệm vụ cao cả: cung cấp thanh khoản cho thị trường cho vay mua nhà, giúp người dân Mỹ dễ dàng sở hữu nhà ở hơn.
Cơ chế hoạt động của chúng nó là động cơ chính của thị trường nhà đất Mỹ:
Mua lại các khoản vay: Một ngân hàng làng cho mày vay tiền mua nhà. Sau đó, Fannie/Freddie sẽ đến và mua lại cục nợ đó từ ngân hàng làng.
Giải phóng vốn: Ngân hàng làng ngay lập tức có lại tiền mặt để tiếp tục cho những người khác vay.
Đóng gói và bán đi: Fannie/Freddie sẽ gom hàng nghìn cục nợ này lại, đóng gói chúng thành Chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp (MBS), rồi bán cho các nhà đầu tư khổng lồ trên khắp thế giới, như ngân hàng trung ương Trung Quốc.
Và đây là điểm mấu chốt: chúng nó không phải là một công ty nhà nước, nhưng cả thế giới đều ngầm hiểu rằng chúng nó có "bảo lãnh ngầm" (implicit guarantee) của chính phủ Mỹ. Mọi người đều tin rằng nếu có chuyện gì xảy ra, chính phủ sẽ không bao giờ để chúng nó chết.
Chính cái "bảo lãnh ngầm" này đã biến những tờ giấy nợ của Fannie/Freddie thành một thứ gần như an toàn ngang với trái phiếu kho bạc Mỹ.
Nó chính là lý do tại sao một thằng ở Bắc Kinh lại sẵn sàng cho một thằng vô danh ở California vay tiền mua nhà.
Vì ở giữa có một "thánh bảo kê" tên là Fannie/Freddie.
Trung Quốc, thông qua quỹ đầu tư quốc gia của mình là China Investment Corporation (CIC) và các ngân hàng nhà nước khác, đang là một trong những chủ nợ nước ngoài lớn nhất của hai công ty này. Họ đang nắm giữ hàng trăm tỷ đô la trái phiếu do Fannie và Freddie phát hành.
Sự sụp đổ của chúng nó đến từ chính cái bản chất nửa công nửa tư đó.
Áp lực chính trị: Vào cuối những năm 90 và đầu 2000, cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa đều gây áp lực buộc Fannie/Freddie phải nới lỏng tiêu chuẩn cho vay để giúp những người có thu nhập thấp và người thiểu số có thể mua nhà. "Giấc mơ Mỹ" đã trở thành một mệnh lệnh chính trị.
Cạnh tranh và lòng tham: Cùng lúc đó, các ngân hàng Phố Wall bắt đầu nhảy vào thị trường MBS tư nhân với các sản phẩm dưới chuẩn (subprime) siêu lợi nhuận. Để cạnh tranh, giữ thị phần và làm hài lòng các cổ đông của mình, Fannie/Freddie cũng phải lao vào vũng bùn. Chúng nó bắt đầu mua và bảo lãnh hàng trăm tỷ đô la các khoản vay dưới chuẩn và các loại nợ rủi ro khác.
Trở thành kẻ ôm bom: Chúng nó đã từ bỏ vai trò của một người bảo kê thận trọng để trở thành những con bạc liều lĩnh nhất. Khi bong bóng nhà đất vỡ vào năm 2007, chúng nó bị lộ ra là hai kẻ đang ôm nhiều rác nhất trong hệ thống. Lỗ hổng trong bảng cân đối kế toán của chúng nó lớn đến mức có thể nuốt chửng cả hệ thống tài chính toàn cầu.
Người Trung Quốc nhìn thấy bong bóng nhà đất Mỹ đang xì hơi và họ cực kỳ hoảng loạn. Họ sợ rằng nếu Fannie và Freddie sụp đổ, hàng trăm tỷ đô la đầu tư của họ sẽ trở thành giấy lộn.
Trong các cuộc gặp với Paulson, các quan chức Trung Quốc, đặc biệt là Vương Kỳ Sơn (Wang Qishan), phó thủ tướng phụ trách kinh tế lúc đó, đã không nói chuyện theo kiểu ra lệnh. Họ nói chuyện theo kiểu của một chủ nợ lo lắng, nhưng lời nói của họ có sức nặng của hàng nghìn tỷ đô la.
Thông điệp của họ, nói theo ngôn ngữ chợ búa, là thế này:
"Này Hank, chúng tôi đã tin tưởng các anh. Chúng tôi đã mua hàng đống giấy nợ của các anh để giúp các anh tài trợ cho lối sống của mình. Giờ thì cái hệ thống của các anh trông có vẻ sắp nổ tung đến nơi rồi. Chúng tôi đang nắm giữ một lượng lớn trái phiếu của Fannie và Freddie. Các anh tính sao đây? Các anh phải làm gì đó để bảo vệ khoản đầu tư của chúng tôi, nếu không thì đừng trách tại sao chúng tôi sẽ phải xem xét lại việc tiếp tục mua nợ của các anh trong tương lai."
Theo hồi ký của chính Paulson, một quan chức Trung Quốc đã hỏi thẳng ông ta một câu rất đơn giản nhưng đầy sức nặng:
"You are the government, so you will stand behind them, right?"
(Các anh là chính phủ, vậy nên các anh sẽ đứng ra bảo lãnh cho chúng nó, phải không?).
Đó không phải là một câu hỏi. Đó là một lời cảnh báo.
Người Trung Quốc không đưa ra "đề nghị" bán lại hàng tỷ đô la trái phiếu cho Paulson. Việc đó sẽ gây ra một cú sụp đổ thị trường ngay lập tức và tự bắn vào chân mình. Thay vào đó, họ dùng một chiến thuật tinh vi hơn nhiều.
Họ ngụ ý rằng họ có thể sẽ ngừng mua thêm hoặc tệ hơn, bắt đầu bán ra từ từ số trái phiếu kho bạc Mỹ và các loại giấy nợ khác nếu chính phủ Mỹ không hành động để ổn định Fannie và Freddie.
Đây là một mối đe dọa hạt nhân. Nếu Trung Quốc, chủ nợ lớn nhất, ngừng mua nợ của Mỹ, lãi suất ở Mỹ sẽ tăng vọt, đẩy nền kinh tế đang suy yếu vào một cuộc khủng hoảng còn tồi tệ hơn.
Chính cái áp lực cực lớn này từ Trung Quốc và các chủ nợ quốc tế khác là một trong những lý do chính đã buộc Paulson phải đưa ra quyết định "quốc hữu hóa" Fannie Mae và Freddie Mac vào đầu tháng 9 năm 2008. Đó là một hành động chưa từng có, nhưng ông ta không có lựa chọn nào khác. Ông ta phải trấn an các chủ nợ của mình, đặc biệt là người Trung Quốc, để giữ cho dòng vốn của họ không tháo chạy khỏi nước Mỹ.
Paulson phải làm điều này, một phần lớn là để trả lời câu hỏi của thằng quan chức Trung Quốc:
"Các anh sẽ đứng ra bảo lãnh chứ?".
Bằng cách quốc hữu hóa chúng nó, Paulson đã hét lên với cả thế giới:
"Phải, chúng tôi sẽ bảo lãnh. Đừng bán tháo giấy nợ của chúng tôi."
Nó vẫn còn sống, nhưng không phải là một cuộc sống thực sự mà đang trong một trạng thái "giám hộ" (conservatorship) kéo dài từ tháng 9 năm 2008 cho đến tận bây giờ.
Về cơ bản, chính phủ Mỹ, thông qua Cơ quan Tài chính Nhà ở Liên bang (FHFA), đã trở thành người giám hộ, nắm toàn bộ quyền lực của ban lãnh đạo và cổ đông. Chúng nó vẫn hoạt động như những công ty hàng ngày, nhưng ông chủ thực sự là chính phủ.
Trước 2008, Fannie và Freddie kiếm tiền bằng hai cách:
(1) thu phí bảo lãnh cho các MBS chúng nó phát hành,
và (2) dùng đòn bẩy khổng lồ để mua và nắm giữ hàng nghìn tỷ đô la các khoản vay và MBS trong danh mục đầu tư của mình để ăn chênh lệch lãi suất.
Chính cái danh mục đầu tư khổng lồ và đầy rủi ro này đã giết chết chúng.
Sau khi bị quốc hữu hóa, mô hình kinh doanh đã bị ép phải thay đổi:
Danh mục đầu tư bị teo tóp: Chúng nó bị buộc phải giảm mạnh quy mô của danh mục đầu tư nắm giữ, tức là giảm bớt việc "đánh bạc" vào biến động lãi suất.
Tập trung vào thu phí bảo lãnh: Giờ đây, mô hình kinh doanh cốt lõi của chúng là thu một khoản phí (guarantee fee) để bảo lãnh cho các MBS được phát hành. Chúng nó đã quay trở lại vai trò gần giống như một tiện ích công cộng: cung cấp một tấm lưới an toàn cho thị trường và sống bằng phí dịch vụ, thay vì là một quỹ phòng hộ khổng lồ.
Dù đã thay đổi, nhưng rủi ro cốt lõi vẫn còn nguyên, thậm chí còn lớn hơn.
Quy mô còn lớn hơn: Trước khủng hoảng, chúng nó sở hữu hoặc bảo lãnh khoảng 40% thị trường cho vay mua nhà ở Mỹ. Con số đó ngày nay vẫn y hệt, thậm chí còn lớn hơn. Chúng nó không chỉ "quá lớn để sụp đổ", chúng nó chính là thị trường.
Bảo lãnh ngầm đã trở thành bảo lãnh công khai: Cái "bảo lãnh ngầm" đầy mập mờ trước đây giờ đã trở thành sự thật không thể chối cãi. Cả thế giới đều biết rằng chính phủ Mỹ đang trực tiếp chống lưng cho chúng. Điều này đã loại bỏ gần như toàn bộ rủi ro cho các nhà đầu tư mua MBS của chúng, nhưng lại chuyển toàn bộ rủi ro đó lên vai người dân đóng thuế.
Vẫn thiếu vốn trầm trọng: Dù đã có lợi nhuận trở lại, nhưng so với quy mô khổng lồ của số nợ mà chúng nó đang bảo lãnh (hàng nghìn tỷ đô la), tấm đệm vốn của chúng nó vẫn mỏng như một tờ giấy. Bất kỳ một cú sốc lớn nào đối với thị trường nhà đất đều có thể dễ dàng xóa sổ toàn bộ vốn của chúng và lại cần đến một gói cứu trợ khác.
Fannie và Freddie ngày nay giống như hai con khủng long bạo chúa đã được thuần hóa và nhốt trong một cái chuồng của chính phủ. Chúng có vẻ ngoan ngoãn hơn, ít đi săn mồi một cách liều lĩnh hơn. Nhưng chúng nó vẫn là hai con khủng long. Cái chuồng thì vẫn nằm ngay giữa trung tâm thành phố. Và nếu có một ngày chúng nó nổi điên và phá chuồng, thì không có một bức tường nào có thể ngăn cản chúng được. Rủi ro không biến mất, nó chỉ đang được tạm thời quản lý bởi chính phủ.
Định mệnh phải chết
Vào cái cuối tuần định mệnh đó, ngày 12-14 tháng 9 năm 2008, khi Lehman đang hấp hối, Hank Paulson và Tim Geithner đã cố gắng tìm một giải pháp từ khu vực tư nhân
Họ nhốt tất cả CEO của các ngân hàng lớn ở Wall Street vào một căn phòng tại FED New York và nói rõ:
"Sẽ không có tiền của chính phủ. Bọn mày phải tự cứu lấy nhau".
Có hai kẻ mua tiềm năng: Bank of America và Barclays của Anh. Bank of America, sau khi nhìn vào sổ sách của Lehman, đã chạy mất dép và quay sang thâu tóm Merrill Lynch trong một đám cưới ép buộc cũng vào cuối tuần đó.
Mọi hy vọng cuối cùng đổ dồn vào Barclays.
Barclays thực sự muốn mua lại Lehman. Họ nhìn thấy cơ hội để thâu tóm các mảng kinh doanh tốt của Lehman với giá rẻ mạt.
Nhưng có hai vấn đề chí mạng:
Một là Barclays, giống như bất kỳ kẻ mua có đầu óc nào, không muốn ôm lấy hàng chục tỷ đô la bất động sản thương mại và các chứng khoán rác rưởi trên sổ sách của Lehman. Họ chỉ muốn mua những phần "sạch".
Hai là Rào cản pháp lý từ Anh: Đây mới là nút thắt quyết định. Theo luật của Anh, để thực hiện một vụ thâu tóm lớn như vậy, Barclays bắt buộc phải có sự chấp thuận của các cổ đông thông qua một cuộc bỏ phiếu.
Quá trình này sẽ mất nhiều tuần, nếu không muốn nói là vài tháng. Lehman không có vài tháng, nó chỉ còn vài giờ trước khi thị trường châu Á mở cửa vào sáng thứ Hai.
Phía Barclays và các nhà quản lý Anh đã "chìa tay ra" bằng một đề nghị.
Họ nói rằng họ chỉ có thể bỏ qua yêu cầu bỏ phiếu của cổ đông nếu chính phủ Mỹ cung cấp một sự bảo lãnh tài chính tạm thời cho các nghĩa vụ giao dịch của Lehman trong khoảng thời gian chờ đợi.
Họ cần Mỹ đứng ra làm "phao cứu sinh" để đảm bảo rằng Lehman sẽ không sụp đổ hoàn toàn trong lúc Barclays làm thủ tục giấy tờ.
Đây là một yêu cầu hợp lý trong một tình huống khủng hoảng.
Và đây là lúc Hank Paulson nói "Không".
Lý do của Paulson rất phức tạp:
Áp lực chính trị khổng lồ: Vụ cứu trợ Bear Stearns vào tháng 3 năm 2008, nơi FED đã chi ra 30 tỷ đô la dọn đường cho J.P Morgan vào hốt, đã tạo ra một cơn bão chính trị. Công chúng và Quốc hội Mỹ đã nổi giận vì phải dùng tiền thuế để cứu một ngân hàng ở Wall Street. Paulson biết rằng ông ta không còn vốn liếng chính trị để thực hiện một vụ cứu trợ tương tự.
Thiếu thẩm quyền pháp lý: Paulson liên tục lập luận rằng, không giống như FED, Bộ Tài chính không có thẩm quyền pháp lý để bơm tiền của người dân vào một công ty tư nhân đang phá sản. Ông ta cần một đạo luật từ Quốc hội, và lúc đó, đạo luật TARP chưa tồn tại.
Học thuyết "Rủi ro đạo đức": Đây là lý do được đưa ra nhiều nhất. Paulson và nhiều người khác tin rằng nếu chính phủ cứ tiếp tục cứu trợ các công ty liều lĩnh, nó sẽ tạo ra một tiền lệ nguy hiểm, khuyến khích các ngân hàng khác tiếp tục đánh bạc vì biết rằng họ sẽ luôn được cứu. Họ muốn vẽ một lằn ranh trên cát.
Khi Paulson từ chối bảo lãnh, các nhà quản lý Anh cũng rút lui.
Alistair Darling, Bộ trưởng Tài chính Anh lúc đó, đã nói rõ rằng ông ta sẽ không cho phép một "ngân hàng thất bại của Mỹ bị đổ lên vai hệ thống của Anh" nếu không có sự đảm bảo chắc chắn từ phía Mỹ.
Không có sự bảo lãnh của Mỹ, không có sự chấp thuận của Anh, thương vụ Barclays sụp đổ vào tối Chủ nhật.
