Bi kịch tân thế giới
Lịch sử luôn lặp lại, lần đầu là bi kịch, lần thứ hai là trò hề
P1: Tân thế giới
Ba chiếc tàu Santa Maria, Pinta và Niña trôi dạt trên biển hàng tháng trời chở theo 90 gã đàn ông lênh đênh giữa đại dương mênh mông không biết ngày về, chiếc tàu đáng lẽ phải là nhà, là nơi trú ẩn an toàn nhất giữa biển cả giờ chẳng khác nào những cỗ quan tài trôi nổi chờ ngày đắm chìm vào bụng cá.
Điều kiện sống trên tàu tởm lợm đến mức không thể sử dụng lời lẽ hoa bướm mỹ miều của các đĩ bút: Không có nhà vệ sinh, không có khăn chùi đít để “hành sự”, thế nên mọi cái vị nhân sinh nhất sau khi ăn đều được thải trực tiếp xuống biển hoặc…ngay trên sàn nếu như có bão lớn ập tới.
Cái mùi của cứt, nước tiểu, nước biển rò rỉ trộn với máu của động vật bị giết thịt trên tàu, xác chuột chết; mùi nôn mửa, hơi hám trên hàng chục gã đàn ông hàng tháng trời không tắm, tạo thành "nước lườn" (bilge water) đặc quánh. Nó không chỉ làm buồn nôn, nó thực sự là độc dược có thể làm mờ mắt hoặc gây ngất xỉu nếu hít phải quá lâu, đến mức tưởng chừng như phòng hơi ngạt vẫn còn tử tế chán.
90 thằng đàn ông trên đó ngủ vạ vật trên sàn gỗ cứng, ẩm ướt, nhớp nháp, chen chúc nhau giữa đám chuột và gián. Không có phòng riêng, không có nệm êm, chỉ có tiếng gỗ cọt kẹt và mùi hôi thối xộc thẳng vào mũi mỗi khi hít thở. Giấc ngủ chập chờn trong lo âu chính là thứ bào mòn thần kinh nhanh hơn cả cái đói.
Mỗi ngày họ phải gặm thứ Bánh quy (hardtack) cứng như đá, nhưng sau vài tuần thì nó mềm ra vì...bị mọt và giòi đục khoét bên trong. Thủy thủ đoàn phải ăn trong bóng tối để đỡ phải nhìn thấy mấy con giòi bò lổm ngổm trên miếng bánh đang đưa vào mồm. Nước ngọt thì trữ trong thùng gỗ sồi, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, nó chuyển sang màu xanh lè, nhớt nhèo và bốc mùi thủ phạm. Uống thứ đó vào không chết vì khát thì cũng chết vì kiết lỵ.
Bệnh hoại huyết (Scurvy) do thiếu vitamin C làm cho nước răng sưng vù lên, đen sì, răng rụng lả tả, các vết thương cũ toác miệng ra làm máu chạy ròng ròng khiến nhiều thằng phát điên vì ảo giác.
Columbus lúc này đứng nồi không yên vì bọn thủy thủ đoàn đang lăm le cắt cổ mình, vứt xuống biển làm mồi cho cá để đòi quay tàu về nhà. Mọi sai lầm của chuyến đi đều bắt đầu từ một sai sót mà ít ai nghĩ gây ra tai hại lớn như vậy: tính toán sai bài toán.
Ông ta vì muốn nữ hoàng Isabella rót tiền cho mình thực hiện chuyến đi nên đã cố tình “bùa chú sổ sách” . Columbus dựa vào tính toán của một nhà thiên văn học Hồi giáo thế kỷ thứ 9 tên là Alfraganus rằng một độ kinh tuyến ở xích đạo dài khoảng 56,6 dặm nhưng lại đổi từ “dặm Ả Rập” (Arabic mile - khoảng 1.830m đến 1.900m) sang “dặm La Mã/Ý” (Roman mile - ngắn hơn, chỉ khoảng 1.480m). Việc cố tình phạm sai lầm trong chuyển đổi đơn vị đã làm trái đất “teo nhỏ” lại khoảng 25% so với thực tế. Cộng thêm việc Columbus tin vào bản đồ của Toscanelli và huyền thoại chém gió của Marco Polo rằng châu Á trải dài mênh mông về phía Đông, hắn đã xóa sổ hoàn toàn sự tồn tại của Thái Bình Dương và tin sái cổ rằng Nhật Bản (Cipangu) nằm ngay chỗ... quần đảo Virgin (Caribbe) bây giờ.
Sau khi nghe ông ta trình bày kế hoạch đi về phía tây, Hoàng gia Tây Ban Nha đã lập ra Hội đồng thẩm định (The Talavera Commission), toàn là các tu sĩ, học giả đầu ngành của Đại học Salamanca. Họ bảo rằng:
“Trái đất hình cầu (họ biết thừa nó tròn, không ai nghĩ nó phẳng cả), nhưng chu vi của nó khoảng 40.000 km (theo tính toán của Eratosthenes từ cổ đại). Nếu đi về phía Tây, quãng đường đến Ấn Độ là quá xa, không tàu nào chở đủ nước và thức ăn. Mày đi là chết.”
Columbus vẫn cứ khăng khăng cãi lại từ Tây Ban Nha đến Nhật Bản chỉ 3.700km trong khi thực tế gấp 5 lần con số đó. Nữ hoàng Isabella và Vua Ferdinand II mặc dù không tin lắm nhưng cứ đánh liều xem sao, vì chi phí 2 triệu maravedís cho Columbus chỉ bằng 1/12 số tiền chuộc để người hồi giáo Moor rời khỏi Granada thuộc bán đảo Andalusia bị chinh phục từ năm 711. Có ước tính rằng tổng số tiền đầu tư cho chuyến đi 1492 chỉ bằng chi tiêu trong 3 ngày của triều đình Castile.
Columbus được ca tụng như nhà thám hiểm tài ba nhưng thực tế ngay trên boong tàu lại chỉ ra tay nghề hoa tiêu tồi trong việc ước lượng tốc độ tàu chạy. Cái cuốn sổ bí mật tưởng là đúng thực ra lại ghi con số cao vống lên so với thực tế 9-10% trong khi cuốn sổ “fake” lừa thủy thủ đoàn hóa ra lại gần với khoảng cách thật sự đã đi.
Cái kim trong bọc lâu ngày không giữ được quá lâu, đoàn hải hành đi vào vùng gió Tín phong (Trade Winds) thổi liên tục về phía Tây khiến việc quay tàu trở về là gần như bất khả thi với công nghệ buồm thời đó.
Đến ngày 10/10/1492, khi đám thủy thủ đã hết kiên nhẫn và đòi nổi loạn vì đi mãi không thấy bờ, Columbus đã phải hứa rằng nếu trong 3 ngày nữa không thấy đất liền thì sẽ quay về. Lúc đó, Columbus không phải là nhà thám hiểm nữa, mà là một con bạc đang cháy túi đặt cược nốt mạng sống của mình vào ván bài cuối cùng
May cho hắn ta (và cả lục địa già), nhưng quá xui xẻo cho dân bản địa châu Mỹ thì đúng vào cái lúc tuyệt vọng nhất thì ngày 12 tháng 10, họ nhìn thấy đất liền. Comlubus ngay lập tức nhảy lên bờ, cắm cờ Hoàng gia Tây Ban nha lên để tuyên bố chủ quyền và nghĩ rằng mình đã đến được quần đào hương liệu của Ấn Độ rồi sau đó gọi người dân bản địa là "Indios" (người Ấn), một cái nhầm lẫn tai hại chết danh đến tận bây giờ.
Sách sử thông thường cho dân đen chỉ viết đến đây nhưng lại thường quên đặt một câu hỏi quan trọng: Sống chết phải vượt cả một đại dương để làm gì?
Vì chiến công hiểm hách để tên tuổi lưu danh ngàn đời sau? Vì tiền? Vì tình yêu của chúa??
Câu trả lời ngắn gọn là đéo phải cái nào nào. Vì cái mồm.
Hương liệu
Đây chính là thứ mà cả giới quý tộc châu Âu lẫn đám thủy thủ như Columbus mạo hiểm tính mạng ở những nơi xa xôi để trở nên cực kỳ giàu có. Nó giống như thứ “ma túy hợp pháp” với lợi nhuận không phải tính bằng phần trăm (%) mà tính bằng lần (x lần).
Muốn biết vì sao thì cần phải “xuyên không” về đường phố London hay Paris của thế kỷ 15. Cực kỳ chật chội với nhà cửa san sát bằng gỗ mục dễ cháy, không hề có hệ thống xử lý rác thải làm dân cứ thế đổ bô phân, nước tiểu trực tiếp xuống lòng đường. Cứ mưa xuống là đường phố thành dòng sông Tô Lịch bốc toàn mùi cứt.
Mùa đông lạnh giá ở châu Âu là một cơn ác mộng làm cỏ không mọc lên được do đó không thể nuôi sống được đàn gia súc qua mùa đông. Thế là tới cuối mùa thu phải giết thịt hàng loạt trâu bò, lợn gà vì thế tháng 11 được gọi là "Blood Month" (Tháng Máu - tiếng Anglo-Saxon gọi là Blōtmōnað) .
Vấn đề là làm sao để giữ đống thịt đó ăn dần trong 3-4 tháng mùa đông lạnh lẽo?
Vì tủ lạnh chưa có nên phương pháp duy nhất là ướp muối mặn chết đến mức quéo cả lưỡi khiến mớ thịt cứng như đá. Hoặc hun khói, sấy khô.
Nhưng dù có làm cái gì đi chăng nữa thì cái thịt đó sau vài tuần bắt đầu biến chất (thường là tháng 2 hoặc tháng 3). Chúng không thối rữa hoàn toàn để bị vứt đi nhưng bắt đầu có cái mùi “oi” (rancid) - mùi của xác chết phân hủy nhẹ cộng với vị mặn chát của muối biển tạp chất.
Đám dân nông thôn, thành thị kể cả các bậc vua chúa giàu có nhất mỗi ngày đều phải nhai một miếng thịt bò khô cứng nhắc, mặn chát và thoang mùi chuột chết. Nghĩ đến thôi mà tao cũng đã bắt đầu nôn nao trong bụng. Thằng nào muốn thử cảm giác thì đặt mua cái Đùi heo muối Tây Ban Nha về ăn thử đi là biết.
May mắn cho tụi dân châu Âu là sự xuất hiện của các gia vị có nguồn gốc từ phương đông. Đó là tiêu, quế, hồi, nhục đậu khấu mặc dù không phải chất bảo quản thần thánh nhưng chúng chỉ có tính khánh khuẩn nhẹ nhưng công dụng chính “đánh lừa vị giác”. Một nắm hạt tiêu đen hay một chút bột quế rắc vào sẽ át đi cái mùi ôi thiu tởm lợm của miếng thịt để lâu, làm tê liệt bớt cái lưỡi đang rát bỏng vì muối, và quan trọng hơn là kích thích dạ dày tiêu hóa.
Cái khẩu phần thịt oi ăn mỗi ngày dễ gây ra đau bụng, đầy hơi nên những gia vị cay, nóng ẩm này giúp bọn nó không bị “tào tháo rượt”. Vì vậy "gia vị” hay “hương liệu” không chỉ là để ăn cho ngon mà là còn để nuốt trôi thứ thức ăn tệ hại xuống dạ dày để tiêu hóa mà không gọi “chị Huệ ơi” rồi nôn mửa hết phần vừa ăn xuống đất.
Cái mùi hôi thối không chỉ nằm trên thức ăn mà ở ngay trên người đám dân da trắng này chính vì cực kỳ lười tắm, bọn nó tin rằng nước nóng làm mở lỗ chân lông khiến dịch hạch. Tin điều này nên có những ông vua bà chúa cả đời chỉ tắm có vài lần.
Nữ hoàng Isabella của Tây Ban Nha từng tự hào nói rằng bà chỉ tắm có 2 lần: một lần khi sinh ra và một lần trước ngày cưới. Thay vì tắm, giới quý tộc dùng nước hoa và các túi thơm (pomanders) chứa đầy quế, đinh hương, long diên hương (cũng là các gia vị hiếm có) để lấn át mùi cơ thể.
Thứ mùi cơ thể tộn với quần áo len dạ ẩm mốc, mùi phân rác ngoài đường đã tạo nên thứ “hương thơm” cực kỳ đặc trưng của châu Âu thời trung cổ.
Một giáo sĩ tên là Erasmus khi đến thăm London đã viết rằng sàn nhà của các ngôi nhà Anh được phủ bằng lau sậy, nhưng lớp dưới cùng thường không được thay đổi trong 20 năm, chứa đựng “nhổ nhét, nôn mửa, nước tiểu của chó và người, bia đổ và các mảnh vụn cá không thể kể xiết”.
Chính cái môi trường bẩn thỉu đó đã nuôi dưỡng con chuột mang bọ chét gây ra cái chết đen (Dịch hạch) quét sạch 1/3 dân số châu Âu trước đó không lâu. Nhưng việc sở hữu gia vị lại cực kỳ đắt đỏ, một thứ thể hiển hiện đẳng cấp của dân chơi.
Tiền tệ của năm 1490 ở châu Âu thường là đồng Ducat vàng của Cộng hòa Venice hoặc đồng Florin của Florence. Một đồng Ducat chứa khoảng 3,5 gam vàng ròng 99%. Với giá vàng hiện tại (tao tính sơ sơ vàng đang ở đỉnh), thì một đồng xu bé tí đó trị giá khoảng 250 - 300 USD (tầm 6-7 triệu VND) tiền vật chất, nhưng sức mua thực tế của nó thời đó to hơn thế gấp hàng chục lần.
Đối với hạt tiêu đen (Black Pepper) - thứ mà dân đen nghèo bần cùng tơi cỡ nào cũng phải nhịn ăn mà mua thì một hạt nhỏ tý cũng phải qua tay cả chục tên trung gian trước khi tới tay thằng nông dân Đức ở Bayern:
Nông dân Ấn Độ hái -> Bán cho thương buôn Ả Rập (giá x2).
Thương buôn Ả Rập chở qua sa mạc/biển Đỏ -> Bán cho bọn Mamluk ở Ai Cập (giá x5).
Bọn Mamluk bán lại cho thương nhân Venice (Ý) ở Địa Trung Hải (giá x10).
Venice độc quyền chở về châu Âu -> Bán lại cho bọn quý tộc Anh, Pháp, Tây Ban Nha (giá x50 - x100).
Mỗi trạm thu phí , mỗi lần bốc dỡ là giá lại dội lên tận mây xanh. Đến khi cập cảng ở châu Âu thì giá nó rơi vào khoảng 1-2 Ducat cho một pound (khoảng 450g). Nghe 1-2 xu vàng có vẻ ít nhỉ? Nhưng mày phải biết, một thợ xây lành nghề cày bục mặt cả ngày ở công xưởng chỉ kiếm được có vài xu lẻ bằng đồng (Penny). Để mua được một hạt tiêu, một người lao động bình thường phải nhịn ăn nhịn mặc, cày cuôc liên tục trong 2 đến 3 tuần.
Nếu quy ra tiền ở thời điểm hiện tại, cứ thử tưởng tượng một lọ hạt tiêu 4 lạng có giá tầm 20 đến 30 triệu VND. Vì thế, dân đen không mua theo cân mà tính bằng đơn vị “hạt”. Nhà nào có đám cưới, mua được chục hạt tiêu về nghiền ra rắc lên thịt được gọi là sang cảnh, “đại gia” của cả làng. Có thời điểm, hạt tiêu còn được dùng để đóng thuế đất và trả tiền thuê nhà, trả lương lính đánh thuê thay cho vàng (gọi là "Peppercorn rent"). Nhưng hạt tiêu chỉ mới chỉ là hàng bình dân.
Nhục đậu khấu (Nutmeg) và Đinh hương (Cloves) mới là loại đẳng cấp của sự dân chơi. Thời bấy giờ Nhục đậu khấu (được tin rằng có thể chữa được dịch hạch) chỉ mọc duy nhất ở một hòn đảo Run nhỏ xíu ở Indonesia (thuộc quần đảo Banda), mỗi túi nhỏ chỉ có về vài quả mang về đến London, Amsterdam có giá trị bằng một con bò sữa hoặc ba con lợn béo. Thời đó, bò là tài sản sản xuất, là cái máy cày chạy bằng cỏ. Đổi một cái máy cày lấy một nắm hạt khô, mày thấy độ chơi ngông của bọn quý tộc chưa?
Nếu quy ra tiền bây giờ, một kg nhục đậu khấu thượng hạng thời đó có thể trị giá tương đương một chiếc ô tô tầm trung (khoảng 500 triệu - 1 tỷ VND). Bọn quý tộc Anh, Pháp đeo túi thơm đựng nhục đậu khấu bên người không chỉ để thơm, mà để khoe: "Tao giàu nứt đố đổ vách". Hai đế quốc thực dân Anh và Hà Lan sau này sẵn sàng đổ máu, đổi cả đảo Manhattan (New York) bây giờ chỉ để giành quyền kiểm soát cái đảo trồng nhục đậu khấu bé tẹo.
Vì nhu cầu thị trường cực kỳ cao và sự khan hiếm luôn hiện hữu nên mày thử đoán sau mỗi chiếc tàu thành công chinh phục biển cả lếch được về cố quốc nó lời đến mức nào?
Biên lợi nhuận là 6.000% (Sáu nghìn phần trăm). Không đùa đâu. Chuyến đi của Vasco da Gama (đi sau Columbus nhưng đi đúng đường sang Ấn Độ) mang về một khoang tàu đầy hương liệu. Sau khi trừ đi chi phí đóng tàu, chi phí trả lương, chi phí cho những con tàu bị chìm, và chi phí mai táng cho một nửa thủy thủ đoàn đã chết, lợi nhuận ròng vẫn gấp 60 lần vốn bỏ ra.
Mày bỏ ra 1 đồng, mày mang về 60 đồng. Trong kinh doanh hiện đại, lãi 20% là ngon, 100% là siêu lợi nhuận. Còn đây là 6.000%. Nhưng đó mới chỉ là với hạt tiêu còn nhục đậu khấu ở thời đỉnh cao (Nutmeg) của đế quốc Hà Lan độc quyền thị trường thì lãi 60.000%.
Để cho dễ hình dung, tao sẽ lấy cái ngành công nghiệp “hàng trắng” với quy mô toàn cầu từ một bánh “bột mì” (cocaine) đi từ Colombia đến mũi của một thằng nghiện ở New York. Tại các cánh đồng trong rừng sâu Colombia hoặc Peru, một nông dân (campesino) bán lá coca hoặc bột nhão sơ chế (coca paste) với giá rẻ mạt. Để ra được một kg cocaine tinh khiết (dạng cục gạch), giá thành tại lò sản xuất ở Colombia rơi vào khoảng 1.000 đến 1.500 USD.
Sau đó, nó phải đi qua “cao tốc ma túy” chuyển ra bờ biển, tống lên tàu ngầm tự chế hoặc máy bay nhỏ bay qua Venezuela hoặc Trung Mỹ để đến tay các cartel Mexico (như Sinaloa hay CJNG). Lúc này, giá đã nhảy lên khoảng 12.000 - 15.000 USD/kg vì chi phí hối lộ, bảo kê và vận chuyển.
Tiếp theo khi lọt được vào đất Mỹ, đến tay đầu nậu bán buôn ở Miami hoặc Los Angeles, giá một kg nhảy vọt lên 25.000 - 30.000 USD.
Bọn dealer lẻ không bao giờ bán hàng nguyên chất. Chúng nó Pha chế (Cutting) bằng cách trộn bột mì, baking soda, thuốc tẩy giun, hay bây giờ là fentanyl vào. Một kg hàng nguyên chất đẻ ra thành 2-3 kg hàng đường phố (street level). Chúng chia nhỏ ra bán theo gram (tép). Một gram trên đường phố Mỹ có giá khoảng 100 - 120 USD. Vậy tính ra: Từ 1 kg gốc giá 1.500 USD, sau khi pha trộn và bán lẻ, nó biến thành doanh thu khoảng 100.000 đến 150.000 USD.
Biên lợi nhuận: Khoảng 10.000% (tăng gấp 100 lần).
Tức là dù so sánh với thứ chất gây nghiện này thì với lãi 600 lần có là trùm ma túy Pablo Ebcobar cũng phải thèm khát, trừ khi buôn ra mấy loại ma túy tổng hợp mới ra lò cực hiếm như thầy Walter White thì may ra mới ăn lại độ điên của nhục đậu khấu.
Trong chuyến đi điên rồ của Magellan vòng quanh trái đất xuất phát với 5 con tàu thì:
1 con bị đào ngũ quay về.
3 con bị chìm, nát, mất tích.
Magellan bị dân bản địa ở Philippines xiên chết.
Chỉ còn duy nhất 1 con tàu tàn tạ tên là Victoria lết về được đến bến, với 18 bộ xương di động (thủy thủ) sống sót trên tổng số 270 người ban đầu.
Nhưng... trong hầm con tàu Victoria đó chứa 26 tấn đinh hương (cloves). Và mày biết không?
Tiền bán 26 tấn đinh hương đó đủ để trả chi phí cho cả 5 con tàu ban đầu, trả lương cho toàn bộ 270 thằng (kể cả thằng chết), trả nợ cho hoàng gia, mà vẫn còn lãi to.
Chỉ cần một con tàu về đích thôi là “game over”, nhà cái ăn trọn mâm.
Trùm sò trong ngành công nghiệp siêu lợi nhuận này chính là Venezia (The Republic of Venice) với vị trí án ngữ ngay cửa ngõ địa trung hải, chúng ký hợp độc độc quyền với các Sultan của triều đại Mamluk (Ai Cặp và Syria) khiến cho hàng hóa hương liệu từ Ấn Độ sang được các nhà buôn Ả Rập tập kết ở Alexandria (Ai Cặp) chỉ được cho tàu có cờ thành Venezie mới được chở hàng vào châu Âu.
Với cái kiểu bài “bóp nghẹn nguồn cung" mỗi năm chỉ cho một lượng gia vị nhất định chảy vào châu Âu giữ cho cán cân cung-cầu luôn lệch hơn để giữ giá nằm ở mức trên. Chúng giàu đến mức thành phố Venezia được dát vàng theo đúng nghĩa đen tạo nên các công trình tráng lệ trên mặt nước.
Bọn thương nhân Đức, Pháp, Anh cay Venice nổ mắt nhưng không làm gì được vì hải quân Venice quá mạnh và chúng nắm độc quyền đàm phán với người Hồi giáo. Bất cứ thằng nào định buôn lậu hay đi đường khác đều bị hải quân Venice hoặc cướp biển (được Venice bảo kê) dìm chết.
Ottoman
Bên cạnh sự độc quyền của Venice chính là đế quốc Ottoman của người Hồi giáo đã độc chiếm con đường tơ lụa kể từ khi Sultan Mehmed II của Ottoman đánh sập thành Constantinople (Istanbul ngày nay) vào năm 1453 - chấm dứt cho đế chế Đông La Mã sau hơn 1000 năm tồn tại lay lắt như cái bóng của cựu đế quốc và cũng là nhát búa đóng sập cánh cửa giao thường đường bộ.
Trước đó con đường tơ lụa đúng theo cái tên của nó đem về thứ “lụa” (silk) và đồ gốm của Trung Hoa như một hàng xa xỉ phẩm của giới quý tộc. Phần lớn vải vóc châu Âu thời thế kỷ 15 chủ yếu làm từ len (lông cừu) và lanh (gai). Nhưng thứ vải len thô, ráp, nặng trịch này mặc vào gây ngứa ngáy, gặp mưa thì hôi như chó ướt, cực kỳ lâu khô. Mùa đông mặc còn đỡ ấm chứ mùa hè mà quấn mấy lớp khác gì cực hình. Trong khi tơ lụa từ phương đông lại nhẹ, mát, mịn màng, óng ả, sờ vào sướng tê người; chỉ cần mặc cái áo lụa vào mùa hè là giải thoát khỏi cái nóng và sự ngứa ngáy của rập rệp ẩn ẩn trong ảo lên. Chỉ giới siêu giàu như chủ ngân hàng ở Venice, chủ hãng buôn, quý tộc Paris, London mới là đám được thừa hưởng cái cảm giác phê pha đó.
Vì lụa quá nhẹ và giá trị cao, nó là mặt hàng lý tưởng để vận chuyển hàng ngàn cây số qua sa mạc và núi cao.Một sấp lụa từ Trường An (Trung Quốc) phải qua tay người Ba Tư, người Ả Rập, rồi mới đến các thương nhân Ý. Mỗi lần qua một trạm, giá lại tăng vọt. Nếu đem trao đổi hàng-lấy-hàng, một chiếc áo lúa tinh xảo có thể đem lại vài chục đồng tiền bạc, đủ chi tiêu cho cả một gia đình thường dân trong nhiều tháng.
Bên cạnh tơ lụa còn có đồ gốm sứ (đặc biệt là sứ xanh trắng - Blue and White porcelain) từ Trung Hoa thời nhà Minh được coi là “Vàng trắng” (White Gold) của phương Đông. Đối với người châu Âu, nó không chỉ là đồ gia dụng, mà là một loại vật liệu “ngoài hành tinh”. Ở châu Âu khi ấy chỉ có loại gốm đất nung (pottery) thô, dày, dễ vỡ và thấm nước. Khi thấy đồ sứ, họ không hiểu tại sao nó lại có thể mỏng như vỏ trứng, trắng muốt, bóng loáng và vang tiếng như chuông khi gõ vào. Họ thậm chí đồn rằng đồ sứ được làm từ vỏ sò nghiền nát hoặc một loại đất kỳ bí được chôn dưới đất hàng trăm năm.
Suốt nhiều thế kỷ, người châu Âu cố gắng bắt chước nhưng đều thất bại (mãi đến năm 1708 họ mới tìm ra công thức làm sứ thật sự tại Đức). Do đó, hàng chính hãng từ Trung Hoa là độc quyền tuyệt đối. Có một chuyện truyền tai nhai ở các cung điện châu Âu rằng đồ sứ sẽ đổi màu hoặc nứt ra nếu thức ăn bên trong có độc. Điều này khiến các vị vua chúa (những người luôn sợ bị ám sát) khao khát sở hữu nó hơn bất cứ thứ gì.
Vì tính chất dễ hư hỏng nên giá trị của đồ gốm sứ còn đắt đỏ hơn cả tơ lụa, một chiếc bình gốm nếu đem được thành công về tay giới thượng lưu Paris hay Venice có giá trị tương đương trọng lượng bằng bạc hoặc vàng. Một bộ bát đĩa sứ đầy đủ (dinner service) có thể đổi được một trang điền lớn hoặc một tòa lâu đài nhỏ ở vùng nông thôn.
Nhưng con đường giao thương giữa hai nền văn minh Đông-Tây sau khi Mehmed II chiếm được Constantinople coi như đóng sập cửa lại.
Ottoman là một đế chế Hồi giáo cực thịnh và hiếu chiến. Họ coi bọn Thiên Chúa giáo châu Âu là kẻ thù không đội trời chung (Thánh chiến Jihad). Thế nên, chính sách của Ottoman rất đơn giản: Đóng cửa biên giới hoặc đánh thuế cực nặng lên mọi hàng hóa đi qua đất của họ. Cái “trạm thu phí” khổng lồ này khiến giá gia vị vốn đã đắt nay càng đắt đến mức phi lý. Châu Âu rơi vào tình trạng “thiếu máu” trầm trọng vì dòng chảy vàng bạc bị tắc nghẽn, trong khi hàng hóa thiết yếu (như tao phân tích ở trên là gia vị) thì nhỏ giọt.
Kẻ thù chung của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là mối quan hệ “gian tình” giữa Venice và Ottoman. Trong khi cả châu Âu gào lên đòi thánh chiến chống Thổ, thì thằng Venice – với bản chất con buôn lươn lẹo – lại lén lút đi đêm với Ottoman. Venice ký các hiệp ước thương mại riêng, chấp nhận nộp tiền bảo kê cho Sultan để được độc quyền vào các cảng ở Ai Cập và Levant lấy hàng. Ottoman trở thành nhà cung cấp độc quyền, Venice trở thành nhà phân phối độc quyền. Hai thằng này chia nhau cái bánh lợi nhuận khổng lồ, còn bọn còn lại ở châu Âu thì đứng nhìn mà thèm nhỏ dãi và tức nổ mắt.
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha lúc đó đang ở thế cực nhục. Về mặt địa lý, họ nằm ở cái “rìa” (finis terrae - nơi tận cùng thế giới) của châu Âu. Phía Đông bị chặn bởi Ottoman và Venice. Phía Nam là Bắc Phi do người Hồi giáo (Moors) kiểm soát. Phía Bắc là Pháp và băng tuyết. Họ bị dồn vào chân tường, mặt hướng ra Đại Tây Dương mênh mông đầy bão tố.
Thêm vào đó là yếu tố tôn giáo và chính trị. Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vừa trải qua hàng trăm năm chiến tranh Reconquista để đuổi bọn Hồi giáo Moor ra khỏi bán đảo Iberia. Máu Kitô hữu và Hồi giáo đổ thành sông. Việc phải bỏ tiền ra mua gia vị từ tay Ottoman (thông qua Venice) không chỉ là nỗi đau mất tiền, mà là nỗi nhục quốc thể. Họ cay cú khi nghĩ rằng từng đồng tiền vàng mình bỏ ra mua hạt tiêu lại chảy vào túi Sultan để lão đúc súng thần công bắn ngược lại vào thành trì Thiên Chúa giáo. Tư duy của chúng lúc đó là:
“Phải tìm cách đi vòng sau lưng thằng Thổ, đâm một phát vào sườn nó, cướp nguồn hàng của nó, vừa để làm giàu, vừa để triệt hạ nguồn tài chính của kẻ thù.”
Chính cái thế “chó cùng rứt giậu” này đã đẻ ra hai chiến lược điên rồ: Bồ Đào Nha (Vasco da Gama) chọn cách đi vòng xuống phía Nam châu Phi. Họ lầm lũi đi dọc bờ biển châu Phi suốt cả thế kỷ, cứ đi mãi, đi mãi với hy vọng tìm thấy cái Mũi Hảo Vọng để tạt sang Ấn Độ Dương. Đó là con đường của sự kiên trì và lì lợm.
Tây Ban Nha (Columbus) thì chọn canh bạc tất tay: Đâm thẳng sang phương Tây. Vì bị dồn ép quá mức bởi cái liên minh ma quỷ Ottoman-Venice, Nữ hoàng Isabella mới gật đầu với cái kế hoạch hoang đường của Columbus. Bà ta thà tin vào một thằng điên còn hơn là tiếp tục bị bọn Thổ và Ý bóp cổ.
Vậy nên, có thể nói chính Mehmed II và đế quốc Ottoman đã vô tình “đá đít” Columbus và Vasco da Gama ra biển. Nếu không có cái sự độc quyền của Ottoman, châu Âu có lẽ vẫn cứ ru rú ở cái ao làng Địa Trung Hải, và châu Mỹ có lẽ đã yên ổn thêm vài trăm năm nữa trước khi bị tìm thấy. Sự trỗi dậy của phương Tây, trớ trêu thay, lại bắt đầu từ nỗi sợ hãi và sự bế tắc trước sức mạnh của phương Đông.
Thực dân (Colonialism)
Việc Columbus “tình cờ” tìm ra châu Mỹ năm 1492 chính là bước ngoặc cứu rỗi lục địa già theo đúng nghĩa đen, không phải bằng khoa học công nghệ, văn hóa nghệ thuật của thời kỳ Phục Hưng, Khai sáng mà bằng máu.
Vì giao thương giữa Đông-Tây để trao đổi được tơ lụa, gia vị, gốm sứ cần có vàng, bạc để làm thanh toán vì vốn dĩ nếu trao đổi hàng-đổi-hàng thì châu Âu lại chả có cái quái gì ra hồn để Trung Hoa, Ả Rập cần (đồ làm ra xấu, lởm, chất lượng kém). Mà các mỏ vàng ở châu Âu đã bị cạn kiệt tiền từ thời La Mã dẫn đễn cơn khát tiền mặt cực kỳ trầm trọng: không có vàng thì không mua được gia vị ăn cho đỡ thối mồm, không mua được lụa để mặc cho đỡ ngứa ngáy, không có hương liệu thơm tho để che đậy cái mùi kinh tởm vì lâu ngày không tắm.
Vàng, bạc
Năm 1545, thực dân Tây Ban Nha tìm thấy Potosí (Cerro Rico - Núi Giàu) ở Bolivia làm chúng choáng ngợp đế mức không thể tin vào mắt mình. Nơi đây không chỉ là một mỏ bạc mà chính hơn hơn là cục bạc khổng lồ trồi lên mặt đất. Chỉ riêng trong vòng 100 năm sau đó, quả núi này đã cung cấp 60% lượng bạc của toàn thế giới.
Để đào được những quặng bạc lên một cách rẻ mạt nhất để tối đa hóa lợi nhuận, lũ thực dân bắt người dân bản địa theo chế độ lao dịch Mita của người Inca cũ nhưng tàn bạo hơn gấp 10 lần, chui vào lòng núi để đào quặng khiến hàng triệu người chết vì sập hầm, bụi phổi và nhiễm độc thủy ngân (dùng để làm phản ứng hóa học tách bạc).
Đống bạc này được chở về Tây Ban Nha với sự bảo kê bởi súng đại bác của hạm đội Galleon rồi từ đây tạo ra hiện tượng kinh tế quan trọng nhất thế kỷ 16: Cách mạng Giá cả (The Price Revolution).
Trước khi có bạc châu Mỹ, châu Âu giao dịch kiểu “hàng đổi hàng” hoặc nợ nần dây dưa (ghi sổ). Lãnh chúa trả công cho nông nô bằng lúa, bằng chỗ ở. Vua trả lương cho lính có khi bằng đất hoặc quyền thu thuế. Nhưng khi hàng nghìn tấn bạc đổ về, châu Âu ngập trong tiền mặt (Cash).
Lũ lính đánh thuê giờ không cần đến những mảnh đất cằn cỗi mà mỗi năm chỉ thu gặt được vài lần giờ chúng cần tiền tươi thóc thật. Nhờ có tiền từ cướp bóc ở châu Mỹ, các đội quân thường trực (standing army) thiện chiến được thành lập bởi ví tiền của các lãnh chúa nuôi cái bụng đói của lũ vai u thịt bắp để đổi lấy lòng trung thành, những tên hiệp sĩ quý tộc trở thành kẻ bị ngoài lề khi giờ đây mày có 1 đội quân đông đảo mà không cần sợ chúng tạo phản vì không được trả tiền thuê.
Đối với đám thương nhân có thêm vốn, mua nguyên liệu số lượng lớn, thuê thợ làm công ăn lương (wage labor) trở thành mầm móng của chủ nghĩa tư bản: Tiền đẻ ra tiền. Nhưng có một nghịch lý tuy Tây Ban Nha là đứa đi cướp được bạc nhưng không phải kẻ giàu lên nhờ tư bản. Vì tiêu tiền quá ngu.
Vua Tây Ban Nha (như Philip II) dùng bạc để đánh nhau khắp châu Âu (đánh Pháp, đánh Hà Lan, đánh Anh, đánh Ottoman). Để có tiền đánh nhau ngay, vua vay nóng của bọn ngân hàng Đức (nhà Fugger) và ngân hàng Genova (Ý). Thế là tàu bạc Galleon vừa cập cảng Seville, chưa kịp nóng chỗ đã bị chuyển thẳng sang Đức và Ý để trả nợ.
Dân Tây Ban Nha thấy tiền dễ kiếm quá, chả thèm sản xuất gì cả.
Cần vải? Mua của Anh.
Cần súng? Mua của Đức.
Cần lúa? Mua của Pháp.
Bạc từ châu Mỹ qua tay Tân Ban Nha như nước chảy qua kẽ tay rồi đọng ở kho tiền của Anh, Hà Lan, Pháp để đám Bắc Âu này dùng số tiền kiếm được xây dựng nhà máy, tạo nên chủ nghĩa tư bản công nghiệp sau này. Nếu không có bạc, châu Âu chỉ là thằng nhà quê đính đầy hương liệu. Trung Quốc (nhà Minh) thời đó đếch cần gì của châu Âu cả. Vải vóc châu Âu thô ráp, đồ sắt thì xấu. Nhưng Trung Quốc đang khát Bạc (do hệ thống tiền tệ của họ chuyển sang dùng bạc). Nhờ có bạc châu Mỹ (chở qua đường Manila Galleon từ Mexico sang Philippines rồi vào TQ), lần đầu tiên châu Âu có cái để người Tàu thèm.
Châu Âu đưa Bạc -> Trung Quốc đưa Lụa, Gốm sứ, Trà.
Châu Âu mang hàng đó về bán lãi to -> Lại lấy tiền đóng tàu đi cướp tiếp.
Nó tạo thành một vòng lặp tích lũy tư bản khép kín toàn cầu (Global Circuit of Capital). Rồi khi đế quốc Anh nhận ra mình bị thâm hụt bạc nhiều quá, chúng nghĩ ra một thứ để cân bằng lại khoản lỗ do thâm hụt thương mại: thuốc phiện. Nó đã khơi mào cho chiến tranh Nha phiến lần 1 và lần 2 tạo nên nỗi nhục bách niên quốc sĩ mà tới tận bây giờ Bắc Kinh vẫn còn đay nghiến dạy thế hệ hậu thế không được phép lãng quên, nhưng tao sẽ không bàn sâu về nó ở đây.
Lương thực.
Bạc và vàng là máu (tiền tệ) để bôi trơn nền kinh tế, nhưng khoai tây và ngô chính là xăng (năng lượng) để chạy cái cỗ máy xác thịt khổng lồ mang tên "Giai cấp vô sản châu Âu". Nếu không có nguồn lương thực được ví như "ngân hàng calo" từ châu Mỹ, thì Cách mạng Công nghiệp sẽ chết yểu ngay từ trong trứng nước vì... đói.
Trước năm 1492, cả châu Âu được nuôi lớn bởi lúa mì, lùa mạch từ Vùng đất Đen (Chernozem) ở Ukraine và Đồng bằng Bắc Âu nằm giữa Ba Lan, Đức và các quốc gia ven biển Baltic. Về phía tây là Thung lũng sông Seine (Pháp) ở miền Bắc nước Pháp với Thung lũng sông Thames và vùng đất sét miền Trung Anh là nơi cung cấp lúa mì từ thời cổ đại. Nhưng cái giống lúa này cực kỳ khó canh tác: chúng cần đất tốt, nắng vừa phải; mưa tốt tí là đổ rạp hoặc sâu bệnh tý coi như mùa đó mất trắng. Mỗi mẫu đất trồng lúa mì chỉ nuôi sống được có vài miệng ăn. Nông dân dù làm việc cật lật để kiếm cái bỏ vào mồm và nộp tô thuế cho lãnh chúa nhưng lúc nào trong bụng cũng lép nhẹ.
Cây khoai tây đem về vùng núi Andes (ngày nay là Peru, Bolivia và Chile) cập cảng Sevilla (Tây Ban Nha) vào khoảng khoảng năm 1530-1570 ban đầu bị hắt hủi, xem như thứ “của nợ” vì nó trông xấu xí, xù xì, lại mọc dưới đất (vốn bị coi là nơi của quỷ dữ) - chỉ được dùng để dùng để cho lợn ăn hoặc làm cây cảnh trong vườn hoàng gia.
Vì là một lòa cỏ dại do vậy dù vứt vào đất sỏi đá cũng mọc, thời tiết dưới 0 độ C vẫn ra củ vì củ khoai lang nằm dưới đất giúp tránh được bão, chim chuột thậm chí là bị đám lĩnh tráng đi càn, thu tô thuế càn quét dẫm đạp.
Nhưng khi cùng canh tác trên một diện tích đất, khoai tây cung cấp lượng calo gấp 2 đến 4 lần lúa mì. Tức là chỉ cần trồng đúng 1/4 diện tích đất cũng đã đủ để nuôi sống gia đình sống qua mùa đông còn 3/4 đất canh tác còn lại thì có thể trồng cây công nghiệp như lanh để dệt vải hoặc … bị lãnh chúa rào đất lại để nuôi cừu trong phong trào rào đất cướp ruộng (Enclosure Movement).
Nhưng mãi đến giữa thế kỷ 18 (năm 1756) khi nước Phổ đứng trước nguy cơ chết đói vì chiến tranh và mùa màng thất bát; Frederick Đại đế nhìn nhận được đúng tầm quan trọng của khoai tây đã ban hành 15 sắc lệnh khác nhau, yêu cầu nông dân phải trồng khoai tây. Ông thậm chí đe dọa sẽ "cắt mũi và tai" những ai không tuân lệnh. Tuy nhiên, việc ép buộc bằng vũ lực không đem lại hiệu quả cao vì dân chúng lén lút chống đối.
Để nhân rộng việc trồng khoai tây lên khắp nước Phổ, nhà vua cho đã cho trồng một cánh đồng khoai tây rộng lớn ngay trong Hoàng cung tại Berlin.
Ông ra lệnh cho lính ngự lâm canh gác cánh đồng này ngày đêm , tạo vẻ ngoài như thể đây là một loại "thực phẩm quý tộc" cực kỳ giá trị mà dân thường không được phép đụng vào: "Ban đêm hãy giả vờ ngủ gật hoặc canh gác lỏng lẻo để dân có cơ hội vào ăn trộm".
Người dân nghĩ rằng: "Thứ gì mà nhà vua phải canh gác kỹ thế chắc chắn là của báu!". Họ bắt đầu lẻn vào trộm củ về trồng và ăn thử. Từ chỗ bị ghét bỏ, khoai tây trở thành món hàng "hot" vì lòng tham và sự tò mò của con người.
Mày biết ngoài cung cấp lượng calo lớn, rẻ tiền, dễ canh tác để cái bụng nông dân đủ no mà canh tác còn có một cái gì nữa không? Đó là khiến lũ trẻ con vốn có tỷ lệ tử vong trước tuổi trưởng thành lên đến 22% vì suy dinh dưỡng hoặc các bệnh vặt do hệ miễn dịch yếu (thiếu Vitamin C gây bệnh hoại huyết).
Khoai tây cung cấp nguồn Vitamin C dồi dào và dễ ăn (dạng nghiền) cho trẻ nhỏ cai sữa, giúp tỷ lệ trẻ em sống sót qua tuổi lên 5 tăng vọt. Chỉ riêng Ireland từ dân số khoảng 3 triệu người (năm 1750), nhờ khoai tây, dân số đã vọt lên hơn 8 triệu người vào năm 1840 (gấp gần 3 lần chỉ trong chưa đầy 1 thế kỷ).
Dân số châu Âu đã tăng gấp đôi từ năm 1750 đến năm 1850 xuất hiện tình trạng đất chật người đông cùng với đó các lãnh chúa quý tộc ở Anh thông qua các Đạo luật Rào đất (Enclosure Acts), biến đất công (common land) thành đất riêng, dựng hàng rào ngăn không cho dân nghèo canh tác.
Thomas More cay đắng viết rằng: "Những con cừu vốn hiền lành, giờ đây lại ăn thịt cả con người".
Vì không còn lựa chọn nào khác, họ lũ lượt kéo lên các thành phố công nghiệp như Manchester, Liverpool, Birmingham hay Paris. Phần lớn sống trong các khu ổ chuột, những căn phòng ẩm thấp, hôi thối. Một công nhân tại Machester lúc đó chỉ tuổi thọ trung bình vỏn vẹn 17-20 tuổi.
Những người này vì không có tài sản chỉ còn đúng sức lao động để bán - cung cấp nên nguồn cung nhân lực vô tận và rẻ mạt cho các nhà máy. Nếu không có khoai tây rẻ tiền, lương công nhân sẽ phải cao hơn để họ mua thịt, bánh mì đắt đỏ nhưng vì khoai tây rẻ như cho, đám chủ nhà máy vẫn có thể trả lương thấp tè mà công nhân vẫn sống lay lắt được để ngày mai đi làm tiếp. Friedrich Engels (bạn của Marx) từng viết rằng:
"Khoai tây là thứ vũ khí của giai cấp tư sản dùng để hạ thấp mức sống của giai cấp vô sản."
Ngoài khoai tây, châu Mỹ còn cung cấp mía đường từ các đồn điền nô lệ ở vùng biển Caribbean (như Cuba, Haiti, và ven biển Venezuela). Đường mía cho phép con người nạp vào một lượng calo rỗng nhưng lại “bốc” cực kỳ nhanh, để mỗi công nhân Anh đủ tỉnh táo có sức đứng làm với máy dệt lúc 3 giờ sáng bắt buộc cần đến một cốc trà nóng pha đường đậm đặc hoặc cà phê, cacao, thuốc lá nhằm ức chế cơ đói và giữ cái đầu đủ tỉnh táo trong ca làm.
Vậy là châu Mỹ đã cung cấp trọn bộ “Combo Công Nghiệp”:
Bạc: Để xây nhà máy, trả lương.
Bông: Nguyên liệu để máy chạy.
Khoai tây + Đường: Nhiên liệu để “cỗ máy con người” hoạt động.
Còn thiếu gì nữa? Một thứ tài nguyên cực kỳ rẻ mạt nhưng lại có thể tạo ra giá trị lợi nhuận khổng lồ: con người.
Đất đai và nhân công nô lệ
Những con tàu từ các bến châu Âu (Liverpool, Nantes, Amsterdam) chở đầy súng ống, rượu cồn và vải vóc rẻ tiền được chở sang bán ở châu Phi trong đó súng được dùng để bán cho các tù trưởng nhằm kích động họ gây chiến với các bộ lạc khác, bắt tù binh rồi bán lại cho đám người da trắng buôn nô lệ.
Những con tàu chở nô lệ da đen từ châu Phi với thiết kế vốn chỉ để chở 200 người bị nhét vào gấp đôi, 400 người. Khiến họ phải nằm san sát nhau, chia sẻ cái bầu không khí đậm mùi phân và nước tiểu mà không có để xả trong suốt 2-3 tháng trời lênh đênh trên biển. Tỷ lệ chết trong chặng đường kinh hoàng được gọi là “The Middle Passage" lên đến 15-20%, bọn chủ tàu không hề quan tâm đến mạng người, cứ chết lại vứt xuống biển làm mồi cho cá vì lợi nhuận từ đám người sống sót để thừa sức bù đắp rủi ro cho chi phí bỏ ra.
Sau khi đến châu Mỹ, các nô lệ bị lùa lên các đồn điền xa xôi cách hàng trăm dặm với bờ biển. Tại đây sức lao động rẻ mạt của họ chuyển hóa đống đất đai hoang dã chưa được khai hóa thành các đồn điền mía, bông, thuốc lá, ca cao. Sau khi thu hoạch được chở ngược về châu Âu để bán với giá cắt cổ, hoặc làm nguyên liệu cho các nhà máy (như bông cho ngành dệt may Anh). Lợi nhuận đó lại dùng để mua súng, quay lại bước một.
Tại sao phải nhập nô lệ da đen? Vì dân bản địa (Indian) chết quá nhanh, không chịu nổi các bệnh đậu mùa, sởi từ châu Âu và cũng không quen với cường lao động khổ sai trong các đồn điền trong khi người da đen khỏe hơn, có sức đề kháng tốt với khi hậu nên trở trở thành “công cụ lao động” lý tưởng trong mắt các nhà tư bản Liverpool, Nantes, Amsterdam.
Như vậy mày đã thấy từ cú đặt chân của Columbus vào năm 1942, từ trước và sau đó là một chuỗi nhân-quả cực kỳ khổng lồ, phức tạp, đan chéo lên nhau chứ không đơn giản như cái mặt nạ đẹp đẽ trong sách giáo khoa của đám phương Tây đeo suốt 500 năm nay gọi đó là "Gánh nặng người da trắng" (The White Man's Burden) hay "Sứ mệnh khai hóa" (Mission Civilisatrice). Nhưng khi lột cái mặt nạ ra chỉ thấy bản chất thực sự là cái giẻ rách được dùng để lau sạch vết máu trên tay sau khi cướp bóc xong xuôi rồi mới bắt đầu thiết lập trật tự có lợi cho chúng, can thiệp khắp mọi xung đột, chiến tranh bằng khẩu hiệu “tự do” - “dân chủ” - “nhân quyền” - “khai sáng văn minh”.
Lũ đế quốc Anh, Pháp, Tây Ban Nha khi mò đến tận những vùng rìa xa xôi của châu Á, châu Phi hay châu Mỹ trong đầu không hề tồn tại khái niệm “giúp đỡ” hay “phát triển”. Thứ học thuyết kinh tế thống trị thế kỷ 15-18 là chủ nghĩa trọng thương (Mercantilism) coi cả thế giới là một chiếc bánh có hạn, nếu muốn thêm một miếng thì đi ăn cướp từ tay thằng khác.
Từ “phát triển” (development) thậm chí còn chưa tồn tại trong từ điển kinh tế thời điểm này. Mục tiêu duy nhất chỉ có một: Lợi nhuận ròng.
Mối quan hệ liên kết sợi dây giữa mẫu quốc xa xôi ở tận châu Âu và thuộc địa là mối quan hệ ký sinh: Thuộc địa cung cấp nguyên liệu thô và nhân công rẻ mạt còn chính quốc bán lại thành phẩm với giá cắt cổ trong khi vẫn vắt kiệt sức lao động người dân xứ sở của mình.
Những ngôi trường học được thành lập không phải để khai dân trí cho dân thuộc địa vì nếu mày khôn sẽ bật lại đám chủ nhân của mình. Chúng được thiết để dạy chữ nhằm tạo ra một đám thư ký, thông ngôn, cai thầu biết nghe lệnh, đếm tiền và nghe lời phục vụ bộ máy cai trị. Một bộ máy thuộc địa lý tưởng nhất trong mắt chúng là một xã hội chỉ có hai tầng lớp: bọn cai trị da trắng cầm roi và đám culi da màu cầm cuốc đào quặng mỏ và liềm để gặt bông.
Những công ty tư nhân như VOC (Đông Ấn Hà lan) hay EIC của Anh không chỉ có cái bảng cân đối kế toán mà còn sở hữu quân đội riêng, pháo đài riêng và quyền tuyên chiến đối với bất cứ lãnh thổ nào từ chối sự cai trị của đám người da trắng này sẽ bị dùng súng đại bác nhằm thiết lập sự độc quyền cho được. Nếu một hòn đảo từ chối bán gia vị giá rẻ, chúng sẽ cho cả hạm đối đến và tàn sát đến người dân bản địa cuối cùng và thay thế bằng nô lệ như cách Hà Lan đã làm ở quần đảo Banda.
Sự giàu có tột bật của “nền văn minh” công nghiệp rực rỡ của châu Âu thế kỷ 19, những tòa lâu đài tráng lệ ở London, những đại lộ thênh thang ở Paris hay sự bùng nổ của nghệ thuật Phục hưng ở Ý; tất cả đều trả bằng cái giá của nô lệ châu Phi và bạc cướp được từ châu Mỹ.
Karl Marx, dù mày có thích hay căm ghét ông ta thì cũng đã đưa một nhận xét không thể chính xác hơn:
"Tư bản sinh ra đã có máu và bùn nhơ ở mọi lỗ chân lông, từ đầu đến chân."
Quyền lực sinh ra từ nòng súng, cướp bóc này tiếp tục duy trì đến tận thế kỷ 21 mà mày đang sống bằng cách tạo ra hệ thống tài chính (ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán) nhằm quản lý và tái đầu tư số tiền cướp được một cách hiệu quả nhất
Thực dân không hề biến mất kể từ sau thế chiến thứ hai chúng chỉ chuyển từ việc dùng súng hỏa mai và tàu chiến để cướp vàng sang Vest và cà vạt. Vũ lực trở thành phương án B chỉ được áp dụng sau khi con nợ dám bật lại còn phương A trong mọi trường hợp là “Tài chính hóa” sự cai trị. Nó đã biến thành Chủ nghĩa Thực dân Mới (Neocolonialism), nơi xiềng xích không làm bằng sắt mà làm bằng Nợ.
Chúng thiết lập một cái sòng bài ở chính nơi này vừa đóng vai nhà cái, vừa là người ra bài, thằng ra luật trong khi các nước nghèo bất đắc dĩ trở thành con bạc khát nước bước vào với hy vọng đổi đời nhưng kết cục đến khi bước đến cái quần lót cũng không còn.
Một nước độc lập vừa thoát khỏi chế độ thực dân dù có tài nguyên, nhân lực nhưng lại có quyền định giá chính mình. Muốn xây một cây cầu bắc ngang qua sông, Một cái đường cao tốc để kết nối giao thương các vùng với nhau không thể lấy tiền tự in ra được vì đám ở London, New York khoắt tay bảo là giấy lộn. Mày phải vay bằng Đôla, Euro của tụi nó in ra, mà cái giá phải trả là gì? Phải ngoan. Phải mở cửa thị trường, cho tư nhân nhảy vào các ngành năng lượng sống còn (điện, nước), y tế để các tập đoàn khổng lồ từ trong nước vừa cho tiền vay nhảy vào mua cổ phần với giá rẻ mạt và khi có chuyện cần tranh chấp thì chính cái hợp đồng vừa ký lại rành buộc phải để cho đám “trọng tài” vào chấm điểm chứ không được kiện ra tòa như cách chúng quảng cáo.
Mà muốn được cho vay tiền phải làm gì? Cho bộ ba S&P, Moody's và Fitch vào kiểm kê cái kho nhà mày có từng đồng xu cắc lẻ như đã nói trên bàn đàm phán hay không. Cả ba dù chỉ là công ty tư nhân nhưng lại nắm quyền sinh sát kinh tế của cả một quốc gia.
Khi được chấm điểm “tích cực”, dòng vốn từ chúng sẽ đổ vào còn ngược lại “tiêu cực” thì lãi suất vay nợ tăng vọt lên trời làm nhà đầu tư rút vốn chạy sạch. Nó biến một cú gõ phím của thằng nhân viên phân tích ở Phố Wall giờ đây sức sát thương ngang ngửa một sư đoàn Thủy quân lục chiến vì có khả năng đánh sập nền kinh tế của một nước trong một đêm mà không cần tốn một viên đạn nào.
Sau khi được duyệt khoản vay tiền rồi để xài được bắt buộc phải sử dụng đúng một hệ thống thanh toán duy nhất - SWIFT. Nó giống như cái van tổng của đường ống dẫn tiền toàn cầu. Muốn mua bán dầu, cà phê thì phải dùng nó mà đoán xem ai nắm chìa khóa? Chính là Mỹ và châu Âu.
Khi quốc gia mày dám lệch sống như trường hợp của Venezuela hay Iran, Nga, chúng nó chỉ cần "ngắt cầu dao" SWIFT. Thế là xong, mày có núi vàng núi bạc cũng không bán được cho ai, không mua được hạt thuốc nào. Quốc gia bị cô lập, quay về thời đồ đá kinh tế. Đây là sự bảo kê trấn lột công khai: "Muốn làm ăn thì phải đi qua sân nhà tao, nộp tô cho tao và làm theo luật của tao".
Cái trò mất dạy và trở trẽn nhất là vụ Ký gửi vàng. Những nước đang phát triển vì đồng tiền yếu do chưa có tích lâu đời nhờ cướp bóc kia bắt buộc phải tích trữ vàng làm tài sản đảm bảo. Nhưng bọn phương Tây tạo ra cái luật bất thành văn: "Vàng của mày để ở nhà mày thì tao không tin, nhỡ mày in tiền bừa bãi thì sao? Mày phải gửi ở hầm của Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) hay FED ở New York thì tao mới công nhận cái vàng đó có giá trị thanh khoản.
Khi chuyện xảy ra, chúng ngay lập tức xé cái tờ giấy với lời hứa minh bạch ấy ngay đi. Venezuela có gửi khoảng 31 tấn vàng (trị giá cả tỷ đô la) trong hầm của Ngân hàng Trung ương Anh tại London. Khi khủng hoảng nổ ra, dân đói khổ, chính phủ Venezuela bảo: "Trả tao số vàng đó để tao mua thuốc, mua thức ăn cho dân tao". Anh bảo gì? "Đéo". Nó viện cớ là không công nhận chính quyền Maduro (thay bằng thằng bù nhìn), sợ tham nhũng, sợ rửa tiền... đủ mọi lý do đạo đức giả để phong tỏa số vàng đó.
Số vàng vốn dĩ là tiền của cả nước vốn là mồ nước mắt của dân tộc mày, nhưng nằm trong túi thằng khác biến thành con tin và nó có quyền quyết định mày được tiêu hay không.
Đó chính là sự tiếp nối hoàn hảo của lịch sử cướp bóc.
Ngày xưa Columbus cướp vàng mang về Tây Ban Nha nung chảy.
Ngày nay, chúng nó bắt mày tự nguyện chở vàng sang London gửi, rồi dùng chính số vàng đó làm con tin để ép mày phải nghe theo các chính sách chính trị của chúng nó. Súng đạn thế kỷ 21 đã được thay thế bằng các lệnh trừng phạt, phong tỏa tài khoản và thao túng tỷ giá.
Kẻ cướp giờ đây được gọi là "Chủ nợ", và nạn nhân bị cướp thì bị gọi là "Quốc gia quản lý kém". Một màn tẩy trắng vĩ đại và hoàn hảo.
P2: Venezuela
Chuyến đi cuối cùng của Columbus
Ngày 30 tháng 5 năm 1498, Columbus rời cảng Sanlúcar de Barrameda với vỏn vẹn 6 con tàu và khoảng 226 người. Đây là chuyến đi lần thứ 3 của ông ta đến châu Mỹ, so với lần đầu tiên (1492) liều mạng chỉ với 3 tàu và lần thứ 2 (1493) với số lượng đông đảo 17 tàu và 1.200 người, bao gồm cả nông dân, thợ thủ công, linh mục, với tâm thế đi để xây dựng đế chế thì lần thứ 3 này thực sự đã chứng minh niềm tin của hoàng gia Tây Ban Nha dành cho vị đô đốc này sụp giảm nghiêm trọng chỉ với vỏn vẹn 6 chiếc tàu.
Ở chuyến thứ 2, người ta tranh nhau nộp đơn đi vì ảo tưởng về những ngọn núi vàng. Nhưng đến chuyến thứ 3, tin đồn về bệnh tật, đói khát và cái chết ở "Tân Thế Giới" đã bay về châu Âu.
Thay vì nhận được lời hứa hẹn về những mỏ vàng lộ thiên chỉ cần cúi xuống là nhặt được cả vóc thì thực tế họ nhận được chỉ là một cơn ác mộng. Pháo đài La Navidad dựng lên từ chuyến đi đầu tiên bị san phẳng, toàn bộ lính tráng bị thổ dân giết sạch vì tội hãm hiếp phụ nữ và cướp bóc người dân. Thay vì nhìn nhận lại vấn đề để cai trị vùng đất mới dung hòa được cả lợi ích cả dân bản địa lẫn người châu Âu, Columbus lại cay cú ra quyết định xây dựng một thành phố mới có tên là La Isabela (theo tên nữ hoàng TBN để nịnh nọt) nằm ở bờ biển phía Bắc cộng hòa Dominica ngày nay - một vị trí cực kỳ ngu khi nơi này không có nước ngọt để sinh hoạt, đất đai quá cằn cỗi để canh tác, gió máy độc địa cùng với muỗi như trâu trấu làm dân định cư chết như rạ vì bệnh giang mai và sốt rét - vốn là căn bệnh nan y vô phương cứu chữa của thế kỷ 15.
Người Tây Ban Nha mang theo cúm và đậu mùa giết chết thổ dân và ngược lại thô dân (hoặc môi trường nhiệt đới) cũng tặng lại bệnh giang mai khiến quân lính của Columbus rụng tóc, lở lét toàn thân, đau đớn quằn quại và chết dần chết mòn biến cả thành phố La Isabela biến thành một cái bệnh viện dã chiến kiêm nhà xác khổng lồ. Sau cùng Columbus cũng phải bỏ hoang cái thành phố "ma ám" này để dời đô xuống phía Nam (Santo Domingo ngày nay).
Trong đoàn tùy tùng có rất nhiều bọn quý tộc "hidalgo" (hiệp sĩ Tây Ban Nha) bước lên tàu sang châu lục mới để làm quan giám sát đám nô lệ đào vàng chứ đời nào chịu cầm cuốc xẻng. Nhưng vì không có vàng cũng chẳng có đồ ăn, Columbus cũng bắt đám quý tộc này phải lao động khổ sai để xây nhà, đào mương, xay lúa mì. Đám công tư bột vốn quen ăn mặc sướng nay phải đi làm lụng vất vả, ăn thứ lương khô mốc meo mang từ châu Âu sang khiến chúng ốm nặng, chết vì bệnh tật cực kỳ nhiều đồng thời cũng căm hận Columbus đến tận tủy xương.
Lão ta còn gieo dầu vào lửa với lối cai trị ban tay sắt đối với bất cứ ai chống đối hay lười biếng là cắt khẩu phần, đánh roi da thậm chí treo cổ công khai. Chính lũ còn sống sót tàn tạ trở về đã bêu rếu tiếng xấu của hắn ta lan ra khắp triều đình Tây Ban Nha.
Đối với người dân bản địa Taino, Columbus chằng them che giấu bản chất của một con quỷ thực dân da trắng. Dưới áp lực phải trả nợ cho Hoàng gia, hắn ta thiết lập một chế độ tàn khốc chưa từng có gọi là hệ thống tribute.
Mỗi người Taino trên 14 tuổi cứ 3 tháng lại phải nộp cái chuông diều hâu (hawk's bell) đầy bụi vàng. Ai nộp đủ thì được đeo một cái thẻ đồng quanh cổ làm chứng. Còn ai không nộp đủ? Thì cho lính chặt đứt hai bàn tay của họ, buộc đeo lủng lẳng trên cổ cho đến khi máu chảy hết và chết trong đau đớn. Những người khác thì đem ra làm trò tiêu khiển như thú đi săn đến chết vì bị lũ chó săn cắn.
Từ một hòn đảo trù phú, dân số Taino bắt đầu lao dốc không phanh. Lão ép họ lao động đến mức họ không còn thời gian trồng sắn hay săn bắn, dẫn đến nạn đói lan rộng cho cả thổ dân lẫn bọn thực dân.
Nhưng dù vét đến mức đi nào cũng không kiếm đủ vàng để trả nợ, Columbus nảy ra ý định buôn người để bù lỗ. Năm 1495, lão lùa 1.600 người Taino, chọn ra 550 người khỏe mạnh nhất nhét xuống hầm tàu gửi về Tây Ban Nha để bán làm nô lệ. Hơn 200 người chết ngay trên đường đi và bị ném xác xuống biển. Khi về đến cảng, đám người sống sót yếu ớt đến mức không ai thèm mua.
Nữ hoàng Isabella không hề thích chuyện này vì coi là “thần dân” cần được cứu rỗi linh hồn, muốn cải đạo họ chứ không muốn bắt làm nô lệ). Tức là sau hàng đống tiền bỏ ra để đầu tư kiếm lợi nhuận, Hoàng gia TBN lỗ nặng chỉ nhận được một ít vàng sa khoáng không đủ để bù lỗ, vài còn vẹt và một đống nô lệ yếu ớt, vô dụng chẳng đáng được đồng nào.
Chính vì tiếng xấu đồn xa như vậy biến Columbus từ một nhà thám hiểm được tung hô thành một tên tội đồ bị cả hai thế giới – dân bản địa và dân thực dân – căm thù đến tận xương tủy. Không ai muốn đi nữa. Columbus bí người đến mức phải xin Hoàng gia ban hành lệnh ân xá cho tù nhân. Bất kỳ thằng tội phạm nào (trừ tội giết người và phản quốc) nếu chịu lên tàu đi biệt xứ thì sẽ được xóa án. Thế là thủy thủ đoàn của chuyến này lố nhố toàn trộm cướp, lưu manh và những kẻ cùng đường, biến hạm đội thành một cái trại giam nổi trên mặt biển.
Về lương thực và lộ trình thì ông ta chia đội hình ra làm phần: 3 chiếc tàu gửi đầy lương thực (thịt muối, rượu vang, bánh quy ship) dự tính để cầm cự được vài tháng đi thẳng đến Hispaniola (Haiti ngày nay) để cứu đói cho cái thuộc địa đang loạn lạc ở đó. 3 chiếc còn lại đi xuống phía Nam để thám hiểm tiếp. Bởi vì Columbus tin vào giả thuyết của Aristotle rằng vàng và đá quý được sinh ra từ nhiệt độ của mặt trời. Khu vực nào càng gần xích đạo, càng nóng thì càng nhiều vàng và người da càng đen. Lão muốn đi xuống vĩ độ thấp hơn (gần xích đạo hơn) để tìm cái mỏ vàng mà hai chuyến trước tìm hoài không thấy. Ngoài ra, vua Bồ Đào Nha cũng từng bắn tin rằng có một lục địa lớn nằm ở phía Nam vùng Caribbean, nên lão muốn đi kiểm chứng để chặn họng bọn Bồ.
Hắn ta đã thành công mò đến bờ biển Venezuela ngày nay được xác định là gần cửa Orinoco sông, chưa kịp tận hưởng sự ngạo nghẽ của nhà thám hiểm được bao lâu đã phải lết cái thân già 55 tuổi đang bị bệnh gout (Gút) hành hạ đau thống xương, mắt sưng vù gần như mù òa đi ngược về ảo Haiti/Dominican ngày nay để dưỡng thương và tình hình anh em thế nào.
Về đến tận nơi vào tháng cuối tháng 8 năm 1948 mới ngã ngửa ra khi thấy cái “trại” của mình đang rơi vào cuộc nổi loạn do Francisco Roldán cầm đầu nhằm chống lại sự cai trị của Bartolomé (em trai Columbus) vì đói, nghèo và đã quá chá cái bánh vẽ của anh em nhà Columbus khiến ông ta sợ xanh mặt. Nếu để tin tức về vụ nổi loạn này bay về Tây Ban Nhã thì cái ghế Đô Đốc của lão coi như tiêu tan, thế là đành chơi bài “đánh lạc hướng dư luận”.
Ngày 18 tháng 10 năm 1498, Columbus vội vã cho 5 con tàu quay trở lại Tây Ban Nha. Chính hạm đội mang theo một bản báo cáo dài lê thê (gọi là Carta de Colón a los Reyes Católicos) gửi về cho Quốc vương Ferdinand và Nữ hoàng Isabella.
Trong đống văn bản hổ lốn đó, đoạn đắt giá nhất, đoạn mà lão “lên đồng” khẳng định Venezuela là Thiên đường, chính là đoạn lão biện minh về hình dáng trái đất và nguồn nước ngọt khổng lồ (sông Orinoco).
Tiếng Tây Ban Nha:
Yo siempre creí que la Tierra era esférica; las autoridades y las experiencias de Ptolomeo y todos los demás que han escrito sobre este tema daban y mostraban como ejemplo de ello los eclipses de luna y otras demostraciones que hacen de Oriente a Occidente, como el hecho de la elevación del Polo de Septentrión en Austro.
Mas ahora he visto tanta deformidad que, puesto a pensar en ello, hallo que el mundo no es redondo en la forma que han descrito, sino que tiene forma de una pera que fuese muy redonda, salvo allí donde tiene el pezón o punto más alto; o como una pelota redonda que tuviere puesta en ella como una teta de mujer, en cuya parte es más alta la tierra y más próxima al cielo. Es en esta región, debajo de la línea equinoccial, en el Mar Océano, el fin del Oriente, donde acaban todas las tierras e islas...
Tiếng việt:
“Thần luôn đọc thấy rằng thế giới, bao gồm đất và nước, là hình cầu... nhưng nay thần đã thấy sự dị biệt như đã trình bày, và vì thế thần bắt đầu suy xét lại về thế giới này, và nhận thấy rằng nó không tròn theo cách người ta vẫn viết, mà nó có hình dạng của một quả lê, hầu hết đều rất tròn, ngoại trừ nơi có cái cuống (hoặc núm), nơi đó nhô cao hơn; hoặc giống như một quả bóng rất tròn nhưng ở một chỗ lại nhô lên như bầu ngực của người phụ nữ, và phần núm này là nơi cao nhất và gần với bầu trời nhất, nằm ngay dưới đường xích đạo, thuộc vùng biển Đại Dương này, ở tận cùng phương Đông...”
“...Đây là những dấu hiệu vĩ đại của Thiên đường nơi hạ giới (Paraíso Terrenal), bởi vì vị trí này phù hợp với quan điểm của các nhà thần học thánh thiện và uyên bác, và các dấu hiệu tự nhiên cũng rất tương đồng. Thần chưa bao giờ đọc hay nghe thấy một lượng nước ngọt khổng lồ như vậy lại có thể chảy sâu vào và nằm ngay cạnh nước mặn; khí hậu nơi đây cũng ôn hòa dịu nhẹ vô cùng. Và nếu dòng nước này không chảy ra từ Thiên đường, thì điều đó còn kỳ lạ hơn nữa, bởi thần không tin rằng trên thế giới này lại có một con sông lớn và sâu đến thế.”
Trong cái đoạn này mày đọc xong ngửi cái mùi “phê pha” trong văn phong của lão già này không? Trong lúc đang ốm nặng, mắt mờ, đầu óc quay cuồng lại cố gắng giải thích tàu đi về phía Venezuela lại cảm thấy như đi lên dốc (thực ra là do ảo giác hoặc đi ngược dòng hải lưu) nên đã bịa ra Lý thuyết Quả Lê (The Pear Theory) rằng trái đất có hình vú đàn bà nhằm biện minh cho việc đang đi lên "đỉnh" của thế giới, nơi gần Chúa nhất.
Hắn ta cứ khăng khăng thẳng nơi này là thiên đường để né tránh câu hỏi “vàng đâu” thì sẽ múa mồm rằng: "Đây là vườn địa đàng trong Kinh Thánh", thì giá trị của nó nằm ở sự linh thiêng, ở việc cứu rỗi linh hồn, chứ không chỉ là kim loại. Một đòn thao túng tâm lý bằng cách bán cho nhà đầu tư một giá trị tôn giáo vô hình khi không thể trả lãi bằng vật chất hữu hình.
Cái câu "nếu dòng nước này không chảy ra từ Thiên đường, thì điều đó còn kỳ lạ hơn nữa" cho thấy lão bí kiến thức rồi. Lão thấy sông Orinoco quá to, nước ngọt đẩy lùi cả nước biển. Với kiến thức địa lý hạn hẹp của châu Âu lúc đó, họ không tin có một lục địa (Nam Mỹ) đủ lớn để chứa con sông to như thế. Cách giải thích duy nhất hợp lý với lão là: Nước này chảy từ nguồn thánh.
Bức thư này được niêm phong gửi theo diện công văn khẩn cấp của Đô đốc, giao cho các thuyền trưởng của 5 con tàu đem về trình diện Hoàng gia. Để cho lời nói có trọng lượng hơn và bịt miệng những tin đồn xấu, Columbus đã kẹp chung với nó một thứ quan trọng hơn cả lời nói: Ngọc trai. Chúng là những viên ngọc to nhất, đẹp nhất mà hắn ta trấn lột hoặc đổi chác được của dân bản địa Paria. Mục đích chính nhằm dùng sự lấ lánh loánh của ngọc trai và cái mác “thiên đường” để làm lóa mắt Vua Ferdinand và Nữ hoàng Isabella, khiến họ quên đi cái đống rác rưởi hỗn loạn mà lão đang gây ra ở Hispaniola.
Tuy nhiên nước cờ này thất bại thảm hại. Đi cùng 5 con tàu không chỉ có lá thư của Columbus mà có có cả thư tố cáo của đám lính tráng và những kẻ nổi loạn gửi về cho người nhà và gia đình nhằm kể tội anh em Columbus là những kẻ cai trị tàn bạo và bất tài. Thậm chí nhiều thủy thủ trở về mang theo những câu chuyện kinh hoàng về sự đói khát và bệnh tật, đập tan cái ảo ảnh “thiên đường” mà lão ta cố dựng nên để bịp người khác.
Triều đình liền phái một một phán quan tên là Francisco de Bobadilla sang điều tra xem tình hình thực sự thế nào. Ngày định mệnh vào tháng 8 năm 1500 khi tàu của Bobadilla vừa cập bến Santo Domingo, đập vào mắt ông ta là một cảnh tượng kih hoàng làm “bằng chứng thép” không thể chối cãi về sự cai trị tàn bạo của anh em nhà Columbus: Hai cái xác người Tây Ban Nha đang treo lủng lẳng trên giá treo cổ ngay tại bến cảng.
Theo luật pháp hồi đó, giết thổ dân có thể mắt nhắm mắt mở làm ngơ nhưng treo cổ con chiên của chúa, thần dân của nữ hoàng Isabella thì là tội tày đình. Chưa hết, Bobadilla còn nghe tin Columbus đang chuẩn bị treo cổ thêm 5 người nữa vào ngày hôm sau. Thế là Bobadilla có cớ hoàn hảo để ra tay ngay lập tức mà không cần hỏi han gì nhiều.
Lúc này Columbus và em trai Bartolomé đang đi vắng để đàn áp các cuộc nổi loạn trong đất liền, chỉ có em út Diego Columbus ở lại trấn thủ Santo Domingo. Chớp thời cơ, Bobadilla lập tức chiếm quyền kiểm soát pháo đài, thả hết tù nhân chính trị (những kẻ chống đối Columbus) ra, và bắt giam Diego. Nhân danh tờ sắc lệnh có chữ ký của Vua và Nữ hoàng ra lệnh cho tất cả mọi người phải tuân theo, Bobadilla tuyên bố tước bỏ mọi danh hiệu của Columbus, tịch thu toàn bộ tài sản, nhà cửa, và thậm chí cả đống vàng mà Columbus tích trữ được.
Đến khi quay trở lại, trong cơn say ảo tưởng sức mạnh, vẫn nghĩ mình là Phó Vương (Viceroy), danh hiệu "Đô đốc Đại dương"; Columbus định bật lại thì Bodailla chìa sắc lệnh hoàng gia ra làm Columbus phải cứng họng, kết cục bị xích tay lại không dám nói lấy lời nào.
Có một chi tiết cực kỳ nhục nhã là không ai trong đám lính tráng dám hoặc muốn tự tay xích "ngài Đô đốc" lừng lẫy một thời, cuối cùng, chính đầu bếp riêng của Columbus – một kẻ mà lão từng tin tưởng – đã trân tráo bước lên khóa còng số 8 vào tay chủ cũ
Cả ba anh em Columbus (Christopher, Bartolomé, Diego) bị xích riêng biệt, tống xuống hầm tàu tối tăm của con tàu Gorda để chở về Tây Ban Nha. Trong suốt chuyến hải trình dài dằng dặc đó, viên thuyền trưởng cảm thấy ái ngại cho một huyền thoại biển cả nên đã ngỏ ý muốn tháo xích cho Columbus đỡ khổ. Nhưng mày biết lão trả lời sao không? Từ chối. Cái tôi của hắn ta lớn đến mức lão tuyên bố:
“Tao được lệnh của Hoàng gia xích tao lại, thì chỉ có Hoàng gia mới được quyền tháo nó ra”.
Columbus quyết định đeo bộ xích đó như một tấm huân chương của sự oan ức, một đòn tâm lý chiến ngược lại với Hoàng gia. Hắn muốn khi về đến cảng Cadiz, dân chúng và triều đình phải nhìn thấy bộ dạng thảm hại của “người tìm ra Tân Thế Giới” để họ cảm thấy tội lỗi. Thậm chí còn yêu cầu được chôn cất cùng với bộ xích đó khi chết. Đúng chiêu bài “khổ nhục kế” cuối cùng của một kẻ đã mất hết quyền lực thực tế, chỉ còn biết bấu víu vào danh dự hão huyền.
Về tận bến cảng Cádiz vào cuối năm 1500, Columbus từ người hùng 8 năm trước giờ rách rưới, bị tay cả tay lẫn chân lết đi trên cảng gây sốc cho dư luận. Vì sợ mang tiếng “bạo chúa” (vô ơn với công thần) Vua Ferdinand và Nữ hoàng Isabella lập tức ra lệnh thao xích ngay lập tức, giả như việc Bobadilla bắt giam Columbus là một sự "hiểu lầm" hoặc do Bobadilla quá hăng máu làm sai ý chỉ. Sau đó ông ta được mời đến cung điện Alhambra nồng hậu thậm chí Nữ hoàng Isabella còn rơi nước mắt khi nghe lão kể lể khổ sở. Hoàng gia cho trả lại 2000 đồng vàng Ducat bị tịch tnu và lão ta không bị đưa ra tòa xét xử cũng như đi tù thêm ngày nào nữa.
NHƯNG. Chữ nhưng này quan trọng, dù được thả tự do và giữ lại danh dự hão thì quyền lực thực tế đã bị cắt sạch. Triều đình không phục chức Tổng đốc (Governor) cho Columbus mà bổ nhiệm ngay một người khác tên là Nicolás de Ovando làm tân Thống đốc Hispaniola. 2 năm sau (1502) khi Ovando dong buồm sang Mỹ với hạm đội lớn nhất lịch sử thời điểm đó với 30 tàu và khoảng 2.500 người (bao gồm cả Francisco Pizarro và Bartolomé de las Casas) để tiếp quản ghế của cựu tổng đốc, Columbus chỉ biết đứng nhìn trong cay đắng.
Thậm chí, Vua còn cấm Columbus không được bén mảng quay lại hòn đảo Hispaniola nữa. Khi ông ta xin phép Ovando cho vào cảng Santo Domingo để tránh bão, Ovando đã từ chối thẳng thừng, buộc Columbus phải tìm nơi trú ẩn khác trong khi hạm đội của Tây Ban Nha (chở kẻ thù Bobadilla về nước) bị bão nhấn chìm ngay sau đó.
Và sau cùng còn bị lật lọng cái hợp đồng “Capitulations of Santa Fe" hứa cho Columbus làm Phó Vương trọn đời (Viceroy) và hưởng 10% lợi nhuận mãi mãi chỉ vì nghĩ năm đó chẳng tìm ra được cái gì to tát. Nhưng khi biết đó là cả lục địa khổng lồ, hoàng gia nhận ra nếu giữ đúng hợp đồng thì Columbus sẽ trở kẻ giàu có bậc nhất có quyền lực hơn cả vua. Triều đình đã lật lọng.
Columbus chết vào năm năm 1506 trong một căn nhà thuê ở Valladolid, giàu có hơn người thường nhưng vẫn hậm hực, cay cú vì bị Vua vứt bỏ sau khi hết giá trị, đến lúc chết vẫn tin rằng (hoặc cố tin) mình đã tới được Ấn Độ chứ không phải châu Mỹ. Vì nếu thừa nhận là lục địa mới thì những điều khoản về "vàng bạc châu Á" trong hợp đồng cũ sẽ càng dễ bị Hoàng gia bác bỏ.
Sau cùng thì một tờ giấy lộn với vài chữ kỹ nhẹt nhạt chẳng là cái đinh gì với quyền lực tột cùng, muốn xé bỏ thì cần vài câu nước bọt là đủ. Chỉ có những con heo đần độn mới tin rằng “Luật lệ cao hơn bá quyền” để đi làm con kiến mà kiện củ khoai.
Vụ kiện Pleitos Colombinos (Các vụ kiện của dòng họ Columbus) do người con trai ông ta là Diego Colón khởi xướng kéo dài suốt nhiều thập kỷ đòi hoàng gia TBN phải thực hiện đúng thỏa hợp đã ký bị Fiscal (Luật sư hoàng gia) dùng con bài “An ninh quốc gia” (State Reason) - một cụm từ cực kỳ mơ hồ được sử dụng cho mọi tình huống khi kẻ cầm quyền muốn xâm lược vùng đất mới, bỏ từ kẻ chống đối mình và trong trường hợp này vị Fiscal lập luận rằng: Quyền quản lý lãnh thổ và tư pháp là quyền tối thượng của Nhà vua (Sovereignty), không thể chuyển nhượng vĩnh viễn cho một cá nhân. Do đó việc Columbus làm Phó vương trọn đời đe dọa đến quyền lực của ngai vàng nên điều khoản kia là "vi hiến" và đơn phương thu hồi.
Hoàng gia dựa vào báo cáo của Bobadilla về sự tàn bạo và hỗn loạn ở Hispaniola để kết luận: Columbus đã vi phạm nghĩa vụ của một người cai trị.
Hợp đồng là song phương: “Tao cho mày quyền, mày phải cai trị tốt”. Mày cai trị như hạch, để dân loạn, để thất thoát ngân khố => Mày phá hợp đồng trước => Tao có quyền hủy bỏ quyền lợi của mày.
Cuối cùng thay vì nói "Không trả", họ bảo "Cứ kiện đi rồi tính" nhưng khi vụ kiện tính từ lúc con trai Columbus đâm đơn lên Consejo de Indias (Hội đồng Ấn Độ) đã kéo dài ròng rã gần 300 năm (từ năm 1508 đến tận năm 1790 mới dứt điểm) vì Hoàng gia dùng bộ máy quan liêu để câu giờ hết lần này đến lần khác, lập luận rằng Columbus không phải là người duy nhất tìm ra châu Mỹ (lôi công của các thuyền trưởng khác như Pinzón ra để chia nhỏ công lao)
Sau nhiều năm kiện tụng dai dẳng, cháu nội của Columbus là Luis Colón đã chấp nhận một thỏa thuận dàn xếp vào năm 1536 chấp nhận từ bỏ mọi yêu sách đối với chức vụ Phó vương và quyền thu thuế 10% tại Tân Thế giới
Đổi lại dòng họ Columbus được ban tước hiệu Công tước vùng Veragua ( một mảnh đất rộng khoảng 625 dặm vuông ở Panama ngày nay) và danh hiệu Đô đốc, nghe thì sang nhưng quyền lực thì bé tí tẹo so với chức "Phó Vương cả Châu Mỹ".
Vậy khi một thằng mặc áo Tiến sĩ rao giảng về thứ công lý phân minh do nữ thần bịt mắt Justitia phân xử kia mày có dám chắc rằng đến khi phán xét được định đoạt nó sẽ “công bằng” không?
Câu trả lời của tao là KHÔNG. Dải bịt mắt mỏng tanh kia vẫn đủ để bà ta ti hít mắt để nhìn xem bên bàn cân nhiều vàng hơn hoặc bên nào thanh gươm sắc hơn.
Mọi thằng quan tòa, luật sư, bồi thẩm đoàn, công tố viên đều chỉ là con người phàm mắt thịt luôn bị các lợi ích cá nhân chi phối, bị giật dây bởi những con sói đầy quyền lực nhằm cố tình dây dưa về hướng có lợi cho mình từ những cuộc tranh cãi “khái niệm” mơ hồ đến các phiên tranh tụng kéo dài hàng chục hàng trăm năm khiến mày phải ngã quỵ mà từ bỏ đổi lấy vài lợi ích cỏn con?
Luật pháp quy cho cùng chỉ là bức bình phong của quy luật “mạnh được yếu thua” hòng bớt tốn mồ hôi cơ bắp nhất mà vẫn giành được lợi ích lợi lao.
Bản chất của Luật pháp không phải để bảo vệ trật tự hay sự thật mà là được sinh ra để bảo vệ Trật tự và Tài sản của tầng lớp cai trị. Ai là người viết luật? Là vua chúa, là quý tộc, là các tập đoàn tư bản, hay là những tay buôn nô lệ như thời Columbus. Mày nghĩ bọn nó sẽ viết ra những điều luật để tự trừng phạt mình à? Không đời nào. Bọn nó viết luật để hợp thức hóa việc cướp bóc của mình thành một quy trình “văn minh”, sạch sẽ, có giấy tờ đóng dấu đỏ chót.
Cái sự bất công trắng trợn chỉ là phiên bản thấp kém hơn để dụ mồi những con cừu ngây thơ tin cậy như đức tin ở chúa mà không dám để một suy nghĩ nghi ngờ lọt vào đầu. Sự bất công được được bọc trong cái vỏ bọc "quy trình tố tụng" (due process). Mọi con người phàm tục đều có cái giá để mua chuộc được. Thằng quan tòa cũng phải ăn cơm, cũng muốn lên chức, cũng sợ bị trù dập. Khi nó đứng trước một bên là dân đen thấp cổ bé họng và một bên là hệ thống quyền lực khổng lồ, thứ “lương tâm” tự động tìm ra những kẽ hở, những khái niệm mơ hồ như "lợi ích quốc gia", "thiếu bằng chứng", hay "lỗi quy trình" để bẻ lái phán quyết.
Cái vụ kiện 300 năm mà tao vừa kể cho mày chính là í dụ kinh điển nhất cho cái chiến thuật "lấy thịt đè người" bằng văn bản này. Hoàng gia Tây Ban Nha biết thừa mình sai khi xù kèo, nhưng họ nắm trong tay quyền lực lập pháp và thời gian. Họ cứ dây dưa, kháng cáo, đòi bổ sung hồ sơ, xét lại tình tiết... Cứ thế, đời cha chết thì đời con kiện tiếp, đời con chết thì đời cháu theo hầu tòa. Tiền án phí, tiền thuê luật sư, tiền đi lại sẽ bào mòn tài sản và ý chí của nguyên đơn. Đến một lúc nào đó, mày sẽ kiệt quệ và buộc phải chấp nhận một thỏa thuận "bố thí" gọi là hòa giải. Đó không phải là công lý, đó là sự đầu hàng vì kiệt sức.
Triết gia cổ đại Anacharsis nói một câu mà tao cực kỳ thích:
"Luật pháp giống như mạng nhện; nó bắt được những con ruồi nhỏ, nhưng lại để cho ve bắp cày và ong lớn xé toạc mà bay qua"
Những con sói quyền lực đội lớp vỏ nhà vua mang vương miệng, chính trị gia mặc Vest hay các CEO của tập đoàn đa quốc gia trong các tổ hợp quân sự, công nghệ và phố Wall chính là những con bắp cày đó. Chúng nó đủ mạnh để xé rách lưới hoặc đủ khôn để thuê con nhện thợ dệt lưới (chính là đám luật sư, tiến sĩ luật) dệt cho chúng một lối đi riêng.
Những tên luật sư mặc áo thụng đen rao giảng đạo lý trên các phiên tòa, tao thấy bản chất chẳng khác gì những diễn viên trong một vở kịch lớn nhằm ru ngủ đám đông.
Nếu thằng mạnh vai u thịt bắp cứ vác gậy ra đập thằng yếu để cướp tiền xã hội sẽ loạn làm đám cừu hoảng sợ và đoàn kết lại nổi dậy chống lại nó làm “chi phí cai trị” trở nên đắt đỏ để đem quân đến đàn áp rồi lại phải trả tiền cho quân đồn trú nhằm tái lập lại trật tự có lợi cho hầu bao của hắn. Nhưng nếu thằng mạnh đó đem kẻ yếu ra tòa, cứ dùng những từ ngữ Latin cao siêu, trích dẫn nghìn lẻ một điều khoản rồi mới tịch thu thì đám đông sẽ gật gù là: "À, nó bị phạt là đúng luật". Đấy là cái sự "bớt tốn mồ hôi cơ bắp" tao nói. Nó giúp kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu không cần dính một gió máu mà còn được vỗ tay khen ngợi là "thượng tôn pháp luật".
Cho nên đừng bao giờ đặt trọn niềm tin tuyệt đối vào cán cân sắt vô trí ấy. Khi bước vào cuộc chơi pháp lý, mày phải hiểu mày đang bước vào sân nhà của kẻ mạnh, nơi luật chơi do chúng nó viết, trọng tài do chúng nó trả lương. Sự công bằng, nếu có rớt xuống, thì cũng chỉ là tai nạn nghề nghiệp hoặc là vài mẩu bánh vụn để mị dân mà thôi.