Lehman không còn lựa chọn nào khác ngoài việc nộp đơn phá sản.
Sự sụp đổ của Lehman chính là giọt nước tràn ly, gây ra một cơn hoảng loạn tột độ trên toàn hệ thống tài chính. Không ai biết ai đang nắm giữ những tài sản độc hại nào, không ai tin tưởng ai.
Các thị trường tín dụng toàn cầu đóng băng. Cuộc khủng hoảng nhà đất ở Mỹ chính thức trở thành một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Goldman Sachs trong cơn túng quẫn “may mắn” hay nói đúng hơn là bị Warren Buffett rót cái thuốc độc vào cơn khát tiền.
Tháng 9 năm 2008, sau khi Lehman Brothers sụp đổ, cả thế giới tài chính hoảng loạn. Bear Stearns (số 5) và Lehman Brothers (số 4) sụp đổ, mọi ánh mắt kinh hoàng đều đổ dồn về 3 thằng cuối cùng còn sót lại trên võ đài: Goldman Sachs (số 1), Morgan Stanley (số 2), và Merrill Lynch (số 3).
Mọi người đều tự hỏi:
"Thằng nào sẽ chết tiếp theo?".
Merrill Lynch là thằng yếu nhất trong top 3 và ngã ngựa gần như cùng lúc với Lehman. Chúng nó cũng lún sâu vào đống nợ subprime và đối mặt với những khoản lỗ khổng lồ.
Vào chính cái cuối tuần định mệnh mà Lehman sụp đổ, Merrill Lynch cũng đang hấp hối.
Hank Paulson và FED biết rằng nếu cả Lehman và Merrill cùng sụp đổ trong 48 giờ, hệ thống sẽ tan xác.
Vì vậy, họ đã đạo diễn một "đám cưới ép buộc". Paulson đã gây áp lực cực lớn lên Bank of America, một ngân hàng thương mại khổng lồ, để mua lại Merrill Lynch.
Bank of America đã đồng ý thâu tóm Merrill Lynch với giá 50 tỷ đô la trong một thương vụ được dàn xếp chớp nhoáng.
Đây thực chất là một hình thức cứu trợ: thay vì để Merrill phá sản, chính phủ đã dùng một ngân hàng khỏe mạnh hơn làm "phao cứu sinh". Bank of America đã cứu Merrill khỏi sụp đổ, nhưng đổi lại, Merrill Lynch đã mất đi sự độc lập của mình mãi mãi.
Mọi ánh mắt nghi ngờ đều đổ dồn về Goldman Sachs. Cổ phiếu của chúng nó lao dốc, và các đối tác bắt đầu sợ hãi không dám cho vay.
Chúng nó đang đối mặt với một cuộc "tấn công ngân hàng" (bank run) kiểu hiện đại. Chúng nó cần hai thứ khẩn cấp: tiền mặt và quan trọng hơn, niềm tin.
Và trên cả hành tinh này lúc đó, chỉ có duy nhất một người có cả hai thứ đó với số lượng vô hạn: Warren Buffett.
Cái "lời đề nghị không thể chối từ" mà Buffett đưa ra để đổi lấy 5 tỷ đô la của gã là một kiệt tác của sự khôn ngoan và tàn nhẫn. Gã không mua cổ phiếu thông thường như một thằng thường dân. Gã tự ra kèo cho mình.
Đây là cái giá mà Goldman Sachs phải trả:
Cổ tức 10% Vĩnh viễn: Berkshire Hathaway mua 5 tỷ đô la cổ phiếu ưu đãi (preferred stock). Loại cổ phiếu này không giống cổ phiếu thường, nó giống một khoản vay hơn, và nó trả một mức cổ tức cố định là 10% mỗi năm. Điều đó có nghĩa là, mỗi năm, dù làm ăn lãi hay lỗ, Goldman Sachs phải móc túi trả cho Buffett 500 triệu đô la tiền tươi. Một mức lãi suất cắt cổ hơn cả tín dụng đen, được trả bởi một trong những ngân hàng danh giá nhất thế giới.
Goldman Sachs đã chịu đựng mức lãi suất cắt cổ này trong khoảng hai năm rưỡi. Đến tháng 3 năm 2011, họ đã không thể chịu nổi nữa và quyết định mua lại (redeem) số cổ phiếu ưu đãi này từ Berkshire.
Hợp đồng có một điều khoản phạt. Để mua lại, Goldman phải trả một khoản phí thêm 10%.
Tổng tiền thu về từ cổ phiếu ưu đãi:
Cổ tức: Khoảng 1.25 tỷ đô la (cho 2.5 năm).
Phí mua lại: 500 triệu đô la (10% của 5 tỷ).
Hoàn vốn: 5 tỷ đô la.
Chỉ riêng từ việc "cho vay uy tín" này, Buffett đã bỏ túi khoảng 1.75 tỷ đô la lợi nhuận.
Tấm Vé Số Trúng Độc Đắc (Chứng quyền - Warrants): Đây mới là cú đấm kết liễu. Ngoài cục cổ tức kia, Buffett còn nhận được chứng quyền cho phép gã mua 5 tỷ đô la cổ phiếu phổ thông của Goldman với giá chỉ 115 đô la/cổ phiếu, có hiệu lực trong vòng 5 năm. Vào thời điểm thỏa thuận, cổ phiếu Goldman đang giao dịch quanh mức 125 đô la, nhưng ai cũng biết sau khi cơn hoảng loạn qua đi, nó sẽ tăng vọt.
Nó giống như việc mày cho thằng bạn vay tiền lúc nó khó khăn, nhưng bắt nó phải ký giấy cho phép mày mua lại căn nhà mặt tiền của nó với giá của 5 năm trước, bất cứ lúc nào mày muốn trong 5 năm tới.
Vào năm 2013, cổ phiếu Goldman đã phục hồi mạnh mẽ. Thay vì bỏ ra 5 tỷ đô la tiền mặt để thực hiện quyền mua, hai bên đã đàm phán lại một thỏa thuận thông minh hơn. Berkshire Hathaway đã nhận được một lượng cổ phiếu tương đương với phần lợi nhuận "trên giấy" của họ.
Vào thời điểm đó, giá cổ phiếu Goldman khoảng 145 đô la/cổ phiếu.
Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu: $145 - $115 = $30.
Tổng lợi nhuận từ chứng quyền: $30 x 43.5 triệu cổ phiếu = 1.3 tỷ đô la.
Nhưng Buffett đã không bán ngay. Gã tiếp tục nắm giữ số cổ phiếu này và giá trị của chúng tiếp tục tăng. Đến khi Berkshire bắt đầu bán ra trong những năm sau đó, giá cổ phiếu Goldman đã cao hơn nhiều, có lúc lên tới hơn 200 đô la. Vì vậy, lợi nhuận thực tế từ số chứng quyền này có thể lên tới 2 đến 3 tỷ đô la, tùy thuộc vào thời điểm bán.
Đối với Goldman Sachs, đây là một thỏa thuận nhục nhã, nhưng chúng nó không có lựa chọn.
Cái mà chúng nó thực sự nhận được không phải là 5 tỷ đô la. Cái chúng nó nhận được là "Cái Mác Bảo Hành Buffett" (The Buffett Seal of Approval).
Ngay sau khi thỏa thuận được công bố, cơn hoảng loạn đối với Goldman đã chấm dứt. Thị trường tự nhủ:
"Nếu Warren Buffett, nhà đầu tư khôn ngoan nhất thế giới, sẵn sàng đặt cược cả gia tài vào Goldman Sachs, thì nó không thể chết được."
Buffett không chỉ bán cho chúng nó tiền. Gã đã bán cho chúng nó chính cái tên của mình.
Gã đã cho Goldman vay uy tín của mình, và bắt chúng nó phải trả lãi bằng cả linh hồn. Đó là một ván cờ của một bậc thầy, nơi gã ra về với cả tiền bạc lẫn danh tiếng của một vị cứu tinh.
Song song với nhờ sự cứu rỗi từ Phù thuỷ xứ Omaha, một cơn địa chấn khác cũng xuất hiện.
Goldman và Morgan Stanley vào đêm ngày 21 tháng 9 năm 2008: chúng nó đã cầu xin và được Cục Dự trữ Liên bang (FED) chấp thuận cho phép chuyển đổi mô hình thành công ty mẹ ngân hàng (bank holding companies).
Hành động này nghe có vẻ chỉ là một sự thay đổi về giấy tờ pháp lý, nhưng thực chất nó là một gói cứu trợ khẩn cấp trá hình. Việc trở thành công ty mẹ ngân hàng đã ngay lập tức cho phép chúng nó được hưởng hai đặc quyền sống còn mà trước đây chúng nó không có:
Tiếp cận cửa sổ chiết khấu của FED: Chúng nó giờ đây có thể đến vay tiền trực tiếp từ FED, một nguồn vốn an toàn và gần như vô hạn, giống như các ngân hàng thương mại. Đây là một sự bảo kê thanh khoản tuyệt đối.
Đủ điều kiện nhận vốn từ TARP: Vài tuần sau đó, khi chương trình TARP được thông qua, với tư cách là công ty mẹ ngân hàng, cả Goldman và Morgan Stanley đều đủ điều kiện và đã nhận mỗi thằng 10 tỷ đô la tiền vốn trực tiếp từ chính phủ.
Nói cách khác, để không phải chết như Lehman, Goldman Sachs và Morgan Stanley đã phải từ bỏ sự kiêu ngạo của những tay chơi ngân hàng đầu tư thuần túy và chấp nhận quỳ gối dưới sự bảo hộ và giám sát của FED.
Chúng nó không nhận được một gói cứu trợ riêng lẻ như Bear Stearns, mà chúng nó đã được cứu bằng cách thay đổi toàn bộ luật chơi cho phép chúng nó chui vào dưới cái ô an toàn của chính phủ.
Giờ sao nữa?
Đây là câu hỏi mà ba gã quyền lực nhất thế giới tài chính lúc đó – Bộ trưởng Tài chính Hank Paulson (cựu CEO của Goldman Sachs), Chủ tịch FED Ben Bernanke, và Chủ tịch FED New York Timothy Geithner – đang tự hỏi trong hoảng loạn.
Họ vừa mới để Lehman chết để "dạy cho thị trường một bài học" về rủi ro đạo đức.
Nhưng chỉ 24 giờ sau, họ nhận ra mình đã mắc một sai lầm khủng khiếp. AIG không giống Lehman.
Nếu Lehman là một tòa nhà lớn sụp đổ, thì AIG là công ty cung cấp điện, nước và hệ thống cống rãnh cho cả thành phố. Nếu nó sụp, cả thành phố sẽ tê liệt.
Lý do là một thứ gọi là "rủi ro đối tác" (counterparty risk). AIG đã bán "bảo hiểm" CDS cho hàng loạt ngân hàng trên toàn thế giới.
Các đối tác lớn nhất của nó chính là những cái tên sừng sỏ nhất: Goldman Sachs, Morgan Stanley, Deutsche Bank của Đức, Societe Generale của Pháp....
Nếu AIG phá sản và không thể trả tiền bồi thường, tất cả những ngân hàng này sẽ phải ghi nhận những khoản lỗ khổng lồ, đẩy chính họ vào nguy cơ sụp đổ.
Sự sụp đổ của AIG sẽ gây ra một cơn sóng thần tài chính toàn cầu, một phản ứng dây chuyền không thể kiểm soát. Nó "quá kết nối để sụp đổ" (too interconnected to fail).
Đối mặt với vực thẳm, Paulson và Bernanke đã phải vứt bỏ mọi nguyên tắc thị trường tự do mà họ từng rao giảng.
Vào buổi tối ngày 16 tháng 9 năm 2008, chỉ một ngày sau khi Lehman phá sản, Cục Dự trữ Liên bang đã tuyên bố một hành động chưa từng có tiền lệ: họ sẽ cho AIG vay một khoản tín dụng khẩn cấp trị giá 85 tỷ đô la để cứu nó khỏi sụp đổ.
Nhưng đây không phải là một món quà. Đổi lại khoản vay đó, chính phủ Mỹ đã nhận được 79.9% cổ phần của AIG.
Nói cách khác, chính phủ Mỹ, vốn tôn thờ chủ nghĩa tư bản, đã vừa thực hiện vụ quốc hữu hóa lớn nhất trong lịch sử để cứu gã khổng lồ bảo hiểm tư nhân lớn nhất thế giới.
Và đây là phần bẩn thỉu nhất của câu chuyện, cái mà người ta sau này gọi là "cứu trợ qua cửa sau" (backdoor bailout). 85 tỷ đô la đó đã đi đâu?
Nó không ở lại AIG để tái thiết công ty.
Phần lớn số tiền đó đã chảy thẳng ra khỏi AIG để thanh toán đầy đủ các hợp đồng CDS cho các đối tác của nó.
Hơn 13 tỷ đô la đã chảy vào túi của Goldman Sachs, 12 tỷ cho Societe Generale, 8.5 tỷ cho Deutsche Bank...
Nói một cách trần trụi, người dân đóng thuế Mỹ đã cho AIG vay tiền để AIG dùng tiền đó trả nợ đầy đủ 100 cents trên mỗi đô la cho những gã ngân hàng ở Phố Wall và châu Âu, chính những kẻ đã góp phần tạo ra mớ hỗn độn này.
Nếu không có gói cứu trợ, những bản hợp đồng CDS đó đã trở thành giấy lộn.
Nhưng nhờ có tiền thuế của dân, những vụ cá cược rủi ro của các ngân hàng đã được thanh toán sòng phẳng. Lợi nhuận thì chúng nó đã hưởng từ trước, còn khi thua lỗ, chính phủ đứng ra trả thay.
Gói cứu trợ 85 tỷ ban đầu là không đủ. AIG sau đó đã nhận thêm nhiều khoản tiền nữa, nâng tổng số tiền cứu trợ lên tới hơn 182 tỷ đô la.
Nhưng ngay cả hành động cứu AIG cũng chỉ là một biện pháp chữa cháy tạm thời. Paulson và Bernanke nhận ra rằng cả hệ thống đang trong cơn đau tim.
Họ cần một khẩu súng bazooka, không phải một khẩu súng lục.
Vài ngày sau đó, họ đã đến Quốc hội và cầu xin một gói cứu trợ trị giá 700 tỷ đô la, được biết đến với cái tên Chương trình Giải cứu Tài sản có Vấn đề (Troubled Asset Relief Program - TARP), để bơm vốn trực tiếp vào các ngân hàng và mua lại các tài sản độc hại của chúng.
Cuộc khủng hoảng đã bước sang một giai đoạn mới: giai đoạn chính phủ công khai dùng tiền thuế để giải cứu chính những kẻ đã gây ra thảm họa.
Từ Mua "Rác" Đến Bơm "Máu"
Kế hoạch ban đầu của Hank Paulson, như cái tên của chương trình đã gợi ý, là dùng 700 tỷ đô la để mua lại các "tài sản độc hại" (troubled assets) – tức là đống MBS và CDO rác rưởi – từ các ngân hàng.
Ý tưởng là để dọn dẹp bảng cân đối kế toán của chúng, tạo ra sự tin tưởng và khiến chúng bắt đầu cho vay trở lại.
Nhưng kế hoạch này nhanh chóng bộc lộ sự phi thực tế: làm thế nào để định giá một thứ không có thị trường? Mua với giá nào? Quá trình này quá phức tạp và chậm chạp trong khi hệ thống đang chết theo từng giờ.