"Veneziola" (Tiểu Venice - Venezuela)
Trước khi người châu Âu đặt chân đến vùng đất này là nơi sinh sống của hàng trăm bộ lạc bản địa từ bọn Timoto-Cuica có trình độ nông nghiệp cao trên dãy Andes cho đến bọn Carib thiện chiến (thậm chí bị đồn là ăn thịt người) ven biển, hay bọn Wayuu sống du mục ở sa mạc. Đám này chẳng hề coi nhau là “đồng loại” mà là “kẻ thù” không đội trời chung tranh giành đồng cỏ, nguồn sạch. Giữa hai bộ lạc thù địch không có ngôn ngữ chung gặp nhau thì lại ông nói gà bà nói vịt. Khái niệm “quốc gia” chỉ là thứ được nhập khẩu dưới sự cưỡng bức của nòng súng thực dân.
Về nguồn gốc cái tên Venezuela trước đó khi Columbus khi tình cờ mò đến đây vào năm 1498 vì nhìn thấy sông Orinoco quá hùng vĩ đẹp như thiên đàng nên gọi nơi này là "Tierra de Gracia" (Vùng đất của Ơn Chúa hay Lãnh địa Ban Ơn). Cái tên này đến tận bây giờ trong văn hóa đại chúng hoặc các bài diễn văn sến súa của đám chính trị gia cánh hữu gọi Venezuela bằng biệt danh "La Tierra de Gracia". Ngoài ra, dân đi biển thời đó còn gọi khu vực bờ biển này bằng cái tên sặc mùi tiền là "Costa de las Perlas" (Bờ biển Ngọc trai) vì lý do mà tao đã kể cho mày ở phần trước.
Còn về phía dân bản địa, dĩ nhiên họ có tên riêng cho vùng đất của mình. Ví dụ khu vực hồ Maracaibo nơi Vespucci nhìn thấy nhà sàn được thổ dân gọi là Coquivacoa, còn vùng bán đảo nơi Columbus cập bến gọi là Paria. Nhưng mày biết quy tắc của kẻ đi xâm lược rồi đấy: Tên của mày không quan trọng, tao gọi mày là gì thì mày là cái đó.
Đám da trắng khi đặt châu đến vùng đất mới này nhìn thấy sự đa dạng, hỗn loạn như một cơn ác mộng về mặt quản lý (Logistics Nightmare).
Làm sao mày thu thuế được khi thổ dân cứ chạy rông rải rác trong rừng rậm?
Làm sao mày bắt lính hay bắt thợ lặn ngọc trai được khi không biết thằng nào thuộc nhóm nào, trốn ở đâu? Thế là bọn nó đẻ ra cái chính sách gọi là "Reducciones" (Khu quy tập) hay các "Pueblos de Indios".
Có thể hiểu nôm na là quy hoạch cưỡng bức hay dồn dân vào các “ấp chiến lược” như miền nam dưới thời Ngô Đình Diệm. Chúng dùng súng đạn và tôn giáo để lùa các bộ lạc khác nhau bất kể khác biệt về văn hóa hay thù hận nhiều đời trước rồi nhét chung vào một khu định cư tập trung theo mô hình bàn cờ (grid layout) kiểu châu Âu sau đó xây một nhà thờ ở vị trí trung tâm, đặt cho một cái tên Thánh Tây Ban Nha rồi chỉ định một thằng tù trưởng bù nhìn để quản lý với mục đíhc duy nhất là để dễ dàng kiểm đếm đầu người (census) hòng thu thuế thân và phân phối lao động khổ sai (repartimiento) cho các mỏ vàng hoặc đồn điền cacao một cách hiệu quả nhất.
Những bản đồ hành chính mà mày thấy ngày nay ở Mỹ Latin với những đường biên giới phân chia các tỉnh thực chất là những nét bút chì được vẽ trên bàn giấy ở Madrid hoặc Seville bởi những thằng quan lại chưa bao giờ đặt chân đến Nam Mỹ. Chúng chia đất đai như miếng bánh Pizza theo kiểu:
"Khu vực này thuộc quyền cai quản của thống đốc X để trồng cacao, khu vực kia thuộc quyền của thống đốc Y để nuôi bò"
Nhưng cần đến tên gọi chung cho tất cả các tỉnh kinh tế rời rạc như Caracas, Cumaná, Guayana, Maracaibo được gom về một đầu mối chỉ huy duy nhất ở Caracas để thống nhất quy trình hải quan, thuế vụ và quân sự nhằm chống buôn lậu, đảm bảo mọi hạt cacao hay đồng xu vàng đều phải chảy về túi Hoàng gia chứ không bị tuồn ra ngoài cho bọn Anh hay Hà Lan. Chúng cần một tên gọi và "Venezuela" (Tiểu Venice) được chọn.
Cái tên này xuất phát từ một gã người Ý có tên là Amerigo Vespucci. Mặc dù Columbus là một nhà thám hiểm giỏi nhưng làm truyền thống cực kỳ tồi tệ khiến không ai nhắc đến cái tên lão ta đặt ra vì hay giấu bản đồ, báo cáo thì lủng củng còn bị Hoàng gia giữ kín các thư từ vì sợ lỗ bí mật quốc gia. Ngược lại Amerigo Vespucci lại giỏi “làm màu” được biết đến nhiều hơn trong cúng chúng nhờ những lá thư mô tả chuyến được in ấn và phát rộng rãi khắp châu Âu vì đọc cuốn hơn cả tiểu thuyết. Hầu hết các nhà làm bản đồ (cartographers) cùng thời đều cập nhật thông tin qua các tài liệu của Vuspucci.
Veneziola (tiểu Venice) được Vespucci đặt tên khi bờ biển phía tây bắc cùng Alonso de Ojeda vào năm 1499, ông ta trông thấy những ngôi nhà sàn (được gọi là palafitos) của người bản địa Añu xây dựng trên mặt nước Hồ Maracaibo. Chúng gợi nhớ nỗi nhớ quê nhà Venice (Venezia trong tiếng Ý) thế nên được đặt tên là Veneziola (hoặc đôi khi được viết là Venezziola).
Khi chuyển sang tiếng bây ban nha thì trở thành Venezuela với cái đuôi "-uela" có nghĩa là "nhỏ" (diminutive), nhưng nó cũng thường mang hàm ý coi thường, hạ thấp giá trị (pejorative). Ví dụ "Plaza" là quảng trường, thì "Plazuela" là cái sân xập xệ. "Mujer" là phụ nữ, "Mujerzuela" là ả đàn bà lăng loàn. Cái tên "Venezuela" - Venice Nhỏ - hay "Venice tồi tàn" cực kỳ hợp với tâm lý trịch thượng của bọn thực dân Tây Ban Nha.
Chúng nhìn những ngôi nhà sàn rách nát của thổ dân, so sánh với sự lộng lẫy của Venice nước Ý, và cười khẩy: "À, đây là Venice phiên bản lỗi". Cái tên này phản ánh đúng tư duy coi thuộc địa là một phiên bản thấp kém của mẫu quốc, nên nó được giới cai trị ưa dùng hơn là cái tên "Tierra de Gracia" nghe quá tôn trọng.
Một số sách sử khác như Sử gia Martín Fernández de Enciso ghi chép rằng đây là tên gọi của một nhóm hoặc ngôi làng bản địa mà đoàn thám hiểm của Alonso de Ojeda đã tìm thấy gần Vịnh Venezuela vào năm 1499. Chứ chẳng hề liên quan gì đến đến Venice. Tao cũng chẳng biết cái nào mới là nguồn gốc thực sự nên chơi bài nước đôi của đám học thuật bảo thủ để giả vờ mình công tâm, trung lập khi chỉ ra cả hai nguồn trái ngược nhau. ( ͡° ͜ʖ ͡°)
Đến năm 1528, "Provincia de Venezuela" (Tỉnh Venezuela) đã trở thành tên gọi hành chính chính thức trong hệ thống thuộc địa Tây Ban Nha để phân biệt với các vùng khác như Santa Marta hay New Andalusia.
Vậy cái hệ quả của cái tư duy "vẽ bản đồ để bóc lột" trên một vùng đất trước đó chỉ toàn thổ dân bản địa sống theo lãnh thổ của bộ tộc là gì? Nó tạo những quốc gia "nhân tạo" (Artificial Nations), trói buộc người dân trong cái biên giới đó không được gắn bó với nhau bằng lịch sử hay văn hóa chung tự nhiên mà bị trói buộc bởi cái bản đồ hành chính do kẻ cai trị để lại.
Sau khi đám thực dân rút đi thi những cuộc nội chiến triền miên giữa các bộ lạc với nhau và những quốc gia gây chiến vì đòi phân lại biên giới theo những con sông, dãy núi, tảng đá mà trước đó các bộ tộc du mục đã sống cả ngàn năm trước đấy. Vì mâu thuẫn không giải quyết được bằng lời nói thì con người sẽ dùng “bạo lực” chiến tranh để kẻ thù phải khuất phục ý chí của mình rồi bắt kỳ vào “hiệp định biên giới” để hợp thức hóa vùng đất vừa chiếm được. Các lãnh chúa địa phương (Caudillos) ở vùng núi cảm thấy chả có lý do gì phải nghe lệnh bọn ở vùng biển, và thế là họ cầm súng phang nhau để tranh giành quyền lực. Một cuộc nội chiến kéo dài liên tục suốt thế kỷ 19 để trả cái giá cho việc dùng thước kẻ và súng đạn để xây dựng quốc gia thay vì sự phát triển hữu cơ từ dưới lên.
Những chuyến đi Andalusia (Viajes Andaluces)
Kể từ sau khi Columbus xích cổ về cố quốc, cánh cửa địa ngục Venezuela được mở tung ra cho bất kỳ kẻ nào có gan liều mình và có tàu để đi. Giai đoạn này được gọi là kỷ nguyên của các "Chuyến đi nhỏ" (Minor Voyages) hay chính xác hơn là "Những chuyến đi Andalusia", Hoàng gia TBN sẵn sàng cấp giấy phép (license) cho giới tư nhân tự bỏ vốn đi cướp, lời ăn lỗ chịu miễn là chịu nộp lại 20% (thuế Quinto Real) cho Vua là được.
Mặc dù những tin đồ chết chóc, bệnh tật từ châu Mỹ theo tàu của Columbus đổ về làm tan giấc mộng phiêu lưu của những kẻ mộng mơ nhưng chính kẻ còn sót lại vẫn ôm giấc mơ đổi đời với lá gan cùng mình liều mạng.
Những kẻ đi khai thác thuộc địa mới đa phần như đám lính của Ojeda hay Pizarro sau này đều đến từ vùng Extremadura – cái rốn nghèo đói, khô cằn nhất Tây Ban Nha. Ở quê nhà, chúng chỉ lầng lớp dưới đây xã hội nếu không là đám nông dân không ruộng đất, con thứ trong gia đình (theo luật lệ và truyền thì con cả hưởng hết gia tài) thì cũng là đám lính đánh thuê thất nghiệp vì các lãnh chúa không cần đến 1 đám chiến đấu sẵn sàng ngả phe vì tiền trong khi đã có lượng bạc khổng lồ từ tân thế giới. Khi cuộc tái chinh phục (Reconquista) đánh đuổi người Moor hồi giáo kết thúc vào năm 1492, một lượng lớn lính đánh thuê và hiệp sĩ cấp thấp bị thất nghiệp.
Với tụi này đời coi như tàn chỉ có nước làm trâu ngựa đến chết cho lãnh chúa hoặc vào tu viện đi tu ẩn dật đến hết phần đời còn lại. Đi sang Tân thế giới dù tỷ lệ chết có là 90% đi chăng nữa thì 10% còn lại vẫn có cơ hội trở thành Hidalgo (tầng lớp quý tộc nhỏ), có đất, có nô lệ. Chẳng khác gì đánh liều xổ số cược cả cái mạng của mình vậy. Thêm việc tin đồn về "ngọc trai xúc bằng xẻng" ở Venezuela mà Columbus bơm thổi trong lá thư trước đó có sức hút ma mị, át hết mọi nỗi sợ về sốt rét hay mũi tên tẩm độc
Thứ hai là cách thức tiến hành khai thác thuộc địa Venezuela hậu Columbus cực kỳ tàn bạo, chuyển từ mô hình “đồn điền" sang mô hình "cầm đồ": : Venezuela là thuộc địa duy nhất ở Nam Mỹ từng bị đem đi gán nợ cho ngân hàng.
Chuyện là tân vương Tây Ban Nha Charles I (sau này là Hoàng đế Karl V của Đế quốc La Mã Thần thánh) nợ ngập đầu ngân hàng Đức của gia tộc nhà Welser và Fugger ở Augsburg chi phối vì cần tiền để hối lộ đám quý tộc để đăng cai ngôi vị Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh vào năm 1519. Nhưng khoản nợ này quá lớn không đủ tiền mặt để trả nên vào năm 1528 Vua Charles ký một hợp đồng gọi là "Klein-Venedig" (Tiểu Venice - tên tiếng Đức của Venezuela), cho phép nhà Welser toàn quyền cai trị, khai thác và bóc lột Venezuela để trừ nợ. Vậy từ thuộc địa của hoàng gia TBN được chuyển vào đám tư bản ngân hàng Đức.
Đám người Đức (đứng đầu là Ambrosius Ehinger và sau đó là Nikolaus Federmann) không quan tâm đến việc truyền đạo, xây thành phố hay văn minh hóa gì sất. Tư duy của chúng nó thuần túy là tư duy của chủ nợ đi siết nợ: vét sạch tất cả những gì đang có để thu hồi đống tiền bỏ ra đầu tư, chốt lợi nhuận nhanh hết sức có thể trước khi hết hạn hợp đồng.
Vì vậy khác với đám thực dân TBN chỉ quan tâm tới việc lập đồn diền độc canh khiến việc thu hồi lại vốn lâu, bọn Đức tập trung toàn lực vào hai thứ: Săn tìm thành phố vàng huyền thoại El Dorado và buôn nô lệ.
Dưới thời bọn Welser, Venezuela biến thành một trại lính khổng lồ. Các thống đốc người Đức tổ chức các cuộc hành quân tàn bạo sâu vào trong lục địa. Vì không định cư lâu dài nên đi tới đâu càn quét làng mạc, bắt thổ dân xích lại thành hàng dài để đem tống lên thuyền đi buôn người. Bất kỳ ai đi chậm làm hỏng đội hình ảnh hưởng tới lợi nhuận liền bị chặt đầu tại chỗ để không phải tháo xích (vì xích đắt tiền hơn mạng người). Những thổ dân sau khi bị bắt lùa sang bờ biển để lao động khổ sai hoặc ép lặn mò ngọc trai.
Sự tàn bạo của giới chủ ngân hàng Đức khủng khiếp đến mức khiến đám thực dân TBN dù cùng là dân da trắng cũng phải rùng mình và viết đơn kiện lên Hoàng gia vì sợ đám người Đức giết hết thổ dân thì lấy đâu ra nhân công rẻ mạt mà làm việc sau này nữa.
Còn truyền thuyết El Dorado - thành phố vàng huyền thoại mà tới ngày nay vẫn còn xuất hiện trên trên phim của Indiana Jones bắt nguồn từ một nghi lễ đăng cai của tộc người người Muisca sống ở vùng cao nguyên Andes (nay thuộc Colombia, ngay sát nách Venezuela).
Mỗi khi có một vị thủ lĩnh mới (gọi là Zipa) lên ngôi, ông ta sẽ được bôi nhựa cây dính đầy người, sau đó thợ sẽ thổi bụi vàng phủ kín từ đầu đến chân cho đến khi ông ta trông như một bức tượng vàng sống. Vị vua vàng này sẽ chèo bè ra giữa hồ thiêng Guatavita, ném các đồ tế lễ bằng vàng và ngọc lục bảo (emeralds) xuống đáy hồ để cúng thần linh, rồi nhảy ùm xuống tắm để rửa sạch lớp vàng đó.
Về bản chất thì chỉ là một nghi thức tôn giáo bản địa nhưng khi đám lính Tây Ban Nha (Conquistadors) vào khoảng những năm 1530 bắt đầu biến tướng theo 7749 kiểu "tam sao thất bản" qua những cái mồm của đám thủy thủ đoàn say xỉn ở các quán rượu ở cảng biển Seville, Lisbon hay Antwerp.
Tụi này sau khi đi cướp thành công các kho vàng của người Inca (Peru) và Aztec (Mexico) đã mang về câu chuyện thật về những "Căn phòng chuộc thân" (Ransom Room) chất đầy vàng của hoàng đế Atahualpa tạo nên một cái "tiền lệ tâm lý" (Confirmation Bias) khiến cho dân châu Âu đang đói vàng vì những mỏ còn lại đã cạn kiệt lẫn việc giao thương với Ottoman và Trung Quốc, Ấn Độ làm cạn kiệt kho bạc tụi nó. Tụi nó nghĩ trong đầu thế này:
“Nếu thằng Pizarro đã tìm thấy đế chế Inca giàu nứt đố đổ vách, thì chắc chắn phải có một đế chế thứ ba còn giàu hơn nằm đâu đó trong rừng rậm”.
Thế là câu chuyện về “Gã tù trưởng dát vàng” bị thổi phồng lên thành “Thành phố dát vàng”, rồi thành “Vương quốc dát vàng”, nơi mà đường đi lát bằng vàng, chén đĩa bằng vàng, trẻ con chơi bi bằng ngọc quý.
Lời đồn còn đi xa hơn cả những thực tế khắc nghiệt chết người vì bệnh sốt rét. Tin tức lan truyền về châu Âu qua những bức thư tay, những báo cáo phóng đại mà các nhà thám hiểm gửi về triều đình để xin thêm tiền tài trợ (giống như lên Shark Tank gọi vốn bây giờ, phải nổ to như đại bác mới được rót vốn). Nhờ công nghệ in ấn (printing press) của Máy In Gutenberg ra đời vào năm 1450 giúp các tập sách mỏng (Pamphlets) kể về những chuyến phiêu lưu kỳ thú này in được số lượng lớn với giá thành rẻ chỉ có vài xu này bán đắt như tôm tươi, kích thích trí tưởng tượng của hàng ngàn gã đàn ông thất nghiệp, khố rách áo ôm ở châu Âu giong buôn ra khơi.
Qua đến tận cái xứ nhiệt đời nóng ẩm đầy muỗi mòng này còn bị lừa bởi đám thổ dân. Mỗi khi đám lĩnh Tây Ban Nha hay bọn Đức mò đến một ngôi làng nào đó, gí súng vào đầu tù trưởng tra hỏi "Vàng đâu?", liền hiểu ngay chúng đòi thứ kim loại nào rồi.
Để tống khứ đám ôn dịch này đi, họ sẽ chỉ tay về phía xa tít tắp, về phía lãnh thổ của kẻ thù hoặc vào rừng sâu nước độc, và bảo:
"Ở đây không có đâu, nhưng đi về hướng kia kìa, cách đây 10 ngày đường, có một thành phố vàng to lắm, tên là El Dorado".
Thế là đám thực dân sướng rơn, khăn gói quả mướp lên đường, để lại sự bình yên cho ngôi làng đó. Cứ thế, bộ lạc này lừa sang bộ lạc kia, đẩy bọn châu Âu đi sâu mãi vào lục địa Nam Mỹ, băng qua dãy Andes lạnh buốt, lội qua lưu vực sông Amazon và Orinoco đầy cá sấu và bệnh sốt vàng da. El Dorado luôn luôn nằm ở “bên kia ngọn núi”, “bên kia dòng sông”, một cái đích không bao giờ đến được.
Khoảng cách giữa thực tế và truyền thuyết là một vực thẳm. Người Muisca có vàng, đúng, nhưng họ không có mỏ vàng vô tận như trong lời đồn. Vàng được dùng để trao đổi với các bộ lạc khác để lấy muối và vải vóc, là vật linh thiêng để giao tiếp với thần linh chứ không phải loại tiền tệ để tích trữ làm giàu như bọn da trắng nghĩ.
Không có thành phố lát vàng nào tồn tại nhưng chỉ có mỗi Hồ Guatavita là có thật, và bọn thực dân đã từng thử tát cạn cái hồ đó (năm 1545 và nhiều lần sau đó). Kết cục là chỉ thấy được vài trăm món đồ trang sức bằng vàng dưới lớp bùn, nếu tính trên chi phí đào bới thì rõ ràng LỖ TO. Nhiều đoàn thám hiểm, như của gã thống đốc Đức Ambrosius Ehinger hay hiệp sĩ Anh Walter Raleigh, đã chết mòn, ăn thịt lẫn nhau, hoặc phát điên trong rừng rậm vì cái ảo ảnh này.
"Grandes Cacaos" (Những ông trùm Cacao)
Mãi đến năm 1546 khi thấy cách đám Welser quản lý quá nát, lại không tìm thấy El Dorado để trả nợ tiếp. Trong khi ở những nơi khác quân đội thực dân Tây Ban Nha trúng đậm.
Ở Peru, Francisco Pizarro đã tiêu diệt đế chế Inca (năm 1533) và cướp được những căn phòng chất đầy vàng ròng. Còn TBN như đã nói ở P1, năm 1545 tìm ra được mỏ bạc lớn nhất lịch sử nhân loại từng thấy - Potosí (Cerro Rico - Ngọn núi Giàu).
Những con tàu chất đầy vàng và bạc chở về kho bạc của vua Charles nhiều đến mức làm rung chuyển cả nền kinh tế châu Âu khiến món nợ với nhà Welser trở nên nhỏ bé, chẳng đáng bao nhiêu so với 12 năm trước. Vị thế của con nợ và chủ nợ đảo chiều làm Charles V bắt đầu nhận ra:
"Tại sao tao phải để bọn Đức ăn chặn đất của tao, trong khi giờ tao đủ tiền nuôi quân đội để tự quản lý?"
Giàu rồi nhưng vẫn muốn giữ mặt mũi, tên vua vua này bắt đầu giở trò ma đạo nhằm kiếm cớ đuổi khéo lũ người Đức. Vậy giờ làm gì? Giở sách luật ra soi kiếm kẽ hở để lách một cách “văn minh”, “khôn khéo”.
Trong hợp đồng năm 1528, đám Welser cam kết xây dựng 2 thành phố, 3 pháo đài và đưa 50 thợ mỏ Đức sang phát triển kinh tế. Thực tế rằng 20 năm chẳng làm được cái gì ra hồn ngoài mấy cái lán trại tạm bợ, chỉ biết chăm chăm đi cướp bóc và buôn nô lệ.
Vậy cái cớ đã có, Tây Ban Nha cử các các quan thanh tra (Juez de residencia) sang, lập biên bản:
“Các anh không xây thành phố như cam kết.”
“Các anh đối xử tàn tệ với thổ dân (vốn là thần dân của Vua).”
“Các anh không truyền đạo Công giáo nghiêm túc.” Đây là đòn pháp lý (Lawfare). Tây Ban Nha biến mình từ kẻ đi vay thành “nạn nhân của sự quản lý yếu kém”, từ đó có cơ sở pháp lý để đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không mang tiếng là quỵt nợ.
Việc đuổi đám người Đức cuối cùng không chỉ được thực hiện ở tòa án Madrid mà là lưỡi kiếm tại Venezuela.
Năm 1546, gã Thống đốc người Đức cuối cùng là Philipp von Hutten đang dẫn quân đi thám hiểm sâu trong nội địa để tìm El Dorado đi biền biệt mấy năm trời không tin tức. Ở nhà (thủ phủ Coro), bọn Tây Ban Nha tưởng lão chết rồi nên cử một gã quan chức hoàng gia tên là Juan de Carvajal lên nắm quyền tạm thời.
Juan de Carvajal lộ ra bản chất của một thằng thực dân Tây Ban Nha (TBN) điển hình: gian manh, tàn bạo và cực kỳ ghét đám người Đức. Tranh thủ kúc von Hutten vắng nhà, hắn thiết lập lại trật tự kiểu TBN, chia đất cho anh em người Tây Ban Nha và dời dân đi chỗ khác lập ra thành phố El Tocuyo.
Đùng một cái, Philipp von Hutten lù lù còn sống trở về với tấm thân te tua xơ mướp vì sốt rét và suy dinh dưỡng trầm trọng.
Lúc này, Venezuela mới bắt đầu quay lại mô hình thuộc địa kiểu Tây Ban Nha truyền thống: chia đất và chia dân (Encomienda) cho các địa chủ da trắng để trồng cacao và chăn bò, hình thành nên tầng lớp "Grandes Cacaos". Vì một núi không thể có hai hổ, Von Hutten đòi lại quyền lực như đúng trong hợp đồng nợ năm 1528.
Carvajal giả vờ mời von Hutten và phó tướng Bartholomeus Welser VI (con trai của ông trùm ngân hàng Welser) đến ăn tối để "bàn giao công việc". Đó là một cái bẫy “Hồng môn yến” kinh điển. Sau khi bữa gặp mặt kết thúc, Carvajal liền cho lính phục kích, tóm gọn đám người Đức vào trong ngục.
Mặc kệ von Hutten gào thét về tờ giấy lộn có chữ ký của Hoàng đế Charles V, Carvajal ra lệnh chặt đầu Philipp von Hutten và Bartholomeus Welser VI ngay tại chỗ bằng một con dao rựa cùn (hoặc kiếm), ngay dưới gốc cây ở El Tocuyo.
Hành động này như một thông điệp gửi về Augsburg:
"Ở đây luật pháp là lưỡi kiếm của người Tây Ban Nha, không phải tờ giấy của bọn Đức".
Sau khi nghe tin người của mình bị chặt đầu, gia tộc Welser đâm đơn kiện lên Hoàng đế Charles V. Lúc này cán cân cân giữa con nợ và chủ nợ đã đổi chiều, ông ta phớt lờ đi để cho Hội đồng Ấn Độ (Consejo de Indias - Council of the Indies) là cơ quan duy nhất có thẩm quyền tối cao đối với mọi vấn đề ở Tân Thế giới (Americas). Để tao nhắc lại, cái tòa án này cũng là nơi thụ lý vụ kiện của Columbus và cũng dùng chính cái bài thủ tục hành chính lê thê kéo dài 10 năm từ 1546 đến năm 1556.
Như tao nói ở trên tòa án phán quyết bọn Welser thua kiện vì "vi phạm hợp đồng trước" về thành lập 2 thành phố mới, xây dựng 3 pháo đài và truyền đạo cho người bản địa, từ đó mất mọi quyền lợi. Gia tộc Welser mất trắng khoản đầu tư khổng lồ vào canh bạc đi tìm El Dorado, mất cả người thừa kế Bartholomeus Welser IV , cộng với việc các khoản nợ của Hoàng gia Tây Ban Nha bị tuyên bố "vỡ nợ" (default) dưới thời Philip II (con trai Charles V), đã khiến gia tộc Welser kiệt quệ. Cuối cùng họ tuyên bố chính thức phá sản vào năm 1614.
Sau khi giành lại quyền cai trị, một cuộc cách mạng về mô hình kinh tế khai thác thuộc địa ở Venezuela diễn ra: chuyển từ từ "Kinh tế cướp bóc" (Raider Economy) sang "Kinh tế đồn điền" (Plantation Economy). Và công cụ cốt lõi để vận hành cỗ máy này chính là cái thứ quái thai mang tên Encomienda.
Nếu tao nói Encomienda là chế độ thì kiểu gì bọn chuyên gia lại lôi ba cái định nghĩa trong từ điển, trích dẫn mấy cái “paper research” không ai đọc, án lệ để lôi kéo vào cuộc tranh luận “khái niệm của khái niệm” không hồi kết. Ừ đúng, Encomienda không phải là chế độ nô lệ trên giấy tờ. Còn TRÊN THỰC TÊ là câu chuyện khác, luật pháp chỉ là công cụ cho việc cướp bóc trên trở nên “hợp lý” hơn.
Luật pháp Tây Ban Nha (Laws of Burgos 1512) rất đạo đức giả khi quy định coi thổ dân bản địa là là "thần dân tự do" của Nhà vua, có linh hồn, nên không được bán làm nô lệ (trừ khi chống đối). Vậy nên đám Fiscal (luật sư hoàng gia) đẻ ra khái niệm Encomienda (có nghĩa là "ủy thác" hay "giao phó"). Cơ chế của nó như sau:
Nhà vua “giao phó” một nhóm thổ dân (khoảng từ vài trăm đến vài nghìn người) cho một tên thực dân da trắng đã có “công trạng” (gọi là Encomendero)- làm gì mà được trao huân chương thì mày biết rồi đó.
Tên Encomendero có nhiệm vụ “cao cả” là bảo vệ thổ dân, dạy cho họ tiếng TBN và quan trọng nhất là cải đạo họ sang đạo Công giáo để “cứu rỗi linh hồn”.
Đổi lại cái “công ơn” dạy dỗ đó, các thổ dân phải trả ơn bằng cách cống nạp sản hoặc hoặc lao động chân tay cho tên chủ.
Nói tới đây chắc bọn mặc áo thụng lại cãi: “Đấy, ngay cả những người dân thuộc địa cũng được bảo vệ quyền con người dưới sự bảo hộ và khai sáng văn minh của nhà chức trách đương quyền”. Tao nhổ tẹt vào những lời dối trá đánh tráo khái niệm ấy, vứt xuống hầm cứt cũng chưa hết thối.
Thay vì bị gọi là nô lệ, những thổ dân chỉ có cái tiếng "người được bảo trợ" bị buộc chặt vào đất đai mà không có quyền sở hữu ruộng đất trên ngay chính mảnh đất tổ tiền của mình. Họ phải cày cuốc, chăn bò , trồng cacao từ sáng đến tối mịt, mọi nông sản làm ra phải nộp gần hết dưới dạng "thuế cống nạp" cho thằng Encomendero để "trả nợ" cái công ơn cải đạo mà họ không hề mong muốn.
Nếu bỏ trốn sẽ bị coi là “phản loạn” và bị săn đuổi đến chết. Hệ thống Encomendero này còn tác khốc hơn cả chế độ nô lệ khi thằng Encomendero không sở hữu thổ dân (như sở hữu con bò), nên hắn không có động lực phải giữ gìn sức khỏe để bóc lột dài hạn hơn. Nếu đám thổ dân này chết vì làm việc quá sức? Chẳng sao cả, hắn sẽ xin Nhà vua “giao phó” cho một đám khác.
Chính trên cái xác của hàng vạn thổ dân trong các trại Encomienda này, tầng lớp "Grandes Cacaos" (Những ông trùm Cacao) đã trỗi dậy.
Tại sao lại là Cacao mà không phỉa cao su, múa đường, bông vải, thuốc lá? Vì sao khi cày nát đất Venezuela mà không thấy vàng, bọn thực dân phát ra cây Cacao mọc hoang dã đầy rẫy ở các thung lũng ven biển Venezuela, đặc biệt là loại Criollo thượng hạng thuộc biến thể Porcelana.
Trong giới sành ăn, nếu ví các loại cacao khác là xe Toyota Vios nồi đồng cối đá, thì thằng Criollo Venezuela chính là Rolls-Royce Phantom. Hạt của nó trắng như sứ, vỏ mỏng, có hương thơm tinh tế, ít đắng và cực kỳ béo ngậy. Những nơi khác (như Ecuador hay Mexico), đám TBN cũng có thử trồng thử nghiệm giống Forastero - dễ trồng, sản lượng coa nhưng vị chát xít vì thế chúng rẻ tiền phù hợp đem bán cho dân lao động chân tay uống.
Nhưng chính chất lượng "hàng tuyển" độc nhất vô nhị này đã khiến giới quý tộc Pháp, Ý, Tây Ban Nha chỉ chấp nhận uống cacao nếu trên bao bì ghi xuất xứ "Caracas". Từ đó Cacao từ Venezuela trở thành một thương hiệu xa xỉ phẩm (Luxury Brand) đầu tiên của Tân Thế Giới.
Mặc dù ban đầu, người châu Âu chê cacao đắng nghét như thuốc cho đến khi các các nữ tu sĩ ở Mexico nghĩ ra trò pha thêm đường mía, vani và quế vào, nó trở thành thứ nước uống gây nghiện như CocaCola, Pepsi bây giờ.
Thậm chí đến năm 1659 tại Vatican, giáo hoàng Pius VI (và những người kế vị) đã phán rằng "Liquidum non frangit jejunium" (Chất lỏng không phá vỡ quy tắc ăn chay). Với những người sùng đạo phải ăn chay kiêng thịt trong nhiều ngày lễ thánhg trong năm, họ đói mờ mắt nhưng không được ăn nên Sô-cô-la (Chocolate) làm từ Cacao trở thành cứu cánh. Vì theo lời giáo hoàng được tính như “nước” nhưng lại đậm đặc calo chỉ cần uống một buổi là no bụng còn gây hưng phấn (do chất Theobromine). Thế là từ các tu viện cho đến cung điện, người ta uống cacao thay cơm trong những ngày chay tịnh. Cacao Venezuela trở thành thứ “vàng đen” nuôi sống đức tin (và cái dạ dày) của giới thượng lưu Công giáo châu Âu.
Giống Cacao này lại cực kỳ hợp hoàn hảo với tư duy "lười làm ham ăn" của giới chủ nô. Trồng lúa hay mía thì vất vả, phải thu hoạch đúng vụ, chế biến phức tạp. Còn cây cacao? Nó là cây lưu niên, trồng một lần ăn mấy chục năm. Giống này ưa bóng râm nên cứ trồng xen dưới tán cây lớn là nó tự lớn, ít sâu bệnh. Công việc chủ yếu là sai nô lệ đi nhặt quả, tách hạt, phơi nắng. Quy trình đơn giản, không cần máy móc, không cần trí tuệ, chỉ cần roi vọt và mồ hôi nô lệ. Nó cho phép đám chủ đồn điền có dư dản thời gian và tiền bạc để sống cuộc đời nhàn rồi, đua đòi theo mốt Paris, London mà không cần bẩn một hạt bụi nào lên tay.
Những gã Encomendero da trắng nhanh chóng chiếm đoạt những vùng đất màu mỡ nhất, bắt thổ dân trồng cacao và trở nên giàu có nứt đố đổ vách. Chúng hình thành nên một tầng lớp tinh hoa mới, tự gọi mình là Mantuano (xuất phát từ chữ “Manta” – cái khăn trùm đầu bằng ren đắt tiền mà vợ con bọn chúng hay diện khi đi lễ nhà thờ).
Cái đặc điểm nhận dạng của bọn Mantuano so với địa chủ ở Bắc Mỹ cùng thời là sự "Địa chủ vắng mặt" (Absentee Landlord). Bọn chủ nô ở Mỹ thường sống ngay tại đồn điền để quản lý, thỉnh thoảng có việc cần thiết mới lên phố thị.
Còn đám Mantuano coi việc sống ở nông thôn là “nhà quê”, “hạ đẳng” nên giao phó toàn bộ việc quản lý đồn điền (Hacienda) cho bọn cai ký (mayordomos) tàn bạo, còn bản thân thì rút hết về thủ đô Caracas để ăn chơi nhảy múa.
Caracas thời đó được ví như một "Tiểu Paris" giữa rừng rậm nhiệt đới. Tại đây, bọn Mantuano sống trong những căn biệt thự (casonas) rộng cả nghìn mét vuông, có sân trong (patio) mát rượi, với cả đoàn quân nô lệ da đen chỉ có mỗi việc là đứng quạt và rót nước cho chủ. Chúng nó tạo ra một thế giới tách biệt với những dinh thự lộng lẫy, nhập khẩu rượu vang Pháp, lụa Trung Quốc, đồ nội thất Ý; hoàn toàn với mồ hôi và máu ở ngoài ruộng cacao.
Mày cứ hình dung là tiền tự động chảy về tài khoản ở Caracas, còn bọn nó chỉ việc lo xem tối nay mặc cái khăn ren (manta) nào cho sang chảnh nhất.
Để duy trì trật tự có lợi cho bản thân và bảo vệ tài sản, đám Mantuano sử dụng “pháp trị” (rule of law) tạo ra một cấu trúc xã hội phân biệt chủng tộc cực đoan gọi là Hệ thống đẳng cấp (Casta System) để bảo vệ tài sản của mình.
Đứng đầu chuỗi thức ăn là bọn Peninsulares (người Tây Ban Nha sinh ra tại chính quốc), nắm giữ các chức vụ quan to trong chính quyền.
Ngay bên dưới là bọn Criollos (người da trắng sinh ra tại thuộc địa - chính là nòng cốt của đám Grandes Cacaos). Bọn Criollos này giàu nứt khố nhưng lại cay cú vì bị bọn Peninsulares coi thường, không cho làm quan to. Đây chính là mầm mống của các cuộc nổi dậy đòi độc lập sau này: không phải vì thương dân nghèo, mà là cuộc đấu đá tranh giành ghế giữa “bọn da trắng đẻ ở Tây Ban Nha” và “bọn da trắng đẻ ở Venezuela”.
Dưới đáy xã hội là đám đông hỗn tạp: Mestizos (lai trắng-Ấn), Mulattos (lai trắng-đen), Zambos (lai đen-Ấn), thổ dân và cuối cùng là nô lệ da đen châu Phi (được nhập về ồ ạt khi thổ dân chết gần hết). Đám Grandes Cacaos đặt ra những quy định quái đản để duy trì sự “tinh khiết của dòng máu” (Limpieza de sangre) hòng vạch ra một ranh giới tuyệt đối để đảm bảo rằng quyền lực và tiền bạc mãi mãi nằm trong tay nhóm nhỏ da trắng thượng đẳng.
Ví dụ, một người phụ nữ không phải da trắng thì không được đeo trang sức vàng ngọc hay quỳ trên thảm trong nhà thờ.
Sự ám ảnh bệnh hoạn về "Sự tinh khiết của dòng máu" (Limpieza de sangre) xuất phát từ nỗi sợ bị “ô uế” bởi dòng máu của dân da đen hay thổ dân. Vì thế, chúng nó chỉ kết hôn loanh quanh trong vài chục gia đình dòng dõi với nhau (inbreeding), biến cái giới thượng lưu Caracas thành một cái ao tù nước đọng, nơi ai cũng là anh em họ của nhau.
Vì có quyền lực và của cải kếch xù trong tay, chúng thao túng luật pháp một cách cực kỳ kinh tởm.
Nếu tao nói rằng thời đó một thằng con lai (Pardo) dù có giàu nứt đố đổ vách nhờ buôn bán, muốn được coi là "người da trắng" để được đi học đại học hay làm quan, nó phải bỏ tiền ra mua một tờ giấy gọi là "Cédula de Gracias al Sacar" (Giấy chứng nhận "Cảm ơn vì đã đưa tôi ra khỏi kiếp thấp hèn") từ Nhà vua tuyên bố thằng đó là "trắng về mặt pháp lý" (legally white).
Đám Mantuano với cái đầu phân biệt chủng tộc từng viết đơn kiến nghị lên vua Tây Ban Nha để phản đối việc bán danh hiệu này, vì chúng nó sợ vị thế độc tôn của mình bị pha loãng. Với chúng nó, tiền không mua được đẳng cấp, chỉ có máu (và sự tàn ác) mới giữ được đẳng cấp.
Hơn nữa chính tụi Mantuano này là bọn nắm giữ "quyền lực ngầm" thực sự, chứ không phải mấy lão Thống đốc bù nhìn từ Tây Ban Nha gửi sang. Chúng nó kiểm soát Cabildo (Hội đồng thành phố) của Caracas - Cơ quan duy nhất mà dân địa phương có tiếng nói, và biến nó thành cái câu lạc bộ riêng để ban hành các luật lệ có lợi cho việc xuất khẩu cacao và đàn áp nô lệ.
Cuộc chiến ngầm giữa bọn “Da trắng chính quốc” (nắm quyền chính trị danh nghĩa) và bọn “Da trắng thuộc địa” (nắm kinh tế và đất đai) chính là thùng thuốc súng chờ ngày nổ tung.
Đòi độc lập hay chỉ để bảo vệ túi tiền?
Đến thế kỷ 18 khi thấy bọn buôn lậu Hà Lan đang ăn mót quá nhiều cacao của Venezuela Vua Philip V của Tây Ban Nha đã chơi bài ngửa. Năm 1528, ông ta cấp giấy phép độc quyền toàn bộ thương mại Venezuela cho một nhóm thương nhân người Basque (vùng Bắc Tây Ban Nha) thành lập Công ty Guipuzcoana (Real Compañía Guipuzcoana de Caracas).
Công ty này hoạt động hệt một băng đảng mafia được bảo kê bởi nhà nước: Chúng có quyền định giá mua cacao (ép giá nông dân thấp nhất có thể) và định giá bán ở châu Âu (cao nhất có thể). Chúng có hạm đội tàu chiến riêng để bắn chìm bất cứ tàu lạ nào bén mảng đến bờ biển Venezuela.
Chính sự kiểm soát tàn bạo của công ty này đã biến cacao thành dòng tiền mặt khổng lồ chảy thẳng về túi triều đình Madrid và đám thương nhân Basque, đồng thời gây ra sự uất ức tích tụ trong tầng lớp địa chủ địa phương (Grandes Cacaos) – những kẻ làm ra sản phẩm nhưng bị ép giá.
Nhưng căn nguyên của vấn đề lại chính do thứ tư duy "Grandes Cacaos" triệt tiêu mọi động lực sản xuất nội địa. Tại sao phải vất vả làm ra cây kim, sợi chỉ hay trồng lúa gạo khi mày chỉ cần bán một bao tải cacao là mua được cả tấn hàng hóa từ Pháp?
Chính vì có đồng tiền mạnh đến từ việc xuất khẩu Cacao thõa mãn khẩu vị của giới quý tộc thượng lưu này biến Venezuela trở thành một cái dạ dày rỗng tếch, phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn hàng nhập khẩu. Nền kinh tế không tự đứng bằng đôi chân của mình mà lại treo lơ lửng trên các sàn giao dịch thị trường giá cả tại London và Amsterdam. Vì thế chỉ cần giá cacao rớt thảm hại thì tụi Mantuano coi như mất luôn cả tiền để duy trì lối sống xa hoa ở Caracas.
Đó là một “Lời nguyền tài nguyên” cho đất nước này sẽ bám mãi cho đến cả khi giọt dầu đầu tiên được hút lên.
Khi công ty Guipuzcoana ép giá mua cacao xuống sát đất (chúng nó trả bằng tiền giấy hoặc hàng hóa định giá cao chứ không thèm trả vàng), bọn chủ đồn điền Mantuano cay cú tột độ.
Làm sao chúng nó chịu bán rẻ mồ hôi nô lệ của mình được? Thế là bọn Mantuano bắt tay ngầm với kẻ thù của Tây Ban Nha: bọn Hà Lan và Anh biến bờ biển Venezuela trở thành thiên đường buôn lậu. Bọn Mantuano lén lút tuồn cacao ra các vịnh nhỏ vào ban đêm, đổi lấy súng đạn, rượu ngon và quần áo xịn từ tàu Hà Lan với giá hời hơn gấp bội. Công ty Guipuzcoana biết được thì điên tiết lên cho tàu chiến chiến đi tuần tra, bắn phá, bắt bớ.
Cuộc chiến lúc này chưa phải là chiến tranh giành độc lập, mà là cuộc chiến giữa Băng đảng Bảo kê (Guipuzcoana) và Băng đảng Buôn lậu (Mantuano). Chính trong những đêm trốn thuế này, ý niệm về "Tự do thương mại" đã nảy mầm trong đầu giới tinh hoa Venezuela.
Sự kiện nổ ngòi đầu tiên là cuộc nổi dậy của Juan Francisco de León vào năm 1749. Tay này cũng chẳng phải nhà cách mạng vĩ đại gì cả, chỉ là một người gốc đảo Canary (Isleño) trồng cacao, tức nước vỡ bờ vì bị công ty Guipuzcoana chèn ép quá đáng. Lão dẫn đầu một đoàn người diễu hành về Caracas, không phải để lật đổ Vua, mà hô to khẩu hiệu: "Đả đảo Công ty Guipuzcoana! Đức Vua muôn năm!". Mày thấy cái tư duy ngây thơ chưa? Họ vẫn tin Vua là cha mẹ, chỉ có bọn công ty là gian thần. Tuy cuộc nổi dậy này bị dập tắt và León bị bắt chết trong tù, nhưng nó là phát súng cảnh báo rằng: Dân Venezuela (kể cả bọn da trắng địa phương) đã coi bọn thương nhân độc quyền từ Tây Ban Nha là kẻ thù không đội trời chung
Năm 1808, Napoleon Bonaparte xua quân chiếm Tây Ban Nha, bắt giam Vua Ferdinand VII và đưa anh trai mình là Joseph Bonaparte lên ngai vàng. Tin này bay về Venezuela như sét đánh ngang tai. Chính quyền thuộc địa ở Caracas hoang mang tột độ: Giờ nghe lệnh ai? Nghe lệnh thằng vua bù nhìn của Pháp hay nghe lệnh ai?
Trong nguy có cơ, đám Mantuano đứng đầu bởi những gã trẻ tuổi học thức cao và đầy tham vọng nhìn thấy tham vọng nhìn thấy một cơ hội ngàn năm có một để đá đít bọn Tây Ban Nha (Peninsulares) ra khỏi bộ máy chính quyền. Trong số những thằng trẻ trâu này có một người có tên là Simón Bolívar – "Người giải phóng" (El Libertador), vị thánh sống của Venezuela - được tôn sùng như ông Hồ Chí Minh ở Việt Nam được in lên đồng tiền Bolívar cũng như đặt tên cho các trường học, bệnh viện, quảng trường ở khắp nơi ở Venezuela.
Nhưng có một góc khuất bi hài kịch của lịch sử: Simón Bolívar lại một tay Mantuano gộc. Gia đình Bolívar là một trong những gia đình giàu nhất, sở hữu nhiều đất đai và nô lệ nhất Venezuela thời đó (sở hữu cả mỏ đồng và đồn điền cacao bạt ngàn). Điều này càng chứng tỏ cái cuộc đấu tranh giành độc lập chỉ là mỹ từ hoa mỹ được đám sử gia cố tình cắt xén đi mục tiêu chung của đám Mantuano: muốn tự do buôn bán cacao với Anh và Mỹ để kiếm lời nhiều hơn, chứ không phải muốn chia đất cho nông dân.
Ngày 19 tháng 4 năm 1810, tại Tòa thị chính Caracas, bọn Mantuano đã thực hiện một cuộc đảo chính cực kỳ khôn ngoan gọi là "Cuộc cách mạng của những chiếc mặt nạ". Chúng nó lật đổ viên Tổng trấn Tây Ban Nha Vicente Emparan, thành lập một "Hội đồng Tối cao" (Junta Suprema) để tự cai quản đất nước. Cái hài hước và điếm thúi nằm ở chỗ cách chúng tuyên bố lý do đảo chính là để "Bảo vệ quyền lợi của Vua Ferdinand VII yêu dấu chống lại bọn Pháp xâm lược". Nghe thì trung quân ái quốc, nhưng thực chất là:
"Trong lúc Vua đi vắng, bọn tao sẽ tự quản lý cái nhà này, và việc đầu tiên bọn tao làm là mở toang cửa khẩu để bán cacao cho Anh và Mỹ, dẹp bỏ mọi luật lệ độc quyền cũ".
Cái gọi là "lòng trung thành với Vua" chỉ là cái cớ (cái mặt nạ) để hợp thức hóa việc giành quyền kiểm soát kinh tế. Khi đã nắm được quyền rồi, nếm mùi vị ngọt ngào của tự do buôn bán rồi, thì bố bảo chúng nó cũng không chịu nhả ra nữa.
Cách mạng Bolívar
Đến ngày 5 tháng 7 năm 1811, khi cảm thấy đủ lông đủ cánh và không cần diễn kịch nữa, Quốc hội Venezuela (toàn là đại diện của giới chủ đồn điền Mantuano) mới chính thức lột mặt nạ, tuyên bố Độc lập hoàn toàn khỏi Tây Ban Nha, khai sinh ra Nền Cộng hòa thứ Nhất (1810-1812).
Bản Tuyên ngôn Độc lập này thực chất là một bản cáo trạng kinh tế, trong đó tội ác lớn nhất của Tây Ban Nha được liệt kê là: Ngăn cấm tự do thương mại và kìm hãm sự phát triển nông nghiệp của thuộc địa.
Chính vì ban đầu làm cách mạng chỉ để bán cacao giá cao hơn đếch thèm quan tâm đến bọn nô lệ da đen hoặc bọn chăn bò lai (Llaneros) nghèo đói nên hiến pháp đầu tiên còn quy định chỉ ai có tài sản mới được bầu cử - tất nhiên còn ai vào đây ngoài chính tụi chủ đồn điền Mantuano nhằm chặn đứng đám dưới đáy vùng lên đòi quyền lợi cho mình.
Tuy mang tiếng là có quốc hội dân chủ nhưng thực chẳng qua là một câu lạc bộ kín của giới nhà giàu. Với những kẻ bị bỏ mặc thì việc thay thằng Cai Tây Ban Nha bằng thằng Chủ đồn điền Bolívar chẳng có gì khác biệt, thậm chí còn tệ hơn vì bọn Mantuano nổi tiếng keo kiệt và tàn ác.
Lợi dụng cái ngu ngốc này, hoàng gia Tây Ban Nha phản công lại bằng nước cờ "kích động giai cấp" cực kỳ thâm độc. Họ nói với đám dân nghèo và nô lệ rằng:
"Kẻ thù của các ngươi không phải là Nhà Vua ở xa tít, mà là bọn chủ đồn điền da trắng ngay trước mặt các ngươi. Giết bọn nó đi, Vua sẽ chia của cho các ngươi".
Kẻ hưởng gây ra cơn ác mộng cho Bolívar mang tên José Tomás Boves. Hắn chỉ là một tên TBN lưu manh nhưng đứng lên lãnh đạo đám kỵ binh du mục Llaneros (những gã chăn bò sống ở vùng đồng bằng Orinoco) cực kỳ man dạn, thiện chiến và căm thù bọn da trắng thành phố đến tận tủy xương. Boves cho phép lính của mình cướp bóc, hãm hiếp và giết sạch bọn Mantuano. Quân của Boves đi đến đâu, cỏ không mọc được đến đấy. Bolívar đã chứng kiến cảnh quân đội quý tộc của mình bị đám dân nghèo "chân đất mắt toét" này làm thịt như ngóe.
Năm 1814, Bolívar thua chạy trối chết, phải bỏ cả Caracas mà lưu vong sang Jamaica và Haiti. Chính trong những ngày tháng lưu vong nhục nhã này, Bolívar mới “sáng mắt ra” , nhận ra một sự thật phũ phàng: Mày không thể thắng một cuộc chiến tranh giải phóng nếu đại đa số dân chúng (người da màu, nô lệ, dân nghèo) đứng về phía kẻ thù. Nếu cứ giữ khư khư cái tư duy trịch thượng của đám Mantuano, thì cái đầu của mình sớm muộn cũng bị cắm trên ngọn giáo của một thằng nô lệ nào đó.]
Thật may cho Bolívar vào năm 1816, Haiti trở thành nước cộng hòa da đen tự do đầu tiên ở châu Mỹ sau khi giết sạch bọn chủ nô người Pháp. Tổng thống Haiti là Alexandre Pétion đã đồng ý cấp cho Bolívar tàu chiến, súng đạn và tiền bạc để quay lại Venezuela làm lại từ đầu. Nhưng Pétion ra một điều kiện tiên quyết: “Tao giúp mày, nhưng mày phải hứa giải phóng nô lệ ở Nam Mỹ. Tao không giúp một thằng chủ nô đi đánh nhau để lập ra một quốc gia chủ nô khác”.
Bolívar, lúc này đang ở thế đường cùng, đã gật đầu cái rụp. Hứa sẽ thực hiện.
Khi quay lại Venezuela lần thứ 3, Bolívar thay đổi hoàn toàn chiến thuật. Ông tuyên bố sắc lệnh giải phóng nô lệ mặc dù vẫn còn những rành buộc để giữ được sự ủng hộ của Tầng lớp địa chủ da trắng (Creole) - ví dụ như nếu một nô lệ đi lính cho ông, người đó sẽ tự do; nếu không, họ vẫn là nô lệ.
Lời hứa chia đất đai và gia súc cho bất kỳ ai gia nhập quân đội giải phóng bất kể màu da giúp Bolívar chiêu mộ được đám đám kỵ binh Llaneros (lúc này Boves đã chết) về phe mình bằng cách phong tướng cho thủ lĩnh của họ là José Antonio Páez. Nhờ có sức mạnh cơ bắp của đám dân nghèo và sự thiện chiến của đám Llaneros, Bolívar mới đánh bại được quân Tây Ban Nha.
Chiến thắng Carabobo hay Boyacá thực chất được xây bằng máu của tầng lớp dưới, những người tin vào cái “bánh vẽ” tự do mà Bolívar hứa hẹn.
Nhưng cái kết sau cùng mới là thứ đáng nói. Sau khi giành độc lập lời hứa "chia đất" và "giải phóng nô lệ" được thực hiện như thế nào?
Cực kỳ lôm côm và lừa lọc.
Đầu tiên là về vụ “Chia đất” (Land Redistribution). Bolívar đã hứa chắc như đinh đóng cột:
“Mỗi người lính tham gia giải phóng sẽ được chia đất đai tịch thu từ bọn Hoàng gia”.
Nghe sướng cái lỗ tai đúng không? Nhưng khi chiến tranh kết thúc, ngân khố quốc gia rỗng tuếch. Chính phủ lấy đâu ra tiền mà đo đạc, quy hoạch hay hỗ trợ nông cụ? Thế là Quốc hội (toàn bọn chủ đất và tướng lĩnh) nghĩ ra một trò cực kỳ lưu manh: Phát hành “Phiếu nợ đất đai” (Land Bounty Bonds).
Thay vì đưa cho người lính một mảnh đất thực tế có sổ đỏ, họ đưa cho mỗi thằng một tờ giấy lộn ghi: “Chính phủ nợ anh X một mảnh đất trị giá Y tiền, sẽ trả sau”. Một thằng lính Llaneros mù chữ, cả đời chỉ biết chăn bò và cầm giáo, giờ cầm tờ giấy đó thì làm cái gì? Nó không ăn được tờ giấy còn vợ con nó đang chết đói ở nhà.
Trục lợi từ điểm yếu này, những con kền kền ăn xác chết xuất hiện. Đám sĩ quan cao cấp, những vị tướng như José Antonio Páez (người hùng của đám chăn bò) tung tiền mặt ra mua lại các tờ phiếu nợ từ tay đám lính tráng của mình với giá rẻ mạt kiểu "tờ giấy mệnh giá 100 đồng tao mua lại 5 đồng tiền tươi, bán không hay nhịn đói?" . Đám lính vì đường cùng bán tống bán tháo đống giấy lộn ấy đi để mua rượu và bánh mì.
Hàng tấn giấy nợ đất đai đó chuyển ngược về túi của một nhóm nhỏ các tướng lĩnh quân phiệt mà sau đó bọn tướng này lại mang xấp giấy đó lên chính phủ (nơi chúng nó cũng nắm quyền) để đổi lấy những đại điền trang mênh mông bạt ngàn. Đừng nói với tao mày lại cãi rằng đó là “giao dịch công bằng và tự nguyện” nhé?
Cú lừa này đã tạo ra một sự chuyển dịch tài sản khổng lồ: Đất đai từ tay bọn Bảo hoàng Tây Ban Nha không được chia cho dân nghèo, mà chuyển sang tay tầng lớp Caudillo (trùm quân phiệt).
Những người lính Llaneros dũng cảm sau khi đổ máu cho độc lập, lại quay về làm tá điền (peon), đi cày thuê cuốc mướn trên chính mảnh đất mà lẽ ra thuộc về họ, phục vụ cho chính thằng chỉ huy cũ của mình. José Antonio Páez từ một gã chăn bò khố rách áo ôm đã trở thành địa chủ giàu nhất Venezuela nhờ chiêu trò thu gom giấy lộn này.
Thứ hai là vụ “Giải phóng nô lệ” (Abolition of Slavery). Đây là màn kịch dây dưa nhầy nhụa nhất. Bolívar hứa với Tổng thống Haiti là sẽ giải phóng nô lệ, nhưng khi về nước, lão và đám Quốc hội lại chơi trò “câu giờ” bằng cái gọi là “Luật về Tử cung” (Law of the Womb / Ley de Vientre) năm 1821.
Luật này quy định: Con của nô lệ sinh ra sau ngày ban hành luật sẽ được tự do. Nghe nhân văn nhỉ? Nhưng có cái điều khoản đính kèm bé tí: Đứa trẻ đó phải “phục vụ” (làm nô lệ trá hình) cho chủ của mẹ nó đến năm 18 tuổi (sau tăng lên 21 tuổi) để “trả công nuôi dưỡng”. Còn những người đang là nô lệ thì... vẫn là nô lệ cho đến chết.
Bọn chủ nô Mantuano và các tướng lĩnh mới vận dụng đủ mọi thủ đoạn để lách cái luật lỏng lẻo này. Chúng khai gian tuổi của nô lệ, mua bán nô lệ “chui” dưới danh nghĩa chuyển nhượng hợp đồng lao động. Thực tế, chế độ nô lệ vẫn tồn tại sờ sờ ở Venezuela thêm 33 năm nữa sau khi giành độc lập.
Phải mãi đến năm 1854, Tổng thống José Gregorio Monagas mới ký sắc lệnh bãi bỏ hoàn toàn chế độ nô lệ. Nhưng mày đừng tưởng lão làm thế vì lòng tốt. Lúc đó, nền kinh tế thế giới thay đổi, giá cacao biến động, và quan trọng hơn là bọn chủ đất nhận ra: Nuôi nô lệ tốn kém hơn thuê nhân công giá rẻ. Nuôi nô lệ mày phải lo chỗ ở, lo cái ăn tối thiểu để nó không chết.
Còn thuê một thằng nông dân tự do nhưng không có đất (chính là đám lính bị lừa mất đất tao kể ở trên), mày trả nó đồng lương chết đói, nó tự lo ăn ở, ốm thì mày đuổi cổ thuê thằng khác. Hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn.
Việc giải phóng nô lệ năm 1854 thực chất là một cuộc cơ cấu lại nhân sự: Sa thải nhân viên biên chế trọn đời (nô lệ) để chuyển sang ký hợp đồng thời vụ giá rẻ (lao động tự do). Các chủ nô thậm chí còn được nhà nước bồi thường tiền khi giải phóng nô lệ, còn người nô lệ được thả ra với hai bàn tay trắng, không tấc đất cắm dùi, và lại phải quay lại xin làm thuê cho ông chủ cũ để khỏi chết đói.
Sau cái gọi là “độc lập”, , cấu trúc xã hội Venezuela gần như không đổi: Một nhóm chóp bu (cũ là Tây Ban Nha + Mantuano, mới là Mantuano + Tướng lĩnh) nắm giữ 90% đất đai, còn đại đa số dân chúng (da màu, lai, lính giải ngũ) vẫn là giai cấp nông nô không đất. Lời hứa của Bolívar đã bị nghiền nát bởi lòng tham của chính những đồng chí của ông ta, biến Venezuela thành một cái trại lính khổng lồ nơi kẻ mạnh nuốt chửng kẻ yếu, đặt nền móng cho cái vòng luẩn quẩn nghèo đói và độc tài kéo dài đến tận thế kỷ 21.
Cái chết của Bolívar
Mọi bi kịch của cuộc đời Bolívar hậu cách mạng bắt nguôn từ giấc mơ vĩ đại và cũng là ngu xuẩn nhất: Gran Colombia (Đại Colombia). Ông ta muốn gom Venezuela, Colombia, Ecuador, Panama ngày nay thành một siêu cường quốc gia duy nhất để đối trọng với Mỹ và châu Âu. Nhưng lại quên mất một điều rằng mình đang cố gắng nhốt chung chuồng những con thú dữ lại với nhau. Các tướng lĩnh địa phương (Caudillos) như Páez ở Venezuela hay Santander ở Colombia đều muốn làm vua một cõi, chúng nó đếch muốn nghe lệnh của một thằng độc tài ngồi ở tít Bogota.
Năm 1828, sự phản bội bắt đầu hiện nguyên hình vào một đêm tháng 9 lạnh lẽo ở Bogota (gọi là La Conspiración Septembrina), chính những kẻ từng sát cánh với Bolívar đã thuê sát thủ đột nhập vào dinh tổng thống để giết hắn ta. Nếu không nhờ cô người tình Manuela Sáenz nhanh trí cầm kiếm chặn cửa và xúi nhảy qua cửa sổ chạy trốn dưới gầm cầu, thì Bolívar đã bị xiên chết đêm đó rồi.
Một "Người giải phóng" vĩ đại, nửa đêm phải trốn chui trốn nhủi dưới gầm cầu đầy bùn đất để tránh bị chính đồng bào mình giết. Lúc bò lên được, lão đã vỡ vụn hoàn toàn về mặt tinh thần. Lão nhận ra: "Bọn nó không cần tao nữa".
Đến năm 1830, cơ thể Bolívar bắt đầu mục rỗng vì bệnh lao phổi (tuberculosis), nhưng cái làm hắn chết nhanh hơn là sự uất hận. Venezuela – quê hương lão – dưới sự cầm đầu của tướng Páez, đã tuyên bố ly khai khỏi Gran Colombia và cấm cửa Bolívar quay về. Páez, thằng chăn bò mà Bolívar từng nâng đỡ, giờ ra lệnh: “Nếu Bolívar bước chân qua biên giới, bắn bỏ”.
Ở Bogota, đám chính trị gia gọi lão là “tên bạo chúa” (Longaniza - ví lão như cây xúc xích già nua).
Từ một vị tướng oai phong lẫm liệt trên lưng ngựa, Bolívar sụt cân không phanh, người gầy đét như một bộ xương di động, da dẻ xanh xao vàng vọt, má hóp lại. Khi lão mặc bộ quân phục cũ rộng thùng thình, dân Bogotá nhìn thấy lão đi dặt dẹo trên phố trông y hệt một cây xúc xích khô héo treo trong bếp.
Thời đó ở thủ đô Bogotá có một gã điên lang thang nổi tiếng, chuyên mặc quần áo lính rách rưới, đeo đầy huy chương giả và đi lại nghênh ngang ngoài đường, dân chúng gọi gã điên đó là "Longaniza". Khi phe đối lập gán cái tên này cho Bolívar, chúng nó muốn ám chỉ: "Thằng cha này không còn là Người giải phóng nữa, nó chỉ là một gã hoang tưởng, một thằng điên mặc áo lính đang diễn trò hề". Đó là đòn sỉ nhục khủng khiếp nhất đối với một người coi trọng danh dự như mạng sống.
Còn về cái danh “Tên bạo chúa” (El Tirano), không phải tự nhiên mà người ta vu oan cho lão đâu. Sự thật là Bolívar cuối đời đã “hắc hóa” thực sự. Lão bị ám ảnh bởi sự hỗn loạn của Gran Colombia đến mức tin rằng chỉ có chế độ độc tài mới cứu được đất nước.
Cái mầm mống độc tài bắt đầu từ Hiến pháp Bolivia năm 1826. Khi viết hiến pháp cho đất nước mang tên mình (Bolivia), Bolívar đã cài vào đó điều khoản “Tổng thống trọn đời” (President for Life) và có quyền tự chỉ định người kế nhiệm. Đám trí thức cộng hòa ở Bogotá (đứng đầu là Phó Tổng thống Francisco de Paula Santander - người từng là bạn chiến đấu của Bolívar) đọc xong bản hiến pháp này thì rụng rời tay chân. Họ gào lên: “Chúng ta đánh đuổi một ông Vua Tây Ban Nha để rồi rước về một ông Vua khác tên là Bolívar à?”. Họ gọi đó là chế độ quân chủ trá hình (Monarcy in disguise).
Đỉnh điểm là sự kiện ngày 27 tháng 8 năm 1828. Sau khi Quốc hội cãi nhau ỏm tỏi và không thông qua được các cải cách của lão, Bolívar đã chơi một ván bài tất tay: Lão ban hành Organic Decree, chính thức giải tán Quốc hội, đình chỉ Hiến pháp và tuyên bố mình là Độc tài Tối cao. Lão biện minh rằng: “Luật pháp đang giết chết nền cộng hòa, tao cần quyền lực tuyệt đối để lập lại trật tự”.
Hành động này đã biến lão từ một anh hùng giải phóng thành kẻ thù của nền dân chủ trong mắt giới tinh hoa chính trị (đặc biệt là đám luật sư và thương nhân). Santander, người được mệnh danh là “Người của Luật pháp”, đã công khai chống lại Bolívar (người của Gươm súng). Santander tuyên bố: “Vũ khí có thể cho các ngài độc lập, nhưng chỉ có luật pháp mới cho các ngài tự do”. Câu này vả thẳng vào mặt chế độ độc tài quân sự của Bolívar.
Thêm vào đó, để duy trì quyền lực, Bolívar bắt đầu dùng bàn tay sắt. Lão cho mật vụ theo dõi các đối thủ chính trị, kiểm duyệt báo chí, và thậm chí ra lệnh xử tử những kẻ âm mưu chống lại mình (trong đó có cả việc ký lệnh tử hình Santander, dù sau đó giảm án xuống thành lưu đày). Cái không khí ngột ngạt bao trùm Bogotá, người ta sợ Bolívar hơn là kính trọng lão. Dân chúng bắt đầu vẽ tranh biếm họa lão như một con quỷ già nua đang ăn thịt con cái mình, và từ đó cái tên “Longaniza” và “Bạo chúa” vang lên khắp các ngõ ngách.
Bi kịch của Bolívar là lão làm Độc tài không phải vì tham tiền hay tham quyền cho bản thân hưởng thụ (lão chết nghèo rớt mồng tơi mà), mà lão làm vì lão tin rằng dân chúng Nam Mỹ "chưa đủ trình độ" để hưởng dân chủ, cần một bàn tay sắt chăn dắt như chăn cừu.
Nhưng cái tư duy "Bố già biết tuốt" (Paternalism) đó đã lỗi thời ngay khi họng súng vừa nguội. Đám tướng lĩnh địa phương và giới tinh hoa mới chỉ muốn chia chác quyền lực, chúng nó không cần một ông bố già khó tính suốt ngày bắt chúng nó phải sống đạo đức và đoàn kết. Thế là chúng nó hùa nhau đạp đổ tượng đài, biến "Người giải phóng" thành "Cây xúc xích già" để dễ bề tống cổ lão đi cho khuất mắt.
Tháng 5 năm 1830, Bolívar từ chức Tổng thống, gom góp chút tiền còm định bỏ đi châu Âu sống nốt phần đời còn lại. Nhưng nhục nhã thay, khi đi dọc sông Magdalena ra biển để bắt tàu, lão phát hiện ra mình không đủ tiền mua vé tàu. Tài sản khổng lồ của gia tộc Bolívar, những đồn điền cacao, mỏ đồng... tất cả đã bị bán sạch hoặc bị tịch thu để nuôi quân trong suốt 20 năm chiến tranh. Lão giờ là một kẻ khố rách áo ôm đúng nghĩa.
Khi đến thành phố biển Santa Marta, sức khỏe lão suy sụp đến mức không đi nổi nữa. Và đây là cái tát đau đớn nhất của định mệnh: Người duy nhất chịu dang tay đón nhận lão, cho lão một mái nhà để chết, lại là một người Tây Ban Nha. Đó là Don Joaquín de Mier, một thương nhân người Tây Ban Nha mà Bolívar đã dành cả đời để đánh đuổi. Ông này cho Bolívar tá túc tại trang trại Quinta de San Pedro Alejandrino.
Tại đây, những ngày cuối cùng của Bolívar diễn ra trong thảm hại. Lão gầy như một bộ xương khô, ho ra máu, mê sảng chửi rủa những kẻ phản bội. Khi bác sĩ xông vào phòng khám, ông ta thấy “Người giải phóng” mặc một chiếc áo sơ mi rách bươm, vá chằng vá đụp. Khi Bolívar trút hơi thở cuối cùng vào ngày 17 tháng 12 năm 1830, lão không có nổi một bộ quần áo tử tế để liệm.
Tướng Silva, người hầu cận trung thành hiếm hoi còn lại, đã phải đi mượn cái áo sơ mi của chủ nhà Joaquín de Mier để mặc cho cái xác của Bolívar. Mày thấy mỉa mai không? Người đàn ông từng giải phóng 5 quốc gia, từng sở hữu ngàn dặm đất đai, khi chết phải mặc cái áo mượn của “kẻ thù” (một người Tây Ban Nha) để xuống mồ. Thậm chí, tiền làm đám tang cũng là do hàng xóm quyên góp, vì trong túi lão lúc chết chỉ còn vài đồng bạc lẻ không đủ mua quan tài.
Trong những giây phút tỉnh táo cuối cùng, Bolívar đã viết bức thư “Carta de Bolívar al general Juan José Flores (1830)” viết tại Barranquilla vào ngày 9 tháng 11 năm 1830 chứa đựng 6 sự thật cay đắng về nền chính trị Mỹ Latinh mà đến giờ vẫn đúng:
Châu Mỹ là nơi không thể cai trị (ungovernable) : sự đa dạng về sắc tộc, sự chia rẽ giữa các tầng lớp và địa hình hiểm trở khiến việc thiết lập một chính quyền trung ương ổn định là điều không tưởng.
Những kẻ phục vụ cách mạng là những kẻ đang “cày trên biển”: ý nói tốn công vô ích
Thứ duy nhất có thể làm ở châu Mỹ là di cư đi chỗ khác.
Đất nước này sẽ rơi vào tay đám đông cuồng loạn, và sau đó là những tên bạo chúa vô hình đủ mọi màu da.
Bị tàn phá bởi tội ác và sự trừng phạt, đến mức bọn châu Âu cũng chẳng thèm đi xâm lược lại bọn ta nữa.
Nếu có thể quay ngược thời gian, ta thà không sinh ra.
Bolívar chết không phải như một vị thánh, mà như một kẻ thất bại nhận ra mình đã bị lịch sử lừa dối. Lão đã phá hủy một trật tự cũ (thuộc địa) nhưng lại thất bại trong việc xây dựng trật tự mới, để lại một khoảng trống quyền lực cho lũ sói (Caudillos) xâu xé nhau, đẩy người dân vào cảnh nồi da xáo thịt suốt cả thế kỷ sau đó.
Kỷ nguyên của Caudillismo (Chủ nghĩa Lãnh chúa)
Cái chết của Bolívar để lại sau khi tắt thở một kịch bản “nồi da xáo thịt” lặp đi lặp lại nhiều lần đến mức phát nôn:
Một gã tướng (Caudillo) ở vùng quê nổi dậy, hứa hẹn đủ thứ với dân nghèo, gom quân đánh về thủ đô Caracas, cướp ghế Tổng thống, chia chác ngân khố cho đàn em, rồi lại bị một gã Caudillo khác ở vùng khác làm y hệt để lật đổ.
Suốt thế kỷ 19, Venezuela chứng kiến hàng trăm cuộc nổi dậy và đảo chính, trung bình cứ vài năm lại thay đổi hiến pháp một lần.
Mở bát cho tấn bi hài kịch này lại chính là José Antonio Páez – gã chăn bò trứ danh mà tao đã kể.
Sau khi đá đít Bolívar, Páez trở thành “Bố già” của Venezuela. Lão cai trị đất nước như cai quản một trang trại bò khổng lồ. Khôn ở chỗ là biết bắt tay với giới tinh hoa buôn bán ở Caracas (bọn Mantuano cũ) để giữ cho kinh tế chạy, trong khi dùng ngọn giáo của đám kỵ binh Llaneros để đâm chết bất cứ ai ho he phản đối. Giai đoạn này được gọi là “Chế độ Quả đầu lĩnh Bảo thủ”, nhìn bề ngoài thì có vẻ yên ổn, nhưng bên trong là sự kìm nén tàn bạo. Páez cứ ngồi ghế tổng thống một nhiệm kỳ, rồi lại lui về hậu trường dựng một con bù nhìn lên, rồi lại quay lại khi thấy ngứa mắt.
Nhưng cái “trật tự” của Páez sụp đổ khi hắn già đi và mắc sai lầm chọn người kế vị. Lão đưa anh em nhà Monagas lên nắm quyền, nghĩ rằng chúng nó sẽ nghe lời. Ai ngờ anh em nhà này lật mặt nhanh hơn lật bánh tráng. Chúng nó đá Páez ra rìa, thiết lập gia đình trị, tham nhũng vô độ và đổi màu cờ sang phe “Tự do” (Liberals) để mị dân.
Sự tranh giành giữa phe Bảo thủ (của Páez) và phe Tự do (của Monagas) đã châm ngòi cho cuộc chiến tàn khốc nhất lịch sử Venezuela: Cuộc chiến tranh Liên bang (Guerra Federal, 1859-1863).
Trong 5 năm, đất nước bị xé nát. Phe Tự do, dưới sự chỉ huy của Ezequiel Zamora (một gã chủ tiệm tạp hóa phất lên thành tướng), đã hô hào khẩu hiệu cực đoan: "Kinh hoàng cho bọn Đại sở hữu! Đất đai và Người tự do!".
Zamora kích động lòng thù hận giai cấp của dân nghèo, xúi họ đốt phá các đồn điền, giết sạch bọn da trắng giàu có. Đây không còn là chiến tranh chính trị nữa, mà là chiến tranh xã hội.
Khoảng 100.000 đến 150.000 người chết trên tổng dân số chỉ hơn 1 triệu người. Tức là cứ 10 người Venezuela thì có 1 người chết vì súng đạn, bệnh tật hoặc đói khát trong cuộc chiến này. Ruộng đồng bỏ hoang, gia súc bị giết sạch, nền kinh tế quay về thời đồ đá
Sau khi Zamora bị bắn chết (bởi một viên đạn bí ẩn mà nhiều người đồn là do chính đồng đội bắn vì sợ lão quá cực đoan), một gã quái kiệt khác trỗi dậy trên đống tro tàn: Antonio Guzmán Blanco. Hắn cũng là loại độc tài "khai sáng" (Enlightened Despot)., vì quá mê nước văn hóa Pháp trong thời gian sống ở Paris nên khi về nước cầm quyền suốt 18 năm (1870-1888). Guzmán Blanco dẹp yên các sứ quân bằng tiền và súng, mang lại sự ổn định giả tạo.
Hắn xây dựng đường sá, nhà hát opera, bắt chước Paris, và quan trọng nhất là... dựng tượng mình ở khắp mọi nơi. Hắn bắt mọi người gọi lão là "Người Mỹ Kiệt xuất" (The Illustrious American). Dưới thời lão, Venezuela trông có vẻ văn minh lên, nhưng thực chất là tài sản quốc gia lại chui vào túi riêng của tên độc tài và đám thân tín. Hắn biến nhà nước thành cái máy ATM cá nhân, vay nợ nước ngoài vô tội vạ để xây công trình phông bạt, để lại cục nợ khổng lồ cho đời sau.
Cái quy luật “mạnh được yếu thua” này tàn phá tâm lý người dân Venezuela cực nặng. Họ mất niềm tin vào luật pháp.
Họ nhận ra rằng: Muốn đổi đời, đừng đi cày, hãy cầm súng đi theo một thằng Caudillo nào đó. Nếu nó thắng, mày được làm quan, được chia đất. Nếu nó thua, mày chết. Chính trị trở thành một canh bạc đẫm máu. Các phe phái (Phe Vàng - Tự do và Phe Xanh/Đỏ - Bảo thủ) giết nhau chỉ vì màu áo, chứ cương lĩnh thì rỗng tuếch như nhau.
Cuối thế kỷ 19, khi cả thế giới đang bước vào cách mạng công nghiệp, Mỹ đang xây đường sắt xuyên lục địa, thì Venezuela vẫn đang loay hoay với những cuộc đảo chính của những gã tướng vùng núi. Năm 1899, một toán quân từ vùng núi Andes (biên giới Colombia) do Cipriano Castro cầm đầu (gọi là “Cuộc cách mạng Tái thiết”) đã tràn xuống Caracas cướp chính quyền, mở ra kỷ nguyên thống trị của những gã “Caudillo vùng Andes”.
Bọn Andes này lì lợm và tàn bạo hơn hẳn bọn đồng bằng. Đặc biệt là cánh tay phải của Castro – Juan Vicente Gómez. Gómez là một con cáo già thực sự. Năm 1908, khi Castro bị bệnh phải sang châu Âu chữa trị, Gómez ở nhà đảo chính, cướp ngôi và thiết lập một chế độ độc tài kéo dài 27 năm (đến tận 1935). Gómez chính là kẻ đã kết thúc kỷ nguyên hỗn loạn của các Caudillo nhỏ lẻ bằng cách trở thành Caudillo Chúa (The Super Caudillo). Hắn xây dựng một quân đội chính quy hiện đại (nhờ tiền bán dầu mỏ sau này) đủ mạnh để nghiền nát bất kỳ cuộc nổi dậy nào, thống nhất đất nước bằng nhà tù và tra tấn.
P3: Sự trỗi dậy của đế quốc Hoa Kỳ
Người nhập cư
Trong khi Bolívar đang cưỡng ngựa mài gươm đánh nhau tơi bời khói lửa ở dải Andes để giải phóng thuộc địa TBN thì ở phía bắc châu lục, một siêu cường đang trên đàn vươn mình mà sau này sẽ trở thành siêu cường thống trị địa cầu - Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ.
Sau khi giành độc lập khỏi đế quốc Anh năm 1812, 13 bang ở bờ Đông trở thành miền đất hứa của những kẻ tuyệt vọng chẳng có gì trong tay nhưng lại có khát vọng đổi đời. Ở châu Âu, đất đai nằm hoàn toàn trong tay giới quý tộc và nhà thờ, đám dân đen dù làm cần cụi cả đời cũng không đủ tiền mua nổi một mét vuông đất cắm dùi.
Những kẻ này sau khi nghe tin về miền đất hứa bên kia đại dương qua những lá thư gọi là "America Letters".
Cứ tưởng tượng ở cái láng quê hẻo lánh tại Ireland hoặc Italia, hầu hết dân làng mù chữ chỉ có mỗi ông cha xứ là biết đọc. Bỗng nhiên một ngày nọ, lá thư từ thằng Joe nào đó bỏ xứ ra đi 2 năm trước đột ngột gửi về. Bên trong thư là tờ 5 đôla hoặc tấm vé tàu trả trước (prepaid ticket) cho thằng em trai. Nội dung thư đại loại là: "Ở đây anh ăn thịt ba bữa một ngày, không phải ngả nón chào thằng bá tước nào cả."
Đối với nông dân châu Âu đang đói rã họng vì mất mùa khoai tây hay bị lãnh chúa cướp đất nghe cái tin "ăn thịt mỗi ngày" nó có sức công phá mạnh hơn bất kỳ lời hứa chính trị nào. Một lá thư như thế được chuyền tay đọc cho cả tổng nghe, biến nước Mỹ thành thiên đường có thật.
Bên cạnh thư từ, các công ty đường sắt Mỹ và các bang miền Viễn tây đang khát nhân lực nên đã cử hàng tay "môi giới" (agents) sang châu Âu. Bọn này dán áp phích quảng cáo khắp các bến cảng, quán rượu, vẽ ra viễn cảnh: "Đất miễn phí! Không cần vốn! Chỉ cần đến là có trang trại."
Thực tế thì đến nơi mới biết đời không như mơ, nhưng lúc đó thì đã muộn rồi, đã leo lên lưng cọp rồi thì phải cày cuốc mà sống thôi.
Chính phủ Mỹ để thu hút thêm người nhập cư từ cựu thế giới đã ban hành những đạo như '“Land Act of 1820” cho phép mua tối thiểu 80 mẫu Anh với giá chỉ với 1,25 đôla một mẫu. Rẻ như cho! Vậy đống đất đấy đến từ đâu. Của rẻ tất nhiên đến từ của ăn cướp. “Indian Removal Act of 1830” (Đạo lực Di dời người da đỏ) trở thành công cụ pháp lý để quân đội Mỹ dùng súng, cưỡng bức các bộ lạc bản địa ra khỏi những vùng đất màu mỡ nhất miền Đông Nam để lấy đất đó bán cho người da trắng trồng bông và làm nông trại.
Nó biến hàng triệu nông dân nghèo da trắng từ châu Âu sang định cư trở thành tầng lớp tiểu địa chủ chỉ trong một đêm, tin tích cực như thế càng lan truyền cho nhau về lục địa già càng mãnh hơn nữa, lôi cuốn hàng triệu người khác quyết tâm bỏ xứ mà đi tìm “vùng đất hứa”.
Trước năm 1850, họ đi bằng tàu buồm gỗ, mất 1 đến 3 tháng lênh đênh. Sau này có tàu hơi nước thì rút xuống còn 10-14 ngày. Nhưng đa số dân nghèo đi vé hạng bét gọi là Steerage (Khoang hầm). Giá vé tầm 3 đến 5 bảng Anh (tương đương khoảng 15-20 đô la Mỹ thời đó).
Mày đừng thấy con số nhỏ, với một thằng nông dân làm thuê ở châu Âu thời đó, 5 bảng là tiền tích cóp cả năm trời nhịn ăn nhịn mặc, hoặc là bán cả gia tài, nhà cửa mới đủ mua vé cho một người.
Họ bị nhồi nhét dưới hầm tàu tối tăm, hôi hám, nằm chung với chuột bọ, không có cửa sổ. Tỉ lệ chết trên đường đi cực cao, nhất là trong giai đoạn Nạn đói Ireland, người ta gọi những con tàu này là “Coffin Ships” (Tàu quan tài) vì xác người bị ném xuống biển nhiều như cơm bữa.
Các hãng tàu lớn nắm trùm đường dây này là Cunard Line (Anh), White Star Line (Anh - sau này đóng tàu Titanic), và Hamburg-Amerika Line (Đức). Các ông trùm như Samuel Cunard hay Albert Ballin (người Đức gốc Do Thái, ông trùm của Hamburg-Amerika) đã biến việc chở người di cư thành một ngành kinh doanh siêu lợi nhuận. Họ tính toán rằng: chở hàng hóa thì phải bốc xếp tốn kém, chứ chở “hàng người” thì chúng tự đi lên, tự đi xuống, chết thì vứt, lãi hơn nhiều.
Về thành phần dân cư, trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ 19 (sau 1812 đến trước Nội chiến 1861), hai nhóm bỏ xứ đi đông nhất là:
Người Ireland: Đứng đầu bảng. Họ chạy trốn khỏi Nạn đói khoai tây (Great Famine 1845-1852). Hơn 1 triệu người chết đói, và 1 triệu người khác bỏ chạy sang Mỹ. Dân Ireland đến Mỹ với hai bàn tay trắng đúng nghĩa, làm những việc mạt hạng nhất như đào kênh, xây đường sắt, làm giúp việc. Họ căm thù nước Anh tận xương tủy và chính họ là lực lượng lao động giá rẻ khổng lồ xây dựng nên cơ sở hạ tầng bờ Đông nước Mỹ.
Người Đức: Nhóm đông thứ hai. Họ bỏ đi vì bất ổn chính trị (sau cuộc cách mạng thất bại năm 1848) và vì đất đai ở quê nhà bị chia nhỏ manh mún. Khác với dân Ireland nghèo rớt mồng tơi tụ tập ở thành phố, dân Đức thường có chút vốn và kỹ năng nghề (thợ rèn, nông dân giỏi), nên họ thường tiến sâu vào vùng Trung Tây (Midwest) để lập trang trại, mang theo văn hóa bia và xúc xích.
Khi bước chân đến tận nơi rồi thì dòng người nhập cư này phần đông chia thành ba loại.
Loại 1: Tiểu địa chủ
Đám người đói rã họng ở châu Âu, khi thấy tờ quảng cáo “Đất miễn phí” liền kéo cả vợ con sang châu Mỹ khi đến nơi mới nhận ra mình bị lừa bởi một cái bẫy đa cấp khổng lồ do Chính phủ Mỹ và bọn Đường sắt phối hợp giăng ra.
Đúng là có đất miễng phí … xương xẩu. Theo Đạo luật Trang trại (Homestead Act) ban hành năm 1862 cho không mỗi người nhập cư một mẫu đất rộng 160 mẫu Anh (khoảng 65 hecta), đúng là to vật vã nhưng ở đời cái gì mà miễn phí từ trên đầu rớt xuống chỉ có nước mưa và cứt chim. Những miếng đất “ngon”, màu mỡ, gần sông suối, gần rừng để lấy gỗ dựng nhà đã bị đám đầu cơ phân lô bán nền và đám công ty đường sắt phí phần hết rồi.
Đám người nhập cư chỉ nhận được phần “miễn phí” nằm ở những đồng cỏ khô cằn (Great Plains) - nơi mà nước ngọt để tưới tiêu, sinh hoạt quý hơn cả vàng, cây cối xanh tươi chỉ là thứ xa xỉ. Đó là những cánh đồng hoang vu, gió thổi bay tóc, không một bóng người, không một bóng cây trong các bộ phim miền Viễn Tây xưa cũ thì mới thấm được cái lạnh gáy của sự cô đơn mỗi khi đêm về.
Các công ty như Union Pacific, Northern Pacific trong khi đó được chính phủ cấp cho đất dọc đường ray theo hình bàn cờ (checkerboard pattern). Sau đó bọn chúng bán lại những mảnh đất này với giá cắt cổ (khoảng 2.5 đến 10 đô la/mẫu) cho dân nhập cư. Trông chẳng khác gì cái trò phân lô bán nền của Vingroup, Sungroup bâu giờ.
Dân nghèo phải cắn vay vay tiền mua đất của bọn này thay vì lấy đất miễn phí ở xa vì nếu không có đường tàu đi ngang qua thì lấy gì để chở nông sản đi bán? Không lẽ chở lúa mì bằng xe ngựa rồi để nó hư hỏng trong lúc vận chuyển.
Đây rõ ràng là cái bẫy được thiết buộc dân nhập cư tự chui vào rọ: Vay tiền ngân hàng để mua đất "xịn" của bọn đường sắt để tiện đường giao thương. Từ vị thế đi tìm đất miễn phí, họ trở thành con nợ ngay ngày đầu tiên đặt chân đến vùng đất hứa.
Có đất rồi thì mọi chuyện còn lại là sinh tồn với "Nhà cỏ và Phân bò". Vùng Viễn Tây không có cây (treeless plains), dân nhập cư Đức, Scandinavia hay Ireland không thể xây nhà gỗ như ở quê. Họ phải xắn những tảng cỏ (sod) dưới đất lên, xếp chồng lên nhau thành cái gọi là "Sod House" (Nhà hầm bằng cỏ).
Họ sống trong một cái hầm tăm với tường làm bằng đất, mái nhà cũng là đất khi tới mùa mưa thì bùn dột tong tỏng xuống đầu còn mùa hè rắn rết, sâu bọ rớt từ trần nhà xuống nồi súp đang nấu dở. Đến khi đông về gặp phải bão tuyết chôn vùi cả nhà trong tuyết trắng, lạnh thấu xương. Vì không có củi khô (đéo có cây) nên họ phải đi nhặt phân bò khô (buffalo chips) về đốt để sưởi ấm và nấu ăn. Cái hiện thực này nó khác xa cái bức tranh lãng mạn trên mấy tờ quảng cáo ở bến cảng Hamburg
Để trồng trọt cần tiền để mua công cụ:cày thép (để cày đất cứng), hạt giống, ngựa kéo, hàng rào dây thép gai (barbed wire) để trả nợ ngân hàng hòng còn giữ đất.
Vậy tiền đâu ra? Lại là đi vay, họ đem hy vọng vào mùa màng bội thu để trả nợ. Nhưng với cái nơi khí hậu cực đoan này chẳng bao giờ trả được hết nợ. Năm thì hạn hán cháy đồng, năm thì gặp nạn châu chấu bay rợp trời như đám mây đen đi từ vùng này tới vùng khác ăn sạch sành banh từ lá ngô đến cả quần áo khô ngoài sân.
Gặp cảnh mất mùa, đám ngân hàng và cty đường sắt không hề có chút tình thương nào ngoại trừ trái tim tư bản máu lạnh lập tức siết nợ để thu hồi lại vốn. Hàng ngàn gia đình đã phải bỏ chạy lấy người, , để lại dòng chữ cay đắng trên xe ngựa khi quay về miền Đông: “In God we trusted, in Kansas we busted” (Tin vào Chúa, nhưng phá sản ở Kansas).