Vì vậy, họ đã nhanh chóng xoay trục sang một giải pháp trực tiếp và tàn bạo hơn: bơm vốn thẳng vào các ngân hàng.
Thay vì mua rác, chính phủ đã dùng tiền TARP để mua cổ phiếu ưu đãi của chính các ngân hàng, thực chất là trở thành một cổ đông lớn.
Quốc hội không hề "gật đầu" trước đề nghị của Paulson một cách dễ dàng. Họ bị ép vào chân tường bởi một thứ vũ khí duy nhất: nỗi sợ hãi tột độ.
Thông tin mà họ nghe được không đến từ một nhóm lobby bí mật, mà đến từ chính những người đứng đầu hệ thống.
Hank Paulson và Ben Bernanke đã đến Quốc hội và vẽ ra một bức tranh của ngày tận thế.
Họ không nói về việc cứu lợi nhuận của ngân hàng, họ nói về việc nếu không hành động, các máy ATM trên toàn quốc sẽ ngừng hoạt động, các doanh nghiệp sẽ không có tiền trả lương, và nước Mỹ sẽ rơi vào một cuộc Đại Suy thoái thứ hai, có thể còn tồi tệ hơn.
Bernanke đã cảnh báo thẳng thừng:
"Nếu chúng ta không làm việc này, chúng ta có thể sẽ không còn một nền kinh tế vào thứ Hai."
Cú lobby mạnh nhất không đến từ các bộ vest ở Washington, mà đến từ chính thị trường.
Lần bỏ phiếu đầu tiên tại Hạ viện vào ngày 29 tháng 9 năm 2008, dự luật đã thất bại thảm hại với 205 phiếu thuận và 228 phiếu chống.
Phản ứng của thị trường là tức thời và tàn khốc: chỉ số Dow Jones sụt 777 điểm, cú sụt giảm lớn nhất trong lịch sử tính theo điểm vào thời điểm đó.
Cú sụp đổ này đã gieo rắc nỗi kinh hoàng vào tâm trí các chính trị gia.
Các cử tri giận dữ vì cứu trợ là một chuyện, nhưng việc quỹ hưu trí của họ bốc hơi trong một ngày lại là một chuyện khác. Áp lực trở nên không thể chịu đựng nổi.
Vài ngày sau, dự luật được sửa đổi đôi chút (thêm các "chất làm ngọt" như tăng mức bảo hiểm tiền gửi FDIC) và được đưa ra bỏ phiếu lại.
Lần này, nỗi sợ hãi đã chiến thắng. Thượng viện thông qua với 74 phiếu thuận - 25 phiếu chống.
Sau đó, Hạ viện cũng thông qua với 263 phiếu thuận - 171 phiếu chống vào ngày 3 tháng 10.
Đây là một hành động chưa từng có, một sự bán-quốc hữu hóa hệ thống ngân hàng để cứu nó khỏi chính nó.
Sự phản đối đến từ cả hai phía của chính trường, tạo thành một liên minh kỳ lạ.
Bên phía cánh hữu, những người Cộng hòa bảo thủ về tài khóa và những người theo chủ nghĩa tự do (libertarian) như Ron Paul đã phản đối kịch liệt.
Họ cho rằng đây là hành động "xã hội chủ nghĩa", một sự can thiệp của chính phủ vào thị trường tự do, và là việc dùng tiền thuế của người dân để thưởng cho sự thất bại và liều lĩnh của Wall Street.
Bên phía cánh tả, những người Dân chủ cấp tiến như Bernie Sanders ở Thượng viện và nhiều thành viên của các nhóm nghị sĩ Da đen và Cấp tiến đã phản đối vì cho rằng đây là một gói cứu trợ cho các CEO và cổ đông ở Wall Street mà không có điều kiện ràng buộc chặt chẽ, và quan trọng nhất là không có sự giúp đỡ trực tiếp nào cho hàng triệu người dân đang đối mặt với việc bị tịch thu nhà.
Khẩu hiệu của họ là "Cứu Main Street, chứ không phải Wall Street".
Nhưng cuối cùng, phe "trung dung hoảng loạn", những người bị thuyết phục bởi kịch bản ngày tận thế, đã chiếm đa số.
Họ bị đặt vào một lựa chọn giữa hai thứ độc dược: một gói cứu trợ mà cử tri căm ghét, hoặc một sự sụp đổ kinh tế toàn diện. Và họ đã chọn thứ mà họ cho là ít tồi tệ hơn.
Tháng 10 năm 2008, Paulson đã triệu tập CEO của 9 ngân hàng lớn nhất nước Mỹ vào một căn phòng và về cơ bản là ép họ phải nhận tiền của chính phủ, dù họ có muốn hay không.
Tại sao lại phải "ép" một người nhận một vali đầy tiền?
Vì trong thế giới tài chính, việc nhận tiền cứu trợ không phải là một món quà, nó là một cái tát vào mặt, một dấu hiệu của sự thất bại.
Lý do cốt lõi nằm ở một thứ gọi là "sự kỳ thị của việc nhận cứu trợ" (bailout stigma).
Hãy tưởng tượng mày là CEO của một ngân hàng. Nếu mày tự nguyện giơ tay và nói: "Tôi cần tiền cứu trợ của chính phủ để sống sót", thị trường sẽ ngay lập tức hiểu rằng ngân hàng của mày đang ở trong tình trạng cực kỳ tồi tệ.
Các nhà đầu tư sẽ bán tháo cổ phiếu.
Các ngân hàng khác sẽ ngừng cho mày vay hoặc cho vay với lãi suất cắt cổ. Khách hàng lớn sẽ rút tiền gửi.
Việc nhận tiền cứu trợ sẽ trở thành một lời tiên tri tự ứng nghiệm, nó sẽ giết chết mày nhanh hơn cả vấn đề ban đầu.
Nó giống như việc một người trong làng bị dán nhãn "bị bệnh dịch". Sẽ không ai dám đến gần, không ai cho vay mượn, và cuối cùng người đó sẽ chết vì bị cô lập.
Hank Paulson và Ben Bernanke hiểu rất rõ điều này.
Mục tiêu của họ không phải là cứu một vài ngân hàng cụ thể, mà là cứu cả hệ thống.
Họ biết rằng trong số 9 ngân hàng ngồi trong phòng họp ngày 13 tháng 10 năm 2008 đó, có những ngân hàng đang cực kỳ yếu và cần tiền ngay lập tức (như Citigroup và Bank of America), nhưng cũng có những ngân hàng tương đối khỏe mạnh hơn và không muốn bị gắn cái mác yếu đuối (như JPMorgan Chase và Wells Fargo).
Nếu Paulson chỉ đưa ra một lời đề nghị tự nguyện, các ngân hàng yếu sẽ quá sợ hãi sự kỳ thị để nhận tiền, còn các ngân hàng khỏe thì sẽ từ chối để chứng tỏ sức mạnh của mình. Chương trình TARP sẽ thất bại ngay từ đầu.
Vì vậy, nước cờ của Paulson là: nếu tất cả mọi người cùng bị "bệnh", thì sẽ không còn ai bị kỳ thị nữa. Bằng cách ép buộc cả 9 ngân hàng, cả mạnh lẫn yếu, phải cùng nhau nhận tiền, ông ta đã biến một hành động đáng xấu hổ thành một nghĩa vụ vì lợi ích quốc gia.
Nó tạo ra một bức màn khói, che giấu đi việc ai thực sự yếu và ai thực sự mạnh.
Trong cuộc họp đó, Paulson không hề đàm phán. Ông ta đặt trước mặt mỗi CEO một tờ giấy dài một trang ghi các điều khoản và nói rõ rằng ông ta muốn tất cả ký vào đó trước khi rời khỏi phòng.
Ông ta nói rằng đây là vì "lợi ích của chính họ và lợi ích của đất nước".
Thông điệp ngầm rất rõ ràng: đây là một chương trình toàn hệ thống, không phải là một sự cứu trợ cá nhân. Bất kỳ ai từ chối sẽ bị coi là kẻ phá hoại, và nếu sau này họ gặp rắc rối, sẽ không có lần thứ hai "hào phóng" như vậy nữa.
Điều này cho phép các CEO của những ngân hàng khỏe mạnh, như Richard Kovacevich của Wells Fargo (người được cho là phản đối mạnh mẽ nhất), có thể quay về và nói với thị trường rằng:
"Chúng tôi không cần tiền, nhưng chúng tôi bị Bộ trưởng Tài chính ép buộc phải nhận vì sự ổn định của hệ thống".
Nó cho họ một cái cớ hoàn hảo.
Vì vậy, hành động "ép buộc" đó không phải là ép nhận một món quà, mà là một chiến lược tâm lý có tính toán để vô hiệu hóa sự kỳ thị.
Nó buộc những kẻ mạnh phải che chở cho những kẻ yếu, để dòng vốn sống còn có thể chảy vào những động mạch đang tắc nghẽn nhất của hệ thống tài chính mà không khiến bệnh nhân chết ngay vì sốc.
Đó là một sự thừa nhận rằng trong một cơn hoảng loạn, nhận thức còn quan trọng hơn cả thực tế.
Ai trả cái giá 700 tỷ đôla?
Liều thuốc TARP đó, về bản chất, là một liều adrenaline cực mạnh tiêm thẳng vào tim một bệnh nhân đang ngừng thở. Nó đã thành công trong mục tiêu duy nhất và cấp bách nhất: ngăn chặn cái chết ngay lập tức.
Nhưng hậu quả của nó thì kéo dài và phức tạp, giống như một người sống sót sau cơn đau tim nhưng từ đó về sau phải sống với một trái tim đầy sẹo và một cơ thể nghiện thuốc.
Hành động bơm vốn cưỡng bức cùng với các biện pháp bơm tiền khác qua QE của FED đã dập tắt được hỗn loạn và làm được ba việc chính.
Thứ nhất là phá vỡ vòng xoáy vỡ nợ chết chóc đang diễn ra khi các ngân hàng bán tháo tài sản để có tiền mặt tức thời trả cho người dân đang gửi tiền tránh bị phá sản do Bank run nhưng họ càng bán thì giá càng giảm, buộc phải bán nhiều hơn nữa cho đến khi tất cả cùng reset về 0.
TARP bơm ra một lượng vốn giống như cái đệm cứu hiểm không cần phải bán tháo trong cơn hỗn loạn nữa.
Thứ hai là khôi phục niềm tin của thị trường dù chỉ bằng một cách giả tạo nhờ chính phủ Mỹ tuyên bố dùng mọi cách để giải cứu hệ thống. Các thị trường tín dụng, vốn đã đóng băng hoàn toàn sau vụ Lehman, bắt đầu tan băng một cách chậm chạp. Lãi suất cho vay giữa các ngân hàng bắt đầu giảm xuống từ mức đỉnh điên rồ.
Cuối cùng là nó đã ngăn chặn được một cuộc đại suy thoái thứ hai diễn ra đây là sự thật dù bất kể trường phái kinh tế nào nâng bi hay căm ghét TARP cũng phải thừa nhận.
Một nghiên cứu ước tính rằng nếu không có các biện pháp này, GDP của Mỹ có thể đã sụt giảm tới 14% (thay vì 4%), và tỷ lệ thất nghiệp có thể đã vọt lên 16% (thay vì 10%).
Nhưng đó chỉ là hiệu quả về mặt ngắn hạn mà bọn kinh tế học đểu giả khoe khang khi cố giải quyết đám cháy do chính tụi nó thổi bùng và bưng bít nó càng lâu càng tốt để kiếm lợi để cả xã hội cùng gánh chịu hậu quả rồi tự mãn một cách đểu cáng như thể mình là anh hùng.
20 tỷ đôla mà tiền từ TARP chảy vào các công ty được giải cứu này đi thẳng vào túi các giám đốc điều hành, nó được một cách mỉa mai là “TARP bonuses” - tiền thưởng từ tiền thuế của dân.
Cứ như mày làm cả toà nhà đổ sập nhưng thay vì bị kết tội còn được trả tiền.
Hậu quả lớn nhất về dài hạn đến tận năm 2025 và mãi về sau chính là sự bất tử của các đế chế 'too big too fail'.
Nó được khắc vào đá như 10 điều răn nhưng không phải là bài học về rủi ro đạo đức mà là bài học ngược lại: nếu mày đủ lớn , mày sẽ không bao giờ chết.
Nó đã tạo ra một sân chơi tài chính cực kỳ chênh lệch.
Đám ngân hàng lớn giờ đây nhận ra mình có một tấm lưới bảo hiểm vô hình của chính phủ, cho phép tụi nó vay vốn với giá rẻ mạt, sẵn sàng lao vào các canh bạc phái sinh đầy rủi ro vì nó biết nếu thắng, nó ăn trọn còn nếu thua thì người dân đóng thuế sẽ trả khoản lỗ thay cho bọn nó.
Mặc dù TARP đã cứu các ngân hàng, nó không thực sự buộc họ phải cho vay trở lại một cách mạnh mẽ.
Thay vào đó, nhiều ngân hàng đã dùng tiền cứu trợ để củng cố bảng cân đối kế toán của mình, mua lại các ngân hàng yếu hơn, hoặc đơn giản là ngồi trên đống tiền mặt.
Nền kinh tế thực sự đã trải qua một giai đoạn phục hồi yếu ớt và kéo dài, với hàng triệu người vẫn thất nghiệp trong nhiều năm.
Còn đối với người lao động Mỹ đang làm phục vụ ở McDonalds's, công nhân cho Ford, GE thì nhìn TARP như một sự phản bội trắng trợn.
700 tỷ đôla tiền thuế mình đóng được dùng để cứu chính những kẻ gây ra khủng hoảng trong khi cứ 10 người thì 1 người thất nghiệp, 3.8 triệu người bị ngân hàng tịch thu nhà bán rẻ như cho mà không nhận được bất kỳ sự giúp đỡ tương xức nào.
Sự phẫn nộ châm ngòi các cho phong trào chính trị cực đoan cho cả hai phe tả hữu: Phong trào Tiệc Trà (Tea Party) ở cánh hữu, những người căm ghét sự can thiệp và chi tiêu của chính phủ, và Phong trào Chiếm lấy Wall Street (Occupy Wall Street) ở cánh tả, những người căm ghét sự bất bình đẳng và quyền lực của giới tài chính.
Từ Tea Party sự căm giận bùng phát mở đường cho chiến thắng của Trump vào năm 2016 và đến nhiệm kỳ thứ 2 chỉ vì sự ngu dốt ngạo mạn của đám elite.
Cuối cùng, về mặt tài chính thuần túy, chính phủ Mỹ đã thu hồi lại được phần lớn số tiền đã chi ra, thậm chí còn có một khoản lãi nhỏ từ việc bán lại các cổ phiếu ngân hàng.
Nhưng cái giá thực sự của TARP không thể đo bằng đô la.
Cái giá đó là sự xói mòn niềm tin vào hệ thống, sự gia tăng bất bình đẳng một cách có hệ thống, và việc tạo ra một con quái vật tài chính "too big to fail" thậm chí còn lớn hơn và nguy hiểm hơn trước. Liều thuốc đã cứu được bệnh nhân, nhưng nó đã để lại một căn bệnh mãn tính không thể chữa khỏi.
Hồi kết của một màn hài kịch
Sau khi cả thế giới suýt sụp đổ, sau khi hàng trăm tỷ đô la tiền thuế được ném vào để cứu những kẻ đốt nhà, thì sân khấu được dọn dẹp cho màn diễn cuối cùng: màn "Cải cách".