Nhưng trong nền kinh tế tư bản hoang dã này coi đám tiểu địa chủ dù nợ đầm đìa này chính là người tiêu dùng lý tưởng nhất mà mọi nhà tư bản công nghiệp đều mơ ước. Tại sao? Vì nhu cầu của họ là nhu cầu sinh tồn, buộc phải mua chứ không phải thích thì mua.
Ở miền Viễn Tây, đất đai không giống đất phù sa sông Hồng hay sông Cửu Long đâu. Lớp đất mặt (sod) của vùng Đại Bình Nguyên (Great Plains) nó dày và dai như da trâu, rễ cỏ chằng chịt. Cái cày gỗ hay cày gang cũ kỹ mang từ châu Âu sang cày vào là gãy lưỡi ngay.
Năm 1837, gã thợ rèn John Deere chế ra cái cày bằng thép đánh bóng (polished steel plow). Nó sắc lẹm, cắt ngọt qua rễ cỏ và đất không bị dính vào lưỡi cày. Vì thế mọi thằng nông dân bắt buộc phải mua cái cày này nếu muốn có cái bỏ vào mồm. Không có nó, 160 mẫu đất kia chỉ là bãi cỏ hoang. Thế là lại phải vay tiền để mua cày. Nhà máy của Deere ở Illinois chạy hết công suất cũng không kịp bán.
Trồng được lúa rồi, nhưng thu hoạch mới là ác mộng. Một người cầm liềm gặt tay chỉ được khoảng 1-2 mẫu một ngày. Lúa chín mà không gặt kịp mưa xuống là thối hết.Cyrus McCormick tung ra cái máy gặt cơ khí (Mechanical Reaper).
Một cái máy này làm việc bằng 5-10 người gặt tay. Thằng hàng xóm mua máy, nó gặt nhanh, bán lúa sớm được giá. Mày không mua, mày gặt chậm, lúa hỏng hoặc bán giá thấp. Thế là mày cũng phải cắn răng vay nợ để mua cái máy. Cái này gọi là “cưỡng bức công nghệ”. Các nhà máy ở Chicago phất lên nhờ chính nỗi sợ bị tụt hậu của nông dân.
Ở cái nơi luật pháp chưa tới, xung quanh là thú dữ, trộm cướp và người da đỏ đang điên tiết vì mất đất, khẩu súng là mạng sống. Samuel Colt không chỉ bán súng, hắn bán sự an toàn. Hắn áp dụng dây chuyền lắp ráp để sản xuất hàng loạt súng lục ổ xoay (revolver). Hàng triệu nông dân mua súng. Quân đội Mỹ mua súng. Nhu cầu khổng lồ này giúp ngành cơ khí chính xác của Mỹ (American System of Manufacturing) phát triển vượt bậc, vượt xa các thợ thủ công tỉ mỉ nhưng chậm chạp của châu Âu.
Làm sao thằng nông dân ở giữa đồng không mông quạnh mua được hàng của thằng chủ xưởng ở New York? Đây là lúc ngành đường sắt và bưu chính nhảy vào. Các công ty như Sears, Roebuck & Co. hay Montgomery Ward đẻ ra hình thức bán hàng qua thư (Mail Order). Họ in những cuốn catalog dày cả nghìn trang, bán từ cái kim sợi chỉ đến cả... một ngôi nhà lắp ghép (kit house).
Hệ thống này giết chết các cửa hàng tạp hóa nhỏ lẻ trung gian, nối thẳng ống hút tiền từ túi nông dân miền Tây về két sắt của các nhà buôn miền Đông.
Đấy, mày thấy khác xa với Nam Mỹ chưa. Ở Mỹ latin, Thằng nông nô (peon) không có đất, không có tiền, chủ đồn điền (Latifundista) thì chỉ thích mua đồ xa xỉ nhập từ Paris. Nền công nghiệp nội địa chết yểu vì không có ai mua hàng bình dân.
Còn ở Mỹ, hàng triệu tiểu địa chủ tuy nợ nần nhưng họ nắm trong tay tư liệu sản xuất. Họ buộc phải tiêu dùng, buộc phải nâng cấp công nghệ để trả nợ. Chính cái áp lực nợ nần đó đã kích thích sản xuất, tạo ra một thị trường nội địa khổng lồ nuôi lớn nền công nghiệp Mỹ, biến nó thành gã khổng lồ trước khi bước ra sân khấu thế giới.
Những tiểu địa chủ này không chết đói như ở châu Âu, nhưng họ trở thành những con trâu cày trả nợ cho hệ thống tư bản Mỹ. Họ bị kẹp giữa hai gọng kìm: một bên là thiên nhiên khắc nghiệt, một bên là lãi suất ngân hàng và giá cước vận tải của bọn đường sắt độc quyền. Chính cái sự cùng cực và uất ức này sau này đã đẻ ra phong trào chính trị của nông dân (Populist Movement), nơi họ vùng lên đòi "xử đẹp" bọn ngân hàng và đường sắt.
Loại 2: “Nô lệ da trắng”
Đám dân nghèo không một xu dính túi sang thì làm sao để vay nợ kiếm tiền mua vé sang châu Mỹ?
Chẳng hề có công việc làm công nhân quần quật cả ngày trong nhà xưởng bởi vì đã có nhà máy đâu nên sinh ra cái nghề "Nô lệ da trắng" hay từ chuyên môn gọi là Lao động khế ước (Indentured Servants). Đéo nghe nhầm đâu, đọc lại lần 2 đi.
Vì giá vé tàu sang tân thế giới quá đắt, những kẻ cùng đường ở Anh, Scotland, Đức chấp nhận ký một bản hợp đồng bán thân. Thuyền trưởng sẽ chở họ sang miễn phí, đến bến cảng Mỹ, thuyền trưởng bán cái hợp đồng đó cho một chủ trại hoặc chủ xưởng thủ công người Mỹ. Thằng dân nghèo này phải làm việc không lương trong 5 đến 7 năm để trả nợ tiền vé. Nó bị đối xử không khác gì nô lệ, bị đánh đập, không được cưới xin, chỉ khác là sau 7 năm nếu còn sống thì được tự do. Đây chính là lực lượng lao động tay chân đời đầu: khuân vác bến cảng, thợ phụ trong các xưởng rèn, xưởng đóng giày thủ công nhỏ lẻ.
Bên cạnh đó, Mỹ tồn tại một hệ thống gọi là “Putting-out system” (Hệ thống gia công tại nhà). Các thương nhân Mỹ (chưa phải chủ nhà máy) mua bông thô, rồi đem đến từng hộ gia đình nghèo trong các khu ổ chuột hoặc vùng ven. Vợ con, người già ở nhà dùng guồng quay tơ chạy bằng tay (hand spinning wheel) thô sơ để kéo sợi, rồi thương nhân đến thu gom trả tiền công rẻ mạt. Năng suất cực thấp, sợi to sợi nhỏ không đều, vải làm ra xấu xí, không đọ lại được vải Anh bóng bẩy. Đây là thời kỳ Mỹ “khát” công nghệ đến điên cuồng. Các bang như Pennsylvania hay Massachusetts treo thưởng cả đống tiền cho ai chế tạo được máy dệt kiểu Anh, nhưng toàn thất bại vì không ai nắm được nguyên lý cơ khí phức tạp bên trong.
Loại thứ 3: Trí thức, tư bản ngân hàng, chủ xưởng và tầng lớp "cổ cồn trắng" (white-collar)
Tuy không đông đảo như tầng lớp dân nghèo thành thị và nông thôn nhưng bọn này lại nắm giữ bộ não và túi tiền nước Mỹ.
Trước khi có máy móc, mày đừng hình dung “tư bản” là mấy ông chủ nhà máy ống khói đen sì. Lúc này, tầng lớp tinh hoa nắm tiền là Thương nhân Hàng hải (Merchant Princes) ở các cảng lớn như Boston, New York, Philadelphia. Bọn này không di cư vì đói, chúng nó di cư để mở rộng mạng lưới làm ăn hoặc là con thứ của các gia đình quý tộc Anh mang vốn sang để lập nghiệp riêng.
Tiền của bọn này đến từ Tam giác thương mại (Triangle Trade) đã nói ở Phần 1. Chúng nó chở rượu Rum từ Mỹ sang châu Phi đổi lấy nô lệ, chở nô lệ sang Caribbean đổi lấy đường/mật rỉ, rồi chở mật rỉ về Mỹ nấu rượu. Bọn này ngồi trong các quán cà phê sang trọng (Coffee Houses), không bao giờ đụng tay vào việc chân tay, chúng chỉ cần cái sổ cái kế toán và các mối quan hệ với London. Đây chính là tiền thân của giới tài chính phố Wall sau này. Khi Cách mạng Mỹ nổ ra, chính đám này bỏ tiền nuôi quân của Washington, nên sau khi độc lập, chúng nó đòi quyền lợi chính trị cực gắt.
Đám tri thức phần nhiều là Luật sư và Mục sư. Đừng coi thường bọn luật sư. Chính bọn này (như Alexander Hamilton, John Adams) đã viết ra Hiến pháp Mỹ, thiết kế ra một hệ thống pháp luật bảo vệ tối đa quyền tư hữu tài sản. Chúng nó cài cắm những điều luật để đảm bảo rằng đám "dân đen" (như Loại 1 và Loại 2) có thể dùng lá phiếu để cướp tiền của người giàu, tạo ra cái khung sườn pháp lý để chủ nghĩa tư bản vận hành trơn tru.
Thời kỳ công nghiệp hóa
Nếu trong tay mày không có khả năng cũng như không đủ thời gian nghiên cứu phát triển công nghệ thì cách dễ dàng và nhanh nhất là đi ăn cắp chất xám và nhân lực. Nước Mỹ trong cơn "khát" công nghệ đến mức điên cuồng, họ sẵn sàng trải thảm đỏ và đổ tiền tấn vào bất cứ ai dám vỗ ngực xưng tên là "tao biết lắp máy dệt kiểu Anh".
Năm 1787, Hội Khuyến khích Sản xuất và Nghệ thuật Hữu ích Pennsylvania (một tổ chức sân sau của giới tài phiệt và chính trị gia) đã treo giải thưởng 100 Bảng Anh (tiền vàng thời đó) cho bất kỳ ai mang được thiết kế máy dệt Arkwright về. Thời đó, lương một người thợ lành nghề chỉ khoảng vài chục bảng một năm. 100 bảng là cả một gia tài, tương đương với 5-10 năm lao động cật lực không ăn không tiêu. Chưa kể, chính quyền bang còn hứa hẹn tặng thêm đất đai và quyền công dân danh dự.
Thậm chí, Alexander Hamilton - Bộ trưởng Tài chính đầu tiên và là kiến trúc sư của nền kinh tế Mỹ - còn chơi lớn hơn. Ông ta và trợ lý Tench Coxe công khai điều hành một mạng lưới “săn đầu người” (headhunter) quốc tế. Coxe đã gửi các đại lý sang tận Anh, lân la ở các quán rượu quanh các khu công nghiệp Manchester để rỉ tai rủ rê thợ thuyền. Họ hứa hẹn sẽ đài thọ toàn bộ chi phí đi lại, bảo lãnh an ninh, và cấp vốn khởi nghiệp. Hamilton coi việc ăn cắp công nghệ này là “nghĩa vụ quốc gia” để thoát khỏi sự lệ thuộc vào hàng hóa Anh.
Nhưng cái "giải thưởng" lớn nhất khiến Samuel Slater—một thằng thợ giám sát trẻ măng ở Anh—quyết định "bán đứng" tổ quốc để sang Mỹ là cơ hội sở hữu cổ phần (Equity). Đây là tư duy cực kỳ tân tiến của đám tư bản Mỹ dòng Quaker như Moses Brown. Khi Slater gửi thư cho Moses Brown nói rằng "Tôi có thể làm cái máy này chạy", Brown không thuê Slater làm nhân viên. Brown viết lại một bức thư nổi tiếng:
"Nếu cậu có thể làm được điều cậu nói, tôi mời cậu đến đây... và cậu sẽ được hưởng toàn bộ lợi nhuận từ máy móc cậu làm ra trong một thời gian, cộng với việc chia sẻ quyền sở hữu sau này."
Điều đó tạo nên khác biệt khiến lòng tham nổi lên, dẹp bỏ mọi tình yêu tổ quốc sang một bên chạy theo tiếng gọi của đồng tiền.
Ở Anh, Slater mãi mãi chỉ là thằng quản lý làm thuê cho gia đình Arkwright. Sang Mỹ, Moses Brown cho hắn cơ hội trở thành đối tác đồng sáng lập. Đây là lời đề nghị “một vốn bốn mươi lời” không thể chối từ . Brown sẵn sàng bỏ tiền xây xưởng, mua vật liệu, lo đầu ra. Slater chỉ cần bỏ cái đầu chứa bản vẽ ra. Nếu thành công, hắn thành ông chủ. Và thực tế là Slater đã chết như một triệu phú, sở hữu hàng loạt nhà máy, điều mà nếu ở lại Anh hắn không bao giờ dám mơ tới.
Cái máy mà Slater ăn cắp công nghệ được gọi là khung dệt Arkwright (Water Frame). Trước đó người ta dệt tay, năng suất thấp lè tè. Cái máy này nó dùng sức nước để kéo sợi bông thành chỉ, chạy liên tục không biết mệt. Cái sự “ghi nhớ” của Slater nó kinh khủng ở chỗ hắn nhớ từng cái bánh răng, từng tỷ lệ truyền động, vì sai một ly là cả dây chuyền nát bét.
Đương nhiên, giải thưởng cao vì rủi ro cực lớn. Luật pháp Anh thời đó coi máy dệt là “bảo vật quốc gia”. Năm 1774 và 1781, Anh ra luật cấm xuất khẩu bất kỳ công cụ dệt may nào, và cấm thợ dệt di cư.
Hình phạt nếu bị bắt cực nặng: tịch thu toàn bộ tài sản, tước quyền công dân, phạt tù mọt gông, và bị bêu rếu là kẻ phản quốc. Các cảng biển Anh bị mật vụ theo dõi gắt gao, ai trông có vẻ giống thợ dệt (tay chai sạn, lưng hơi gù do cúi máy) là bị giữ lại xét hỏi. Slater phải cải trang thành nông dân, đổi tên, không dám mang theo bất kỳ mảnh giấy vẽ nào, chỉ dám ghi nhớ cấu tạo phức tạp của cái máy Arkwright trong đầu.
Trước Slater, đã có rất nhiều kẻ hám tiền định làm liều nhưng thất bại. Có kẻ mang được mô hình sang nhưng lắp không chạy, bị bọn tư sản Mỹ chửi là lừa đảo. Có kẻ bị mật vụ Anh tóm tại cảng.
Vì thế, khi Slater thành công, hắn được tôn vinh như một vị thánh sống của ngành công nghiệp Mỹ. Tổng thống Andrew Jackson sau này còn gọi hắn là “Cha đẻ của nền sản xuất Hoa Kỳ”. Cái giá mà nước Mỹ bỏ ra (vài trăm bảng tiền thưởng và cổ phần cho Slater) là quá rẻ mạt so với cái lợi ích nghìn tỷ đô la mà nền công nghiệp dệt may mang lại sau này.
Năm 1793, nhà máy đầu tiên Slater Mill ở Pawtucket, Rhode Island bắt đầu chạy, và đây là lúc số phận của đám dân nghèo sang Mỹ rẽ sang hướng khác: Giai cấp công nhân công nghiệp (Proletariat) ra đời. Nó không chỉ đơn giản là một xưởng làm việc, mà nó là mô hình nhà máy hiện đại đầu tiên ở Mỹ - đánh dấu việc chuyển từ sức người sang sức máy, từ sản xuất hộ gia đình sang sản xuất tập trung.
Hệ thống Rhode Island (Rhode Island System)bởi tay cáo già Samuel Slater vận hành bằng các “ Company Town” (thị trấn công ty) hay nói toạc móng heo ra là một cái trại tập trung trá hình nơi mà mọi thành viên trong gia đình đều bị vắt kiệt theo những cách khác nhau.
Để có nhân công, Slater treo biển “Tuyển các gia đình đông con”. Tại sao? Vì đây là một thỏa thuận trọn gói (Package Deal). Khi người cha ký hợp đồng, ông ta ký bán sức lao động của cả vợ, con và bản thân mình cho Slater.
Đối với đàn ông (những người cha) , vai trò của họ trong nhà máy thời kỳ đầu này khá là trớ trêu và có phần “mất mặt”. Mày phải nhớ là cái máy dệt Arkwright đời đầu nó thấp bé, cần sự khéo léo của ngón tay nhỏ xíu để nối chỉ đứt và thay suốt chỉ, chứ không cần sức trâu của đàn ông. Bàn tay chai sạn của mấy ông nông dân hay thợ rèn mà thò vào là làm đứt chỉ ngay. Thế nên, đàn ông không được đứng máy dệt. Họ bị đẩy ra làm các công việc “vệ tinh” nặng nhọc: làm bảo vệ, khuân vác kiện bông, sửa chữa đập nước, xây dựng nhà xưởng mở rộng, hoặc làm thợ cơ khí bảo trì máy. Một số khác thì được Slater giao cho canh tác trên những mảnh đất nông nghiệp quanh nhà máy để cung cấp thực phẩm cho chính cái thị trấn đó. Cay đắng ở chỗ, dù ông bố là trụ cột gia đình trên danh nghĩa, nhưng thu nhập chính của cả nhà lại phụ thuộc vào đám con nít đang đứng máy bên trong. Quyền lực của người cha bị lung lay dữ dội, nhưng Slater xoa dịu họ bằng cách trả toàn bộ lương của con cái vào tay người cha, giữ cho ông ta cái ảo tưởng mình vẫn là người nắm quyền.
Còn phụ nữ (những người mẹ) thì sao? Họ không ngồi chơi xơi nước đâu. Trong giai đoạn đầu (trước năm 1820), máy móc mới chỉ làm được công đoạn “kéo sợi” (spinning) ra chỉ, chứ chưa dệt thành tấm vải hoàn chỉnh bằng máy (power loom) được. Thế là Slater tận dụng đám phụ nữ này cho hệ thống “Putting-out” ngay tại nhà trọ của công ty. Sợi chỉ do bọn trẻ con làm ra trong nhà máy sẽ được đưa về cho các bà mẹ dệt tay tại nhà thành vải thô. Ngoài ra, họ phải lo cơm nước, giặt giũ cho cả đại gia đình sau 12-14 tiếng làm việc quần quật, làm cái hậu phương đảm bảo cho đám thợ nhí có đủ sức mà đứng máy ngày hôm sau.
Slater rất ít khi trả tiền mặt (cash). Hắn trả bằng Phiếu mua hàng (Scrip) hoặc Ghi nợ (Credit). Mày làm việc hùng hục cả tháng, nhưng không cầm được đồng xu nào, mà chỉ nhận được một tờ giấy ghi nhận công nợ. Tờ giấy đó chỉ có giá trị thanh toán tại một nơi duy nhất: Cửa hàng Công ty (Company Store) do chính Slater làm chủ.
Tại cái cửa hàng này, Slater bán thực phẩm, quần áo, giày dép, công cụ... với mức giá do hắn tự định đoạt (thường đắt hơn bên ngoài). Mày thấy cái vòng tròn khép kín chưa?
1. Slater thuê cả nhà mày.
2. Tiền lương hắn trả cho mày lại chui tọt vào túi hắn qua cửa hàng tạp hóa.
3. Nếu mày tiêu xài quá tay, mày nợ lại công ty.
4. Khi đã nợ, mày không được phép bỏ đi (vì luật pháp bảo vệ chủ nợ). Mày và con cái mày trở thành “nô lệ kinh tế”, buộc phải tiếp tục làm việc để trả nợ.
Cái “thị trường tiêu thụ nội địa” này là một thị trường cưỡng bức. Công nhân “hưởng lương” nhưng thực chất là đang luẩn quẩn trong cái bẫy nợ nần. Họ mua hàng không phải vì họ giàu lên, mà vì họ bị bắt buộc phải mua tại chỗ của ông chủ để duy trì cuộc sống. Dù vậy, nhìn rộng ra toàn xã hội miền Bắc, mô hình này đúng là đã kích thích sản xuất hàng hóa tiêu dùng (giày dép, quần áo may sẵn, đồ gia dụng) vì dù sao đi nữa, đám công nhân này cũng không còn tự cấp tự túc như nông dân xưa, họ đã trở thành người tiêu dùng phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường.
Thứ nhất, nói về động cơ chi tiêu.
Thằng nông dân miền Tây vay nợ để mua máy cày John Deere hay máy gặt McCormick là nó đang đầu tư (Capital Expenditure). Nó mua vì sợ chết đói, sợ tụt hậu, mua để đẻ ra tiền trong tương lai. Nó mua một cái máy dùng 10 năm. Cái thị trường này nuôi sống ngành Công nghiệp nặng (thép, cơ khí, đúc).
Còn đám công nhân dệt may của Slater, hay sau này là đám thợ ở các khu ổ chuột, chúng nó chi tiêu để tồn tại qua ngày (Operational Expenditure). Đây là điểm mấu chốt: Khi mày bị nhốt trong nhà máy 14 tiếng/ngày, mày mất đi khả năng tự cung tự cấp. Mày không có thời gian dệt vải may áo, không có đất trồng rau, không có chuồng nuôi gà. Mày trở thành kẻ phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường. Mày cần cái áo may sẵn? Mua. Mày cần cái bánh mì nướng sẵn? Mua. Mày cần đôi giày? Mua.
Chính sự “bất lực” trong việc tự phục vụ này của công nhân đã đẻ ra ngành Công nghiệp hàng tiêu dùng nhanh (FMCG). Lần đầu tiên trong lịch sử, người ta không may đo quần áo nữa mà ra đời khái niệm “Quần áo may sẵn” (Ready-made clothing) với các size chuẩn (S, M, L) để bán hàng loạt cho đám công nhân không có thời gian chờ đợi này.
Thứ hai, nói về tốc độ quay vòng của tiền (Velocity of Money).
Thằng nông dân cả năm mới thu hoạch một lần. Tiền của nó (nếu có dư sau khi trả nợ) bị “đóng băng” trong đất đai và máy móc. Dòng tiền ở nông thôn chảy rất chậm.
Ngược lại, đám công nhân nhận lương (hoặc phiếu mua hàng) theo tuần hoặc tháng. Có tiền là tiêu ngay vì không tiêu thì lấy gì bỏ vào mồm? Tốc độ tiền chạy từ tay chủ -> tay thợ -> tay chủ tiệm tạp hóa -> tay nhà buôn sỉ -> quay lại nhà máy cực kỳ nhanh. Chính cái dòng chảy liên tục này, dù số tiền mỗi lần nhỏ giọt, nhưng gộp lại hàng triệu người thì nó tạo ra một dòng sông tiền mặt khổng lồ nuôi sống các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ ở các thành phố.
Thứ ba, sự cộng sinh quái đản.
Mày hãy nhìn sự liên kết giữa hai đám này:
1. Thằng nông dân miền Tây trồng lúa mì và chăn bò. Nó bán cho ai? Nó bán cho các lò mổ ở Chicago và các nhà máy xay bột để làm thức ăn cho đám công nhân miền Đông (vì đám này không tự trồng được).
2. Đám công nhân miền Đông dệt vải, làm giày, đóng súng. Nó bán cho ai? Nó bán ngược lại cho thằng nông dân miền Tây (vì thằng này bận cày cuốc không tự làm được).
Đây là một vòng tròn hoàn hảo: Nông nghiệp nuôi Công nghiệp, và Công nghiệp trang bị cho Nông nghiệp. Cả hai đều là những “con nghiện” tiêu dùng: một bên nghiện công nghệ để sản xuất, một bên nghiện hàng hóa để sinh tồn.
Cái bi kịch của đám công nhân hưởng lương (dù là trẻ em hay người lớn) là ở chỗ: Họ tạo ra thị trường nội địa không phải vì họ giàu có, sang chảnh, mà vì họ bị tước đoạt tư liệu sinh tồn tự nhiên. Họ bị bứng khỏi đất đai, bị ném vào thành phố hoặc thị trấn công ty, nơi mà hít thở cũng tốn tiền. Chính cái nhu cầu bức thiết, nhỏ nhặt, hàng ngày (gạo, muối, mắm, vải, than đốt) của hàng triệu con người này đã tạo ra một nền tảng tiêu dùng cực kỳ vững chắc, giúp kinh tế Mỹ không bị sụp đổ hoàn toàn mỗi khi khủng hoảng tài chính xảy ra, vì dù trời có sập thì người ta vẫn phải mua bánh mì và mặc quần áo.
Mô hình của Samuel Slater (Hệ thống Rhode Island) chỉ là bước khởi động. Để nhân rộng ra khắp nước Mỹ và tạo ra nguồn cung khổng lồ, bọn tư bản Mỹ đã nâng cấp nó lên một phiên bản tàn khốc và hiệu quả hơn gấp bội: Hệ thống Waltham-Lowell.
Nếu Slater chỉ thuê gia đình và làm sợi chỉ, thì Francis Cabot Lowell (một gã thương nhân Boston đi Anh về và cũng... “ghi nhớ” công nghệ máy dệt vải power loom) đã chơi lớn hơn. Năm 1814, hắn xây dựng nhà máy tích hợp đầu tiên trên thế giới ở Waltham, Massachusetts. Ở đây, bông thô đi vào cửa trước và vải thành phẩm đi ra cửa sau. Hắn không thuê trẻ con lắt nhắt nữa, hắn tuyển dụng hàng nghìn cô gái nông thôn trẻ (gọi là “Mill Girls”) đưa vào các ký túc xá khép kín.
Đây là bước nhảy vọt về quy mô: Tốc độ sản xuất nhanh gấp hàng trăm lần dệt tay, giá vải rớt thê thảm, khiến cho vải vóc trở nên rẻ bèo, kích thích nhu cầu tiêu dùng của cả những người nghèo nhất. Từ một vài nhà máy của Slater năm 1793, đến năm 1840, vùng New England đã có hơn 1.200 nhà máy dệt, biến nơi đây thành công xưởng của Tây Bán cầu.
Để phát triển nhanh cần có vốn nhanh và mạnh hơn. Trớ trêu lại đến từ hầu bao của cựu mẫu quốc ở London, cụ thể là gia tộc ngân hàng Baring Brother - quyền lực đến mức ví như “cường quốc thứ 6 của châu Âu”.
Thời điểm bọn Baring nhận ra “Mỹ là con nợ ngon hơn là kẻ thù” là ngay sau khi Chiến tranh 1812 kết thúc (năm 1815). Trước đó, Baring đã dính líu đến Mỹ qua vụ mua vùng Louisiana năm 1803 (Baring đã dàn xếp việc thanh toán tiền cho Napoleon thay Mỹ), nhưng phải đến sau năm 1815, khi hòa bình lập lại, dòng vốn mới thực sự ồ ạt chảy vào.
Vụ mua bán Louisiana năm 1803 thực chất không phải là “đầu tư” vào kinh tế Mỹ, mà là một phi vụ môi giới chính trị (political brokerage). Lúc đó, Napoleon đang kẹt tiền để đánh nhau với Anh, hắn muốn bán đất. Mỹ muốn mua nhưng không có tiền mặt (vàng/bạc), chỉ có trái phiếu giấy. Napoleon không cần giấy, hắn cần vàng. Baring nhảy vào làm trung gian: Baring nhận trái phiếu Mỹ, rồi đưa vàng cho Napoleon (dù Anh và Pháp đang ghét nhau, nhưng tiền là tiền). Đây là một vụ giao dịch “đánh nhanh rút gọn”, Baring ăn phí môi giới và lãi suất trái phiếu chính phủ, chứ chưa phải là bơm vốn vào hạ tầng hay doanh nghiệp Mỹ.
Nhưng ngay sau vụ đó, từ 1803 đến 1815, cả thế giới phương Tây rơi vào cái gọi là “Thập kỷ hỗn loạn”. Mày là một chủ ngân hàng ở London, mày có dám vứt cả núi tiền vào Mỹ không khi mà hai việc sau đây đang diễn ra?
Thứ nhất là Cuộc chiến tranh Napoleon đang đốt cháy châu Âu. Chính phủ Anh cần vay nợ khủng khiếp để nuôi quân đánh Pháp. Lãi suất trái phiếu chiến tranh của Anh (Consols) rất hấp dẫn và an toàn hơn nhiều so với việc ném tiền sang cái xứ khỉ ho cò gáy bên kia đại dương. Dòng tiền thông minh lúc đó chọn ở lại châu Âu để phục vụ chiến tranh.
Thứ hai là Quan hệ Mỹ - Anh căng như dây đàn. Đỉnh điểm là cuộc Chiến tranh 1812. Mày tưởng tượng xem, Anh và Mỹ đang bắn nhau, Hải quân Anh đang phong tỏa bờ biển Mỹ, thậm chí lính Anh còn tràn vào đốt cháy cả Nhà Trắng năm 1814. Trong bối cảnh đó, không một thằng chủ ngân hàng nào ở London dám bơm tiền cho kẻ địch đang nã pháo vào tàu bè của nước mình cả. Rủi ro bị chính phủ Anh tịch thu tài sản hoặc chính phủ Mỹ xù nợ (default) là cực cao. Giai đoạn này, Mỹ bị coi là “thị trường rác” (junk market) đầy rủi ro.
Chỉ đến năm 1815, mọi thứ thay đổi 180 độ nhờ hai sự kiện: Trận Waterloo (Napoleon thua, châu Âu hòa bình) và Hiệp ước Ghent (Mỹ và Anh ngừng bắn).
Lúc này, cái “nút chai” mới bật ra.
Hòa bình mang lại sự an toàn: Khi tiếng súng dứt, giới tài phiệt Anh nhận ra Mỹ đã trụ vững qua cuộc chiến. Mỹ chứng minh được mình là một quốc gia có chủ quyền thực sự, không dễ bị xóa sổ. Độ tín nhiệm (Credit Rating) của Mỹ tăng vọt.
Dòng tiền dư thừa: Chiến tranh kết thúc, chính phủ Anh ngừng vay nợ để đánh nhau. Giới nhà giàu Anh bỗng dưng cầm một đống tiền nhàn rỗi mà lãi suất ở Anh lại giảm thấp. Họ đói khát lợi nhuận cao.
Cơn khát Bông: Sau chiến tranh, các nhà máy dệt ở Manchester chạy hết công suất và gào thét đòi bông. Mỹ là nơi duy nhất cung cấp được.
Alexander Baring, người đứng đầu gia tộc lúc bấy giờ, có một câu nói để đời: “Quyền lực thương mại vĩ đại hơn quyền lực súng đạn”. Baring và các nhà băng London nhìn thấy Mỹ đang khát vốn để xây hạ tầng (kênh đào, đường sắt) để vận chuyển hàng hóa. Mỹ có đất, có tài nguyên, nhưng không có tiền mặt (cash-poor). Anh Quốc thì dư thừa tiền mặt sau cách mạng công nghiệp nhưng thiếu cơ hội đầu tư sinh lời cao.
Thế là khớp lệnh!
Vụ Kênh đào Erie (1817-1825) là ví dụ kinh điển nhất. Trước khi có kênh đào này, muốn chở một tấn hàng từ Buffalo (vùng Ngũ Đại Hồ) về New York mất 100 đô la và 3 tuần.
Chính quyền bang New York phát hành trái phiếu để lấy tiền đào kênh. Dân Mỹ làm gì có tiền mua hết đống trái phiếu đó? Chính Baring Brothers và các ngân hàng London đã đứng ra “bao tiêu” (underwrite), tức là mua sỉ đống giấy nợ đó rồi bán lại cho giới quý tộc Anh ăn lãi suất. Dòng tiền vàng từ London chảy về New York, trả lương cho hàng ngàn thợ đào kênh Ireland đưng chạy trốn nạn đói những năm 1840.
Sau khi kênh đào xong, giá giảm xuống còn... 6 đô la và mất 8 ngày. Sự sụt giảm chi phí vận chuyển khủng khiếp này làm cho lúa mì từ miền Tây và bông từ miền Nam đổ dồn về cảng New York để xuất đi châu Âu.
Chính dòng hàng hóa này biến New York thành cái phễu hứng tiền của cả lục địa. Phố Wall (Wall Street) phất lên chính là nhờ việc làm trung gian cho các giao dịch này. Các ngân hàng ở New York không chỉ giữ tiền, họ phát hành tín dụng cho chủ đồn điền miền Nam mua nô lệ và đất đai.
Nhưng cái gì đảm bảo cho đống nợ đó không bị xù? Đây chính là cái Vòng tròn Ma quỷ (The Devil’s Circle) dựa trên Bông và Nô lệ mà đã nhắc tới, nhưng tao sẽ vạch trần chi tiết dòng tiền của nó:
1. London (Baring): Bơm tín dụng cho các Ngân hàng ở New York và Boston.
2. New York: Các ngân hàng này dùng tiền đó cho các chủ đồn điền miền Nam vay để mua nô lệ và mở rộng đất đai (cướp từ người da đỏ).
3. Miền Nam (Plantations): Dùng nô lệ trồng bông. Bông này là “Vàng Trắng”. Nó là tài sản thanh khoản cao nhất thế giới lúc đó.
4. Liverpool/Manchester: Bông được chở ngược sang Anh cho các nhà máy dệt. Tiền bán bông được dùng để trả nợ gốc và lãi cho New York, rồi từ New York trả về London.
Trong cái vòng tròn này, người giàu ở ba đầu cầu (Chủ ngân hàng London - Thương nhân New York - Chủ nô miền Nam) liên kết chặt chẽ với nhau thành một khối lợi ích khổng lồ.
• Tiền chảy về túi ai? Nó chảy vào túi của cái gọi là “Boston Associates” - một nhóm chừng 15 gia đình thượng lưu (như dòng họ Lowell, Appleton, Lawrence) sở hữu chéo các nhà máy dệt, công ty bảo hiểm và ngân hàng. Bọn này giàu nứt đố đổ vách, kiểm soát 40% vốn ngân hàng ở Boston và 30% đường sắt ở Massachusetts. Họ trở thành những vương triều kinh tế đầu tiên của Mỹ.
• Người nghèo thế nào? Khoảng cách giàu nghèo doãng ra với tốc độ tên lửa. Những cô gái “Mill Girls” ban đầu còn kiếm được chút tiền của hồi môn, nhưng khi làn sóng nhập cư ập đến vào những năm 1840, họ bị thay thế bởi dân Ireland rẻ mạt hơn. Lương giảm, giờ làm tăng, điều kiện sống tồi tệ đi. Ở miền Nam, dân nghèo da trắng không có nô lệ thì bị đẩy ra rìa xã hội, còn nô lệ da đen thì bị vắt kiệt đến xương tủy để đảm bảo sản lượng bông phải tăng mỗi năm để trả lãi cho các khoản vay từ London.
Bành trướng lãnh thổ
Kinh tế
Tuy nhiên chính vì sự phát triển nhanh chóng này càng làm lộ ra khe nứt mong manh ngày một lớn về việc chia đều sự giàu có cho ba thế lực chính trị: Miền Bắc công nghiệp, Miền Nam đồn điền, và Miền Tây hoang dã.
Miền Bắc (The North/New England), đại diện là giới tư bản công nghiệp và thương nhân ngân hàng. Bọn này đang phất lên nhờ dệt may và tài chính. Kẻ thù của bọn này là hàng hóa giá rẻ từ Anh. Vì thế, nghị trình chính trị sống còn của miền Bắc là Thuế quan bảo hộ (Protective Tariffs). Họ muốn chính phủ liên bang đánh thuế thật nặng vào hàng nhập khẩu từ Anh để dân Mỹ buộc phải mua hàng nội địa do họ sản xuất. Với họ, nhà nước phải là “bảo mẫu” cho công nghiệp, phải chi tiền xây cảng, xây đường để hàng hóa của họ lưu thông.
Ngược lại hoàn toàn là Miền Nam (The South), lãnh địa của giới quý tộc chủ nô, hay còn gọi là “King Cotton”. Bọn này sống nhờ xuất khẩu bông sang Anh và nhập khẩu hàng xa xỉ, máy móc từ Anh về.
Khi miền Bắc đòi tăng thuế nhập khẩu, miền Nam coi đó là hành động ăn cướp. Năm 1828, Quốc hội Mỹ (bị miền Bắc thao túng) thông qua cái gọi là “Đạo luật Thuế quan Ghê tởm” (Tariff of Abominations), đẩy thuế lên mức cắt cổ. Miền Nam điên tiết vì họ bị thiệt kép: vừa phải mua hàng giá cao từ miền Bắc (do hàng Anh bị đánh thuế), vừa sợ Anh trả đũa không mua bông nữa. Phó Tổng thống lúc đó là John C. Calhoun (người miền Nam) thậm chí đã soạn thảo thuyết “Vô hiệu hóa” (Nullification), tuyên bố rằng các bang có quyền bác bỏ luật của liên bang nếu thấy nó vi hiến. Đây chính là mầm mống ly khai, cho thấy nội bộ Mỹ lúc đó căng như dây đàn, các bang miền Nam đã dọa bỏ cuộc chơi từ tận những năm 1830 chứ không đợi đến 1861.
Thằng thứ ba là kẻ mới nhập cuộc: Miền Tây (The West). Đây là vùng biên giới đang mở rộng (Ohio, Kentucky, Tennessee...). Dân ở đây là những kẻ khai hoang, khát đất và nợ nần đầm đìa. Họ không quan tâm lắm đến thuế quan hay nô lệ (lúc đầu), cái họ cần là Đất rẻ và Hạ tầng giao thông (đường sá, kênh rạch) để chở nông sản về Đông. Họ căm ghét cái gọi là “Ngân hàng Quốc gia” (Bank of the United States) nằm ở Philadelphia do giới tài phiệt miền Bắc nắm giữ. Họ coi cái ngân hàng này là con quái vật chuyên siết nợ nông dân và thao túng tín dụng.
Tổng thống Andrew Jackson, một người miền Tây điển hình, đã châm ngòi cuộc “Chiến tranh Ngân hàng” (Bank War) năm 1832, thẳng tay bóp chết Ngân hàng Trung ương vì cho rằng nó phục vụ lợi ích nhóm của bọn nhà giàu miền Bắc, bất chấp việc này làm nền tài chính Mỹ chao đảo một thời gian dài.
Mày thấy đấy, cái “đế quốc” này vận hành theo kiểu giằng co: Miền Bắc nắm túi tiền và công nghệ, Miền Nam nắm nguồn hàng xuất khẩu chủ lực (bông), còn Miền Tây nắm giữ tiềm năng mở rộng lãnh thổ. Chính sự mâu thuẫn này tạo ra một cơ chế chính trị kỳ quái gọi là “Thỏa hiệp” (Compromise).
Cứ mỗi lần Mỹ nuốt thêm một vùng đất mới, ba thằng lại nhảy vào cấu xé xem vùng đó sẽ thuộc về phe nào: Sẽ là bang tự do (ủng hộ miền Bắc) hay bang nô lệ (ủng hộ miền Nam)? Ví dụ điển hình là Thỏa hiệp Missouri 1820.
Thực chất, sự bành trướng của Mỹ, một phần là do nhu cầu giải tỏa áp lực nội bộ này. Miền Nam cần thêm đất mới về phía Tây và Nam (như Texas) vì trồng bông rất hại đất, trồng vài vụ là đất bạc màu, phải đi cướp đất mới để duy trì chế độ nô lệ. Miền Bắc cần đất mới để mở rộng thị trường tiêu thụ và nguồn nguyên liệu. Cả hai phe đều đẩy cái biên giới nước Mỹ phình to ra để đua tranh quyền lực với nhau.
Nước Mỹ thời đó không phải là một khối thống nhất hùng mạnh, mà là một cỗ xe tam mã chạy về ba hướng khác nhau, được giữ lại bằng những sợi dây thỏa hiệp mong manh.
Sở dĩ nó không tan rã ngay lúc đó (như Gran Colombia của Bolívar) là vì miếng bánh lợi ích kinh tế tổng thể vẫn còn quá lớn: dòng tiền từ bông và đất đai vẫn đủ sức “bôi trơn” những mâu thuẫn này tạm thời. Nhưng chính những vết rạn nứt về thuế quan, ngân hàng và chế độ nô lệ này đã đào sâu cái hố ngăn cách mà cuối cùng phải lấp đầy bằng máu của 600.000 người trong cuộc Nội chiến sau này
Nhưng chính từ đống tro tàn của cuộc chiến đó, câu trả lời cho việc "tại sao Mỹ lại bành trướng ra biển" mới hiện ra rõ ràng nhất. Mày phải hiểu rằng, cuộc Nội chiến không chỉ là giải phóng nô lệ, mà về bản chất kinh tế, đó là cuộc thôn tính thù địch (Hostile Takeover) của phe Công nghiệp Miền Bắc đối với phe Nông nghiệp Miền Nam.
Khi tiếng súng ngưng năm 1865, phe Miền Nam thua trắng. Giới chủ nô bị xóa sổ về mặt chính trị. Rào cản lớn nhất đối với chủ nghĩa tư bản công nghiệp đã bị dẹp bỏ. Từ giờ, nước Mỹ không còn là cỗ xe tam mã nữa, mà trở thành một cỗ máy hơi nước khổng lồ do duy nhất phe Tư bản Công nghiệp miền Bắc cầm lái. Toàn bộ nguồn lực quốc gia được dồn vào công nghiệp hóa với tốc độ điên cuồng. Nhưng chính sự thắng thế tuyệt đối này lại đẻ ra một con quái vật mới, nguy hiểm hơn cả nội chiến, đó là Khủng hoảng Thừa (Overproduction).
Đây là cái mấu chốt chuyển hướng từ “mở rộng đất đai” sang “bành trướng thị trường”. Đến những năm 1890, cỗ máy công nghiệp Mỹ chạy quá êm, quá nhanh. Nhà máy thép của Carnegie, xưởng dệt, đường sắt... sản xuất ra hàng hóa nhiều hơn mức mà dân Mỹ có thể mua. Mày nhớ cái đám “công nhân hưởng lương” và “tiểu địa chủ” tao nói không? Túi tiền của bọn họ có hạn, họ không thể nuốt hết núi hàng hóa khổng lồ đó được.
Hậu quả là cuộc Đại khủng hoảng năm 1893 (Panic of 1893). Hàng ứ đọng, giá rớt thê thảm, nhà máy đóng cửa, công nhân thất nghiệp tràn ra đường biểu tình. Lúc này, giới tinh hoa Mỹ nhận ra một sự thật lạnh sống lưng: Thị trường nội địa đã bão hòa. Nếu không tìm được nơi mới để xả đống hàng tồn kho này, nước Mỹ sẽ nổ tung từ bên trong vì mâu thuẫn giai cấp (công nhân đói khổ sẽ làm cách mạng lật đổ tư bản).
Thêm vào đó, cái “van xả áp” truyền thống là Miền Tây đã bị khóa lại. Năm 1890, Cục Điều tra Dân số Mỹ tuyên bố “Đóng cửa Biên giới” (Closing of the Frontier). Tức là hết đất hoang rồi, không còn chỗ cho những kẻ thất bại ở miền Đông chạy sang miền Tây làm lại cuộc đời nữa.
Vậy lối thoát nằm ở đâu? Chỉ còn một hướng: Ra Biển.
Giới tư bản Mỹ lúc này thay đổi tư duy chiến lược 180 độ. Họ không cần chiếm đất để đưa dân sang định cư nữa (như kiểu chiếm miền Tây), mà họ cần Thị trường tiêu thụ và Nguồn tài nguyên giá rẻ. Họ nhìn xuống phía Nam – Mỹ Latinh, và nhìn sang phía Tây – Trung Quốc. Đây là lúc tư tưởng “Đế quốc Thương mại” chính thức lên ngôi. Họ cần những “thuộc địa kiểu mới”: không cần sáp nhập vào lãnh thổ Mỹ, nhưng phải mở cửa hoàn toàn cho hàng hóa Mỹ tràn vào và nguyên liệu chảy ra.
Để làm được điều này, Mỹ cần một công cụ mới, không phải là kỵ binh bắn súng trường nữa, mà là Hải quân Đại dương (Blue-water Navy). Người vẽ đường cho chiến lược này là Đô đốc Alfred Thayer Mahan. Năm 1890, ông ta viết cuốn sách “Ảnh hưởng của Sức mạnh Biển đối với Lịch sử” (The Influence of Sea Power Upon History). Mahan bơm vào đầu giới lãnh đạo Mỹ một chân lý: “Thằng nào nắm biển, thằng đó nắm thương mại. Thằng nào nắm thương mại, thằng đó nắm thế giới.”
Mahan bảo rằng Mỹ phải xây dựng một hạm đội tàu chiến sắt thép khổng lồ để bảo vệ các tuyến đường buôn bán. Và quan trọng nhất, Mỹ phải kiểm soát vùng biển Caribbean, coi đó là cái “ao nhà” để phòng thủ kênh đào Panama (lúc đó đang nằm trong dự tính).
Quân sự
Thường người ta chỉ nhìn thấy lúc Mỹ vác tàu đi dọa thế giới, nhưng ít ai để ý giai đoạn “con nhà nghèo vượt khó” trước đó. Thực tế, sau khi giành độc lập và trong suốt nửa đầu thế kỷ 19, Mỹ áp dụng chiến thuật quân sự kiểu “liệu cơm gắp mắm” cực kỳ thực dụng. Họ không thể nuôi một đội quân khổng lồ ngốn tiền như các vua chúa châu Âu, mà họ dồn tiền vào công nghệ lõi và mô hình tinh nhuệ. Tiền ở đâu ra? Câu trả lời nằm ở Thuế quan (Tariffs) và Bán đất công.
Ngân khố liên bang sống chủ yếu nhờ thuế nhập khẩu (chiếm tới 90% doanh thu chính phủ). Mày nhớ cái vòng tròn buôn bán với Anh mà tao nói ở trên không? Hàng hóa Anh đổ vào Mỹ càng nhiều, chính phủ Mỹ thu thuế càng đẫm. Ngoài ra, tiền bán đất cướp được từ người da đỏ ở miền Tây cũng là một nguồn thu bổ sung. Chính phủ Mỹ dùng dòng tiền này cực kỳ dè sẻn. Thay vì nuôi 10 vạn quân thường trực ăn không ngồi rồi, họ duy trì một lực lượng quân đội siêu nhỏ (chỉ vài nghìn người) để tiết kiệm chi phí, nhưng lại đầu tư cực mạnh vào chất lượng khí tài.
Về Hải quân, đây là ví dụ điển hình của tư duy “ít nhưng chất” (Quality over Quantity). Sau Cách mạng, Mỹ gần như giải tán hải quân vì hết tiền. Nhưng khi bị hải tặc Barbary và các cường quốc chèn ép, họ quyết định đóng lại hải quân năm 1794. Thay vì đóng 100 con tàu lởm khởm, họ thuê thiên tài thiết kế Joshua Humphreys đóng 6 con tàu hộ vệ hạm (frigates) hạng nặng, nổi tiếng nhất là tàu USS Constitution. Tư duy của Humphreys là: Mỹ không thể đọ số lượng với Anh, nên tàu của Mỹ phải chạy nhanh hơn tàu to của địch và đấm đau hơn tàu nhanh của địch. Họ dùng gỗ sồi sống (live oak) siêu cứng miền Nam, khiến đạn đại bác bắn vào nảy ra như bi, nên tàu này có biệt danh là “Old Ironsides”. Đây là cách Mỹ dùng tiền thuế ít ỏi để mua công nghệ vượt trội, tạo ra sức răn đe bất đối xứng.
Về Lục quân và Đại bác, Mỹ không nuôi lính trơn, mà Mỹ nuôi kỹ sư. Năm 1802, Học viện Quân sự West Point được thành lập, nhưng bản chất ban đầu nó là trường đào tạo kỹ sư xây dựng cầu đường và pháo đài hàng đầu. Mỹ hiểu rằng khi chiến tranh nổ ra, họ có thể gọi dân quân (militia) cầm súng, nhưng họ cần đội ngũ sĩ quan chỉ huy có đầu óc tính toán học thuật để xây pháo đài và vận hành pháo binh. Chính phủ cũng đổ tiền vào các xưởng vũ khí quốc gia như Springfield Armory và Harpers Ferry. Tại đây, họ phát triển “Hệ thống sản xuất kiểu Mỹ” (American System of Manufacturing)—tức là chế tạo các bộ phận súng có thể thay thế lẫn nhau (interchangeable parts). Trước đó, hỏng cò súng là vứt cả khẩu, giờ thì hỏng đâu thay đó. Điều này giúp giảm chi phí bảo trì và tăng tốc độ trang bị cực nhanh khi cần
Một yếu tố nữa giúp Mỹ tiết kiệm tiền nuôi quân là địa lý và địa chính trị. Cái hào nước khổng lồ là Đại Tây Dương giúp Mỹ không cần duy trì biên giới quân sự tốn kém như Pháp hay Đức. Hơn nữa, trớ trêu thay, chính Hải quân Hoàng gia Anh (Royal Navy) trong thời kỳ Pax Britannica (Hòa bình Anh) lại gián tiếp bảo vệ thương mại của Mỹ. Anh muốn buôn bán tự do, nên Anh đi dẹp loạn hải tặc khắp thế giới, tàu buôn Mỹ cứ thế mà “đi ké” sự an toàn đó mà không tốn xu nào đóng phí bảo kê. Mỹ chỉ việc tập trung tiền vào phát triển kinh tế nội địa và dồn lực cho các chiến dịch đánh chiếm đất đai của Mexico và người da đỏ (những đối thủ yếu hơn hẳn về công nghệ).
Thao túng chính trị
Tiền thì có rồi, quân đội cũng có vậy cuối cùng là thiết lập cái cớ “hợp lý” để phát động chiến tranh nhằm thu lợi nhuận cho tầng lớp giàu có chỉ chiếm 1-2% dân số nhưng lại chiếm phần lớn tài sản của một quốc gia. Lỗi lầm này truy về căn nguyên gốc rễ là tại các “Cha già lập quốc” (Founding Fathers) như Alexander Hamilton hay James Madison cực kỳ sợ hãi cái gọi là “nền dân chủ của đám đông” (mobocracy). Họ thiết kế ra một hệ thống để ngăn chặn người nghèo cướp tiền của người giàu thông qua lá phiếu.
Trong giai đoạn đầu thế kỷ 19, quyền bầu cử bị khóa chặt bằng Tiêu chuẩn Tài sản (Property Qualifications). Ở hầu hết các bang, mày phải sở hữu một lượng đất đai nhất định hoặc đóng một mức thuế đủ cao mới được đi bầu. Tư duy ở đây là: “Ai có cổ phần trong đất nước thì mới được quyền quyết định vận mệnh quốc gia”. Đám thợ thuyền, nông dân không đất, và đương nhiên là nô lệ hay phụ nữ, bị coi là những kẻ “vô sản”, không có gì để mất nên lá phiếu của họ rất nguy hiểm.
Thượng viện thời đó không phải do dân bầu trực tiếp (phải đến năm 1913 mới đổi), mà do Cơ quan Lập pháp của các Bang chọn ra. Điều này có nghĩa là những ông nghị ngồi ở Thượng viện là đại diện cho lợi ích của giới tinh hoa địa phương, là cái phanh hãm mỗi khi Hạ viện (nơi dân bầu trực tiếp nhiều hơn) định thông qua luật gì đó có lợi cho người nghèo.
Còn Tòa án Tối cao, với các thẩm phán được bổ nhiệm trọn đời, đóng vai trò là “người gác đền” cho quyền tài sản. Dưới thời Chánh án John Marshall, Tòa án liên tục ra các phán quyết bảo vệ hợp đồng kinh doanh và quyền lợi của các tập đoàn trước sự can thiệp của chính quyền bang.
Một chiêu bài nữa là sự ra đời của Vận động hành lang (Lobbying) ngay từ trong trứng nước. Mày đừng tưởng tham nhũng chính trị là chuyện của thế kỷ 20. Thời đó, Ngân hàng thứ hai của Hoa Kỳ (Second Bank of the United States) do Nicholas Biddle điều hành đã trả tiền “tư vấn pháp lý” cho các nghị sĩ cộm cán như Daniel Webster để họ bảo vệ lợi ích của ngân hàng trong Quốc hội. Webster từng trắng trợn viết thư cho ngân hàng đòi tiền “nạp lại thẻ” (retainer) nếu muốn ông ta tiếp tục phát biểu ủng hộ. Đây là minh chứng rõ nhất cho việc chính trường bị đồng tiền chi phối: các chính sách ngoại giao (như Học thuyết Monroe) hay kinh tế (thuế quan) đều được thảo luận và chốt hạ dựa trên việc nó mang lại bao nhiêu lợi nhuận cho các nhà tài trợ phía sau.
Cuối cùng, bọn tài phiệt này cực giỏi trong việc đánh tráo khái niệm. Chúng biến lợi ích của giai cấp mình thành “lợi ích quốc gia”. Việc mở rộng thị trường sang Nam Mỹ hay về phía Tây được tô vẽ bằng cái tên mỹ miều “Vận mệnh Hiển nhiên” (Manifest Destiny) - ý nói Chúa đã chọn nước Mỹ để lan tỏa văn minh.
Chúng tiêm vào đầu dân nghèo ảo tưởng rằng sự giàu có của quốc gia sẽ nhỏ giọt xuống túi họ (trickle-down), và rằng việc đi lính đánh nhau mở rộng lãnh thổ là hành động yêu nước, trong khi thực chất là đi dọn đường cho các công ty đường sắt và đồn điền bông vào khai thác.
Bolívar, với tầm nhìn của một thiên tài chính trị, đã ngửi thấy mùi nguy hiểm này từ rất sớm. Trong khi ông ta đang cố gắng tuyệt vọng để giữ cho cái Đại Colombia (Gran Colombia) không bị xé lẻ, ông ta đã viết một câu để đời năm 1829: “The United States appear to be destined by Providence to plague America with misery in the name of liberty” (Hoa Kỳ dường như được Số phận an bài để hành hạ châu Mỹ bằng sự khốn cùng nhân danh tự do). Bolívar nhận ra rằng cái “tự do” mà Mỹ rao giảng là tự do buôn bán cho Mỹ, chứ không phải tự do chính trị cho người dân Nam Mỹ.
Đế quốc kiểu mới mà Mỹ đang manh nha hình thành là Đế quốc Kinh tế: không cần đặt quan cai trị ở Colombia hay Venezuela; chỉ cần đảm bảo không thằng châu Âu nào được bén mảng tới, để một mình Mỹ độc quyền khai thác tài nguyên và thị trường ở đây. Câu “Châu Mỹ của người Mỹ” (America for the Americans) thực chất nên dịch là “Châu Mỹ là của Hoa Kỳ” (Americas for the United States).
Thuộc địa “Nam Mỹ”
Học thuyết Monroe
Năm 1823, khi Tổng thống James Monroe tuyên bố học thuyết này, nước Mỹ thực ra còn yếu nhớt, hải quân còn thua xa Anh hay Pháp.
Monroe chém gió rằng: "Châu Mỹ không còn là đối tượng cho các cường quốc châu Âu tái lập thuộc địa".
Thực chất lúc đó Mỹ đang sợ bọn Tây Ban Nha hay Pháp quay lại chiếm Mexico hay Cuba thì nguy to cho an ninh của Mỹ.
Vị trí của Cuba nằm cửa ngõ vịnh Mexico với thời đại chưa có đường sắt xuyên lục địa nên toàn bộ nông sản (lúa mì, ngô, thịt lợn) của cái miền Tây và miền Trung nước Mỹ (như Ohio, Kentucky, Tennessee) muốn bán ra thế giới hay chở về bờ Đông đều phải thả trôi sông Mississippi xuống cảng New Orleans. Dòng sông này là động mạch chủ duy nhất bơm máu cho kinh tế Mỹ. Ai nắm được Cuba, kẻ đó nắm được cái "nút cổ chai" của đất nước.
Nếu một cường quốc hải quân mạnh như Pháp hay Anh mà chiếm Cuba, họ chỉ cần mang vài con tàu chiến ra chặn cửa Vịnh Mexico là kinh tế Mỹ tắc thở ngay lập tức, miền Tây sẽ chết đói và nổi loạn. Thomas Jefferson từng thèm khát Cuba đến mức gọi nó là "cái bổ sung thú vị nhất cho hệ thống các bang của chúng ta". Mỹ sợ Pháp hay Anh chiếm Cuba hơn sợ cọp, vì thế thà để một thằng Tây Ban Nha già yếu, bệnh hoạn giữ nó còn hơn là để lọt vào tay một thằng cường quốc trẻ khỏe.
Thứ hai, nói về Mexico - Bức tường chặn đứng "Vận mệnh Hiển nhiên". Năm 1823, biên giới của Mỹ chưa lan tới California hay Texas đâu.
Vùng đất phía Tây sông Mississippi (vùng Louisiana mới mua) còn hoang vu. Nếu Pháp hay Tây Ban Nha (với sự hậu thuẫn của Liên minh Thần thánh ở châu Âu) tái chiếm Mexico, họ sẽ thiết lập một chế độ quân chủ hùng mạnh ngay sát nách Mỹ.
"Liên minh Thần thánh" (gồm Nga, Phổ, Áo) lúc đó đang hừng hực khí thế muốn đập tan mọi nền cộng hòa để khôi phục vua chúa. Nếu Mexico trở thành một căn cứ quân sự của châu Âu, Mỹ sẽ bị kẹp giữa hai gọng kìm: phía Đông là Hải quân Anh, phía Tây Nam là Lục quân Pháp/Tây Ban Nha. Giấc mơ mở rộng lãnh thổ ra Thái Bình Dương của Mỹ sẽ chết ngay trong trứng nước. Mỹ cần một Mexico yếu ớt, hỗn loạn để sau này còn dễ bề... cắn xé (như sự kiện chiếm Texas năm 1845 và chiến tranh Mexico 1846 sau này).
Thứ ba, nỗi ám ảnh về hiệu ứng Domino chính trị. Mỹ lúc đó là nước cộng hòa lớn duy nhất trên thế giới, xung quanh toàn là vua với chúa. Nếu Tây Ban Nha tái chiếm được các thuộc địa Nam Mỹ, nó sẽ chứng minh rằng mô hình “cộng hòa” là thất bại, là yếu ớt. Điều này đe dọa tính chính danh của chính chế độ Mỹ. Giới lãnh đạo Mỹ sợ rằng nếu ngọn lửa cách mạng ở Nam Mỹ bị dập tắt, bọn vua chúa châu Âu sẽ quay sang “xử lý” nốt cái gai cộng hòa cuối cùng là Hoa Kỳ.
Nhưng cái hài hước là người thực thi cái học thuyết này lúc đó không phải Mỹ, mà là Hải quân Hoàng gia Anh. Anh cũng muốn tự do buôn bán với Nam Mỹ nên ủng hộ việc đuổi bọn Tây Ban Nha đi. Lúc này, Venezuela hay các nước khác còn hí hửng tưởng Mỹ là anh cả tốt bụng bảo vệ đàn em.
Tranh chấp vùng Esequibo 1895
Năm 1895, Venezuela có tranh chấp biên giới với thuộc địa British Guiana của Anh (vụ tranh chấp vùng Esequibo mà đến tận năm 2024-2025 vẫn đang nóng hổi đấy).
Nhưng đến khi người ta phát hiện ra vàng ở vùng tranh chấp (lưu vực sông Orinoco), thì lòng tham nổi lên. Anh Quốc, với tư cách là đế quốc già đời, bắt đầu lấn tới, định nuốt trọn vùng này. Venezuela, lúc này vẫn còn ngây thơ, đã làm một hành động dại dột: Viết thư cầu cứu Mỹ, van xin Mỹ hãy dùng Học thuyết Monroe để can thiệp, ngăn cản thằng Anh bắt nạt em út.
Tổng thống Mỹ lúc đó là Grover Cleveland nhảy vào thật, nhưng không phải vì thương Venezuela, mà vì muốn dằn mặt Anh và khẳng định vị thế số 1 ở Tây Bán Cầu. Ngoại trưởng Mỹ Richard Olney đã viết một bức thư (gọi là Olney Note) ngạo mạn kinh điển gửi cho nước Anh, tuyên bố: "Ngày nay, Hoa Kỳ thực tế là tối cao (sovereign) trên lục địa này, và mệnh lệnh của Hoa Kỳ là luật pháp".
Nó không còn nói "Châu Mỹ của người châu Mỹ" nữa, mà nói toạc ra là "Châu Mỹ là sân của tao". Anh Quốc lúc đó đang bận đánh nhau ở Nam Phi (chiến tranh Boer) và lo ngại Đức trỗi dậy, nên không muốn gây chiến với Mỹ. Anh chấp nhận để Mỹ đứng ra làm trọng tài phân xử.
Tại cái tòa án trọng tài quốc tế ở Paris năm 1899, người ngồi trên bàn đàm phán là đại diện của Mỹ và đại diện của Anh. Không có một người Venezuela nào được ngồi vào đó cả! Mỹ bảo: “Để tao lo cho, mày ngồi im đi”.
Kết quả: Tòa án phán quyết trao phần lớn vùng đất giàu tài nguyên (khoảng 90%) cho Anh Quốc.
Mỹ bán đứng thằng đệ của mình vì ưu tiên làm thân với đế quốc Anh (đối tác thương mại lớn nhất) hơn hơn là là bảo vệ công lý cho một nước cộng hòa nghèo rớt mồng tơi. Bài học xương máu mà Venezuela nhận được năm 1899 là: Học thuyết Monroe không phải là công cụ để bảo vệ chủ quyền của Mỹ Latinh trước châu Âu, mà là công cụ để Mỹ giành quyền độc quyền xử lý Mỹ Latinh.
Tức là: “Thằng Anh không được bắt nạt nó, để tao bắt nạt, hoặc tao sẽ quyết định ai được phép bắt nạt nó dựa trên lợi ích của tao.”
Khủng hoảng Venezuela 1902-1903
Năm 1902, gã độc tài Venezuela là Cipriano Castro (tiền nhiệm của Gomez) nợ tiền bọn Anh, Đức, Ý mà lầy lội không trả. Đổ lỗi hết cho tên Castro này cũng hơi oan vì hắn chỉ là kẻ "kẻ đổ vỏ" cho các đời tổng thống trước, một nửa là kẻ "chí phèo" thực sự.
Khoản vay lớn nhất và "cục nợ" nặng nhất: Đường sắt Đại Venezuela (Great Venezuela Railway) - một cái bẫy nợ kinh điển mà Đức giăng ra. Tổng thống nhiệm kỳ trước là Antonio Guzmán Blanco ký khoản vay 50 triệu Bolívares (tiền Venezuela lúc đó đinh vị theo vàng, giá trị rất lớn) với ngân hàng Disconto-Gesellschaft của Đức (một trong những ngân hàng lớn nhất Berlin thời đó) để xây tuyến đường sắt nối thủ đô Caracas với thành phố Valencia mắt xích kinh tế quan trọng nhất nối liền vùng trồng cà phê và cacao với thị trường quốc tế thông qua cảng biển Puerto Cabello.
Lãi suất danh nghĩa khoảng 7%, nhưng chính phủ Venezuela cam kết "bảo lãnh lợi nhuận" 5-7% cho công ty đường sắt Đức. Tức là nếu đường sắt làm ăn thua lỗ (mà lỗ là cái chắc), chính phủ phải bỏ tiền túi ra bù cho đủ 7% lãi cho bọn Đức. Để thế chấp kho không trả được nợ, chính phủ Antonio Guzmán Blanco lấy Thuế hải quan (Customs Duties) - nguồn thu duy nhất của chính phủ lúc đó và đám người Đức cài điều khoản: Nếu mày không trả được nợ, tao có quyền kiểm soát cảng biển của mày để thu thuế trừ nợ.
Sau khi ký hợp đồng xong, ngân hàng Đức phát hành trái phiếu ở Berlin, hút tiền của dân Đức, rồi dùng tiền đó trả cho các nhà thầu Đức (như tập đoàn Krupp cung cấp thép và đầu máy). Venezuela chỉ nhận được cái đường sắt (vật tư) chứ ít khi cầm được tiền tươi.
Khoản nợ lớn thứ hai là “Nợ bồi thường chiến tranh” (Claims for Damages). Đây là cái lý do chính khiến Anh và Ý nhảy vào.
Tiền trong kho bạc (chủ yếu từ thuế xuất khẩu cà phê và cacao) không dùng để trả nợ nước ngoài, mà dùng để mua súng và nuôi quân đánh nội chiến.
Năm 1901, giới ngân hàng và địa chủ Venezuela (đứng đầu là Manuel Antonio Matos) ghét Castro quá nên đã vay tiền của nước ngoài để lập ra cuộc Cách mạng Giải phóng (Revolución Libertadora) nhằm lật đổ hắn. Để chống lại, Castro phải dốc toàn bộ ngân khố quốc gia để mua súng trường Mauser của Đức (trớ trêu thay), đại bác và trả lương cho đám lính rách rưới của mình.
Trong suốt các cuộc nội chiến liên miên ở Venezuela, quân đội của các phe phái (cả phe chính phủ lẫn phe nổi dậy) cứ đi qua thị trấn nào là cướp bóc thị trấn đó.
Nợ Anh: Các chủ trang trại, thương nhân người Anh bị trưng thu tài sản, tàu bè bị cướp. Anh đòi khoảng vài triệu bảng.
Nợ Ý: Ý lúc đó có rất nhiều dân nhập cư sang Venezuela mở tiệm tạp hóa, buôn bán nhỏ. Khi Castro đánh nhau với quân nổi dậy, lính tráng vào hôi của sạch sành sanh các cửa tiệm này. Chính phủ Ý đại diện cho công dân đòi bồi thường khoảng 3 triệu Bolívares.
Cuộc nội chiến này là cuộc chiến lớn nhất lịch sử Venezuela, đốt sạch sành sanh mọi nguồn lực tài chính. Hắn không còn một xu để trả lãi cho ngân hàng Disconto-Gesellschaft hay bồi thường cho mấy ông chủ tiệm người Ý. Ngoài Disconto-Gesellschaft (Đức), còn có các ngân hàng Anh như Baring Brothers (lại là nó, dính líu từ các khoản nợ cũ thời độc lập) đang nắm giữ trái phiếu rác của Venezuela.
Để xù nợ, Castro tuyên bố vỡ nợ toàn diện (moratorium). Hắn bảo:
"Nợ cũ là do mấy thằng tổng thống trước ăn hại vay, tao không biết. Còn thiệt hại chiến tranh là do thiên tai địch họa, tao không đền".
Với máu điên của một thằng không còn để mất sẵn sàng thách thức cả thế giới thực dân châu Âu giỏi thì vào Venezuela mà đòi tổng số nợ 180 triệu Bolívares (trong khi thu nhập hàng năm của chính phủ chỉ lẹt đẹt 30-40 triệu).
Thế là ba nước này mang tàu chiến đến phong tỏa cảng biển Venezuela, nã pháo vào pháo đài để đòi nợ.
Tháng 1 năm 1903, khi Castro vẫn còn đang gân cổ cãi chày cãi cối, tàu chiến Đức tên là SMS Panther đã làm một hành động ngu ngốc là nã đại bác nát bét cái pháo đài San Carlos bảo vệ cửa vịnh Maracaibo, san bằng cả một ngôi làng chài gần đó, giết chết dân thường.
Hành động này làm dư luận Mỹ sôi sùng sục. Báo chí Mỹ gào lên: "Bọn Đức đang giết người ngay sân sau nhà mình!".Tổng thống Teddy Roosevelt nhận ra rằng nếu hắn không làm gì, Đức sẽ nhân đà này đổ bộ quân lính lên đất liền chiếm đóng vĩnh viễn một cảng biển (có thể là đảo Margarita) để làm căn cứ hải quân đối trọng với kênh đào Panama mà Mỹ sắp đào.
Castro hoảng quá lại gào lên: “Học thuyết Monroe đâu rồi? Mỹ ơi cứu!”.
Teddy chơi bài “ngoại giao pháo hạm” ngược lại với Đức. Hắn bí mật gọi Đại sứ Đức tại Washington đến và ra tối hậu thư lạnh lùng:
“Tao cho Hoàng đế Wilhelm của mày 10 ngày để chấp nhận trọng tài phân xử và rút tàu về. Nếu không, tao sẽ cử Đô đốc George Dewey (anh hùng hải quân Mỹ) mang toàn bộ Hạm đội Đại Tây Dương xuống Venezuela bắn nát tàu Đức”.
Để chứng minh mình không nói phét, Teddy cho hạm đội tập trận rầm rộ ngay tại Puerto Rico, cách Venezuela có một cú phóng lôi. Đức lúc đó chưa đủ tuổi đọ hải quân với Mỹ ở sân nhà Mỹ, nên đành cụp đuôi rút lui, chấp nhận ký vào “Nghị định thư Washington”, đồng ý giảm nợ và không chiếm đất.
Nhưng đây mới là lúc cái Vòng Kim Cô mang tên “Hệ quả Roosevelt” (1904) bắt đầu siết chặt. Teddy Roosevelt tư duy thế này:
“Nếu tao cấm bọn châu Âu sang đòi nợ, thì bọn Mỹ Latinh sẽ ỷ thế làm càn, vay tiền xong quỵt, rồi núp váy tao. Thế thì tao mang tiếng bao che cho kẻ cắp à? Không được.”
Thế là hắn đẻ ra cái khái niệm “Cảnh sát Quốc tế” (International Police Power) tiếp nối đến tận bây giờ. Cơ chế này vận hành cực kỳ tinh vi thông qua chiêu bài “Tiếp quản Hải quan” (Customs Receivership).
Mô hình này hoạt động như sau (thí điểm đầu tiên ở Cộng hòa Dominica năm 1905 nhưng áp dụng tinh thần đó cho cả khu vực, trong đó có Venezuela): Mỹ sẽ cử quan chức tài chính sang chiếm luôn cái Cục Hải quan của nước con nợ.
Tại sao lại là Hải quan? Vì thời đó nước nghèo làm gì có thuế thu nhập hay thuế doanh nghiệp, 90% tiền của chính phủ đến từ thuế xuất nhập khẩu tại cảng biển. Khi tàu hàng cập bến, quan chức Mỹ sẽ trực tiếp thu tiền thuế. Họ chia tiền làm hai phần:
55% doanh thu: Mỹ giữ lại ngay lập tức để chuyển thẳng sang châu Âu (hoặc các chủ nợ Phố Wall) trả nợ gốc và lãi.
45% còn lại: Mỹ mới bố thí lại cho chính phủ sở tại để trả lương công chức, quân đội và vận hành đất nước.
Thứ nhất, nó biến chính phủ các nước Mỹ Latinh thành những kẻ ăn xin ngay trên đất nước mình. Tổng thống mà không nắm được túi tiền thì chó nó nghe. Thế là Mỹ nắm luôn quyền sinh sát chính trị. Nếu thằng Tổng thống nào ngoan (như Gómez sau này), Mỹ sẽ nới tay bơm thêm chút tiền. Thằng nào láo (như Castro), Mỹ siết hầu bao lại là chết đói, quân đội không có lương sẽ tự động đảo chính.
Thứ hai, nó bảo vệ tuyệt đối lợi ích của tư bản. Các ngân hàng Phố Wall và châu Âu sướng rơn. Trước đây cho vay nơm nớp lo bị quỵt, giờ có “bảo kê” Mỹ đứng ra thu hộ, rủi ro bằng không. Thế là dòng vốn lại ồ ạt chảy vào, nhưng lần này đi kèm với những điều kiện nhượng địa tài nguyên (dầu mỏ, đất đai) khắc nghiệt hơn nhiều.
Thứ ba, nó hợp thức hóa việc xâm lược quân sự. “Cây gậy lớn” (Big Stick) ở đây chính là Thủy quân lục chiến (US Marines). Nếu dân chúng phản đối việc Mỹ thu thuế? Thủy quân lục chiến đổ bộ ngay để “bảo vệ trật tự trị an”. Mỹ đã làm y hệt thế ở Haiti, Nicaragua, Cuba. Ở Venezuela, Mỹ khôn hơn, không đổ quân trực tiếp mà dùng tay sai Juan Vicente Gómez (lên nắm quyền năm 1908 với sự ủng hộ của Mỹ) để tự đàn áp dân mình.
Kết cục là Venezuela thoát được họng súng của tàu chiến Đức, nhưng lại bị Mỹ tròng vào cổ một sợi dây xích kinh tế vĩnh viễn. Castro, kẻ to mồm thách thức cả thế giới, cuối cùng bị Mỹ cô lập, bị chính phó tướng Gómez lật đổ khi đang đi chữa bệnh ở châu Âu, và phải chết trong lưu vong, nhìn đất nước mình biến thành cái giếng dầu riêng của người Mỹ. Học thuyết Monroe từ một tấm khiên giấy đã lột xác thành bộ luật của Bố Già:
“Trong địa bàn của tao, chỉ có tao mới được quyền thu họ”.
Cơn khát dầu bắt đầu
Thời đại Ánh sáng (The Age of Illumination)
Thứ làm cho John D. Rockefeller và Standard Oil trở thành những kẻ giàu có nhất trong thời đại họ sống nhờ việc bán thứ nhu cầu thị trường thèm khát nhất: Thắp đèn.
Trước thế kỷ 19 (từ 1860 đến 1900), mặt trời lặn là cuộc sống công nghiệp hối hả cũng phải dừng lại. Nông dân đi ngủ, thợ thủ công cất búa. Không có ai mảy may suy nghĩ đến chuyện tăng ca, làm thêm vào buổi tối. Nhưng khi máy hơi nước ra đời làm đám tư bản nhận ra rằng: Máy móc không biết mệt, nhưng nó cần ánh sáng để công nhân nhìn thấy đường mà đút nguyên liệu vào. Một cái xưởng dệt đắp chiếu 12 tiếng ban đêm là một sự lãng phí vốn liếng kinh khủng. Chúng nó muốn máy chạy 24/7. Thành phố mọc lên, cửa hàng muốn bán thêm giờ, người ta muốn đi lại ban đêm.
Ánh sáng trở thành công cụ sản xuất, là tiền, chứ không chỉ là tiện nghi. Chính cái áp lực "kéo dài ngày lao động" này đã đẩy nhu cầu thắp sáng lên mức điên rồ chưa từng có.
Nhưng để đáp ứng được cái nhu cầu này thì nguồn cung dầu cá voi lại quá ít ỏi, đắt đỏ. Muốn có dầu, người ta phải ra khơi kéo dài 3 đến 4 năm trời trên những con tàu săn cá voi của New England (Mỹ). Họ phải dong thuyền từ Bắc Cực băng giá xuống tận Nam Cực bão tố để tìm đúng một loại Cá nhà táng (Sperm Whale). Trong đầu con cá này chứa một loại sáp lỏng cực phẩm gọi là Spermaceti. Khi đốt, nó cho ngọn lửa trắng xanh, sáng rực rỡ, không khói, không mùi hôi. Nó là “Rolls-Royce” của các loại đèn.
Đến giữa thế kỷ 19, loài cá này bị săn bắt đến mức gần như tuyệt chủng chỉ để thắp đèn vào ban đêm cho các gia đình thuộc tầng lớp thương lưu đọc sách, viết thư vào ban đêm. Tàu bè phải đi xa hơn, rủi ro chìm tàu cao hơn, thủy thủ chết như rạ vì bệnh tật và tai nạn nghề nghiệp. Nguồn cung giảm thê thảm trong khi nhu cầu từ các nhà máy và dinh thự quý tộc tăng vọt, đẩy giá dầu cá voi lên tới 2.50 đô la một gallon (tương đương cả trăm đô la thời nay), mức giá mà chỉ có giới siêu giàu mới dám xài để tổ chức tiệc tùng.
Trong khi đó dân nghèo phải xài thứ ánh sáng từ nến mỡ bò (Tallow Candle). Chúng lấy từ mỡ của bò hoặc cừu sau khi bị giết thịt, nấu chảy ra rồi đúc thành nến. Khi đốt lên, nó không tỏa ra mùi thơm như dầu cá voi mà bốc mùi như thịt mỡ cháy khét, hôi rình cả ngôi nhà. Ngọn lửa thắp lên từ nến tù mù, vàng vàng ệch, nhấp nháy liên tục làm hại mắt kinh khủng. Tệ hơn nữa là nó rất nhiều khói muội (soot), đốt một đêm là trần nhà đen sì, ám vào quần áo, phổi hít đầy bụi than. Mùa hè nóng nực, nến mỡ bò tự chảy nhão ra gãy gập xuống, chưa kịp đốt đã hỏng. Dân nghèo thời đó sống trong những căn nhà tối tăm, hôi hám mùi mỡ cháy, buổi tối gần như không làm được việc gì tỉ mỉ, chỉ có thể ngồi nói chuyện hoặc đi ngủ sớm để tiết kiệm nến.
Vì vậy trong các bộ phim về thời kỳ này, hình ảnh đọc sách, viết thư dưới ánh đèn nến thắp từ dầu cá voi là biểu tượng cho sự giàu có, xa hoa.
Những thành phố lớn ví dụ như Paris, London, New York trước khi có bóng đèn diện Edison và dầu hỏa dùng Đèn khí than (Coal Gas). Người ta nung than đá trong điều kiện thiếu khí để tách ra khí gas, rồi dẫn qua đường ống đi thắp sáng đèn đường và các nhà máy, nhà giàu.
Nghe thì có vẻ hiện đại, nhưng thực tế nó rất kinh khủng. Ánh sáng đèn khí than cũng khá sáng, nhưng nó đốt cháy oxy trong phòng rất nhanh, làm không khí ngột ngạt, nóng hầm hập và gây đau đầu buồn nôn.
Nguy hiểm hơn, khí gas rò rỉ gây ra hàng loạt vụ nổ và hỏa hoạn thiêu rụi cả dãy phố. Hơn nữa, nó thải ra khí lưu huỳnh làm ố vàng tranh ảnh, rèm cửa và làm đen phổi người hít phải. Và quan trọng nhất: Hệ thống đường ống dẫn khí rất đắt đỏ, chỉ lắp được ở khu trung tâm, khu nhà giàu. Các khu ổ chuột (Slums) nơi dân nghèo sống thì vẫn chìm trong bóng tối của nến mỡ bò hoặc bóng đêm dày đặc, nơi tội phạm hoành hành.
Chính vì bối cảnh "tiến thoái lưỡng nan" này: Dầu cá voi thì quá đắt, nến mỡ bò thì quá tởm, khí gas thì quá nguy hiểm và đắt đỏ nên thứ nhu cầu cấp thiết để thay thế lại đến từ… một chai "thần dược" lang băm bán dạo ngoài chợ (vừa bôi ngoài da vừa... uống làm thuốc xổ). Người da đỏ Seneca ở Pennsylvania từ trước khi dân châu Âu đến đã biết đến thứ chất lỏng đèn xì nổi lềnh bềnh trên suối (gọi là Seneca Oil) để làm thuốc trị đau khớp, chữa vết thương, hoặc đôi khi làm thuốc xổ - một loại dược phẩm dân gian rẻ tiền.
Samuel Kier - một gã có cha làm nghề khoan giếng lấy muối ở Pennsylvania khi mỗi lần khoan muối đào lên được thì ít nhưng cứ gặp cái thứ nước đen sì hôi hám (dầu mỏ) cứ trào lên làm hỏng hết muối làm hắn ta cực ta cực kỳ ghét cay ghét đắng thứ này. Nhưng vì máu tham, để tận dụng cho hết đống dầu thừa thãi này hắn ta đóng chai chúng lại, dán nhãn là "Kier's Rock Oil" (Dầu đá của Kier), quảng cáo chữa bách bệnh: thấp khớp, hói đầu, đau răng, trĩ...
Nhưng vì bán được quá ít trong khi tồn cả đống dầu trong nhà, lỗ sặc máu nên Kier có thử chưng cất sơ sơ thứ dầu này để... thắp đèn trong hầm mỏ muối của hắn. Hắn thấy nó cháy sáng, nhưng khói đen mù mịt và mùi kinh khủng. Hắn bế tắc.
Năm 1853, George Bissell, một gã luật sư kiêm giáo viên đang thất nghiệp, ghé thăm trường cũ Đại học Dartmouth. Tại đây, hắn tình cờ thấy một chai "Dầu đá" mẫu (chính là loại mà Kier bán) nằm trên bàn thí nghiệm của một ông giáo sư hóa học. Bissell không quan tâm đến thấp khớp, ông ta nghĩ đến hóa học và tiền:
Thực tế 1: Thế giới đang dùng “Dầu than” (Coal Oil) - một loại dầu thắp sáng chiết xuất từ than đá. Cái này cháy tốt nhưng quy trình làm ra cực đắt (phải đào than, nghiền, chưng cất).
Thực tế 2: Cái chai “Dầu đá” này là chất lỏng, cháy được (vì Kier đã thử).
Kết luận: Nếu cái thứ nước đen này có thành phần hóa học giống than đá, nhưng ở dạng lỏng sẵn rồi, thì ta bỏ qua được bước đào than và nghiền than. Ta chỉ cần múc lên và lọc thôi. Chi phí sẽ rẻ hơn “Dầu than” gấp 10 lần!
Bissell và nhóm nhà đầu tư (như James Townsend - một chủ ngân hàng) nhìn thấy người Seneca vớt được dầu trên suối ối chứng tỏ một điều: Dầu có sẵn ngay trên mặt đất. Họ không cần phải đi săn cá voi ngoài biển khơi bão tố, cũng không cần đào hầm mỏ sâu hàng trăm mét như than đá. Cái "nguyên liệu thô" này nó tự chui ra mời gọi.
Để thuyết phục các nhà đầu tư khác (những người vẫn nghĩ đây là trò lừa đảo), Bissell cần bằng chứng khoa học. Nhóm nhà đầu tư của Bissel cầm cái chai nước đen sì đó đến gõ cửa giáo sư hóa học Benjamin Silliman Jr. tại Đại học Yale. Họ hỏi: "Cái thứ này làm được gì không ngoài việc bôi ghẻ?
Sau một hồi lăn lộn thất bại biết bao nhiêu lần, Silliman tình cờ phát hiện ra một quy trình gọi là Chưng cất phân đoạn (Fractional Distillation).
Ông đun nóng dầu thô lên và nhận ra một phép màu: Ở các nhiệt độ sôi khác nhau, cái thứ nước đen ngòm đó tách ra thành các chất khác nhau. Chất nhẹ nhất bay hơi trước, ngưng tụ lại thành một chất lỏng trong vắt, cháy sáng rực rỡ và cháy rất đều. Ông gọi nó là Kerosene (Dầu hỏa). Silliman kết luận: Thứ này có thể thắp sáng rẻ hơn và tốt hơn dầu cá voi gấp trăm lần. Đây chính là bản án tử hình cho ngành săn cá voi và là giấy khai sinh cho ngành dầu khí.
Biết là dầu ngon rồi, nhưng lấy đâu ra nhiều để múc lên đi bán số lượng lớn? Nếu vớt vàng dầu trên suối hoặc đào hố như giếng như nước thì cùng lúc đào được vài thùng dầu là hết. Chi phí bỏ ra là quá cao nhưng thu về được thì lỗ nặng.
Để giải quyết vấn đề này, nhóm nhà đầu tư của George Bissell (Công ty Dầu Seneca) cần một người đến cái vùng khỉ ho cò gáy Titusville để giám sát việc lấy dầu. Họ thuê Edwin Drake - một gã soát vé tàu tàu hỏa (railroad conductor) đã nghỉ hưu vì bệnh tật, đang thất nghiệp và khá là tuyệt vọng. Lý do chẳng phải vì Drake giỏi trong lĩnh vực này mà chủ yếu do đang rảnh và có thẻ đi tàu hóa miễn phí ((đặc quyền của nhân viên đường sắt nghỉ hưu) đỡ tốn tiền vé đi lại của công ty.
Để lòe đám dân địa phương và các quan chức rằng đây là một nhân vật quan trọng, có kỷ luật quân đội, nhằm dễ dàng thuê nhân công và mua thiết bị; nhóm đầu tư đã phong cho hắn cái chức danh giả là "Đại tá" (Colonel Drake) trong các lá thư gửi đến thị trấn Titusville. Mặc dù hắn chưa từng cấm súng ra trận ngày nào.
Khi “Đại tá” Drake đến Titusville năm 1858, hắn thấy dân ở đây lấy dầu bằng cách hì hục đào hố to như đào giếng nước, rồi ngồi chờ dầu rỉ ra và lấy xô múc. Cách này vừa chậm, vừa nguy hiểm vì nước ngầm và khí gas có thể tràn vào giết chết thợ đào bất cứ lúc nào. Drake, nhớ lại quan sát của mình về các mỏ muối, nảy ra ý định:
Tại sao không dùng máy khoan hơi nước để đục một lỗ nhỏ nhưng sâu thẳng xuống lòng đất, giống như bọn khoan muối làm?
Hắn nói ý tưởng này ra và cả thị trấn cười vào mặt hắn. Họ gọi cái lán trại xiêu vẹo của hắn là “Drake’s Folly” (Sự điên rồ của Drake). Không một thợ khoan chuyên nghiệp nào chịu làm việc cho hắn vì họ cho rằng khoan tìm dầu là chuyện hoang đường. Drake phải đi tìm mỏi mắt mới thuê được một ông thợ rèn già tên là William “Uncle Billy” Smith. Ông này chịu làm vì túng tiền và cũng... rảnh, hai thầy trò hì hục chế tạo mũi khoan từ sắt vụn.
Khó khăn ập đến ngay mét đầu tiên. Đất ở Titusville là đất cát xốp, cứ đào xuống vài mét là nước ngầm tràn vào làm sập hố. Mọi nỗ lực đào kiểu cũ đều thất bại. Lúc này, Drake nảy ra một phát minh thiên tài mà sau này toàn bộ ngành dầu khí thế giới phải hàm ơn, nhưng hắn lại ngu ngốc không đăng ký bản quyền: Kỹ thuật Ống dẫn (Drive Pipe).
Thay vì cứ khoan trần xuống đất, hắn đóng những ống sắt đúc (cast iron pipe) xuống trước để gia cố vách, ngăn nước và bùn tràn vào, rồi mới thả mũi khoan chạy bên trong lòng ống đó để đục xuống lớp đá cứng bên dưới. Nhưng vì không đăng ký nên sau này Drake chết già bị bệnh tật hành hạ và phải sống dựa vào khoản trợ cấp nhỏ từ bang Pennsylvania vì lòng trắc ẩn.
Nhưng bi kịch là... hết tiền. Tiến độ quá chậm, mỗi ngày chỉ khoan được vài tấc đá (khoảng 1 mét). Nhóm đầu tư ở New Haven (Connecticut) mất kiên nhẫn. James Townsend, ông trùm cấp vốn, đã gửi một tấm séc cuối cùng và một bức thư lệnh: “Thanh toán mọi khoản nợ và cuốn gói về nhà ngay. Dẹp tiệm!”. Nhưng may mắn cho nhân loại (và xui cho cá voi), thời đó thư đi bằng xe ngựa rất chậm.
Ngày thứ Bảy, 27 tháng 8 năm 1859, mũi khoan của bác thợ rèn Billy chạm tới độ sâu 69,5 feet (khoảng 21 mét). Bỗng nhiên mũi khoan sụt xuống một cái hốc đá (crevice) khoảng 15 cm. Hai thầy trò mệt lử, tắt máy đi về nghỉ cuối tuần, không hề biết chuyện gì đã xảy ra. Bức thư “sa thải” của Townsend vẫn đang trên đường tới.
Sáng Chủ Nhật hôm sau, Uncle Billy ra thăm giếng khoan. Hắn nhìn vào cái ống sắt và thấy một chất lỏng sẫm màu đang dâng lên, lấp lánh dưới ánh mặt trời. Hắn thò cái gàu múc nước xuống, kéo lên và ngửi. Mùi hăng hắc quen thuộc. Hắn hét lên: “Dầu! Dầu rồi chúng mày ơi!”. Không có vụ phun trào ồng ộc lên trời như trong phim Hollywood đâu, dầu chỉ dâng lên từ từ thôi, nhưng thế là đủ. Drake lắp một cái máy bơm tay vào và bắt đầu bơm. Ngày hôm đó họ thu được khoảng 25 thùng dầu – bằng sản lượng cả thế giới cộng lại trước đó theo cách vớt váng.