Những lời hứa ban đầu hùng hồn như một bản tuyên ngôn độc lập, nhưng kết quả cuối cùng lại giống như một tờ giấy dán tường, che đi những vết nứt trên một bức tường sắp sập.
Sự phẫn nộ của công chúng đối với tầng lớp tinh hoa ngày một tăng khiến bọn chính trị gia nhất là Tổng thống mới đắc cử Barack Obama cho đến các nghị sĩ, đều phải lên gân.
Obama đã hứa hẹn về "một kỷ nguyên mới của trách nhiệm", tuyên bố rằng "chúng ta sẽ không quay trở lại thời kỳ mà những kẻ liều lĩnh và vô trách nhiệm ở Wall Street có thể gây ra thảm họa".
Lời hứa của họ là sẽ xây dựng lại một hệ thống quy định để không bao giờ lặp lại khủng hoảng 2008 một lần nữa.
Kết quả của nó là một trò hề.
Sản phẩm của họ bán ra công chúng là một đạo luật dài hơn 2,300 trang được đặt lên Đạo luật Cải cách Wall Street và Bảo vệ Người tiêu dùng Dodd-Frank (Dodd-Frank Wall Street Reform and Consumer Protection Act) năm 2010.
Trên giấy tờ, nó nghe có vẻ rất ấn tượng. Nó tạo ra các cơ quan mới, đề xuất các quy tắc mới, và chạm đến gần như mọi ngóc ngách của hệ thống tài chính. Có ba ý tưởng cải cách lớn được đưa ra, được coi là những nhát dao phẫu thuật có thể chữa lành căn bệnh:
Giải quyết "Too Big to Fail": Ý tưởng là phải có một cơ chế để các ngân hàng khổng lồ có thể "chết một cách có trật tự" (orderly liquidation) mà không kéo theo cả hệ thống, và phải buộc chúng nắm giữ nhiều vốn hơn để tự cứu mình.
Quy tắc Volcker (Volcker Rule): Đặt theo tên của cựu chủ tịch FED Paul Volcker, quy tắc này nhằm mục đích hồi sinh một phần linh hồn của Glass-Steagall. Nó cấm các ngân hàng thương mại (những nơi giữ tiền gửi được bảo hiểm của dân) không được dùng tiền của mình để thực hiện các giao dịch đầu cơ rủi ro (proprietary trading) .
Kiểm soát Phái sinh (Derivatives): Đưa cái thị trường phái sinh OTC nghìn tỷ đô la trong bóng tối ra ánh sáng, buộc các giao dịch phải được thực hiện qua các sàn giao dịch và các trung tâm thanh toán bù trừ (clearinghouses) để có sự minh bạch và giám sát.
Những lời hứa này, nếu được thực hiện một cách triệt để, có thể đã thực sự thay đổi cuộc chơi.
Nhưng chúng đã đâm đầu vào một bức tường bê tông cốt thép: liên minh chính trị gia-tài phiệt-ngân hàng-lobby.
Ngay khi dự luật Dodd-Frank còn nằm trên bàn giấy, cỗ máy lobby của Wall Street đã khởi động với một sức mạnh chưa từng có.
Ngành tài chính đã chi hơn 1.3 tỷ đô la cho việc vận động hành lang trong hai năm 2009 và 2010.
Hàng nghìn nhà lobby, nhiều người trong số họ là cựu nghị sĩ hoặc cựu nhân viên cấp cao của Quốc hội, đã tràn ngập các hành lang quyền lực.
Họ không chỉ đến từ các ngân hàng, mà còn từ các quỹ phòng hộ, các công ty cổ phần tư nhân, tất cả đều có chung một mục tiêu: làm cho đạo luật trở nên vô hại.
Cách chúng nó thực hiện là một nghệ thuật của sự phá hoại tinh vi. Chúng nó không phản đối toàn bộ đạo luật, điều đó quá lộ liễu.
Thay vào đó, chúng nó tấn công vào từng chi tiết, từng định nghĩa, từng điều khoản.
Chúng nó dùng những lập luận nghe có vẻ hợp lý:
"Quy định này sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của Mỹ",
"Nó sẽ bóp nghẹt tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ",
"Nó quá phức tạp và không thể thực thi".
Và chúng nó đã thành công một cách ngoạn mục.
"Too Big to Fail" vẫn sống khỏe: Thay vì chia nhỏ các ngân hàng lớn, Dodd-Frank chỉ yêu cầu họ viết "di chúc sống" (living wills) và nắm giữ thêm vốn. Các ngân hàng lớn nhất sau khủng hoảng thậm chí còn trở nên lớn hơn và tập trung quyền lực hơn.
Quy tắc Volcker bị rút ruột:
Phiên bản cuối cùng của Quy tắc Volcker đã bị đục khoét bởi hàng trăm trang miễn trừ và định nghĩa mập mờ.
Nó vẫn cho phép các ngân hàng thực hiện giao dịch để "phòng hộ rủi ro" (hedging) hoặc "tạo lập thị trường" (market making), những cái cớ hoàn hảo để tiếp tục các hoạt động đầu cơ dưới một cái tên khác .
Việc phân biệt giữa một giao dịch đầu cơ và một giao dịch "phòng hộ" là gần như không thể, và việc thực thi nó đã trở thành một cơn ác mộng.
Phái sinh vẫn còn những góc tối: Mặc dù Dodd-Frank đã đưa một phần lớn thị trường phái sinh ra ánh sáng, ngành công nghiệp này đã lobby thành công để tạo ra vô số lỗ hổng và miễn trừ, đặc biệt là đối với các giao dịch ngoại hối và các hợp đồng được "may đo" riêng.
Sự thất bại này không chỉ do lobby. Nó còn đến từ chính những người được giao nhiệm vụ thực thi cải cách.
Chính quyền Obama đã bổ nhiệm những người từ chính Wall Street vào các vị trí quyền lực nhất, như Timothy Geithner (cựu chủ tịch FED New York) làm Bộ trưởng Tài chính.
Những người này, dù có ý định tốt, đã bị định hình bởi tư duy của chính cái hệ thống mà họ cần phải cải cách. Họ tin vào việc "chữa trị" chứ không phải "phẫu thuật".
Kết quả là mày có một đạo luật cải cách khổng lồ, phức tạp, tạo ra hàng núi công việc giấy tờ cho các luật sư và nhà quản lý, nhưng lại không hề thay đổi cấu trúc quyền lực cơ bản của Wall Street.
Các ngân hàng vẫn quá lớn, rủi ro đạo đức vẫn còn đó, và các công cụ tài chính phức tạp vẫn tiếp tục được tạo ra.
Vở kịch cải cách đã kết thúc, khán giả vỗ tay, nhưng các diễn viên chính vẫn là những kẻ đã viết kịch bản ngay từ đầu.
Nhưng quả bom nợ vẫn còn nằm đó đang chờ ngày nổ tung , khuấy đảo cả thế giới một lần nữa bởi chính những kẻ tham lam.
ConThú Cũ, Trò Chơi Mới: Rủi Ro Chỉ Chuyển Nhà
Trên giấy tờ, Wall Street bây giờ an toàn hơn.
Sau khủng hoảng, Đạo luật Dodd-Frank và các quy định quốc tế như Basel III đã buộc các ngân hàng lớn phải làm hai việc chính:
Giữ nhiều vốn hơn: Chúng nó bị ép phải có một tấm đệm vốn dày hơn để có thể tự hấp thụ thua lỗ thay vì ngã lăn ra ăn vạ.
Chịu sự giám sát chặt hơn: Các cơ quan quản lý giờ đây tiến hành các "bài kiểm tra sức chịu đựng" (stress tests) hàng năm để xem liệu các ngân hàng có thể sống sót qua một cuộc khủng hoảng giả định hay không. Một phần thị trường phái sinh cũng được đưa ra khỏi bóng tối và vào các trung tâm thanh toán bù trừ, tăng tính minh bạch.
Những thay đổi này có thật. Các ngân hàng lớn ngày nay chắc chắn có khả năng chống chọi với một cú sốc tốt hơn so với năm 2008.
Nhưng đó chỉ là một phần của câu chuyện.Bản chất của con quái vật vẫn không thay đổi.
Hàng năm, FED sẽ đưa ra một kịch bản kinh tế cực kỳ tồi tệ do chính họ tưởng tượng ra, ví dụ:
Tỷ lệ thất nghiệp vọt lên 10%.
Thị trường chứng khoán sụp đổ 50%.
Giá nhà đất lao dốc 25%.
Suy thoái toàn cầu sâu sắc.
Đối với Big 6 như JPMorgan Chase, Bank of America, Citigroup, và Wells Fargo, Goldman Sachs, Morgan Stanley nó giống như chưa đi thi đã biết rõ đề có gì.
Không thể phủ nhận rằng stress test đã buộc các ngân hàng lớn phải nắm giữ nhiều vốn hơn đáng kể so với trước 2008. Nó đã tạo ra một tấm đệm an toàn dày hơn. Việc phải công khai kết quả cũng tạo ra một sự minh bạch nhất định và áp lực thị trường lên các ngân hàng.
So với việc không có gì cả, nó chắc chắn là một sự cải thiện.
Cái trò "gian lận" trong stress test không phải là một hành động đơn lẻ, mà là một điệu tango được dàn dựng một cách hoàn hảo giữa giám thị (FED) và thí sinh (Big 6). Cả hai bên đều có chung một mục tiêu: đảm bảo buổi thi diễn ra thành công tốt đẹp, dù cho học sinh có thực sự thuộc bài hay không.
Nó không phải là gian lận kiểu chép phao. Nó là gian lận ở cấp độ thiết kế đề thi và chấm bài.
FED không muốn thấy học sinh của mình trượt. Một kết quả tồi tệ sẽ chứng minh chính FED là một giám thị thất bại. Vì vậy, họ tạo ra một bài thi mà gần như không thể trượt, thông qua ba mánh khóe chính:
1. Phát Đề Cương Ôn Tập (Biết Trước Đề Thi): Đây là sự lừa dối cơ bản nhất. FED công bố công khai các kịch bản giả định (scenario) của bài stress test nhiều tháng trước khi nó diễn ra. Họ nói cho các ngân hàng biết chính xác "đề thi" năm nay sẽ là gì:
"Chúng tao sẽ kiểm tra xem chúng mày sống sót thế nào nếu thất nghiệp lên X%, giá nhà giảm Y%".
Điều này cho phép bọn "thí sinh" Big 6 có hàng tháng trời để "ôn thi tủ". Chúng nó có thể tạm thời cơ cấu lại danh mục đầu tư, giảm bớt rủi ro ở những mảng sẽ bị soi kỹ, và tăng cường vốn ở những khu vực cần thiết.
Nó giống như việc mày biết trước đề thi Văn sẽ ra bài "Truyện Kiều", và mày chỉ học đúng một bài đó.
Mày có thể đạt điểm cao, nhưng điều đó không có nghĩa là mày giỏi văn.
2. Ra Đề Dễ (Kịch Bản Không Đủ Tồi Tệ):
Các kịch bản của FED, dù có vẻ tồi tệ, thường né tránh kẻ giết người thực sự của năm 2008: sự hoảng loạn và đóng băng thanh khoản toàn diện. Chúng nó kiểm tra khả năng chịu lỗ vốn (solvency), nhưng lại không thể kiểm tra được khả năng chống chọi với một cuộc "tấn công ngân hàng" (bank run) kiểu hiện đại, khi niềm tin bốc hơi trong 24 giờ.
Bài thi của FED giống như một cuộc diễn tập chữa cháy trong một tòa nhà bằng bê tông, trong khi thực tế thì tòa nhà đó được xây bằng diêm và tẩm xăng.
Ví dụ như vụ phá sản của ngân hàng SVB - Silicon Valley Bank
Sau khủng hoảng 2008, Đạo luật Dodd-Frank đã quy định rằng tất cả các ngân hàng có tài sản trên 50 tỷ đô la đều được coi là "quan trọng đối với hệ thống" và phải chịu sự giám sát nghiêm ngặt nhất của FED, bao gồm cả các bài stress test khắc nghiệt hàng năm.
Nhưng vào năm 2018, dưới thời chính quyền Trump, một đạo luật với cái tên mỹ miều là "Đạo luật Tăng trưởng Kinh tế, Cứu trợ Pháp lý và Bảo vệ Người tiêu dùng" (S. 2155) đã được thông qua với sự ủng hộ của cả hai đảng.
Đạo luật này thực chất là một cuộc phá dỡ các quy định của Dodd-Frank.
Vào thời điểm sụp đổ, Silicon Valley Bank có tài sản khoảng 209 tỷ đô la. Nó đã lọt thỏm một cách hoàn hảo vào cái lỗ đen pháp lý vừa được tạo ra. Nó đủ lớn để gây ra rủi ro hệ thống, nhưng lại không đủ lớn để phải chịu sự giám sát chặt chẽ nhất.
Và phần mỉa mai nhất? Chính CEO của SVB, Greg Becker, đã là một trong những người đi vận động hành lang tích cực nhất cho cái đạo luật này. Gã đã thành công trong việc xin được miễn thi. Và rồi nó đã chết vì chính cái sự tự do mà nó đã mua.
Nhưng câu chuyện còn tệ hơn thế. Ngay cả những bài stress test mà FED thực hiện cho các ngân hàng lớn hơn cũng đã không kiểm tra đúng kịch bản đã giết chết SVB.
Các bài stress test sau 2008 bị ám ảnh bởi cuộc khủng hoảng cũ. Chúng nó chủ yếu kiểm tra rủi ro tín dụng (credit risk)– tức là kịch bản suy thoái kinh tế khiến hàng loạt người vay vỡ nợ.
Nhưng SVB không chết vì nợ xấu. Nó chết vì rủi ro lãi suất (interest rate risk).
Canh bạc lãi suất: SVB đã lấy hàng chục tỷ đô la tiền gửi của các công ty startup và mua một đống trái phiếu chính phủ Mỹ dài hạn khi lãi suất đang ở mức gần bằng không.
Cú siết của FED: Khi FED tăng lãi suất một cách chóng mặt để chống lạm phát, giá trị của những trái phiếu dài hạn này đã lao dốc không phanh. SVB đang ngồi trên một khoản lỗ khổng lồ chưa thực hiện.
Kịch bản bị bỏ qua: Các kịch bản stress test của FED vào thời điểm đó không hề có một bài thi nào về một cú sốc lãi suất tăng đột ngột và mạnh mẽ.
Nó giống như mày bắt lính cứu hỏa diễn tập chữa cháy cả trăm lần, nhưng rồi tòa nhà sụp đổ vì động đất. Chúng nó đã chuẩn bị cho sai loại thảm họa.
Vậy SVB chết vì hai lý do: (1) Nó đã thành công trong việc lobby để được miễn cái bài thi khó nhất, và (2) Ngay cả cái bài thi đó cũng đã lỗi thời và không hỏi đúng câu hỏi về rủi ro lãi suất.
Nó là một ví dụ hoàn hảo cho thấy hệ thống quản lý tài chính luôn là một cuộc rượt đuổi. Chúng nó luôn bận rộn xây dựng một bức tường thành kiên cố để chống lại loại rồng đã tấn công lần trước, trong khi một con quái vật hoàn toàn mới đang trồi lên từ dưới lòng đất.
3. Chấm Bài Nương Tay (Xung Đột Lợi Ích): FED vừa là giám thị, vừa là người chịu trách nhiệm về danh tiếng của cả ngôi trường.
Nếu J.P. Morgan hay Citigroup mà "trượt" stress test, điều đó sẽ gửi một tín hiệu kinh hoàng ra thị trường, có thể tự nó châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng. Vì vậy, luôn có một áp lực ngầm để "điều chỉnh" các giả định và phương pháp chấm điểm sao cho kết quả cuối cùng không quá thảm khốc.
Họ không thể để cho đứa học sinh giỏi nhất lớp bị đúp, vì điều đó sẽ làm sụp đổ niềm tin vào cả hệ thống giáo dục.
Bọn "thí sinh" cũng không phải dạng vừa. Chúng nó là những bậc thầy của việc làm bài thi đối phó.
Bước đầu tiên không phải là hành động, mà là phân tích. Chúng nó có cả một đội quân tiến sĩ toán học và kinh tế, không phải để dự báo khủng hoảng, mà là để "giải đề" của FED.
Khi FED công bố các kịch bản stress test, đội quân này sẽ mổ xẻ từng chi tiết: "Aha, năm nay chúng nó sẽ đánh mạnh vào rủi ro bất động sản thương mại", hoặc "Năm nay chúng nó sẽ soi kỹ các khoản vay đòn bẩy (leveraged loans)".
Chúng nó sẽ chạy các mô hình nội bộ để xem chính xác danh mục đầu tư hiện tại của mình sẽ "mất bao nhiêu điểm" trong từng phần của bài thi.
Từ đó, chúng nó có một danh sách chính xác những "món hàng" rủi ro nào cần phải giấu đi và những "chỉ số" nào cần phải bơm lên.
Biết trước những gì sẽ bị soi, chúng nó sẽ thực hiện các thủ thuật để làm cho bảng cân đối kế toán của mình trông sạch sẽ và an toàn hơn ngay trước ngày chốt sổ kiểm tra.
Bán Tạm Thời và Mua Lại Sau (Repo Transactions): Đây là mánh khóe phổ biến nhất. Chúng nó sẽ "bán" tạm thời một cục nợ bị coi là rủi ro (ví dụ, một gói CLO) cho một quỹ phòng hộ hoặc một định chế khác, kèm theo một thỏa thuận ngầm sẽ mua lại nó với giá cao hơn một chút ngay sau khi kỳ thi kết thúc. Trên giấy tờ vào ngày kiểm tra, cục nợ đó đã biến mất khỏi sổ sách của ngân hàng.
Mua "Bảo Hiểm" Đối Phó (Strategic Hedging): Dựa trên "đề thi", chúng nó sẽ mua các hợp đồng phái sinh (derivatives) được thiết kế đặc biệt để phòng hộ cho đúng cái loại rủi ro mà FED sẽ kiểm tra. Ví dụ, nếu kịch bản là thị trường chứng khoán sụp đổ, chúng nó sẽ mua các hợp đồng bán khống chỉ số S&P 500. Những hợp đồng này có thể rất tốn kém và sẽ được bán đi ngay sau khi stress test kết thúc, nhưng nó giúp "bài thi" của chúng trông đẹp hơn nhiều.
"Bơm" Vốn Tạm Thời: Cách dễ nhất để cải thiện tỷ lệ vốn là giữ lại nhiều tiền mặt hơn. Ngay trước và trong kỳ thi, chúng nó sẽ thông báo tạm dừng hoặc giảm mạnh các chương trình mua lại cổ phiếu quỹ (stock buybacks) và hạn chế chia cổ tức. Điều này giữ tiền lại trong nhà, làm cho tử số trong "tỷ lệ vốn" (vốn/tài sản rủi ro) tăng lên, giúp chúng nó dễ dàng đạt điểm cao hơn.
Nghệ Thuật Ảo Thuật Với Rủi Ro (Regulatory Arbitrage) ở đây chính là cùng một khoản vay 100 triệu đô la, nếu được cấu trúc theo kiểu A, nó có thể bị FED tính là "100 triệu tài sản có trọng số rủi ro".
Nhưng nếu đội ngũ luật sư và chuyên gia tài chính của ngân hàng cấu trúc lại nó một cách tinh vi theo kiểu B, có thể nó chỉ bị tính là "50 triệu tài sản có trọng số rủi ro".
Bằng cách này, chúng nó không cần phải giảm rủi ro kinh tế thực sự, chúng nó chỉ cần giảm rủi ro trên giấy tờ pháp lý. Lượng vốn dự phòng phải giữ giảm đi một nửa, dù cho khả năng mất tiền từ khoản vay đó không hề thay đổi.
Tất cả những hành động này không làm cho hệ thống thực sự an toàn hơn một cách bền vững. Nó chỉ làm cho các ngân hàng trở nên cực kỳ giỏi trong việc vượt qua một bài kiểm tra cụ thể.
Nó giống như một thằng học sinh thuộc lòng văn mẫu để đạt điểm 9, nhưng ra đời thì không viết nổi một cái email cho ra hồn. Hệ thống đã tạo ra những con gà nòi chuyên đi thi, chứ không phải những con đại bàng có thể tự mình bay giữa bão tố.
Vấn đề 'Too Big Too Fail' không những bị bỏ mặc làm ngơ mà còn trở nên tồi tệ hơn.
Rủi ro không hề biến mất, nó chỉ chuyển nhà.
Thay vì các căn nhà mặt tiền của các ngân hàng lớn có cảnh sát (cơ quan quản lý) đi tuần thường xuyên sang các con hẻm tối, những khu ổ chuột của một thứ được gọi là hệ thống ngân hàng trong bóng tối (shadow banking), đặc biệt là thị trường tín dụng tư nhân (private credit).
Nếu như trước 2008, đống cứt được gọi là CDO, MBS và CDS, thì bây giờ, món hàng thời thượng nhất, quả bom nổ chậm tiềm tàng nhất được gọi bằng một cái tên khác: CLO (Collateralized Loan Obligation - Nghĩa vụ nợ có tài sản đảm bảo bằng khoản vay). Tên dài và phức tạp chứ thật ra vẫn là đống cứt dát vàng.
CLO là đứa em song sinh của CDO.
Cấu trúc của nó y hệt: gom một đống nợ lại, đóng gói chúng, rồi thái ra thành nhiều lát (tranches) với mức độ rủi ro khác nhau để bán cho các nhà đầu tư.
Nhưng có một sự khác biệt quan trọng.
Thay vì được bảo đảm bằng những khoản vay mua nhà dưới chuẩn của những người công nhân, nó được bảo đảm bằng "leveraged loans" (các khoản vay có đòn bẩy cao) – tức những khoản vay cực kỳ rủi ro cấp cho các công ty nổi tiếng đã nợ ngập đầu như United Airlines, Virgin Media, Burger King, American Airlines, Staples, Charter Communications , thường là các công ty đang được các quỹ cổ phần tư nhân (private equity) mua lại.
Private equity là những con cá mập như Blackstone, Apollo Global Management , KKR & Co, Carlyle Group chuyên đi săn những công ty nợ nần.
Tại sao vậy?
Không phải tụi nó ngu mà khốn nạn một cách thông minh bởi những cái đầu có sạn đang quản lý hàng nghìn tỷ đôla.
Thay vì móc tiền từ trong ví ra mua đứt thì nó đi mượn từ đám ngân hàng lớn bằng việc phát hành CLO để các nhà đầu retail lẫn hedge fund lao vào mua tới 60-80% giá trị công ty bằng nợ trong khi bọn nó chỉ bỏ tiền thật ra mua tầm 20-40%.
Giống như mày đi mua nhà 10 tỷ nhưng chỉ bỏ ra 2 tỷ còn lại đi vay nhưng điểm mấu chốt cốt lõi là nó bắt thằng công ty được mua lại phải trả luôn cái đống nợ đó.
Tao nhấn mạnh lại lần nữa: tụi này mượn tiền mua cái xác của mày, rồi bắt mày tự trả nợ.
Bởi vì bỏ tiền thật ra ít hơn nên chỉ cần công ty hồi sinh dù chỉ một chút về doanh thu lẫn lợi nhuận là tụi nó lời gấp hàng chục lần.
Từ 2 tỷ ban đầu mua căn nhà nhưng nếu mày bán lại 4 tỷ đã là lời 100% trong khi đám công ty đó gánh đống nợ 8 tỷ mượn lúc đầu.
Nhờ phi vụ Hilton mà Blackstone thực hiện đem về cho chúng 12 tỷ đôla tiền lời.
Cái vỏ bọc này rất đẹp, chúng nó bọc lấy sự dối trá và tham lam để người ngoài nhìn vô thấy "tụi mày cần tao".
Cái gọi là 'chuyên môn vận hành' thực ra là cắt giảm chi phí, sa thải nhân sự và bán tài sản dư thừa , đổi CEO nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng doanh thu càng nhanh càng tốt để đem bán chốt lời.
Có công ty được cứu sống thật như United Airline nhưng nhiều bọn bị bòn rút dòng tiền trang điểm sổ sách để bán lại nhanh rồi cuối cùng chỉ để lại cái xác chết nợ nần như vụ Toys R Us, Payless ShoeSource là điển hình — bị PE firms mua kiểu này rồi vắt sạch dòng tiền, không đầu tư gì, và để chết luôn.
Tức là bọn Private Equity như Carlyle, Blackstone đi mua mấy công ty yếu, rồi tạo ra mấy khoản nợ lớn của tụi đó.
Sau đó quăng đống nợ đó vào CLO, biến thành sản phẩm đầu tư bán cho thiên hạ, rồi xài tiền đó để tiếp tục đi săn nữa. Một vòng quay hút máu khép kín. Nó không hề khác gì so với năm 2008 về lòng tham lam sinh ra đống nợ cao vút.
Kịch bản cũng tương tự như CDO, mấy cái CLO này được bộ ba quen thuộc đóng vai trò đóng con dấu AAA rồi sau đó thoát tội. Tụi nó ngồi chung mâm với cái đám bán CLO cụ thể là:
CLO arranger (thằng đứng ra gom nợ, thiết kế sản phẩm)
CLO manager (thằng quản lý gói nợ đó sau khi bán)
Tụi nó cũng xài chiêu cũ như CDO bằng cách cung cấp phần mềm, công cụ giả lập để CLO arranger tự chạy thử rating trước, xem gói này có được dán nhãn AAA không.
Nếu không đạt, tụi arranger đi tìm hãng rating khác dễ dãi hơn – gọi là rating shopping (đi chợ tìm đứa dễ dụ).
Trước 2008, tụi rating còn chơi trò gọi là rating catering – tức là cạnh tranh chiều lòng nhà phát hành để không mất hợp đồng.
Hễ Moody’s cho AAA thì S&P cũng phải gật AAA, vì nếu cho thấp hơn thì mất mối.
Có tới 96% CLOs hồi đó được chấm cùng mức bởi cả Moody’s lẫn S&P ,nghĩa là là tụi nó thông đồng để không phá giá thị trường.
Sau 2008, mặt dày hơn nữa – tụi phát hành CLO chỉ công bố 1 rating duy nhất, chọn đứa cho điểm cao nhất. Moody’s thường được chọn trong các deal phức tạp vì dễ dãi hơn S&P.
Vẫn như CDO, các gói CLO này chia thành 6 lớp từ AAA tới Equity (không xếp hạng) trong đó AAA chiếm tới 70% giá trị.
Bọn này thề thốt đúng như kịch bản cũ "có thế chấp đảm bảo cao hơn trước 2008" để người mua yên tâm trong khi thực tế chất lượng đang ngày mục rũa.
Nhiều khoản vay thuộc loại Convenant-lite loan không hề có rành buộc gì để bảo vệ nhà đầu tư ngày càng nhiều , cho vay dễ như giấy lộn mà không cần chứng minh dòng tiền dương , tài sản giá trị gì hết.
AIG phiên bản cũ đã chết nhưng cái đám bảo hiểm nhân thọ lại vẫn còn sống và đang ôm bom.
Chỉ trong năm 2024, số tiền đổ vào CLO tăng thêm 14 tỷ USD y hệt lý do mà AIG đã xài, dùng CLO để - cân bằng tài sản và trách nhiệm” – tức là xài sản phẩm rủi ro dài hạn để khớp với cam kết bảo hiểm dài hạn.
Ngoài ra còn đám công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn (P&C) vẫn tiếp tục chơi CDS (hợp đồng bảo hiểm nợ xấu).
Năm 2007, tụi bảo hiểm ôm 18% thị phần CDS Mỹ, giờ vẫn còn nhảy vào sòng bạc này. Bọn đối tác chính của đám bảo hiểm trong múa bán CDS cũng chính là các ngân hàng lớn như J.P Morgan, Citi, Goldman,.vvv.
Quy mô thị trường CDS Mỹ năm 2023 là 4.3 ngàn tỷ đôla trong đó 18% đến từ tụi bảo hiểm dài hạn từ P&C cùng với các công ty bảo hiểm cổ phần.
Apollo sau khi thâu tóm hãng bảo hiểm Athene đã tạo ra một cỗ máy cho vay như ngân hàng nhưng dùng tiền bảo hiểm để làm vốn tức là đống tiền người dân mua hằng năm đang được nạp đạn vào các phi vụ CLO rủi ro cực cao, nếu sụp thì chính các cty bảo hiểm này cũng không có tiền trả và người mua mất trắng.
Nghĩa là nếu CLO sập thì cả bảo hiểm lẫn ngân hàng đều dính bom.
Nhưng con quái vật CLO này vẫn đang tăng trưởng điên rồ, thị trường toàn cầu đã đạt 1.4 nghìn tỷ đôla , chiếm 70% thị trường institutional loans Mỹ năm 2023.
Năm 2024 CLO issuance đạt kỷ lục 191 tỷ đô la chỉ trong 11 tháng, cao hơn 72% so với năm trước.
Đây là sàn cá cược CDO đang lặp lại tương tự không hề có gì khác về bản chất
Các khoản vay trong CLO (gọi là leveraged loan – tức công ty vay đòn bẩy cao) toàn là loại “covenant-lite” – tức vay mà không có ràng buộc, không bảo hiểm, không cam kết dòng tiền, miễn ký là xong.
Mấy công ty vay thì tự vẽ vời lợi nhuận kiểu “EBITDA điều chỉnh” – tức là vứt hết chi phí vào gầm giường, giữ mỗi con số đẹp để vay được nhiều.
Tỉ lệ nợ trên lợi nhuận (leverage ratio) thì phình ra như bong bóng, nhiều công ty vay gấp 6-8 lần EBITDA – mà EBITDA thì như đã nói: toàn số ảo.
Đám CLO Manager tập trung vào đúng vào 10 tay to quản lý thị trường như:
Goloub,
Capital,
Blackstone,
Carlyle Group,
CIFC Asseet Management ,
Credit Suisse AM,
Ares Management,
Redding Ridge ,
Octagon Credit ,
PGIM BlackRock .
10 thằng này kiểm soát 50% thị trường CLO chỉ cần một đứa sập và domino sụp nguyên đám còn lại và chính tụi Big bank ôm CLO cũng toàn đám lớn như J.P Morgan, Citi , Goldman Sachs - một đứa bán tháo là cả thị trường cùng nhau xuống hố, mất thanh khoản ngay.
Nhiều công ty trong CLO là của đám private equity (PE) – tức đã vay nặng lại còn chơi kiểu lột xác tài chính. Nếu PE sai nước đi, cả chuỗi CLO đứt dây.