Tin tức lan đi như cháy rừng. Sáng thứ Hai, khi Drake đi ra phố, hắn thấy cảnh tượng điên rồ: Hàng trăm người từ khắp nơi đổ về tranh nhau mua đất, thuê đất, dựng tháp khoan. Cơn sốt vàng California năm 1849 lặp lại, nhưng lần này là Cơn sốt Vàng Đen. Giá đất tăng vọt từ vài đô la lên hàng nghìn đô la một mẫu.
Kết quả ngay lập tức là một cú sốc kinh tế. Vì nguồn cung tăng đột ngột từ vài thùng lên hàng nghìn thùng mỗi ngày, giá dầu rớt thảm hại. Từ mức 20 đô la/thùng (dầu mỏ khan hiếm), nó rớt xuống còn 10 xu/thùng vào năm 1861. Dầu hỏa trở nên rẻ đến mức người nghèo nhất cũng mua được. Ngành công nghiệp săn cá voi chính thức bị bức tử.
Năm 1865, Pithole City chỉ là bãi đất hoang. Chỉ vài tháng sau khi tìm thấy dầu, nó mọc lên như nấm với 15.000 dân, khách sạn, nhà thổ, sòng bạc đủ cả. Nhưng chỉ 500 ngày sau, khi giếng dầu cạn khô, tất cả bỏ đi hết, để lại một thị trấn ma đúng nghĩa đen.
Giữa cái mớ hỗn độn, chụp giật của đám thợ khoan (Drillers) “ăn xổi ở thì” đó, John D. Rockefeller xuất hiện không phải như một kẻ đi đào vàng, mà như một tay kế toán lạnh lùng. Hắn nhìn thấu một chân lý: “Khoan tìm dầu là đánh bạc, còn lọc dầu là kinh doanh chắc thắng”.
Tại sao? Vì giếng dầu có thể cạn, giá dầu thô có thể rớt thảm hại khi cung vượt cầu (như vụ Drake), nhưng dù giá dầu thô là bao nhiêu thì người dân vẫn cần Dầu hỏa (Kerosene) để thắp đèn. Ai nắm được cái “cổ chai” ở giữa – tức là khâu Lọc dầu (Refining) – kẻ đó nắm đầu cả người mua lẫn người bán.
Năm 1863, Rockefeller đầu tư vào nhà máy lọc dầu đầu tiên. Địa điểm nằm ở Cleveland - điểm giao thoa của hai tuyến đường sắt lớn và hồ Erie. Từ đấy có thể chở dầu đi cả bờ đông lẫn miền tây bằng tàu hỏa hoặc tàu thủy. Trong khi đối thủ khác chỉ biết nghĩ ngắn xây nhà máy lọc dầu ngay tại mỏ dầu vừa khai thác khiến chi phí vận chuyển đắt đỏ hơn so với Standard Oil.
Để hủy diệt đối thủ Rockefeller chơi bài “đi đêm” với các công ty đường sắt. Vì Standard Oil vận chuyển lượng dầu khổng lồ, Rockefeller đến gặp các ông trùm đường sắt (như Vanderbilt) và ra yêu sách:
"Tao sẽ đảm bảo cho mày 60 toa dầu mỗi ngày, đều đặn quanh năm. Đổi lại, mày phải giảm giá cước (Rebate) cho tao 50%".
Nhưng chưa hết, hắn ta còn đòi một thứ gọi là Drawback:
"Nếu đối thủ của tao gửi dầu bằng đường sắt của mày, mày vẫn thu nó giá cao, nhưng mày phải trích một phần tiền cước đó... trả lại cho tao".
Đối thủ càng làm ăn, Rockefeller càng giàu. Hắn dùng chính tiền của đối thủ để đập chết đối thủ. Với giá cước rẻ mạt này, hắn bán dầu hỏa giá rẻ đến mức các nhà máy lọc dầu khác lỗ chổng vó, buộc phải bán mình cho hắn hoặc phá sản.
Năm 1872, Rockefeller thực hiện chiến dịch nuốt chửng đối thủ. Trong vòng chưa đầy 3 tháng, hắn mua lại 22 trong số 26 đối thủ cạnh tranh chính ở Cleveland.
Cách làm của hắn rất "bố già": Hắn mời đối thủ đến, mở sổ sách kế toán ra (vốn là bí mật) và nói:
"Nhìn đi, tao có giá cước đường sắt rẻ thế này, mày không đấu lại đâu. Bán nhà máy cho tao, tao trả bằng cổ phiếu Standard Oil giá hời. Hoặc mày cứ cố đấm ăn xôi rồi phá sản, tao sẽ mua lại đống sắt vụn của mày với giá rẻ mạt".
Hầu hết đều chọn đầu hàng. Những kẻ cứng đầu thì Rockefeller dùng chiêu Bán phá giá (Predatory Pricing). Hắn bán dầu hỏa tại khu vực của đối thủ với giá thấp hơn giá vốn, chấp nhận lỗ vài tháng. Đối thủ không chịu nổi nhiệt, sập tiệm. Sau khi độc quyền, hắn tăng giá lại để bù lỗ.
Rockefeller bị ám ảnh bởi việc tiết kiệm chi phí (Cost Cutting). Hắn không muốn trả tiền cho bất kỳ ai nếu hắn có thể tự làm.
Thùng dầu (Barrels): Thay vì mua thùng gỗ giá 2.5 đô la, hắn mua rừng sồi, tự xây xưởng đóng thùng, giảm giá thành xuống còn 96 xu.
Hóa chất: tự xây nhà máy axit sulfuric để lọc dầu.
Đường ống: Khi bọn đường sắt bắt đầu làm cao, hắn xây dựng hệ thống đường ống dẫn dầu (Pipeline) khổng lồ để bơm dầu trực tiếp từ mỏ về nhà máy, đá đít bọn đường sắt ra rìa.
Tại sao lại đặt tên là Standard Oil? Thời đó, dầu hỏa do mấy xưởng nhỏ làm ăn bát nháo, lọc không kỹ còn lẫn xăng, nên thỉnh thoảng đèn dầu lại nổ banh xác, đốt cháy cả nhà. Rockefeller cam kết dầu của hắn là "Standard of Quality" (Chuẩn mực chất lượng), an toàn, cháy sáng, không nổ. Người tiêu dùng, vốn đang sợ chết khiếp, đổ xô đi mua dầu của hắn. Cái thùng dầu màu xanh của Standard Oil trở thành biểu tượng của sự tin cậy.
Đến năm 1880, Rockefeller kiểm soát 90% công suất lọc dầu của toàn nước Mỹ. Hắn giàu đến mức không tưởng tượng nổi. Đế chế Standard Oil của hắn giống như con bạch tuộc khổng lồ: đầu ở New York, các xúc tu quấn chặt lấy các mỏ dầu, đường sắt, và các nhà bán lẻ. Hắn trở thành người giàu nhất lịch sử hiện đại, nhưng cũng là kẻ bị ghét nhất nước Mỹ vì bóp chết sự cạnh tranh tự do.
Chính sự độc quyền khủng khiếp này đã buộc chính phủ Mỹ sau này phải dùng “Đạo luật Sherman” để xẻ nhỏ con quái vật Standard Oil ra vào năm 1911 (đẻ ra các con như Exxon, Mobil, Chevron ngày nay), nhưng đó là chuyện về sau. Còn ở giai đoạn cuối thế kỷ 19, Rockefeller chính là Vua Dầu Mỏ, kẻ đã dạy cho thế giới biết thế nào là tư bản độc quyền tàn bạo.
Thời đại động cơ (The Age of Combustion)
Mặc dù John D. Rockefeller và Standard Oil phất lên nhờ bán Kerosene để thắp sáng mọi ngôi nhà từ New York đến Thượng Hải. Nhưng có một nghịch lý cười ra nước lúc này: Khi chưng cất dầu thô để lấy Kerosene, người ta thu được một thứ phụ phẩm nhẹ, dễ bay hơi và cực kỳ dễ cháy nổ. Họ gọi nó là Xăng (Gasoline).
Lúc đó, xăng bị coi là rác rưởi, là chất thải nguy hại. Các nhà máy lọc dầu của Rockefeller ban đêm lén đổ xăng xuống sông Cuyahoga ở Cleveland ban đêm, làm dòng sông này thỉnh thoảng bốc cháy ngùn ngụt như địa ngục trần gian. Hoặc bán rẻ như cho để làm dung môi tẩy rửa quần áo. Không ai biết dùng cái thứ "nước điên" dễ nổ này vào việc gì. Động cơ hơi nước thì dùng than, đèn thì dùng dầu hỏa. Xăng là đồ bỏ đi.
Động cơ hơi nước (Steam Engine) là Động cơ đốt ngoài. Mày đốt than ở bên ngoài cái nồi hơi, đun nước sôi sùng sục, hơi nước giãn nở đẩy piston. Quá trình này chậm, cồng kềnh, và lãng phí nhiệt khủng khiếp. Mày không thể nhét cái nồi hơi to đùng lên một cái xe ngựa được.
Các kỹ sư Đức như Nikolaus Otto muốn làm điều ngược lại: Đốt nhiên liệu ngay bên trong xi-lanh. Họ gọi là Động cơ đốt trong (Internal Combustion Engine). Nhưng muốn đốt trong cái không gian chật hẹp, kín bưng đó, mày không thể nhét cục than vào được. Mày cần một thứ nhiên liệu phải thỏa mãn hai điều kiện cực khó:
Phải hóa hơi cực nhanh (để trộn đều với không khí).
Phải nổ cực mạnh ngay khi gặp tia lửa điện.
Và Xăng - cái thứ rác rưởi của Rockefeller - đáp ứng hoàn hảo tiêu chuẩn này. Nó là một kẻ tâm thần: chỉ cần hở ra là bay hơi, chỉ cần một tia lửa nhỏ là nổ banh xác.
Năm 1876, Nikolaus Otto chế tạo ra cái động cơ 4 thì đầu tiên, vận hành theo quy trình huyền thoại mà dân kỹ thuật hay gọi tắt là: Hút - Nén - Nổ - Xả (Suck, Squeeze, Bang, Blow).
Hút: Piston đi xuống, hút hỗn hợp “hơi xăng + không khí” vào. (Nhờ xăng dễ bay hơi nên mới hút được).
Nén: Piston đi lên, nén chặt hỗn hợp đó lại. Áp suất tăng vọt.
Nổ: Bugi đánh lửa “tách” một cái. Xăng nổ tung. Sức nổ đẩy piston dập mạnh xuống. Đây là lúc sinh công.
Xả: Piston đi lên lại, tống khói ra ngoài ống pô.
Động cơ hơi nước giống như một ông già đẩy xe bò: chậm chạp, bền bỉ nhưng nặng nề. Còn động cơ xăng của Otto giống như một khẩu đại bác bắn liên thanh. Mỗi lần xăng nổ là một cú bắn, đẩy cái xe vọt đi. Sức mạnh khủng khiếp được gói gọn trong một khối kim loại nhỏ bé.
Nhưng có động cơ rồi, làm sao cho xăng (lỏng) trộn với không khí (khí) theo tỷ lệ chuẩn để nổ được? Nếu xăng nhiều quá thì sặc (ngộp xăng), ít quá thì không nổ. Lúc này một thiên tài khác xuất hiện: Wilhelm Maybach. Hắn chế ra cái Bộ chế hòa khí (Carburetor) - hay dân mình gọi là Bình xăng con.
Cái này hoạt động y như cái bình xịt nước hoa. Nó phun xăng thành sương mù mịn, trộn đều với không khí trước khi tống vào buồng đốt. Nhờ có cái “phổi” này, động cơ xăng mới hoạt động trơn tru được.
Năm 1886, Karl Benz (người sáng lập Mercedes-Benz sau này) đã dũng cảm lắp cái động cơ ồn ào, rung bần bật và hôi rình mùi xăng đó lên một cái xe ba bánh. Chiếc xe chạy được, dù chậm và hay hỏng vặt, nhưng nó tuyên bố cái chết của loài ngựa. Nó không cần nghỉ ngơi, không cần ăn cỏ, chỉ cần đổ cái “nước điên” vào là chạy.
Quay lại với Rockefeller. Hắn là kẻ may mắn nhất thế gian. Năm 1908, Henry Ford tung ra mẫu Model T. Trước đó, ô tô là đồ chơi của quý tộc. Ford áp dụng dây chuyền lắp ráp để làm ra cái xe mà nông dân cũng mua được. Khi hàng triệu con xe Model T lăn bánh, nhu cầu xăng tăng vọt.
Từ một thứ rác thải 2 xu một thùng, xăng nhảy vọt lên thành mặt hàng đắt đỏ nhất của dầu mỏ. Các nhà máy lọc dầu của Standard Oil phải thay đổi công nghệ ngay lập tức. Trước đây họ chưng cất để lấy tối đa dầu hỏa, vứt xăng đi. Giờ họ dùng nhiệt và áp suất cao (Cracking) để bẻ gãy các phân tử dầu nặng, ép nó đẻ ra càng nhiều xăng càng tốt.
Sự xuất hiện của thứ tài nguyên mới được coi là “vàng đen” không chỉ làm tăng trưởng số lượng, mà nó làm biến đổi hoàn toàn cấu trúc gen của nền kinh tế thế giới theo những cách tàn khốc và tinh vi hơn nhiều. Nó tạo ra những thị tiêu thụ mới kéo theo hàng loạt dòng vốn đổ vào để đáp ứng cơn khát dầu của thị trường.
Đối với các nhà máy , dầu mỏ và điện năng (được tạo ra từ dầu hoặc than) đã giết chết thời gian tự nhiên. Trước đây, nhịp sống con người phụ thuộc vào mặt trời: sáng làm, tối ngủ. Nhưng khi máy phát điện chạy bằng động cơ diesel hoặc tuabin hơi nước ra đời, khái niệm "đêm" bị xóa sổ trong các khu công nghiệp.
Đối với bọn tư bản, đây là thiên đường vì nó giải quyết được bài toán Khấu hao tài sản cố định (Amortization). Mày mua cái máy 1 triệu đô, nếu nó chạy 12 tiếng/ngày thì 10 năm mày mới gỡ vốn. Nhưng nếu nó chạy 24/7, chỉ 5 năm mày đã gỡ vốn và bắt đầu lãi ròng, trong khi cái máy chưa kịp lỗi thời. Vì thế, người công nhân bị biến thành những con zombie làm ca đêm, nhịp sinh học bị đảo lộn hoàn toàn để phục vụ cho sự trường tồn của cỗ máy. Con người thì có thể mệt, nhưng máy chạy dầu thì không bao giờ biết mệt, chỉ cần châm đủ “máu” cho nó.
Thứ hai, sự chuyển dịch của tàu thủy từ than sang dầu đẻ ra một thứ quái vật mới: Chuỗi cung ứng toàn cầu (Global Supply Chain). Tàu chạy than phải ghé trạm liên tục để xúc than, nên hành trình rất chậm và phụ thuộc vào các cảng tiếp nhiên liệu. Tàu chạy dầu (Oil-fired ships) có thể chạy một mạch từ New York sang London hoặc từ Vịnh Ba Tư về Nhật Bản mà không cần nghỉ.
Điều này làm cho chi phí vận chuyển giảm sập sàn. Lần đầu tiên trong lịch sử, lúa mì trồng ở Mỹ có thể bán sang châu Âu với giá rẻ hơn lúa mì trồng tại châu Âu. Nó tạo ra sự phân công lao động quốc tế: Một nước chuyên đào mỏ, một nước chuyên sản xuất, một nước chuyên tiêu thụ, và dầu mỏ là sợi dây xích nối tất cả lại với nhau. Nếu cắt dòng dầu, sợi xích đứt, và cả thế giới chết đói ngay lập tức chứ không chỉ là không có xe đi.
Thứ ba là sự ra đời của Văn hóa Tiêu dùng (Consumerism). Ánh sáng điện (được nuôi bằng nhà máy điện đốt dầu/than) không chỉ để làm việc, mà để kéo dài thời gian tiêu tiền. Trước đây tối thui thì ai cũng về nhà ngủ. Giờ có đèn đường, có biển hiệu neon nhấp nháy, người ta mới ra đường đi xem phim, đi bar, đi mua sắm. Các cửa hàng bách hóa (Department Stores) sáng trưng như cung điện dụ dỗ người ta mua những thứ họ không thực sự cần. Dầu mỏ gián tiếp tạo ra “thời gian rảnh rỗi” vào buổi tối và biến thời gian đó thành tiền nhuận cho tư bản dịch vụ.
Cuối cùng là sự ra đời của Ngành Hóa dầu (Petrochemicals). Đây mới là cái khiến thế giới "nghiện" dầu không lối thoát. Dầu không chỉ để đốt. Các nhà khoa học phát hiện ra rằng dầu mỏ là nguyên liệu thần thánh để tạo ra: Nhựa (Plastic), Sợi tổng hợp (Nylon, Polyester), Phân bón hóa học, Thuốc trừ sâu, và Dược phẩm. Cái áo mày đang mặc, cái chai nước mày cầm, cái vỏ máy tính mày đang dùng, tất cả đều từ dầu mà ra. Nền nông nghiệp Mỹ bùng nổ năng suất không chỉ nhờ máy cày chạy xăng, mà nhờ phân bón đạm (tổng hợp từ khí tự nhiên/dầu). Thế giới chuyển từ thời đại "Đồ gỗ - Đồ sắt" sang thời đại "Đồ nhựa".
Cơn khát dầu giờ không còn là nguyên liệu để đổ xăng vào chiếc xe mà còn là cơn khát của nền văn minh hiện địa.
Không có dầu = Không có điện (ở giai đoạn đầu).
Không có dầu = Không có nhựa.
Không có dầu = Không có phân bón = Chết đói.
Không có dầu = Tàu bè đứng im = Kinh tế toàn cầu sụp đổ.
Chính vì dầu mỏ đã trở thành “Máu của công nghiệp” và “Cốt của vật chất”, nên bất kỳ quốc gia nào ngồi trên đống dầu (như Venezuela, Ả Rập, Iran) đều mặc nhiên trở thành mục tiêu săn đuổi hoặc trừng phạt của các siêu cường. Chúng nó không đi cướp nhiên liệu, chúng nó đi cướp cái quyền kiểm soát sự sống của thế giới.
Săn lùng dầu toàn cầu
Dù Mỹ lúc đó vẫn là nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới (nhờ các mỏ ở Pennsylvania, Texas, California), nhưng giới tài phiệt như Rockefeller hay gia tộc Mellon (chủ của Gulf Oil) đã nhìn xa hơn. Họ sợ cái gọi là “Sự cạn kiệt nội địa” (Domestic Exhaustion). Họ sợ một ngày nào đó giếng dầu ở Texas cạn khô, và nếu lúc đó bọn Anh hay Đức nắm hết mỏ dầu quốc tế thì Mỹ sẽ bị bóp nghẹt.
Năm 1920, Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS) tung ra một báo cáo chấn động: “Dầu của nước Mỹ chỉ còn đủ dùng trong... 9 năm nữa”. Dù sau này mới biết đó là dự báo sai bét (vì họ chưa tìm ra các mỏ khổng lồ ở Đông Texas), nhưng vào thời điểm đó, nó như một gáo nước lạnh tạt vào mặt Washington. Giá xăng tăng vọt, dân tình la ó. Giới tài phiệt như Rockefeller (Standard Oil) và gia tộc Mellon (Gulf Oil) lập tức chớp lấy cơ hội này. Chúng nó gõ cửa Nhà Trắng và bảo:
“Thấy chưa? Nếu không để tụi tao đi ra nước ngoài chiếm mỏ, thì nước Mỹ sẽ chết khô, và bọn Anh sẽ bóp cổ chúng ta”.
Thế là Chính phủ Mỹ chính thức trở thành “nhân viên marketing kiêm bảo kê” cho các tập đoàn dầu khí. Chiến dịch “Săn lùng dầu toàn cầu” mở màn với hai mặt trận chính: Một là cuộc đấu đá sứt đầu mẻ trán với Anh ở Trung Đông, hai là cuộc “nuốt trọn” sân sau ở Mỹ Latinh (Venezuela và Mexico).
Cái thâm ý của Rockefeller và Mellon trong chiến dịch này. Họ đi săn lùng dầu toàn cầu không chỉ để khai thác ngay lập tức. Mục đích sâu xa hơn là “Mua để đấy”. Họ mua quyền khai thác ở Iraq, ở Venezuela, ở Indonesia... đôi khi chỉ để ngăn không cho đối thủ khai thác. Tư duy của họ là: “Thà tao bỏ tiền mua mỏ dầu rồi đắp chiếu để đó, còn hơn là để thằng khác mua được rồi nó bơm dầu ra ồ ạt làm rớt giá dầu của tao”. Kiểm soát nguồn cung mới là vua, chứ không phải sản lượng.
Chính cái chiến lược “Bành trướng để kiểm soát” này đã định hình thế giới hiện đại. Nước Mỹ từ chỗ lo sợ cạn kiệt dầu đã trở thành kẻ nắm giữ cái van dầu của cả thế giới. Khi cần giá thấp để kích thích kinh tế, họ vặn van ở Venezuela. Khi cần giá cao để giết chết đối thủ cạnh tranh, họ khóa van ở Trung Đông. Và Venezuela, xui xẻo thay, đã trở thành một quân cờ quan trọng nhất trong cái bàn cờ năng lượng này, nơi mà số phận của nó không được quyết định ở Caracas, mà được quyết định trong các phòng họp kín ở New York và London.
Trung Đông - Cuộc chiến "Cửa Mở" (Open Door Policy)
Lúc này, cái xác của Đế chế Ottoman vừa sụp đổ sau Thế chiến 1. Anh và Pháp như hai con kền kền nhảy vào xâu xé cái xác đó qua Hiệp ước San Remo (1920). Bọn chúng định chia nhau vùng Lưỡng Hà (Iraq ngày nay) – nơi được cho là có mỏ dầu Mosul khổng lồ – và cấm tiệt người Mỹ bén mảng tới. Anh bảo: “Mỹ có tham gia Hội Quốc Liên đâu mà đòi chia phần?”.
Nhưng Mỹ không phải tay vừa. Bộ Ngoại giao Mỹ (dưới sức ép của Standard Oil) gửi công hàm dằn mặt Anh: “Chúng tao có góp quân đánh thắng Thế chiến 1, nên chúng tao phải có phần trong chiến lợi phẩm. Chúng tao đòi chính sách ‘Cửa Mở’ – tức là ai cũng được vào khai thác”. Thực chất, “Cửa Mở” là cái cớ đạo đức giả, ý Mỹ là “Mở cửa cho tao vào, rồi tao với mày đóng cửa lại chia nhau”.
Kết quả là cái bắt tay lịch sử và đầy mùi “mèo mả gà đồng” mang tên Hiệp định Đường ranh giới Đỏ (Red Line Agreement) năm 1928.
Tại một khách sạn sang trọng ở Bỉ, các ông trùm dầu mỏ ngồi lại với nhau. Calouste Gulbenkian (một tay môi giới dầu mỏ huyền thoại, biệt danh “Ngài 5%”) đã cầm cây bút chì đỏ khoanh một vòng tròn lớn bao trùm toàn bộ lãnh thổ cũ của Ottoman (gồm Iraq, Ả Rập Xê Út, UAE ngày nay...).
Quy tắc của cuộc chơi này cực kỳ bố già: Các công ty trong nhóm (gồm BP của Anh, Shell của Anh-Hà Lan, CFP của Pháp, và nhóm Standard Oil của Mỹ) cam kết không được tự ý đi đêm lẻ tẻ. Tức là, nếu một thằng tìm thấy dầu trong cái vòng đỏ đó, nó phải chia sẻ cho cả bọn cùng khai thác. Đây thực chất là một cái Cartel (liên minh độc quyền) để kiểm soát nguồn cung, đảm bảo không ai phá giá thị trường. Từ đây, tư bản Mỹ chính thức cắm rễ vào vựa dầu lớn nhất thế giới, chấm dứt thế độc tôn của Anh.
Mexico
Trong khi Trung Đông là cuộc chơi vương quyền phức tạp, thì Mỹ Latinh được coi là “hậu phương chiến lược”. Tại sao? Vì Trung Đông xa xôi, dễ bị Nga Xô Viết dòm ngó, lại hay có các bộ lạc nổi dậy. Còn Venezuela hay Mexico thì ngay sát nách, hạm đội Mỹ bơi vài ngày là tới bảo vệ được ngay.
Nhưng Mexico lúc đó đang “khó ở”. Cuộc Cách mạng Mexico (1910-1920) khiến chủ nghĩa dân tộc lên cao. Hiến pháp 1917 của Mexico, Điều khoản 27 tuyên bố: “Dầu trong lòng đất thuộc về quốc gia, không thuộc về thằng Tây nào cả”. Nó có nghĩa là giấy phép khai thác mà bọn Mỹ mua của chế độ cũ (Porfirio Díaz) giờ có nguy cơ thành giấy lộn.
Các công ty Mỹ như Standard Oil bị đe dọa tước quyền sở hữu. Edward Doheny (ông trùm dầu mỏ Mexico thời đó) đã phải thuê cả quân đội tư nhân để bảo vệ giếng dầu ở Tampico (Golden Lane) lúc đó đang phun trào khủng khiếp, nhưng vẫn nơm nớp lo sợ bị quốc hữu hóa.
Giới tư bản Mỹ nhận ra họ cần một nơi an toàn hơn, một con bò sữa ngoan ngoãn hơn. Và họ nhìn thấy Venezuela.
Phần 4: Dầu mỏ Venezuela
Trước khi có dầu
Về mặt khoa học, lý do Venezuela có trữ lượng dầu khổng lồ (lớn nhất thế giới, vượt cả Ả Rập Xê Út) nằm ở lịch sử kiến tạo địa chất hàng trăm triệu năm trước. Cái thung lũng chứa dầu khổng lồ ở phía Đông nơi có hồ nhựa đường Guanoco, chính là Vành đai Dầu khí Orinoco (Orinoco Oil Belt hay Faja Petrolífera del Orinoco).
Đây không phải là một cái hồ chứa nước ngầm bình thường, mà mày hãy tưởng tượng nó là một cái “bồn trũng” khổng lồ được tạo ra từ kỷ Phấn Trắng (Cretaceous). Thời đó, khu vực này là một vùng biển nông, ấm áp, nơi hàng tỷ tỷ con sinh vật phù du, tảo biển sinh sống và chết đi. Xác của chúng lắng xuống đáy, bị chôn vùi dưới hàng km lớp trầm tích cát và bùn.
Cái “nhà bếp” địa chất này bắt đầu hoạt động khi mảng kiến tạo Nam Mỹ và mảng Caribbean va chạm nhau, tạo ra sức ép và nhiệt độ kinh khủng, nung chín cái đống xác hữu cơ đó thành dầu mỏ. Nhưng điểm mấu chốt ở đây là vị trí của Vành đai Orinoco.
Dầu được sinh ra ở sâu dưới lòng đất, nhưng nó đã di cư (migrate) ngược lên phía trên về hướng Bắc cho đến khi bị chặn lại bởi các bẫy địa chất. Ở đây, dầu nằm khá nông (chỉ sâu vài trăm mét đến hơn 1km), và chính vì nằm nông như thế nên nó bị một hiện tượng gọi là “phân hủy sinh học” (biodegradation). Vi khuẩn dưới lòng đất đã ăn mất các thành phần nhẹ (hydrocarbon nhẹ) của dầu, để lại một thứ hỗn hợp đặc quánh, nặng trình trịch gồm bitumen, kim loại nặng và lưu huỳnh. Đó chính là lý do tại sao hồ Guanoco lại chứa nhựa đường (asphalt) lộ thiên – đó là dầu đã bị vi khuẩn “xơi” hết phần ngon, trơ lại phần xương xẩu.
Dầu Venezuela, đặc biệt là ở Vành đai Orinoco, được xếp vào loại Extra-Heavy Oil (Dầu siêu nặng) và Sour Crude (Dầu chua - nhiều lưu huỳnh). Nếu dầu của Ả Rập hay Texas (WTI) giống như rượu Vodka, lỏng và trong, đốt cháy sạch, thì dầu của Venezuela giống như mật rỉ đường hay thậm chí là nhựa đường đặc sệt. Muốn khai thác nó cực khó, mày không thể chỉ cắm ống hút vào là nó tự phun lên được. Nó quá nhớt để chảy. Muốn lấy nó lên, người ta phải dùng công nghệ cao như bơm hơi nước nóng xuống (Thermal injection) để làm loãng dầu ra, hoặc pha loãng nó với dung môi (naphtha) thì mới bơm được vào đường ống. Hơn nữa, vì nó nhiều lưu huỳnh và kim loại nặng (như Vanadium, Nickel), nên chi phí lọc dầu cực đắt, cần các nhà máy lọc dầu chuyên dụng mới xử lý nổi, nếu không sẽ làm hỏng máy móc và gây ô nhiễm kinh khủng
Tuy nhiên Venezuela là một kho báu dầu nữa nằm ở hồ Maracaibo ở phía Tây tuy cũng là loại dầu nặng và chua so với tiêu chuẩn thế giới, nhưng vào thời điểm đó, áp suất địa chất ở đây cực lớn. Mày cứ hình dung như lon nước ngọt bị lắc mạnh ấy. Dù dầu có hơi đặc, nhưng lượng khí gas tự nhiên nén bên dưới quá lớn nên khi vừa khoan trúng mạch, áp suất khí đã đẩy dầu bắn vọt lên trời (như vụ phun trào 100.000 thùng/ngày đó). Lúc đó công nghệ chưa cần bơm hơi nước phức tạp như bây giờ, họ chỉ cần hứng cái dòng dầu đang phun trào đó thôi (gọi là khai thác sơ cấp - primary recovery).
Hơn nữa, thời đó nhu cầu thế giới chưa quá khắt khe về môi trường hay tiêu chuẩn lưu huỳnh, miễn là dầu đốt được để chạy tàu chiến và xe hơi là bán được hết. Các công ty Mỹ như Standard Oil hay Shell đã xây dựng các nhà máy lọc dầu chuyên dụng ngay tại các đảo lân cận (như Aruba và Curaçao) để xử lý loại dầu chua này trước khi chở đi bán.
Dân bản địa ở đây đã biết đến dầu mỏ từ thời tám hoánh. Họ gọi thứ chất lỏng đen ngòm, hôi rình rỉ ra từ các khe nứt trên mặt đất là “Mene”. Thổ dân dùng nó để trét lên vỏ xuồng cho khỏi thấm nước, làm thuốc xoa bóp trị đau nhức xương khớp, hoặc đốt lên làm đuốc. Thậm chí khi Tây Ban Nha mò đến, Nữ hoàng Isabella từng nhận được một thùng dầu thô gửi về với lời quảng cáo là “thuốc chữa bệnh gout của người Inca”. Nhưng suốt mấy thế kỷ thuộc địa, bọn Tây Ban Nha chỉ chăm chăm đi tìm vàng và bạc, coi cái thứ nước đen dính nhớp nháp đó là đồ bỏ đi, là “phân của quỷ” làm bẩn chân ngựa.
Vậy khi nào thì cuộc chơi thay đổi? Nó bắt đầu từ những kẻ “khùng điên” dám nhìn thấy tiền trong vũng bùn đen đó.
Kẻ tiên phong đầu tiên không phải là bọn Mỹ hay Anh, mà là một gã người Venezuela tên là Manuel Antonio Pulido.
Năm 1878, sau một trận động đất lớn ở vùng núi Andes (bang Táchira), dầu bắt đầu phun ra từ các vết nứt trong trang trại cà phê của lão. Thay vì lấp đi, Pulido nảy ra ý định điên rồ: Thành lập công ty khai thác dầu đầu tiên của Venezuela tên là Petrolia del Táchira. Nhưng lão mù tịt về kỹ thuật.
Thế là lão cử một cộng sự tên là Pedro Rafael Rincones sang tận bang Pennsylvania (Mỹ) – nơi ngành dầu khí vừa mới khai sinh – để học lỏm nghề khoan và lọc dầu.
Rincones mang về những thiết bị khoan thô sơ, cõng trên lưng lừa đi qua những con đường núi hiểm trở.
Năm 1883, họ khoan cái giếng đầu tiên (giếng Eureka), sâu có 60 mét, lọc ra được ít dầu hỏa (kerosene) để thắp đèn cho dân quanh vùng. Đây là cú "demo" đầu tiên chứng minh dầu Venezuela có thể khai thác thương mại, dù quy mô còn bé tí teo.
Vì cơn khát dầu, Các nhà địa chất học (Geologists) của các tập đoàn lớn như Shell (Anh-Hà Lan) hay Standard Oil (Mỹ) bắt đầu cầm búa đi gõ đá khắp thế giới.
Ở Venezuela, manh mối lớn nhất dẫn dắt bọn họ chính là những Hồ nhựa đường (Asphalt Lakes) khổng lồ lộ thiên. Nổi tiếng nhất là hồ Guanoco ở phía Đông. Mày cứ tưởng tượng một cái hồ rộng mênh mông nhưng không chứa nước mà chứa nhựa đường đặc quánh. Các nhà địa chất lý luận cực đơn giản: Nếu trên mặt đất có một vũng nhựa to như thế rỉ ra, thì bên dưới lòng đất chắc chắn phải có một “bể chứa” khổng lồ đang chịu áp lực cực lớn. Giống như mày thấy vết nước loang trên trần nhà thì biết chắc chắn ống nước bên trên bị vỡ vậy.
Năm 1914, tại bờ phía đông hồ Maracaibo. Tập đoàn Shell (thông qua công ty con Caribbean Petroleum) đã khoan thành công giếng Zumaque-1. Đây là giếng dầu thương mại quy mô lớn đầu tiên, với sản lượng khoảng 250 thùng/ngày. Nó chứng minh rằng bên dưới cái hồ Maracaibo hôi hám kia là một đại dương dầu mỏ. Nhưng lúc này thế giới vẫn chưa chú ý lắm vì đang bận đánh nhau tơi bời trong Thế chiến I.
"Cuộc đảo chính Nhựa đường" (The Asphalt Coup)
Tên độc tài đang cai trị Venezuela thời điểm này là Cipriano Castro - nhờ dựa hơi Mỹ mà lên nắm quyền như cách tao nói ở phần Monroe. Castrp dám đụng vào túi tiền a Công ty Nhựa đường New York & Bermudez (NY&B) - một nhánh của “Trust (Tờ-rớt) Nhựa đường” - một liên minh độc quyền của nhiều công ty trong lĩnh vực cùng chi phối giá cả thị trường.
Dưới sự lãnh đạo của John M. Mack, "Asphalt Trust" tìm cách độc quyền hóa nguồn nhựa đường từ các quốc gia như Venezuela, Trinidad, Cuba và Mexico. Tại Venezuela, NY&B tuyên bố chủ quyền đối với Hồ Bermudez, một hồ nhựa đường tự nhiên khổng lồ ở miền đông Venezuela. Công ty đã khai thác nhựa đường từ hồ này và vận chuyển về Mỹ (lúc đó Mỹ đang sốt xây đường cho ô tô).
Nhưng Castro phát hiện ra một sự thật động trời: Chính công ty NY&B này đã bơm tiền cho quân nổi dậy (trong cuộc Cách mạng Giải phóng của Matos mà tao kể trước đó) để lật đổ Castro. Tức là doanh nghiệp Mỹ bỏ tiền nuôi phiến quân để lật đổ chính phủ sở tại hòng kiếm ưu đãi thuế. Castro điên tiết, kiện công ty này ra tòa, đòi bồi thường 50 triệu đô la và dọa tịch thu tài sản. Giới tài phiệt New York gào lên với Washington: "Thằng khỉ điên vùng Andes này định cướp tiền của chúng ta, phải tiêu diệt nó!".
Năm 1904, Castro cho tịch thu tài sản của công ty NY&B coi như để đền bù khiến đám tài phiệt điên tiết vì mất trắng. Để trả thù chúng lợi dụng lúc Castro đi sang Berlin để phẫu thuật đường tiết niệu và thận tầm cuối tháng 11 năm 1908.
Trước khi khởi hành, để giữ yên ổn định chuyện ở nhà lúc đi vắng, Castro ngây thơ tin tưởng giao lại quyền hành cho Phó tổng thống Juan Vicente Gómez - người bạn chiến đấu, người anh em kết nghĩa lâu năm. Nhưng con cáo già thực dụng Gómez khi nhìn thấy cán cân quyền lực: Đi theo thằng bạn "khùng" Castro thì nghèo và bị cấm vận, đi theo Mỹ thì giàu nứt vách. Cuộc gặp gỡ bí mật với Ngoại trưởng Mỹ Philander Knox (cha đẻ của chính sách "Ngoại giao Đô la") đã chốt hạ số phận của Venezuela. Mỹ cam kết:
"Mày lật nó đi, tao lấy tàu chiến chặn cửa không cho nó về, và tao công nhận mày ngay lập tức"
Đúng như lời đã hẹn, Washington lập tức điều tàu chiến USS Des Moines và USS North Carolina đến neo đậu ngay tại cảng La Guaira của Venezuela để “bảo kê”. Không cần bắn một phát nào nhưng cái bóng của hạm đội Hoa Kỳ là đủ để quân đội Venezuela hiểu rằng: "Ai chống Gómez là chống Mỹ". Thế là quân đội im re, đổi phe cái rụp. Castro đang nằm trên giường bệnh ở Đức trở thành kẻ vô gia cư, định mua vé tàu về thì Mỹ và các nước châu Âu (theo lệnh Mỹ) cấm tất cả các hãng tàu bán vé cho hắn. Một cái chết chính trị êm ái nhưng tàn độc.
Sau khi lên ngôi Gómez trả nợ sòng phẳng cho Mỹ đến mức chẳng khác gì quỳ gối dâng lên tặng phẩm cho chủ nhân.
"Muốn yên thân hưởng lạc thì phải chiều chuộng bọn Gringo (người Mỹ)".
Vụ kiện Nhựa đường lập tức bị hủy bỏ. Công ty New York & Bermudez chỉ phải nộp phạt một khoản tượng trưng bé tí tẹo gọi là "phí hành chính", trong khi đáng lẽ phải đền bù hàng chục triệu đô vì tội tài trợ phản loạn.
Nhưng cái món hời nhất đối với các nhà tài phiệt New York chính là cho phép đại diện của các công ty dầu khí Mỹ trực tiếp tham gia soạn thảo Luật Dầu khí năm 1922 của Venezuela.
Tưởng tượng thế này cho dễ hình dung: Ví dụ mày là chủ nhà, mày mời một thằng thầu xây dựng vào, rồi mày đưa giấy trắng mực đen cho nó bảo:
"Mày tự viết hợp đồng đi, mày muốn trả tao bao nhiêu thì trả, muốn đục tường, đào móng chỗ nào tùy mày, tao nhắm mắt ký hết".
Nghe điên rồ và hư cấu đúng không? Nhưng đó chính xác là kịch bản của cái gọi là Đạo luật Dầu khí năm 1922 (1922 Petroleum Law) mà Gómez đã dâng tận miệng cho tụi Mỹ.
Gumersindo Torres - Bộ trưởng Phát triển (Minister of Development) đầu tiên của Gómez. Torres là người có học, ông ta nhìn sang Mexico và thấy Hiến pháp 1917 của Mexico rất hay (cái điều khoản đòi quyền sở hữu đất đai cho quốc gia ấy). Năm 1920, Torres định soạn thảo một luật dầu khí bắt chước Mexico: tăng thuế, hạn chế diện tích nhượng địa và đòi quyền kiểm soát chặt chẽ hơn.
Ngay lập tức, đại diện của các công ty Mỹ (Standard Oil, Caribbean Petroleum) chạy thẳng đến gặp Gómez mách lẻo. Chúng nó rỉ tai Gómez rằng:
“Thằng Torres này đang học đòi bọn cộng sản Mexico, ngài mà nghe nó thì tụi tôi rút vốn đấy, lúc đó ngài lấy tiền đâu mà nuôi quân?”.
Gómez, với bản chất của một tên trùm lãnh chúa (caudillo) sợ mất tiền hơn mất nước, liền sút bay ghế của Torres, đuổi cổ ông này đi làm trạm trưởng hải quan ở một vùng khỉ ho cò gáy. Sau đó, Gómez quay sang đám đại diện Mỹ và nói một câu đi vào lịch sử nhục nhã:
“Các ông hãy tự thành lập một ủy ban, viết ra cái luật mà các ông muốn, rồi mang đến đây tôi ký”.
Các luật sư sừng sỏ nhất của New York và các đại diện của Shell, Standard Oil, Gulf Oil ngồi lại với nhau ngay tại Caracas. Chúng nó viết nên Đạo luật Dầu khí 1922 với những điều khoản “trong mơ” mà không một nơi nào trên thế giới dám chấp nhận:
Thứ nhất là mức Thuế tài nguyên (Royalty) rẻ mạt: định mức thuế chỉ khoảng 10% (có lúc thấp hơn tùy thỏa thuận). Trong khi ở Mỹ, chúng nó phải đóng thuế cao hơn nhiều. Nghĩa là 10 thùng dầu hút lên, chúng nó lấy 9, Venezuela chỉ được 1. Nhưng với Gómez, 1 thùng đó là tiền tươi thóc thật chui thẳng vào túi hắn nên hắn gật đầu ngay.
Thứ hai là Quyền miễn thuế nhập khẩu: cho phép các công ty Mỹ nhập khẩu mọi loại máy móc, giàn khoan, thép, xi măng, thậm chí cả thức ăn cho kỹ sư Mỹ vào Venezuela mà không mất một xu tiền thuế. Điều này giết chết nền sản xuất nội địa của Venezuela. Tại sao phải mua đinh ốc hay gỗ của xưởng Venezuela khi có thể nhập từ Mỹ về miễn phí? Các công ty Mỹ biến các khu mỏ thành những “tiểu bang Mỹ” thu nhỏ, dùng hàng Mỹ 100%.
Thứ ba là Diện tích và Thời hạn nhượng địa: tự vẽ bản đồ, xâu xé những vùng đất ngon nhất quanh hồ Maracaibo. Thời hạn khai thác được kéo dài lên tới 40-50 năm, đảm bảo cho chúng nó tha hồ hút cạn kiệt mà không sợ bị đòi lại đất giữa chừng.
Thứ tư là Tính ổn định pháp lý: bỏ quyền của các tòa án địa phương Venezuela trong việc xét xử tranh chấp với công ty nước ngoài. Nếu có kiện cáo, Gómez sẽ là người phán xử cuối cùng (mà Gómez thì đã ăn tiền ngập họng rồi).
Kết quả: Venezuela có mức thuế tài nguyên thấp nhất thế giới lúc đó, nhượng địa thì to vật vã, kéo dài cả nửa thế kỷ.
Cái Đạo luật 1922 này được thông qua vào giữa năm, thì đến 14 tháng 12 năm 1922, mỏ La Rosa, cái giếng tên là Barroso II (do Shell khoan) bất ngờ phun trào. Các kỹ sư của Shell đang khoan thì bất ngờ nghe thấy tiếng gầm rú như sấm rền từ lòng đất. Một cột dầu đen ngòm bắn phụt lên trời cao tới 40 mét, phá tan dàn khoan. Nó phun mạnh đến mức không ai bịt lại được. Suốt 9 ngày liền, mưa dầu trút xuống, phủ đen cả một vùng rộng lớn, người ta ước tính nó phun ra 100.000 thùng mỗi ngày (lớn hơn bất kỳ giếng nào ở Texas lúc bấy giờ).
Tin tức về “cú nổ Los Barrosos” bay về New York và London như sét đánh làm rúng động thị trường chứng khoán. Nó xác nhận Venezuela không chỉ có dầu, mà là có một biển dầu khổng lồ (World-class reserves).