Nhưng trong cơn túng quẫn có muốn chạy cũng không được vì CLO là hàng private credit không giao dịch công khai như trái phiếu kho bạc Mỹ.
Nếu một ông lớn hoặc cá con muốn bán thì tìm người mua ngoài chợ trời.
Khi thị trường hoảng loạn, giá ETF của CLO có thể sụp giảm dưới cả giá trị thực tầm 4-5% trong vài ngày. Tưởng tượng như mày cầm tờ giấy 100$ mà người ta chỉ nhận 96$ là khóc ngay tại chỗ.
CLO chỉ có lợi khi lãi suất cao vì đa số đều là khoản vay thả nỗi còn nếu FED hạ lãi suất (Trump đang đòi Powell làm điều này) thì lợi nhuận của chúng tụt dốc khiến các nhà đầu tư rút vốn hàng loạt và sụp.
Lúc đó so với trái phiếu cố định thì càng lép về ít ra nó ổn định, giữ được lãi , thanh khoản cao còn CLO thì teo như hạt dưa.
Tụi nó đang tự trấn an nhau và thị trường rằng “CLO an toàn hơn đống CDO subprime năm 2008”
Sự thật? Có khác… nhưng không đủ để cứu rỗi kẻ hấp hối.
Đúng là CLO không xài hợp đồng phái sinh kiểu synthetic CDO - không nhân bản nợ như 2008, nó được quản lý chủ động thay vì vứt đó mong chờ nó tự sinh lời như CDO.
CLO có nhiều công ty tham gia, đa dạng hơn cũng là khoản vay có đảm bảo tài sản - đảm bảo tài sản (senior secured loan) nên nếu công ty phá sản, có thể thu hồi được 70%.
Nghe hợp lý đấy, nhưng thực tế vẫn là:
CLO - Quả bom hẹn giờ
Quy mô thị trường bây giờ ~1,2 nghìn tỷ đôla gần bằng subprime mortage năm 2008 (1.6 nghìn tỷ). Tốc độ tăng trưởng cũng y chang , đang phình to ra trong 5-7 năm trở lại đây như chích steroid nhờ FED tăng lãi suất để chống lạm phát hậu đại dịch COVID.
Nhưng bọn CLO ETF này chưa bao giờ bị stress test thật sự, chỉ cần một đợt khủng hoảng làm đứt gãy dòng tiền là lộ hết cái bản chất rỗng ruột.
Chính ở Châu Âu, BIS (Bank for International Settlements) năm 2019 đã gióng hồi chuông cảnh báo về việc đem CLO vào quỹ ETF vì mớ đó không phù hợp để dân thường nắm giữ, rủi ro cao, bán khó, giữ thì chết.
Vậy là mày có một kịch bản quen thuộc đến đáng sợ:
Một loại nợ rủi ro (leveraged loans) được tạo ra hàng loạt.
Những khoản nợ này được đóng gói và bán đi thông qua các công cụ phức tạp (CLOs).
Hoạt động này diễn ra trong một khu vực ít được giám sát của hệ thống tài chính (private credit).
Tất cả được thúc đẩy bởi một môi trường lãi suất thấp kéo dài, nơi các nhà đầu tư tuyệt vọng đi tìm kiếm lợi nhuận (search for yield).
Wall Street đã học được bài học của năm 2008, nhưng không phải bài học mà chúng ta mong muốn.
Chúng nó không học được bài học về sự thận trọng.
Chúng nó học được bài học về cách làm thế nào để di chuyển rủi ro ra khỏi bảng cân đối kế toán của mình một cách hiệu quả hơn, đẩy nó vào những góc tối mà các nhà quản lý chưa kịp soi đèn tới.
Cái tên của đống phái sinh đã thay đổi, nhưng trò chơi thì vẫn vậy: tư nhân hóa lợi nhuận, xã hội hóa rủi ro, và để lại một quả bom hẹn giờ cho người khác dọn dẹp.
Quả bom CLO sẽ nổ thế nào?
Bây giờ mồi lửa đã đủ , sẽ có hai yếu tố
(1) một giai đoạn lãi suất cao kéo dài (higher-for-longer) do lạm phát dai dẳng, theo sau là
(2) một cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu thực sự.
Giai đoạn lãi suất cao sẽ từ từ siết cổ các công ty "zombie" vay nợ đòn bẩy cao. Chúng sẽ không thể tái cấp vốn cho các khoản nợ cũ với chi phí chấp nhận được. Dòng tiền của chúng sẽ bị bào mòn bởi chi phí lãi vay.
Một cuộc suy thoái kinh tế sẽ là đòn kết liễu. Doanh thu của chúng sẽ sụp đổ. Những con số EBITDA "điều chỉnh" màu mè sẽ không thể che giấu được sự thật rằng chúng đang thua lỗ. Chúng sẽ bắt đầu vỡ nợ hàng loạt.
Cái trớ trêu là, ngay cả khi FED đột ngột hạ lãi suất để chống suy thoái, nó cũng có thể kích nổ quả bom theo một cách khác.
Khi lãi suất trái phiếu chính phủ an toàn giảm, các nhà đầu tư sẽ không còn lý do gì để nắm giữ các CLO rủi ro có lãi suất thả nổi đang giảm theo.
Họ sẽ bán tháo để chạy về nơi trú ẩn an toàn, gây ra một cuộc khủng hoảng thanh khoản.
Tóm lại, bất kỳ sự thay đổi đột ngột và mạnh mẽ nào của chính sách tiền tệ, dù theo hướng nào, kết hợp với một nền kinh tế thực suy yếu, đều có thể là mồi lửa.
Khi vỡ nợ hàng loạt xảy ra, domino sẽ đổ theo một trật tự có thể đoán trước:
Các công ty vay nợ (Leveraged Companies): Chúng là những nạn nhân đầu tiên. Hàng loạt vụ phá sản sẽ xảy ra trong các ngành công nghiệp tiêu dùng, công nghệ và dịch vụ, nơi các quỹ PE hoạt động mạnh nhất.
Các nhà nắm giữ lát cắt "Equity" và "Junior" của CLO: Đây là những kẻ "chết trước". Các quỹ phòng hộ chuyên về nợ xấu (distressed debt hedge funds) và các quỹ tín dụng tư nhân nhỏ sẽ bị xóa sổ.
Các quỹ ETF và quỹ tương hỗ CLO: Đây là lúc người dân bình thường và các nhà đầu tư nhỏ lẻ bắt đầu cảm nhận nỗi đau. Giá trị của các quỹ này sẽ lao dốc. Lệnh bán tháo sẽ được kích hoạt hàng loạt, gây ra một vòng xoáy thanh khoản chết chóc. Mày sẽ thấy giá của các ETF này giao dịch thấp hơn nhiều so với giá trị tài sản thực của chúng.
Các công ty bảo hiểm nhân thọ và hưu trí: Đây là mắt xích nguy hiểm nhất. Chúng là những kẻ nắm giữ các lát cắt AAA và AA được cho là an toàn. Khi vỡ nợ lan đến cả những lát cắt này, bảng cân đối kế toán của chúng sẽ thủng những lỗ khổng lồ. Các công ty theo mô hình "dùng tiền bảo hiểm đi đầu tư" như Apollo/Athene sẽ đối mặt với một cuộc khủng hoảng sống còn. Người dân có thể thấy các cam kết bảo hiểm và lương hưu của mình bị đe dọa.
Đây chỉ là giả định, nhưng dựa trên quy mô thị trường:
Thiệt hại tài chính trực tiếp: Thị trường CLO, leveraged loan và private credit toàn cầu là một con quái vật khoảng 3-4 nghìn tỷ đô la. Một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng có thể xóa sổ 40-50% giá trị này, tức là khoảng 1.5 đến 2 nghìn tỷ đô la tiền bốc hơi.
Thiệt hại kinh tế toàn diện: Tính cả sự sụp đổ của các doanh nghiệp, sự co lại của tín dụng và GDP bị mất, tổng thiệt hại cho kinh tế toàn cầu có thể dễ dàng lên tới 5 đến 10 nghìn tỷ đô la trong vòng 2-3 năm.
Thất nghiệp: Ở Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp có thể tăng từ mức hiện tại lên 9-12%, tương đương với việc 8 đến 12 triệu người mất việc làm. Trên toàn cầu, con số sẽ là hàng chục triệu người, đặc biệt là ở các nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu như Việt Nam, Trung Quốc.
Cuộc khủng hoảng tài chính này sẽ không xảy ra trong chân không. Nó sẽ tương tác và làm trầm trọng thêm những căng thẳng hiện có:
Hậu COVID và lạm phát: Các chính phủ đã cạn kiệt đạn dược. Nợ công ở mức kỷ lục. Họ không thể dễ dàng cắt giảm lãi suất hay tung ra các gói kích thích khổng lồ như năm 2008. Cuộc khủng hoảng lần này sẽ đau đớn hơn nhiều vì không có thuốc giảm đau.
Xung đột toàn cầu: Một phương Tây suy yếu sẽ giảm khả năng và ý chí hỗ trợ các cuộc xung đột như ở Ukraine. Điều này sẽ tạo lợi thế cho các đối thủ địa chính trị.
Sự trỗi dậy của BRICS: Đây sẽ là món quà trời cho đối với khối BRICS. Họ sẽ rao giảng về sự thất bại của hệ thống tài chính phương Tây, và đẩy nhanh hơn nữa quá trình phi đô la hóa và việc xây dựng các thể chế tài chính song song.
Chính sách của Trump: Nếu một cuộc khủng hoảng xảy ra dưới thời một chính quyền Trump theo đuổi chính sách thuế quan và chủ nghĩa bảo hộ, nó sẽ là thảm họa. Nó sẽ biến một cuộc suy thoái nghiêm trọng thành một cuộc Đại Suy thoái toàn cầu bằng cách phá vỡ các chuỗi cung ứng và ngăn chặn mọi nỗ lực phối hợp quốc tế.
Đối với Việt Nam, với một nền kinh tế có độ mở cực lớn và phụ thuộc nặng nề vào xuất khẩu và vốn FDI, hậu quả sẽ cực kỳ nặng nề, có thể còn hơn cả năm 2008.
Sụp đổ xuất khẩu: Mỹ và EU là các thị trường lớn nhất. Khi người tiêu dùng ở đó thắt lưng buộc bụng, các đơn hàng dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử sẽ bị hủy hàng loạt. Hàng triệu công nhân trong các khu công nghiệp sẽ đối mặt với nguy cơ mất việc.
Đóng băng và tháo chạy vốn FDI: Dòng vốn đầu tư mới sẽ cạn kiệt. Tệ hơn, trong một môi trường hoảng loạn, vốn ngoại có thể tháo chạy khỏi các thị trường mới nổi như Việt Nam, gây áp lực khủng khiếp lên tỷ giá.
Kiều hối giảm mạnh: Người Việt ở nước ngoài mất việc, thu nhập giảm sẽ khiến lượng kiều hối (12 tỷ đô vào năm 2024), một nguồn ngoại tệ quan trọng, sụt giảm.
Khủng hoảng trong nước: Sự sụp đổ của thị trường xuất khẩu và bất động sản (vốn đã yếu) sẽ tạo ra một làn sóng nợ xấu khổng lồ cho hệ thống ngân hàng Việt Nam. Nếu không được xử lý quyết liệt, Việt Nam có thể phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng ngân hàng trong nước ngay trên nền một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Đừng chờ cháy nhà rồi mới mua bình chữa cháy mà từ bây giờ sẵn sàng với ngọn lửa vẫn còn âm ỉ nhưng sẽ đốt sạch mọi thứ mày đang có trong tương lai.
Kết
Lòng tham của Wall Street sẽ không dừng lại bấp chấp Washington D.C có đổi chủ hay không.
Khủng hoảng 2008 chứng minh bài học về sự dối trá sinh ra từ hệ tư tưởng của Friedman và Hayek đã trở thành thứ vũ khí hoàn hảo, một tấm bình phong đạo đức để che đậy một cuộc thâu tóm quyền lực và tài sản trên quy mô lớn. Chúng nó rao giảng về "thị trường tự do", "cạnh tranh" và "hiệu quả", nhưng những từ ngữ đó trong thực tế lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác.
"Thị trường tự do" đã được diễn dịch thành quyền tự do cho các tập đoàn khổng lồ nuốt chửng các đối thủ nhỏ hơn.
Làn sóng sáp nhập và mua lại (M&A) điên cuồng bắt đầu từ những năm 1980, được thúc đẩy bởi việc nới lỏng các quy định chống độc quyền, đã biến nhiều ngành công nghiệp từ chỗ có sự cạnh tranh lành mạnh thành một sân chơi chỉ còn vài gã khổng lồ (oligopoly).
Khi một vài công ty thống trị thị trường, chúng có thể âm thầm ấn định giá cả, bóp nghẹt sự đổi mới và tiêu diệt lựa chọn của người tiêu dùng. Đó không phải là tự do, đó là sự kiểm soát dưới một cái tên khác.
"Hiệu quả" và "cạnh tranh" trở thành mật mã cho việc tấn công vào người lao động.
Khẩu hiệu tối thượng của kỷ nguyên này là "tối đa hóa giá trị cổ đông" (shareholder value maximization), một ý tưởng được Milton Friedman trở nên vô địch.
Về lý thuyết, nó có nghĩa là công ty phải hoạt động vì lợi ích của chủ sở hữu.
Nhưng trong thực tế, nó có nghĩa là phải cắt giảm chi phí bằng mọi giá để làm đẹp báo cáo tài chính hàng quý và đẩy giá cổ phiếu lên.
Và chi phí dễ cắt nhất chính là con người.
Ronald Rean sa thải hơn 11,000 nhân viên kiểm soát không lưu đình công thuộc nghiệp đoàn PATCO vào năm 1981 là một tín hiệu rõ ràng gửi đến toàn bộ giới chủ ở Mỹ: chính phủ sẽ đứng về phía các ông trong cuộc chiến chống lại lao động có tổ chức.
Quyền lực của các công đoàn suy giảm nhanh chóng.
Kết quả là, trong suốt nhiều thập kỷ, năng suất lao động ở Mỹ tiếp tục tăng, nhưng tiền lương thực tế của người lao động bình thường thì dậm chân tại chỗ.
Họ bị ép làm việc nhiều hơn, trong điều kiện bấp bênh hơn, để tạo ra lợi nhuận cho một nhóm nhỏ ở trên đỉnh.
Và đòn cuối cùng, cũng là đòn tàn độc nhất, chính là việc chuyển các nhà máy đi nơi khác, hay còn gọi là "offshoring". Đây không chỉ đơn thuần là việc tìm kiếm lao động giá rẻ.
Đó là một chiến lược có chủ đích nhằm thoát khỏi toàn bộ khế ước xã hội đã được xây dựng ở Mỹ từ sau chính sách New Deal: thoát khỏi các công đoàn mạnh, thoát khỏi mức lương tối thiểu, thoát khỏi các quy định về an toàn lao động và bảo vệ môi trường.
Bằng cách chuyển sản xuất sang Trung Quốc (đặc biệt sau khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001), Mexico, Bangladesh hay Việt Nam, các tập đoàn Mỹ đã tạo ra một cuộc "chạy đua xuống đáy" (race to the bottom).
Chúng có thể ung dung bóc lột lao động giá rẻ, xả thải ô nhiễm mà không bị trừng phạt, và dùng chính mối đe dọa "chúng tôi sẽ dời nhà máy" để ép người lao động còn lại ở Mỹ phải chấp nhận mức lương và phúc lợi thấp hơn
Tất cả những con domino này – sự tập trung quyền lực doanh nghiệp, sự suy yếu của người lao động, và sự rỗng ruột của nền sản xuất trong nước – đã tạo ra một nền kinh tế mất cân bằng trầm trọng. Nó tạo ra một tầng lớp tài chính phình to một cách dị dạng, những kẻ kiếm tiền từ việc di chuyển vốn và các giao dịch giấy tờ thay vì tạo ra giá trị thực. Và khi ngành sản xuất thực đã trống rỗng, ngành tài chính cần tìm những "sản phẩm" mới để mua bán.
Cơn sốt cho vay bừa bãi và việc chứng khoán hóa các khoản nợ độc hại CDO/CLO chính là sản phẩm tất yếu của hệ thống này.
Vì vậy, cuộc khủng hoảng 2008 không phải là một tai nạn.
Nó là kết quả logic của một dự án kéo dài 30 năm, bắt đầu từ những ý tưởng trong phòng hội thảo của Hayek và Friedman, được thử nghiệm trong phòng thí nghiệm đẫm máu ở Chile, và cuối cùng được các thế lực ở Wall Street và D.C. thực thi một cách tàn nhẫn trên chính quê hương của mình.
Chúng nó đã, đang và sẽ tiếp tục xây dựng một sòng bạc, và khi sòng bạc đó sụp đổ, chúng nó bắt những người chưa bao giờ được vào chơi phải trả tiền để dọn dẹp.
Còn "giải pháp"?
Nằm mơ đi, nó giống như , mày đang hỏi bác sĩ của một bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối:
"Làm sao để bệnh nhân vừa tiếp tục hút 4 gói thuốc một ngày, vừa uống rượu, mà vẫn khỏe mạnh?".
Đó là một câu hỏi vô lý. Chúng thừa nhận rằng căn bệnh đã ở giai đoạn cuối là thừa nhận sự bất lực của chính mình.
Với tư cách là những người quản lý hệ thống, chúng nó không bao giờ có thể nói: "Hết thuốc chữa rồi".
Chúng nó phải liên tục đề xuất các "phác đồ điều trị" mới (như Dodd-Frank) để chứng tỏ rằng chúng nó vẫn đang kiểm soát tình hình và để giữ cho công chúng (bệnh nhân) không hoảng loạn.
Mỗi "giải pháp" là một cơ hội kinh doanh mới.
Các quy định phức tạp hơn tạo ra việc làm cho hàng nghìn luật sư và nhà tư vấn.
Các sản phẩm phái sinh mới được tạo ra với cái mác là để "quản lý rủi ro tốt hơn". Chúng nó không chữa bệnh, chúng nó chỉ bán thêm thuốc.
Một liều thuốc thật sự cho căn bệnh ung thư này sẽ là một cuộc phẫu thuật cực kỳ đau đớn và tàn bạo, một thứ mà không một chính trị gia hay chủ ngân hàng nào dám thực hiện:
Phẫu thuật triệt để: Cầm dao mổ và cắt bỏ khối u "Too Big to Fail" – tức là chia nhỏ các ngân hàng khổng lồ, tái lập hoàn toàn Glass-Steagall.
Hóa trị liều cao: Chấp nhận một cuộc suy thoái sâu và đau đớn để thanh lọc toàn bộ nợ xấu ra khỏi hệ thống, để cho các công ty zombie chết, thay vì cứ bơm thuốc giảm đau (tiền rẻ của FED) vào để nuôi khối u di căn.
Tại sao chúng nó không làm? Vì liều thuốc đó sẽ giết chết chính chúng nó trước tiên.
Nó sẽ xóa sổ hàng nghìn tỷ đô la tài sản giấy của giới tinh hoa, những người bạn, những nhà tài trợ, và chính bản thân chúng nó.
Vậy cái "giải pháp" thực sự là gì?
Bọn kỹ trị khi đọc bài tao và đòi giải pháp thực chất là một cái bẫy nguỵ biện, ngụ ý rằng nếu tao không thể đưa ra một kế hoạch hoàn hảo để chữa bệnh, thì mày không có quyền chẩn đoán.
Đó là một sự dối trá.
Tao không cần đưa ra giải pháp mà làm công việc quan trọn hơn mà tụi nó đéo dám làm: chẩn đoán chính xác căn bệnh - đó là bước đầu tiên để chữa bất kỳ căn bệnh nào, là phải gọi đúng tên của nó.
Tao đã gióng hồi chuông cảnh báo cho mày để chạy và giảm thiểu thiệt hại còn việc chữa trị, nó đòi hỏi một sự thay đổi về hệ thống và ý chí chính trị mà hiện nay còn đéo tồn tại.
Vậy giờ mày thấy hết bàn cờ rồi làm gì?
Tự đi mà suy nghĩ.
Bocchi981
Nguồn
Goldman Sachs and the 2008 Financial Crisis: A Case Study - Flexible Academy of Finance, Flexible Academy of Finance , https://academyflex.com/goldman-sachs-and-the-2008-financial-crisis-a-case-study/
Bankers knew the risks they were taking before the 2008 crisis, Imperial Business School, https://www.imperial.ac.uk/business-school/ib-knowledge/finance/bankers-knew-the-risks-they-were-taking-the-2008-crisis/
Hedge Funds Since the Financial Crisis: From Boom to Bust, Investopedia, https://www.investopedia.com/investing/hedge-funds-financial-crisis-boom-bust/
Federal Reserve Policy and the Housing Bubble , Cato Institute, https://www.cato.org/sites/cato.org/files/serials/files/cato-journal/2009/1/cj29n1-9.pdf
The Great Recession and Its Aftermath , Federal Reserve History, https://www.federalreservehistory.org/essays/great-recession-and-its-aftermath
U.S. Government Intervenes in Economy to Halt Financial Crisis, EBSCO, https://www.ebsco.com/research-starters/politics-and-government/us-government-intervenes-economy-halt-financial-crisis
THE CREDIT‐RATING AGENCIES AND THE SUBPRIME DEBACLE, Taylor and Francis, https://www.tandfonline.com/doi/pdf/10.1080/08913810902974964
The Credit Rating Crisis , NBER, http://nber.org/reporter/2010number1/credit-rating-crisis
The Subprime Mortgage Crisis - Causes and Lessons Learned: Module 4 of 5 - YouTube,
Inside Job (2010), documentary film by Charles Ferguson,
Understanding the Subprime Mortgage Crisis , Federal Reserve Bank of St. Louis, https://www.stlouisfed.org/-/media/project/frbstl/stlouisfed/files/pdfs/banking/spa_2007_05.pdf
Financial crisis was 'avoidable', concludes US government inquiry , The Guardian, https://www.theguardian.com/business/2011/jan/27/financial-crisis-inquiry-commission-report-findings
Analysis of the Financial Crisis Inquiry Report; Rogelio Ladrón de Guevara, https://www.researchgate.net/publication/263653809_Analysis_of_the_Financial_Crisis_Inquiry_Report_with_Rogelio_Ladron_de_Guevara
Setting a dangerous precedent , New Economics Foundation , https://neweconomics.org/2019/03/deregulation-and-finance
Deregulation of financial institutions , EBSCO Research Starters, https://www.ebsco.com/research-starters/politics-and-government/deregulation-financial-institutions
Federal Reserve History. (n.d.). Banking Act of 1933 (Glass-Steagall) , https://www.federalreservehistory.org/essays/glass-steagall-act
Reaganomics: Definition, Policies, and Impact , Investopedia. (2023) , https://www.investopedia.com/terms/r/reaganomics.asp#:~:text=Reaganomics%20refers%20to%20the%20economic%20policies%20instituted%20by%20President%20Ronald,theory%20and%20supply%2Dside%20economics.
Graph: How the Financial Sector Consumed America's Economic Growth , The Century Foundation. (2013) , https://tcf.org/content/commentary/graph-how-the-financial-sector-consumed-americas-economic-growth/
Creation of the Bretton Woods System, Federal Reserve, https://www.federalreservehistory.org/essays/bretton-woods-created
The Bretton Woods System, World Gold Council, https://www.gold.org/history-gold/bretton-woods-system
Enter Finance - The 1970s, Brookings, https://www.brookings.edu/wp-content/uploads/2018/06/9780815736745_ch1.pdf
War and the Oil Price Cycle, Columbia University , https://web.archive.org/web/20190410113331/https://jia.sipa.columbia.edu/war-oil-price-cycle/
An Analysis of the US Petrodollar, NATO Association of Canada. (2014) , https://natoassociation.ca/an-analysis-of-the-us-petrodollar/
Hayek: a life, 1899–1950, Taylor & Francis, https://www.tandfonline.com/doi/full/10.1080/09672567.2023.2181130
Milton Friedman's economic theory in the age of platform capitalism and AI, PBS, https://ojs.studiespublicacoes.com.br/ojs/index.php/sssr/article/view/16523
Hayek in Context of Austrian School of Economics, Liberty.eu, https://4liberty.eu/hayek-in-context-of-austrian-school-of-economics/
Hayek’s Road to Serfdom at 80: what critics get wrong about the Austrian economist, The Conservation, https://theconversation.com/hayeks-road-to-serfdom-at-80-what-critics-get-wrong-about-the-austrian-economist-225489
Why Has FA Hayek Rather Than Milton Friedman Been Resurgent Since the Great Recession? , AEI, https://www.aei.org/pethokoukis/why-has-fa-hayek-rather-than-milton-friedman-been-resurgent-since-the-great-recession/
From Friedman and Hayek to Greenspan passing through the duo World Bank-IMF: Neo-liberal dogmas, CADTM , https://www.cadtm.org/From-Friedman-and-Hayek-to
The Mont Pelerin Society (MPS), DeSmog, https://www.desmog.com/mont-pelerin-society/
Free To Choose 1980, Vol. 4: From Cradle to Grave, Curiosity , https://www.curiosityu.com/videos/free-to-choose-1980-vol-4-from-cradle-to-grave/
The Austrian Theory of Business Cycles: Old Lessons for Modern Economic Policy? , S. E Oppers, https://www.elibrary.imf.org/view/journals/001/2002/002/article-A001-en.xml
The Market's People, Sören Brandes (PhD Project), https://www.mpib-berlin.mpg.de/research/research-centers/history-of-emotions/economy-and-labour/the-markets-people
The Dream of the Mont Pelerin Society, Mises Institute, https://mises.org/mises-daily/dream-mont-pelerin-society
What were some criticisms of the New Deal and were they justified?, eNotes by Phillip Holland, https://www.enotes.com/topics/new-deal/questions/what-were-some-of-the-criticisms-of-the-new-deal-2364840
Petrodollar Financialization, the State and Fictive Production, in FOCAALBlog , Sandy Smith-Nonini , https://www.researchgate.net/publication/273003512_Petrodollar_Financialization_the_State_and_Fictive_Production_in_FOCAALBlog
Allocation of Petrodollar Surpluses , Georgetown University , https://faculty.georgetown.edu/imo3/petrod/petro2.htm
How the ‘Nixon Shock’ Remade the World Economy, Yale Insights, https://insights.som.yale.edu/insights/how-the-nixon-shock-remade-the-world-economy
The Great Inflation, Federal Reserve History, https://www.federalreservehistory.org/essays/great-inflation
Garn–St. Germain Depository Institutions Act, MM&C, https://www.millermillercanby.com/the-garn-st-germain-act-what-you-should-know-if-you-own-property-subject-to-a-mortgage/
The Savings and Loan Crisis, University of Michigan (2014), http://ndl.ethernet.edu.et/bitstream/123456789/27370/1/111.pdf.pdf
Bank Regulation and Securitization: How the Law Improved Transmission Lines between Real Estate and Banking Crises, Havard Law School forum, https://corpgov.law.harvard.edu/2017/02/03/bank-regulation-and-securitization-how-the-law-improved-transmission-lines-between-real-estate-and-banking-crises/
Current Legal Issues Affecting Central Banks, Volume IV - Chapter 24 Securitization: Has It Matured?, IMF e Library, https://www.elibrary.imf.org/display/book/9781557755032/ch044.xml
Chairman Cox Announces End of Consolidated Supervised Entities Program, U.S SEC, https://www.sec.gov/news/press/2008/2008-230.htm
After Pushing the Wall Street Scheme to Repeal Glass-Steagall, the New York Times Returns to Puff Pieces on Rodge Cohen and Jamie Dimon, Pam Martens and Russ Martens, https://wallstreetonparade.com/2023/04/after-pushing-the-wall-street-scheme-to-repeal-glass-steagall-the-new-york-times-returns-to-puff-pieces-on-rodge-cohen-and-jamie-dimon/
How the New York Times Hides the Truth About Wall Street’s Catastrophic Misdeeds, Pam Martens: July 2, 2012, https://wallstreetonparade.com/how-the-new-york-times-hides-the-truth-about-wall-streets-catastrophic-misdeeds/
10-Year Anniversary of the Bill That Led to the Current Economic Crisis, ALL Gov, http://www.allgov.com/news/top-stories/10-year-anniversary-of-the-bill-that-led-to-the-current-economic-crisis?news=839863
Commodity Futures Modernization Act (CFMA) Overview, Investopedia, https://www.investopedia.com/terms/c/cfma.asp
Why re-regulating derivatives can prevent another disaster, Harvard Law School Forum on Corporate Governance & Financial Regulation, https://corpgov.law.harvard.edu/2009/07/21/how-deregulating-derivatives-led-to-disaster/
ABS, MBS and CDO compared: an empirical analysis, MPRA , https://mpra.ub.uni-muenchen.de/10381/2/MPRA_paper_10381.pdf
FSB publishes assessment of shadow banking activities, risks and the adequacy of policy tools , Finacial Stability Board, https://www.fsb.org/2017/07/fsb-publishes-assessment-of-shadow-banking-activities-risks-and-the-adequacy-of-policy-tools/
The Redistributive Effects of Financial Deregulation, IMF Working Paper, https://www.imf.org/external/pubs/ft/wp/2013/wp13247.pdf
NYT Editorial Board Is Pounding the Wrong Table Again on Bank Reform, Wall Street on Parade, https://wallstreetonparade.com/2017/09/nyt-editorial-board-is-pounding-the-wrong-table-again-on-bank-reform/
What is Mortgage Securitization? , Atlas Law Center, https://www.atlaslawcenter.com/is-this-you/what-is-mortgage-securitization/
What Happened to AIG? Did It Get a Bailout?, Hermiston Herald, https://hermistonherald.com/2023/07/28/what-happened-to-aig-did-it-get-a-bailout/
Falling Giant: A Case Study of AIG, Investopedia, https://www.investopedia.com/articles/economics/09/american-investment-group-aig-bailout.asp
A SECOND CHANCE AT LEGAL CERTAINTY:AIG COLLAPSE PROVIDES IMPETUS TO REGULATE CREDIT DEFAULT SWAPS, JAMES C. DUPONT, https://administrativelawreview.org/wp-content/uploads/sites/2/2014/04/A-Second-Chance-at-Legal-Certainty-AIG-Collapse-Provides-Impetus-to-Regulate-Credit-Default-Swaps.pdf
Federal Reserve Interest Rate Changes: 2001-2009, Congressional Reseach Service, https://www.congress.gov/crs_external_products/RS/PDF/98-856/98-856.41.pdf
The Great Recession and Its Aftermath, Federal Reserve History , https://www.federalreservehistory.org/essays/great-recession-and-its-aftermath
The housing bubble and the financial crisis, Dean Baker - Center for Economic and Policy Research (2008) , https://www.files.ethz.ch/isn/57117/Housing_Bubble_0508.pdf
What was a NINJA loan?, tutor2u , https://www.tutor2u.net/economics/reference/what-was-a-ninja-loan
The Subprime Mortgage Crisis: Underwriting
Standards, Loan Modifications and Securitization,
Laurence Wilse-Samson , https://www.columbia.edu/~lhw2110/Subprime_survey_Samson.pdf
Private subprime mortgages challenged FHA during 2000s housing boom, Federal Reserve Bank of Dallas, https://www.dallasfed.org/research/economics/2021/0511
The finacial Crisis: Inquiry Report, Govinfo.info, https://www.govinfo.gov/content/pkg/GPO-FCIC/pdf/GPO-FCIC.pdf
Troubled Asset Relief Program (TARP), U.S Department of the Treasury , https://home.treasury.gov/data/troubled-asset-relief-program
Troubled Asset Relief Program (TARP), What It Was, How It Worked, Investopedia, https://www.investopedia.com/terms/t/troubled-asset-relief-program-tarp.asp
The Impact of TARP on Financial Stability, PIIE, https://www.piie.com/commentary/testimonies/impact-tarp-financial-stability
TARP and Too Big to Fail: A Critical Analysis, Faster Capital, https://fastercapital.com/content/TARP-and-Too-Big-to-Fail--A-Critical-Analysis.html
What is a CLO? , Barings, https://www.barings.com/en-ch/qualified-investor/perspectives/viewpoints/what-is-a-clo
Understanding Collateralized Loan Obligations, https://www.guggenheiminvestments.com/GuggenheimInvestments/media/PDF/Understanding-Collateralized-Loan-Obligations-2023.pdf
Leveraged Loans and CLOs Good Practices for Consideration, IOSCO, https://www.iosco.org/library/pubdocs/pdf/IOSCOPD766.pdf
Structured finance then and now: a comparison of CDOs and CLOs, https://www.bis.org/publ/qtrpdf/r_qt1909w.htm
Europe’s first collateralised loan ETF listing overcomes concerns, Finacial Times, https://www.ft.com/content/c6276488-9312-4ec1-b421-70f472889d59
What is a Leveraged Buyout and How Does Debt Financing Help an Acquisition?, Keene Advisors, https://www.keeneadvisors.com/news-and-insights/leveraged-buyout-lbo-debt-financing
10 Top Private Equity Firms by Total Equity, Investopedia, https://www.investopedia.com/articles/markets/011116/worlds-top-10-private-equity-firms-apo-bx.asp
Top 30 Largest US CLO Managers by Assets Under Management Revealed (Updated), CLO Research , https://clopremium.co.uk/top-30-largest-us-clo-managers-by-aum-revealed/
EU CLO credit ratings – risk of conflicts of interests
relating to methodology changes, EMSA , https://www.esma.europa.eu/sites/default/files/2023-12/ESMA80-189-33520_Final_report_on_CLO_methodologies.pdf
The Case for Collateralized Loan Obligations for Global Insurers, PineBridge, https://www.pinebridge.com/en/insights/the-case-for-collateralized-loan-obligations-for-global-insurers
The Use of Credit Default Swaps in the Insurance Industry:
Evidence from U.S. Life and Property-Casualty Insurance Companies, https://citeseerx.ist.psu.edu/document?repid=rep1&type=pdf&doi=b2b6d55187fd6c9cbbbf19029a8299f4ea87d165
P/s
Nói chung là tao biết cái lũ kỹ trị-tài chính sẽ dùng 5 ngón đòn sau đây để tấn công vào lập luận của mình nên đấm trước cho tụi mày khỏi xài.
"Bài viết của anh rất công phu, nhưng nó mắc phải một lỗi kinh điển: nó nhìn thấy một kế hoạch tổng thể ở nơi chỉ có sự hỗn loạn. Anh đã kết nối những sự kiện và tư tưởng cách nhau 80 năm – từ Hayek ở Vienna, đến Nixon, rồi Reagan, Clinton, và cuối cùng là thị trường CLO ngày nay – và gói gọn chúng thành một âm mưu duy nhất, một kịch bản đã được viết sẵn.
Thực tế thì phức tạp hơn nhiều. Đây không phải là một ván cờ được sắp đặt, mà là hàng triệu quyết định riêng lẻ được đưa ra bởi những cá nhân hành động vì lợi ích ngắn hạn của họ trong những bối cảnh khác nhau. Gán cho tất cả là di sản của Friedman là một sự đơn giản hóa quá mức. Nói cách khác, anh đang biến một vụ tai nạn liên hoàn do hàng nghìn tài xế say xỉn và đường sá tồi tệ gây ra thành một vụ khủng bố có tổ chức.
Lập luận của anh rất hấp dẫn, nhưng nó mang màu sắc của chủ nghĩa âm mưu hơn là phân tích kinh tế tỉnh táo."
Chúng nó có thể nói khác đi một tý nhưng lập luận này chủ yếu xoay quanh việc gán mác "thuyết âm mưu" để hạ bệ uy tín của tao ngay từ đầu, một dạng đòn tấn công vào cá nhân (ad hominem) chứ không phải vào lập luận. Nó khiến những người nghe ôn hòa cảm thấy tao là một kẻ cực đoan.
Ở lập luận thằng nói ra cố tình đánh tráo hai khái niệm: : âm mưu có chủ đích (conspiracy) và sự hội tụ về ý thức hệ (ideological convergence).
Tao không nói rằng Hayek, Phil Gramm và Sandy Weill ngồi trong một căn phòng bí mật để vẽ ra một kế hoạch 80 năm mà là những con người này dù ở những thời điểm khác nhau, đều hành động dựa trên cùng một hệ điều hành tư duy Neoliberalism (chủ nghĩa tân tự do) và cùng một động lực (lợi ích cá nhân và giai cấp).
Một bầy sói không cần phải họp để cùng nhau đi săn một con nai. Chúng hành động theo bản năng và logic chung.
Đây là logic của hệ thống, không phải âm mưu.
"Anh ca ngợi thời kỳ Glass-Steagall là một kỷ nguyên vàng son của sự ổn định, nhưng lại cố tình bỏ qua lý do tại sao nó kết thúc. Anh có quên cuộc khủng hoảng lạm phát đình trệ (stagflation) tàn khốc của những năm 1970 không? Chính cái hệ thống Keynesian được quản lý chặt chẽ đó đã thất bại, dẫn đến việc người ta phải tìm kiếm một giải pháp khác, đó là phi điều tiết.
Anh cũng chỉ trích Garn-St. Germain vì đã tháo xích cho ngành S&L, nhưng lại không nói rõ rằng chính cái mô hình S&L được quản lý chặt chẽ trước đó cũng đã tự sụp đổ dưới áp lực lãi suất. Anh chỉ chọn những dữ kiện phù hợp với câu chuyện của mình và bỏ qua những dữ kiện gây bất tiện. Một phân tích nghiêm túc phải nhìn vào cả hai mặt của vấn đề."
Bọn nó xài chiêu này để tạo ra ảo ảnh rằng tao là một kẻ phiến diện, không trung thực, cố tình giấu đi những sự thật bất lợi và dùng chiến thuật "whataboutism" (thế còn... thì sao?) để làm chệch hướng cuộc tranh luận.
Việc mô hình Keynesian gặp rắc rối vào những năm 70 là sự thật, nhưng nó không hề phủ nhận sự thật rằng mô hình tân tự do thay thế nó cũng đã thất bại một cách thảm hại.
Nó giống như việc chê một người chỉ trích thuốc độc A vì đã không nói thêm về tác hại của thuốc độc B.
Việc thừa nhận thuốc B độc không làm cho thuốc A bớt độc đi. Lập luận này không phản biện luận điểm của tao, nó chỉ cố gắng làm loãng nó bằng cách kéo thêm những vấn đề khác vào.
"Anh mô tả các công cụ tài chính như MBS và CLO như những con quái vật thuần túy. Nhưng anh đã bỏ qua mặt tích cực của chúng. Chính nhờ có chứng khoán hóa (securitization), hàng triệu người Mỹ mới có thể tiếp cận các khoản vay mua nhà và mua xe với lãi suất thấp hơn. Nó đã giúp phân tán rủi ro ra khỏi một vài ngân hàng và chia sẻ nó ra toàn hệ thống, làm cho tín dụng trở nên sẵn có hơn.
Đúng, nó đã bị lạm dụng một cách khủng khiếp, nhưng lên án toàn bộ sự đổi mới tài chính chỉ vì những thất bại của nó cũng giống như đòi cấm xe hơi chỉ vì có tai nạn giao thông. Bài viết của anh mang nặng tư tưởng hoài cổ mà thiếu đi cái nhìn cân bằng về vai trò của đổi mới trong việc hiện đại hóa thị trường vốn."
Tụi nó muốn vẽ tao thành một kẻ chống lại sự tiến bộ như gã luddite lãng mạn, muốn quay về quá khứ bằng cách dùng những mỹ từ như 'đổi mới', 'hiện đại hoá' để bao biện cho những công cụ đã gây ra thảm hoạ.
Vậy sự thật là gì? Tao không lại cái gọi là "đổi mới", tao chỉ chửi cái hình thức "đổi mới" cụ thể đã được chứng minh là độc hại.
Việc lên án một chiếc xe được thiết kế với phanh lỗi không có nghĩa là mày muốn quay trở lại thời đi xe ngựa.
Lập luận này tạo ra một sự lựa chọn sai lầm (false dichotomy): hoặc là chấp nhận mọi thứ của hệ thống hiện tại, hoặc là quay về quá khứ.
Nó cố tình né tránh khả năng thứ ba: chúng ta có thể và phải tạo ra một hình thức đổi mới tài chính khác, an toàn và phục vụ xã hội tốt hơn.
"Anh vẽ ra một sự tương đồng trực tiếp giữa CDO năm 2008 và CLO ngày nay và kết luận rằng một cuộc khủng hoảng tương tự là không thể tránh khỏi. Đây là một sự so sánh có phần hời hợt. Anh đã không phân tích đủ sâu sự khác biệt về cấu trúc, về tài sản cơ sở (nợ doanh nghiệp có tài sản đảm bảo so với nợ mua nhà dưới chuẩn không có gì đảm bảo), và về cơ chế quản lý rủi ro đã được cải thiện.
Việc nói rằng CLO chỉ là 'cùng một đống cứt, khác cái tên' cho thấy một sự nóng vội trong kết luận, nó thiên về cảm tính hơn là một phân tích kỹ thuật dựa trên dữ liệu. Mặc dù rủi ro là có thật, nhưng việc tuyên bố nó sẽ lặp lại y hệt kịch bản 2008 là một bước nhảy vọt về logic mà một nhà phân tích chuyên nghiệp sẽ không bao giờ làm."
Bọn này sẽ dùng những jargon kỹ thuật và độ phức tạp để doạ nạt và khẳng định tao chỉ là kẻ ngoại đạo không đủ trình độ để bàn luận và tạo ra một hàng rào "trí tuệ" để bảo vệ cái sân nhà của tụi nó.
Đây là đòn "lấy cây che rừng". Lũ kỹ trị này cố tình sa đà vào những khác biệt kỹ thuật nhỏ nhặt giữa CLO và CDO (ví dụ: tài sản cơ sở, cơ chế quản lý...) để làm người nghe quên đi cái logic hệ thống tương đồng đến đáng sợ giữa chúng: cả hai đều là cỗ máy để biến nợ rủi ro thành tài sản được cho là an toàn, cả hai đều dựa vào xếp hạng tín nhiệm có xung đột lợi ích, và cả hai đều tạo ra rủi ro đạo đức khổng lồ.
Tao đang nói đến cấu trúc của cả quả bom còn tụi nó thì tranh luận màu sắc của kíp nổ.
Sau 23,000 từ vạch tội và chỉ trích, giải pháp của anh là gì? Quay trở lại Glass-Steagall? Điều đó có khả thi trong một thế giới tài chính toàn cầu hóa và kết nối như hiện nay không? Cấm toàn bộ thị trường phái sinh? Điều đó sẽ tước đi những công cụ phòng hộ rủi ro thiết yếu của nền kinh tế.
Bài viết của anh là một bản cáo trạng xuất sắc, nhưng nó lại thiếu chương cuối cùng và quan trọng nhất: đề xuất chính sách. Việc chỉ ra vấn đề thì dễ, nhưng đưa ra một giải pháp khả thi, cân bằng được giữa sự ổn định và tăng trưởng, mới là điều khó. Vì thiếu đi phần này, bài viết của anh, dù rất mạnh mẽ, cuối cùng cũng chỉ dừng lại ở mức độ của một bài bình luận mang tính phá bỏ, chứ chưa phải là một công trình mang tính xây dựng."
Đây là đòn tấn công cuối cùng và xảo quyệt nhất. Nó dịch chuyển gánh nặng chứng minh. Nó nói rằng nếu tao không thể đưa ra một kế hoạch hoàn hảo để xây dựng lại cả thế giới, thì mày không có quyền chỉ trích thế giới hiện tại.
Đây là một đòi hỏi phi lý và độc tài.
Một người không cần phải là đầu bếp 5 sao để biết món súp bị khét. Tao cũng không cần trở thành kiến trúc sư để biết một toà nhà sắp sập.
Vai trò của nhà phê phán, nhà báo, nhà nghiên cứu độc lập là chẩn đoán căn bệnh. Việc kê đơn thuốc là trách nhiệm của cả một xã hội, đặc biệt là của chính những nhà hoạch định chính sách đang được trả lương để làm việc đó.
Bắt người chẩn đoán bệnh phải tự mình thực hiện luôn ca phẫu thuật là một cách để bịt miệng tất cả những lời cảnh báo.
5 đòn tấn công của lũ kỹ trị bọn mày tao đều đã đòn trước và vô hiệu hoá bằng cách bóc tách vấn đề ra thì chỉ thấy chúng nó rỗng tếch, không phải lập luận học thuật mà chỉ là những đòn tâm lý chiến để bảo vệ trật tự quyền lực.
Chúng mày trong mắt tao chẳng khác gì những thằng hoàng đế ngu xuẩn trần truồng mà cứ nghĩ mình đang chiếc áo đẹp nhất.
Một lũ ngu xuẩn. Đần độn. Kiêu căng. Ngạo mạn. Nhưng lại mặc chiếc áo vest để đổi áo thầy tu và tiếp tục rao giảng về một vị chúa trời mang hình hài phố Wall.
Rất thắc mắc bocchi981 làm công việc gì để sống hàng ngày? Cảm ơn bocchi981 nhiều!
Bài này hay quá ad ơi, em tặng ad một re-sub nha :)) Hôm nào ad viết thêm một bài về việc Vinhomes & Vingroup nếu sụp đổ thì chuyện gì sẽ xảy ra? Bên cạnh đó thì chắc kèo fed sẽ giảm lãi suất, như vậy Vingroup được hưởng lợi trực tiếp từ việc này, nếu nền kinh tế trong vài năm tới tập trung dành toàn bộ nguồn lực để làm đường sắt cao tốc và giao cho Vinspeed làm thì nó ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế thế nào? Đại hội 14 của Đảng sang năm, ad có thể dự đoán ai sẽ là người tiếp theo lên nắm quyền Tổng Bí thư + Chủ tịch nước được ko ạ, và việc này nó ảnh hưởng ntn đến Vingroup & hệ thống chính trị của VN trong tương lai? Em cám ơn ad nha 🥰