Ngay lập tức cuộc xâm lăng của tư bản Mỹ và châu Âu bắt đầu với hàng tấn tiền đổ vào bởi các tập đoàn như Standard Oil, Gulf Oil, Royal dựa vào “Đạo luật dầu mỏ 1922” đã có cái cớ hợp lý hóa sự ăn cướp những nhượng địa (concessions) khổng lồ.
Gómez không trực tiếp bán đất cho Mỹ ngay từ đầu đâu. Hắn chơi chiêu "lọt sàng xuống nia" bằng cách ban phát các giấy phép nhượng địa (concessions) cho đám tay chân thân tín của mình: từ bộ trưởng, tướng tá, cho đến cả thằng tài xế, thằng làm vườn và mấy cô bồ nhí. Bọn này được nhận hàng nghìn héc-ta đất có tiềm năng dầu mỏ với giá rẻ như cho, gọi là phí đăng ký tượng trưng.
Với điều khoản "Quyền chuyển nhượng" (Right to Transfer) trong đạo luật, bọn tây chân của Gómez đứng ra làm “cò mồi” cầm giấy phép bán lại (sang tay) cho các đại diện của Standard Oil, Gulf Oil hay Royal Shell đang chầu chực sẵn ở sảnh khách hạng Majestic tại Caracas. Giá bán lại cao gấp hàng ngàn lần giá gốc. Bọn tay chân này đổi đời thành triệu phú sau một đêm mà không tốn một giọt mồ hôi, còn Gómez thì cười khểnh vì vừa ban ơn được cho đàn em, vừa giữ được ghế, lại vừa có tiền lại quả từ bọn Mỹ.
Standard Oil khi nhảy vào cuộc chơi cũng áp dụng chiến thuật "Cá lớn nuốt cá bé" tàn bạo y hệt như hồi thâu tóm các nhà máy lọc dầu ở Mỹ. Chúng nó thành lập một công ty con tên là Creole Petroleum để làm cánh tay nối dài. Thay vì đi xin cấp đất mới (mất thời gian), Creole vung tiền tấn ra mua lại toàn bộ các công ty nhỏ lẻ và các lô đất ngon nhất mà đám "cò mồi" đang nắm giữ.
Đặc biệt, chúng nó nhắm vào các lô đất nằm xen kẽ (gọi là National Reserves) mà luật cũ định giữ lại cho quốc gia, nhưng luật 1922 cho phép đem đấu giá nốt. Với túi tiền không đáy, Standard Oil thâu tóm hầu hết các lô này, ép các đối thủ cạnh tranh (kể cả Shell của Anh) vào thế bị bao vây. Đến năm 1928, Standard Oil đã trở thành nhà sản xuất dầu lớn nhất Venezuela, kiểm soát gần một nửa sản lượng cả nước.
Chưa hết để bảo vệ cái giếng dầu của mình tại vùng hồ Maracaibo lúc đó là rừng rậm nhiệt đới, đầm lầy, muỗi mòng và sốt rét, đám người Mỹ đi khai thác dầu đổ bộ xuống như lính Marine cho xây dựng các “Trại dầu” (Oil Camp). Vì được miễn thuế nhập khẩu theo đạo luật 1922, chúng chở tàu thủy mang theo mọi thứ từ Mỹ sang: từ giàn khoan, ống thép, xi măng, cho đến cả gỗ xẻ để dựng nhà, đồ hộp, bia lạnh và bóng đèn. Từ những Oil Camp này tạo nên các thị trấn khép kín giữa rừng già, có hàng kẽm gai bao quanh với lính gác túc trực cả ngày lẫn đêm.
Bên trong hàng rào là một "tiểu bang Texas" thu nhỏ: đường nhựa phẳng lì, nhà có máy phát điện, nước lọc, sân golf, rạp chiếu phim, bệnh viện sạch sẽ dành riêng cho kỹ sư và quản lý người Mỹ (Musius).
Còn bên ngoài hàng rào là những khu ổ chuột lụp xụp của công nhân Venezuela, sống trong bùn lầy, uống nước bẩn và chết vì bệnh tật. Sự phân biệt đối xử (Segregation) diễn ra ngay trên đất Venezuela nhưng theo luật pháp Mỹ. Một kỹ sư Mỹ lương cao gấp 10 lần một kỹ sư Venezuela có cùng bằng cấp, đơn giản vì "mày là dân bản địa".
Đây chính là hình mẫu kinh điển của chủ nghĩa thực dân mới: Không cần đô hộ, chỉ cần sở hữu sổ đỏ.
Giai đoạn từ năm 1922 đến hết thế chiến II không phải là "làm ăn kinh doanh" bình thường, mà nó là một cuộc vơ vét quy mô công nghiệp với biên lợi nhuận siêu thực Sản lượng dầu khai thác được tăng tăng thiểu chiều thẳng đứng như vừa được lắp động cơ tên lửa.
Đến năm 1928, Venezuela chính thức đá đít Nga và Mexico để trở thành nước xuất khẩu dầu số 1 thế giới. Tại sao lại là "xuất khẩu"? Vì dân Venezuela lúc đó đi lừa còn chưa xong lấy gì đi ô tô, nên hút lên bao nhiêu là bán sạch bấy nhiêu.
Năm 1929, sản lượng đạt mốc 137 triệu thùng, đứng thứ 2 thế giới về sản lượng khai thác, chỉ thua mỗi ông trùm Mỹ.
Tuy nhiên miếng bánh lợi nhuận béo bở từ việc khai thác dầu này chỉ nằm trong vòng tròn khép kín của bộ ba "Bố Già": Standard Oil (Exxon), Royal Dutch Shell, và Gulf Oil.
Chi phí khai thác ở Venezuela lúc đó thuộc hàng thấp nhất thế giới. Nếu tính theo đôla thì lương của một thợ khoan khoan Venezuela chỉ bằng 1/10 lương thợ khoan Mỹ, dù làm việc nặng nhọc như nhau và chết vì sốt rét nhiều hơn. Đã thế không phải tốn tiền bảo hiểm lao động, phúc lợi xã hội. Vì giá đất và thuế tài nguyên chỉ loanh quanh 7-10%, trong khi ở Mỹ là 16-20% - chỉ bằng một nửa.
Địa chất hồ Maracaibo là vùng nước nông, khoan rất dễ nên giếng nào cũng có áp suất tự nhiên lớn chỉ cần cắm ống vào là dầu tự phun lên (free-flowing), không tốn tiền bơm cưỡng bức như ở các giếng cạn bên Mỹ. Ước tính chi phí sản xuất một thùng dầu ở Venezuela lúc đó chỉ khoảng 10 đến 20 xu, trong khi giá bán trên thị trường thế giới dao động từ 1 đến 2 đô la.
Tất nhiên với cái đầu sạn của tư bản New York, chúng nó chẳng bao giờ khai báo lãi thật để đóng thuế cho Gómez. Ba ông lớn dùng chiêu kinh điển của ngành trốn thuế: "Chuyển giá" (Transfer Pricing). Thay vì bán dầu thô trực tiếp ra thế giới từ cảng Venezuela sẽ bị đánh thuế trực tiếp. Standard Oil và Shell xây dựng các nhà máy lọc dầu khổng lồ ở hai hòn đảo thuộc địa của Hà Lan ngay sát nách Venezuela là Aruba và Curaçao. Quy trình ma quỷ diễn ra như sau:
1.Công ty con ở Venezuela bán dầu thô cho công ty mẹ ở Aruba với giá cực rẻ (gần bằng giá vốn).
2.Vì giá bán thấp, nên lợi nhuận ghi nhận tại Venezuela rất thấp -> đóng thuế cho Gómez cực ít.
3.Sau đó, dầu thô này được chở sang Aruba (nơi miễn thuế), lọc thành xăng và bán ra thế giới với giá cực cao.
4.Toàn bộ khoản lãi khổng lồ (khoảng chênh lệch giữa 20 xu giá vốn và 2 đô la giá bán) nằm lại ở Aruba hoặc chảy về New York và London, sạch sẽ, hợp pháp và không phải chia cho dân Venezuela một xu nào.
Vậy phần cón sot lại cho Venezuela (Gómez và tay chân) chỉ là những mẩu vụn bánh mì rơi vãi từ bàn tiệc, nhưng vì cái bánh quá to nên vụn bánh cũng đủ làm Gómez thành vua. Chính phủ Caracas nhận được tiền từ ba nguồn chính:
Thuế Royalty: 10% giá trị dầu thô (tính theo cái giá rẻ mạt đã bị ép xuống).
Phí nhượng địa: Tiền bán giấy phép khai thác đất đai (chảy vào túi đám cò mồi tay chân Gómez).
Thuế nhập khẩu gián tiếp: Dù máy móc dầu khí miễn thuế, nhưng hàng hóa tiêu dùng nhập khẩu cho dân chúng bị đánh thuế rất cao. Dù bị bóc lột kỹ thuật như thế, nhưng đến năm 1930, tiền dầu mỏ đã giúp Venezuela trả sạch nợ nước ngoài (một kỳ tích hiếm hoi). Nhưng cay đắng thay, dân thường không được hưởng gì ngoài lạm phát (do đồng tiền mạnh lên vì dầu) và nền nông nghiệp xuống hố.
Sự phụ thuộc vào dầu mỏ Venezuela càng lên đỉnh điểm vào Thế chiến 2 (1939-1945). Lúc này Venezuela không còn là mỏ dầu nữa, mà là bình oxy của phe Đồng Minh. Năm 1940, sản lượng bơm lên là 27 triệu tấn. Khi Nhật chiếm Indonesia, Đức chiếm Rumani, thì Venezuela trở thành nguồn cung dầu duy nhất còn lại và an toàn nhất cho Anh và Mỹ.
Trong giai đoạn khốc liệt nhất 1942-1943, Venezuela cung cấp tới 42% tổng lượng dầu cho phe Đồng Minh.
Gần một nửa số xăng đổ vào xe tăng Sherman, máy bay ném bom B-17 hay tàu chiến Anh đều là dầu hút từ hồ Maracaibo. Lúc này, các tàu ngầm U-boat của Đức Quốc xã thậm chí đã mò vào tận vùng biển Caribbean để bắn phá các tàu chở dầu từ Maracaibo sang Aruba (chiến dịch Neuland), vì Hitler biết rằng cắt được dòng máu đen này là Mỹ và Anh sẽ chết đứng.
Và để chốt lại bức tranh tài nguyên này, không thể không nhắc đến Vành đai Orinoco (The Orinoco Belt) ở miền Đông. Trong khi bọn Mỹ đang vắt kiệt hồ Maracaibo ở miền Tây, thì các nhà địa chất đã phát hiện ra ở miền Đông, dọc sông Orinoco, có một trữ lượng dầu siêu nặng (heavy crude) lớn khủng khiếp, có thể lớn nhất thế giới. Nhưng thời điểm những năm 1930-1940, công nghệ chưa đủ để lọc loại dầu như nhựa đường này, và dầu ở Maracaibo còn quá nhiều và quá ngon, nên bọn Standard Oil chỉ “khoanh vùng” để dành đó như của để dành (Strategic Reserve), chờ đến tận thế kỷ 21 mới sờ đến.
Lời nguyền tài nguyên
Vậy mày đã thấy được một phần của bức tranh lợi nhuận béo bở ấy nhưng đó vẫn chưa đủ để trả lời cho câu hỏi: “Tại sao đất nước này vẫn nghèo dù đang đứng trên một núi tài nguyên khổng lồ” không chỉ với Venezuela mà còn là Mỹ Latin, châu Phi và Trung Đông - những nơi với lượng khoáng sản phong phú chỉ đào xúc bán múc lên là cả nước giàu có.
Tao gọi đó là “Luật cai trị bằng tiền” còn mấy thằng giáo sư thích nghe kêu kêu "Thuyết Lựa chọn Lãnh đạo" (Selectorate Theory) gì đó mặc kệ chúng nó. Quyền lực không bao giờ yên một chỗ, không ai cai trị cả quốc gia một mình cả. Thằng vua nào cũng cần một nhóm tay chân thân tín (Keys to Power) để giữ ghế, và nhiệm vụ tối thượng là phải bơm tiền cho nhóm này ngập mồm.
Một đất nước nghèo tài nguyên (ví dụ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức), bọn cai trị muốn có tiền để nuôi quân đội (cầm súng) và đám quan lại (cầm bút) bảo vệ vị trí cai trị của mình thì nó bắt buộc phải cho dân làm ăn kinh tế khá khẩm lên rồi mới thu thuế từ dân. Tức là túi tiền của lũ cầm quyền phụ thuộc vào sức lao động của dân đen.
Nếu ép dân quá mức để trấn lột tiền bảo kê (thuế) nuôi bộ máy cai trị quá mức thì đám dân chết đói hoặc đình công coi như mất nguồn thu nhập chính vì vậy tụi tướng lính quân đội không được trả tiền sẽ làm phản, gây ra đảo chính lật đổ cái ghế mày đang ngồi. Do vậy nó bắt buộc phải phát triển hạ tầng (đường quốc lộ, cảng biển, tàu hỏa) và giáo dục (tạo ra đám nhân công hữu dụng trong nhà máy lẫn công chức bàn giấy) nhằm kiếm thêm tiền thuế. Nó là tư duy thực dụng của tư bản: bỏ tiền đầu tư lâu dài để thu lại lợi nhuận an toàn.
Tuy nhiên trong trường hợp những nước bất ngờ giàu lên nhờ đào lên mỏ dầu, kim cương, cobalt,… thì thằng cầm quyền (như Gómez) nhận ra: "Ủa vậy tao cần quái gì tiền thằng dân?". Tiền nó nằm dưới đất, chỉ cần bắt tay với tư bản nước ngoài (Mỹ, Anh) cắm ống hút lên là có đô la tươi thóc thật. Nguồn thu của nhà nước không đến từ tiền thuế của dân, mà đến từ tiền bán dầu (Petrodollars).
Vì vậy dân đen trở nên thừa thãi trong mắt kẻ cầm quyền. Chính phủ không cần đến dân đóng thuế để duy trì bộ máy cai trị thế là mất luôn cái quyền đòi hỏi "No taxation without representation" (Không đóng tiền đủ nhiều = Không có tiếng nói). Chính phủ giờ đây trở thành ông bố già ban phát bổng lộc:
"Tao cho chúng mày xăng rẻ, điện rẻ, trợ cấp thức ăn, việc của chúng mày là câm mồm và vỗ tay"
Đám quân đội, cảnh sát, công chức bàn giấy nhờ được trả lương cực kỳ hậu hĩnh bằng đôla dầu mỏ, được chia phần trong các hợp đồng thầu thoán, ăn tiền hối lộ để làm ngơ sai phạm của các ông chủ ngoại quốc nên chúng sẵn sàng nã đạn vào bất cứ ai dám manh nha ý đồ lật đổ ông chủ. Luật lệ được tạo bằng nòng súng nhưng phải có tiền để trả cho chúng chĩa vào đúng kẻ thù muốn nhắm tới. Cái giá của lòng trung thành chỉ được đong đếm bằng sấp đôla có hình Benjamin Franklin.
Nhưng chính vì quá phụ thuộc vào một loại tài nguyên duy nhất (Cacao, Dầu mỏ) sẽ dẫn đến "Căn bệnh Hà Lan" (Dutch Disease) siết cổ nền sản xuất nội địa. Nhờ xuất khẩu dầu ầm ầm nên một lượng lớn ngoại tệ (USD) chảy về trong nước. Theo quy luật của bọn cầm quyền, để giữ được quyền lực kinh tế trong quốc gia chúng quản lý chỉ được xài đồng tiền được Ngân hàng trung ương do chính phủ kiểm soát. Vì vậy mỗi công ty dầu mỏ khi trả lương cho công nhân (dù rẻ mạt) làm nảy sinh nhu cầu bán dầu lấy USD rồi đổi sang nội tệ (đồng Bolívar) để tiêu xài trong nước, khiến nhu cầu đồng Bolívar tăng vọt, làm đồng tiền này lên giá khủng khiếp.
Đồng nội tệ mạnh nghe thì có vẻ sang nhưng đối với nền sản xuất trong nước thì đó là uống thuốc độc giải khát. Vì khi đồng Bolívar có giá, hàng nhập khẩu trở nên rẻ bèo.
Ví dụ, nông dân Venezuela trồng lúa mất 10 đồng vốn, nhưng nhập gạo từ Mỹ về chỉ mất 5 đồng (do tỷ giá ngon). Thế là nông dân vứt cuốc, doanh nghiệp đóng cửa nhà máy, chuyển sang làm... thương mại nhập khẩu.
Cả đất nước biến thành một cái siêu thị khổng lồ chuyên bán hàng ngoại nhập. Từ cái kim, sợi chỉ, đến hạt gạo, miếng thịt bò đều nhập từ nước ngoài. Nền nông nghiệp (từng trồng cacao, cà phê xuất khẩu) và công nghiệp chết lâm sàng. Venezuela trở thành một cái dạ dày rỗng tuếch, chỉ biết há mồm chờ tàu chở hàng đến chẳng khác gì thời kỳ trồng Cacao cả.
Trong giai đoạn 1934 – 1960, tỷ giá 1 USD = 3,35 Bolívar được duy trì ổn định suốt 25 năm , người dân Venezuela có thể đi du lịch khắp thế giới và mua sắm hàng ngoại nhập với giá cực rẻ nhờ sức mua khủng khiếp của đồng nội tệ. Vì kinh tế phát triển dựa trên tiêu dùng tạo nên văn hóa "Dame Dos" (Cho tôi hai cái) - cụm từ huyền thoại mà dân bán hàng ở Miami (Mỹ) dùng để gọi khách du lịch Venezuela.
Vì dân Venezuela lúc đó giàu đến mức sang Mỹ mua sắm không cần nhìn giá. Thấy cái tivi đẹp? “Cho tôi hai cái”. Thấy chai rượu ngon? “Lấy hai thùng”. Miami thời đó giống như sân sau của Caracas hơn là một thành phố Mỹ. Giới trung lưu Venezuela sáng bay sang Miami ăn sáng, mua sắm rồi chiều bay về là chuyện như cơm bữa. Rượu Whisky Scotland nhập khẩu vào Venezuela nhiều đến mức người ta uống nó như nước lọc, biến Venezuela thành nước tiêu thụ rượu ngoại bình quân đầu người cao nhất thế giới.
Đoán xem một thằng công nhân dầu mỏ khi nó cầm được một núi tiền mà ông chủ trả xuống mà không biết đầu tư sẽ làm gì? Nó bỏ tiền vào ngân hàng trong 10-20-30 năm để ăn lãi tiết kiệm ăn chắc mặc bền. Hàng triệu người cùng làm như thế giờ đây khi ngân hàng nắm trong tay quá nhiều tiền nếu không đem đi đầu tư chỗ khác thì cứ để đấy tầm vài tháng sẽ thành “tiền chêt” - lạm phát 1-2% /năm sẽ gặm ngấm hết phần giá trị ban đầu. Họ phải tống hết đống tiền này ra thị trường nhiều nhất có thể bằng việc giảm lãi suất rẻ như cho không, khoảng từ 5% đến 8%/năm.
Người dân càng có đồng tin vào đồng tiền Bolívar lại càng đổ tiền vào ngân hàng trong thời gian 10-20 năm không lọ việc mất giá hay rút ra do lo ngại về chiến tranh, bất ổn chính trị.
Như vậy các ông chủ ngân hàng rất hài lòng khi mỗi nằm thu về khoảng lợi nhuận 4-6% từ chênh lệch lãi suất tiền vay > lãi suất gửi tiết kiệm nên duy trì được sự ổn định trong suốt 30 năm trong giai đoạn “Kỷ nguyên vàng” 1934 – 1960.
Tiền dầu mỏ và tín dụng rẻ như bèo được đổ vào đâu? Không phải vào nhà máy luyện kim hay xưởng dệt, mà đổ hết vào bê tông cốt thép (phân lô bán nền) để xây dựng bộ mặt quốc gia.
Dưới thời độc tài Marcos Pérez Jiménez (thập niên 50), Caracas biến thành một công trường khổng lồ với những công trình kiến trúc hiện đại bậc nhất thế giới lúc bấy giờ (Nghe có khác gì Việt Nam năm 2026 không) .
Những tòa tháp chọc trời, những con đường cao tốc xuyên núi, khách sạn Humboldt trên đỉnh núi, hay cái trung tâm thương mại El Helicoide xoắn ốc... tất cả mọc lên như nấm. Mục đích là để chứng minh với thế giới rằng Venezuela đã "hóa rồng", đã trở thành một nước phương Tây văn minh chứ không còn là cái xứ nhiệt đới khỉ ho cò gáy nữa.
Chính cái vẻ hào nhoáng này đã thu hút hàng trăm nghìn người nhập cư từ Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha (đang nát bét sau Thế chiến II) đổ xô đến Venezuela để kiếm ăn, vì lương thợ hồ ở đây còn cao hơn lương bác sĩ ở châu Âu.
Doanh nghiệp vay tiền chủ yếu để làm hai việc: Một là xây chung cư cao cấp bán cho tầng lớp mới giàu, hai là mở công ty nhập khẩu phân phối hàng hóa (thương mại). Rất ít thằng điên nào vay tiền để mở nhà máy sản xuất giày dép hay quần áo, vì làm sao cạnh tranh nổi với đôi giày nhập từ Ý giá rẻ bèo nhờ tỷ giá 3,35? Thế là dòng vốn tín dụng khổng lồ đó chỉ chạy vòng quanh trong lĩnh vực phi sản xuất (Non-tradable sector), tạo ra một bong bóng bất động sản và dịch vụ khổng lồ, trong khi nền tảng sản xuất thực tế (Real Economy) thì rỗng tuếch.
Hậu quả xã hội của cái mô hình kinh tế này là sự ra đời của “Vành đai khốn cùng” (Cinturones de miseria). Khi nông dân thấy trồng lúa không sống nổi (vì gạo Mỹ rẻ hơn), lại nghe tin ở thành phố tiền nhiều như lá mít, họ vứt bỏ ruộng đồng (”Conucos”) để di cư ồ ạt lên thành phố.
Nhưng lên đến nơi, họ mới nhận ra mình không có kỹ năng để làm việc trong các văn phòng máy lạnh hay ngân hàng. Họ cũng không có tiền mua những căn hộ cao cấp mà bọn doanh nghiệp đang xây. Thế là họ làm gì? Họ leo lên các ngọn đồi xung quanh thung lũng Caracas, dựng những túp lều tạm bợ bằng tôn và bìa các tông, gọi là các khu ổ chuột “Ranchos”.
Bên dưới thung lũng là những tòa nhà chọc trời, những chiếc Cadillac bóng lộn và các quý bà mặc đồ Paris, còn bao vây xung quanh trên các sườn đồi là hàng triệu người nghèo thất nghiệp, sống nhờ vào tiền trợ cấp nhỏ giọt của chính phủ. Cái sự phân hóa giàu nghèo này cực kỳ nguy hiểm, vì đám dân nghèo trong các khu Ranchos đó chính là thùng thuốc súng, chỉ chờ một mòi lửa là nổ tung (và nó đã nổ tung sau này khi Hugo Chávez xuất hiện).
Mô hình kinh tế này khi giá dầu cao thì ai cũng nghĩ cái sự thịnh vượng sẽ kéo dài mãi. Người ta đánh cược vào thứ ảo ảnh đó mà quên mất giá dầu vốn dĩ là thứ biến động điên rồ.
Khi giá dầu sập ngay lập tức nguồn thu ngoại tệ của chính phủ hơi, ngân khố chỉ còn là cái kho rỗng tếch. Ngat lập tức thằng cầm đầu quốc gia không thể giảm chi phí cai trị vốn đang được giữ mức cao để thằng cầm súng tiếp tục đứng gác. Mày không thể nói với đám tướng lĩnh: "Năm nay dầu rẻ, các chú nhịn lương nhé" – nó đảo chính ngay. Mày cũng không thể cắt trợ cấp cho dân nghèo ngay lập tức – nó bạo loạn cướp phá ngay (như vụ Caracazo năm 1989).
Vì vậy kẻ độc tài thường rơi vào thế kẹt: tiền thu vào thì ít mà tiền chi ra để mua sự ổn định (cái mạng của nó) thì nhiều. Giải pháp duy nhất của một kẻ cùng đường là In tiền.
Nó bắt ngân hàng trung ương in ra hàng tấn tiền giấy nội tệ để trả lương cho quân đội và công chức. Nhưng vì nền sản xuất trong nước đã chết từ lâu (do Căn bệnh Hà Lan), hàng hóa khan hiếm, cộng thêm lượng tiền giấy tràn ngập thị trường, dẫn đến quy luật tất yếu: Siêu lạm phát. Đồng tiền trở thành giấy lộn, người dân cầm cả bao tải tiền không mua nổi ổ bánh mì.
Cái vòng lặp này cứ liên tục tái diễn hết lần này tới lần khác trong khi những kẻ hưởng lợi từ dầu mỏ kịp tẩu tán tài sản ra nước ngoài bằng USD thì chỉ còn thằng dân ở lại chịu trận. Đại đa số dân chúng – những người đã quen sống dựa vào trợ cấp và mất khả năng tự sản xuất – là chết kẹt lại trong nghèo đói và bạo loạn. Venezuela từ thời Juan Vicente Gómez cho đến các chế độ dân chủ sau này, và cả thời Chavez - Maduro, đều không thoát nổi cái kịch bản “lên voi xuống chó” này, chỉ là quy mô và màu sắc chính trị nó khác nhau thôi.
Do vậy dù Trump và các nhiệm kỳ tổng thống tiếp theo có đặt thằng bù nhìn nào ngồi lên ngai “Tổng thống nước Cộng hòa Bolivar Venezuela” thì cái vòng lặp vẫn như vậy chỉ thay mỗi cái tên. Lịch sử luôn lặp lại, lúc đầu là bi kịch về sau là trò hề.
Trò hề dân chủ
Sau 27 năm cầm quyền, con cáo già Gomez cuối cùng cũng trên chết trên đống vàng vào năm 1935. Tuy nhiên chế độ quân phiệt vẫn chưa hề buông súng. Hai gã tướng kế nhiệm là Eleazar López Contreras và Isaías Medina Angarita thực chất chỉ là "bình mới rượu cũ" - là tàn dư của chế độ Gomez. Trước áp lực quốc tế và muốn xoa dịu sự bất mãn của dân chúng sau khi mới lên cầm quyền, chúng nới lỏng thòng lọng một chút, cho phép báo chí nói leo lẻo vài câu và cho phép thành lập đảng phái (trong đó có đảng Hành động Dân chủ - Acción Democrática hay gọi tắt là AD). Nhưng bản chất vẫn là một nhóm thiểu số tướng lĩnh và đại địa chủ chia nhau tiền dầu.
Cái gọi là “nền dân chủ” đầu tiên ló dạng năm 1945 không đến từ lá phiếu mà mà từ súng đạn. Rómulo Betancourt, lãnh tụ của đảng AD, đã bắt tay với một nhóm sĩ quan trẻ bất mãn (trong đó có Marcos Pérez Jiménez) để làm đảo chính lật đổ tướng Medina. Nó được gọi là sự kiện El Trienio Adeco (3 năm của đảng AD).
Đây là lần đầu tiên Venezuela nếm mùi vị của cải cách xã hội thực sự: cho phụ nữ đi bầu, tăng thuế dầu khí lên 50/50 (bắt các công ty Mỹ chia đôi lợi nhuận). Nhưng chính vì "làm quá", đụng chạm đến túi tiền của giới thượng lưu và làm Mỹ lo ngại về "mầm mống cộng sản", nên cái nền dân chủ non trẻ này bị bóp chết yểu chỉ sau 3 năm.
Năm 1948, Marcos Pérez Jiménez - gã sĩ quan trẻ từng giúp Betancourt làm đảo chính giờ lại quay sang lật đổ Betancourt để thiết lập chế độ độc tài quân sự mới. Nhưng Pérez Jiménez không phải loại độc tài quê mùa như Gomez. Hắn là một "nhà kỹ trị độc tài" (Technocratic Dictator).
Dưới thời Pérez Jiménez (1948-1958), Venezuela bùng nổ kinh tế nhờ giá dầu tăng vọt (do chiến tranh Triều Tiên). Đến tận ngày nay nhiều người già ở Venezuela vẫn nhắc về thời đó với sự tiếc nuối.
Hắn dùng tiền dầu để biến thủ đô Caracas từ một thị trấn mái ngói đỏ thành một siêu đô thị hiện đại bậc nhất Mỹ Latinh với những đường cao tốc, khách sạn 5 sao, và các tòa nhà chọc trời.
Lý tưởng “Lý tưởng Quốc gia Mới” của hắn là : xây dựng hạ tầng hoành tráng để xóa bỏ đói nghèo, nhưng cấm tiệt tự do chính trị. Hắn ta muốn chứng minh rằng:
"Dân chủ làm gì cho mệt? Cứ để tao độc tài, tao sẽ cho tụi bay đường nhựa, cầu cống và sự hiện đại".
Và tên độc tài này làm thật, tàn bạo nhưng hiệu quả khủng khiếp.
Thứ nhất, hãy nhìn vào con đường cao tốc Caracas - La Guaira. Trước đó, muốn đi từ cảng biển lên thủ đô phải bò qua đường đèo nguy hiểm mất cả tiếng đồng hồ. MPJ thuê các kỹ sư xịn nhất (kể cả kỹ sư Pháp từng xây hầm ở Alps) để khoan núi, dựng cầu, rút ngắn thời gian xuống còn 20 phút. Đây được coi là kỳ quan kỹ thuật của Nam Mỹ lúc đó. Mày đi trên con đường đó, mày sẽ thấy tự hào dân tộc dâng trào, và mày sẽ quên đi chuyện thằng hàng xóm vừa bị mật vụ bắt đi đêm qua.
Thứ hai là những công trình mang tính biểu tượng “Vị lai” (Futurism). Điển hình là khách sạn Humboldt nằm trên đỉnh núi Avila, phải đi cáp treo lên, hay cái tòa nhà El Helicoide – một trung tâm thương mại hình xoắn ốc khổng lồ mà xe hơi có thể chạy thẳng lên tận cửa hàng trên tầng chóp. MPJ muốn biến Caracas thành một “New York của Nam Mỹ”. Hắn tiêm vào đầu dân chúng một liều doping về sự thịnh vượng vĩnh cửu.
Mỹ cưng chiều hắn như trứng mỏng vì hắn chống cộng điên cuồng và bảo đảm dòng dầu chảy êm ru về Mỹ. Tổng thống Mỹ Eisenhower thậm chí còn trao tặng hắn Huân chương Công trạng (Legion of Merit). Dân chủ lúc này là con số không, cảnh sát mật (Seguridad Nacional) lùng sục bắt bớ bất cứ ai dám mở mồm, nhưng dân chúng có tiền, có việc làm, và đất nước “trông có vẻ” phát triển.
Thông thường theo logic chính trị Mỹ Latinh, "kiềng ba chân" của một chế độ độc tài luôn là: Quân đội - Tư bản - Nhà thờ. Ba ông này thường đi cùng nhau để đè đầu cưỡi cổ dân đen. Đấy là cho đến khi tiền bạc còn đủ để chia chác với nhau.
Đến năm 1957, giá dầu thế giới sụp làm nền kinh tế khựng lại. Giới tư bản trong nước và Giáo hội Công giáo quay lưng với hắn.
Giới tư bản trong nước (Domestic Capitalists) ban đầu cực thích MPJ vì hắn dẹp loạn công đoàn, cấm đình công, giữ lương công nhân thấp. Nhưng càng về sau, MPJ càng lộ rõ tham vọng xây dựng một loại hình Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước (State Capitalism), nơi mà nhà nước (tức là MPJ và đám thân tín) muốn nắm hết các miếng bánh ngon nhất, chứ không chia cho tư nhân nữa.
MPJ bắt đầu đầu tư mạnh vào các ngành công nghiệp nặng do nhà nước làm chủ như Nhà máy Thép Sidor ở Guayana hay ngành hóa dầu. Giới tư bản tư nhân cảm thấy bị ra rìa. Hơn nữa, MPJ có một cái tật rất xấu là “Bùng nợ”. Để xây dựng cái bộ mặt hào nhoáng cho Caracas, chính phủ đã ký hợp đồng xây dựng vô tội vạ với các công ty thầu trong nước.
Nhưng đến năm 1957, khi giá dầu giảm, ngân khố cạn, MPJ giở quẻ không trả tiền (nợ chính phủ đối với tư nhân lúc đó lên tới hàng trăm triệu bolivar). Các ông chủ thầu xây dựng, các nhà cung cấp vật liệu đang giàu có bỗng nhiên đứng trước bờ vực phá sản vì chính phủ quỵt tiền. Họ nhận ra: Thằng cha này tiêu tiền dầu như nước để đánh bóng tên tuổi hắn, nhưng rủi ro thì bắt tụi mình gánh. Thế là giới thượng lưu (vốn tập trung ở các câu lạc bộ sang trọng như Country Club) bắt đầu thì thầm to nhỏ về việc cần phải thay ngựa giữa dòng.
Còn đối với Giáo hội Công giáo (Catholic Church) ở một nước sùng đạo như Venezuela, Nhà thờ có tiếng nói cực trọng lượng. Suốt một thời gian dài, Nhà thờ im lặng để MPJ làm gì thì làm, miễn là hắn chống cộng sản. Nhưng đến cuối thập niên 50, Nhà thờ nhận ra một nguy cơ: Sự chênh lệch giàu nghèo quá khủng khiếp dưới thời MPJ đang biến các khu ổ chuột (ranchos) thành lò thuốc súng vô trật tự của các băng đảng tội phạm. Nếu Nhà thờ cứ tiếp tục im lặng ủng hộ độc tài, thì dân nghèo sẽ mất niềm tin vào Chúa và ngả theo Cộng sản (như ở Cuba). Để cứu mình và giữ con chiên, Nhà thờ buộc phải lên tiếng.
Sự kiện chấn động diễn ra vào ngày 1 tháng 5 năm 1957. Tổng giám mục Caracas là Rafael Arias Blanco đã tung ra một lá Thư Mục vụ (Pastoral Letter) được đọc đồng loạt tại tất cả các nhà thờ trên cả nước trong thánh lễ Chủ nhật. Nội dung bức thư như một gáo nước lạnh tạt vào mặt chế độ:
“Một nhóm nhỏ người Venezuela đang hưởng thụ sự giàu sang tột đỉnh, trong khi đại đa số dân chúng đang sống trong cảnh bần hàn không xứng đáng với phẩm giá con người”.
Bức thư này đã xé toạc cái mặt nạ “thịnh vượng giả tạo” của MPJ. Nó hợp thức hóa sự phản kháng. Dân chúng nghĩ: “Đến Cha xứ còn chửi chính quyền thì mình sợ gì mà không chửi”. MPJ điên tiết, ra lệnh cho trùm mật vụ Pedro Estrada bắt bớ các linh mục, thậm chí trục xuất một số cha xứ nước ngoài. Đây là hành động tự sát. Ở Mỹ Latinh, mày có thể giết sinh viên, bắt chính trị gia, nhưng mày đụng đến áo dòng của linh mục là mày tuyên chiến với cả xã hội. Các cuộc biểu tình nổ ra ngay trong các nhà thờ, biến nơi tôn nghiêm thành pháo đài chống độc tài.
Giọt nước tràn ly cuối cùng là vụ Trưng cầu dân ý gian lận năm 1957. Thay vì tổ chức bầu cử tổng thống theo hiến pháp vào cuối năm 1957 (nơi hắn biết chắc sẽ thua hoặc bị phá đám), MPJ hủy bỏ bầu cử và tổ chức một cuộc “trưng cầu dân ý” (plebiscite) ngớ ngẩn. Hắn hỏi dân: “Có muốn tao làm tiếp không?”. Kết quả hắn tự công bố là 85% đồng ý. Trò hề này sỉ nhục trí tuệ của cả giới trí thức, tư bản lẫn giới tu hành. Nó chứng minh MPJ không còn ý định chia sẻ quyền lực với ai nữa, hắn muốn làm vua vĩnh viễn.
Quan trọng nhất, Mỹ bắt đầu thấy hắn là một gánh nặng (liability) hơn là tài sản, nhất là khi làn sóng cách mạng ở Cuba đang dâng cao (Fidel Castro sắp thắng), Mỹ sợ nếu cứ ủng hộ độc tài lộ liễu thì Venezuela sẽ ngả sang cộng sản. Cho đến khi Phó Tổng thống Mỹ Richard Nixon đến thăm năm 1958 thì quyết định được chốt không còn đường lui nữa rồi.
Trước đó vài tháng, Mỹ vẫn còn trao huân chương cho MPJ. Nhưng khi Nixon đến Caracas để thăm “người bạn tốt”, ông ta đã bị sốc. Dân chúng Venezuela, những người mà Mỹ tưởng là đang hạnh phúc với sự phát triển thần kỳ, đã tràn ra đường chặn xe của Nixon. Họ ném đá, nhổ nước bọt, đập vỡ kính xe, suýt nữa lôi cổ Nixon ra ngoài đánh hội đồng.
Lúc này, Washington mới tỉnh ngộ:
“Thằng MPJ này hết thuốc chữa rồi. Nó không kiểm soát được tình hình nữa. Nếu mình cứ ôm nó, sự thù hận của dân chúng sẽ chuyển sang thù Mỹ, và lúc đó cộng sản sẽ nhảy vào thật”.
Ngay lập tức, CIA và Bộ Ngoại giao Mỹ bật đèn xanh cho phe đối lập và quân đội làm phản.
Không có tiền nuôi quân, quân đội làm binh biến bao vây dinh Miraflores vào rạng sáng ngày 23 tháng 1 năm 1958 . Pérez Jiménez xách vali tiền trốn sang Mỹ bằng máy bay riêng mang biệt danh "Vaca Sagrada" (Con Bò Thiêng). Tại sao gọi là Bò Thiêng? Vì con bò này chở đầy sữa (tiền). Hắn không chỉ xách vali đâu, người ta đồn rằng hắn đã kịp rút ruột ngân khố, mang theo hàng triệu đô la tiền mặt và trái phiếu. Hắn bay sang Cộng hòa Dominica (nơi một tên độc tài thân Mỹ khác là Trujillo đang cai trị) rồi sau đó sang Tây Ban Nha sống cuộc đời vương giả dưới sự bảo kê của độc tài Franco.
Kết cục chẳng khác gì kịch bản hoàn hảo cho hàng loạt các gã độc tài thân Mỹ sau này: từ Fulgencio Batista ở Cuba, đến Shah Pahlavi ở Iran, hay Ferdinand Marcos ở Philippines. Lúc còn giá trị lợi dụng thì được gọi là "đồng minh chiến lược", "nhà lãnh đạo kiệt xuất", nhưng khi hết đát hoặc dân tình nổi dậy quá thì bị Mỹ đá đít không thương tiếc, cho một cái vé máy bay một chiều để giữ mạng mà sống lưu vong.
Hiệp ước Punto Fijo (Punto Fijo Pact)
Khi con sư tử làm chúa tể sơn lâm quá lâu đến khi nó chết đi thì tất nhiên đám sói còn lại sẽ cắn xé nhau đến con cuối cùng để tranh giành ngôi vị chúa tể là thứ lặp đi lặp đi sau lần kẻ độc tài bị lật đổ, chẳng hề tạo ra được ổn định gì trái lại còn hỗn loạn hơn trước. Hoặc là bầy sói kia cùng hợp sức lại vì một kẻ thù chung để bảo vệ địa vị của mình, vậy nên trường hợp của Venezuela sau năm 1958 là … nỗi sợ cộng sản.
Nếu xét về công trạng, Đảng Cộng sản Venezuela (PCV) là thằng đổ máu nhiều nhất, hoạt động bí mật hăng hái nhất, bị mật vụ của Pérez Jiménez tra tấn dã man nhất để dọn đường cho ngày lật đổ chế độ. Đáng lẽ trong bữa tiệc chiến thắng năm 1958, PCV phải được ngồi mâm trên.
Nhưng đời không như mơ, ba ông lớn AD (Dân chủ Xã hội), COPEI (Dân chủ Thiên chúa giáo) và URD lại hùa nhau đá đít PCV ra chuồng gà, biến họ từ người hùng thành kẻ thù.
Tại sao lại có màn "ăn cháo đá bát" kinh điển này? Câu trả lời nằm ở nỗi sợ hãi mang tính sinh tồn trước hai "ông kẹ": Mỹ và Quân đội Venezuela.
Thứ nhất, và quan trọng nhất, là cái bóng ma của Chiến tranh Lạnh.
Năm 1958, bầu không khí ở vùng Caribbean đang nóng rực. Ngay bên cạnh, Fidel Castro và Che Guevara đang làm loạn ở Cuba (và sẽ thắng vào đầu năm 1959). Mỹ đang trong trạng thái hoang tưởng tột độ về việc “Chủ nghĩa Cộng sản bành trướng”.
Rómulo Betancourt - lãnh tụ của đảng AD, là một con cáo già chính trị- hiểu rằng nếu chính phủ mới của Venezuela có dính dáng dù chỉ một chút mùi Cộng sản, thì Mỹ sẽ không bao giờ để yên. Thủy quân lục chiến Mỹ có thể đổ bộ, hoặc CIA sẽ giật dây cho quân đội làm đảo chính ngay lập tức (giống như Mỹ vừa làm ở Guatemala năm 1954). Để trấn an “Bố già” Washington, Betancourt phải hiến tế PCV. Thông điệp gửi đi là:
“Này Mỹ, tụi tao là phe dân chủ, tụi tao cũng ghét cộng sản như mày, nên hãy để yên cho tụi tao bán dầu và cai trị”.
Thứ hai là nỗi sợ Quân đội trong nước.
Mày phải nhớ là quân đội Venezuela lúc đó được đào tạo theo tư duy cực hữu, chống cộng điên cuồng. Họ lật đổ Pérez Jiménez vì hắn tham nhũng và hết tiền, chứ không phải vì họ yêu dân chủ.
Các tướng lĩnh vẫn nắm giữ súng đạn và họ nhìn PCV như nhìn quỷ dữ. Nếu ba đảng kia mời PCV vào chính phủ liên minh, các tướng lĩnh sẽ coi đó là cái cớ hoàn hảo để mang xe tăng ra dẹp tiệm nền dân chủ non trẻ này ngay. Hiệp ước Punto Fijo thực chất là một lời cam kết ngầm với quân đội: "Các ông cứ ngồi trong trại, giữ nguyên lương bỗng và đặc quyền, tụi tôi hứa sẽ không để bọn đỏ (Cộng sản) lên nắm quyền". Đó là cái giá của sự ổn định: loại bỏ phe cực tả để mua chuộc phe cầm súng.
Thứ ba, đây là sự toan tính Tranh giành nồi cơm (Cạnh tranh chính trị).
Đảng AD của Betancourt tự xưng là đảng của công nhân và nông dân. Nhưng Đảng Cộng sản PCV cũng đánh vào đúng đối tượng đông đảo nhất: giai cấp vô sản. Trong các khu ổ chuột và các nghiệp đoàn dầu khí, uy tín của PCV rất cao. Nếu để PCV hoạt động công khai và nắm quyền lực, họ sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp hút hết phiếu bầu và ảnh hưởng của AD. Betancourt không muốn chia sẻ cái “sân sau” là các nghiệp đoàn lao động (như Tổng liên đoàn Lao động CTV) với ai cả. Loại bỏ PCV là cách tốt nhất để AD độc chiếm phong trào công nhân, biến các nghiệp đoàn thành công cụ riêng của đảng mình.
Kết cục vì bị phản bội đau đớn nên Đảng cộng sản PCV mắc phải sai lầm là quay lại cầm súng khởi nghĩa vũ trang vào thập niên 60 (lập ra lực lượng du kích FALN). Điều này càng hợp thức hóa việc chính phủ AD (được Mỹ bơm vũ khí và tiền bạc) đàn áp họ dã man hơn. PCV bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, bị săn lùng như thú, và biến mất khỏi vũ đài chính trị suốt mấy chục năm sau đó.
Đây là một nền “dân chủ có kiểm soát” (Managed Democracy). Nó được thiết kế để làm hài lòng Mỹ (bằng cách loại bỏ cộng sản) và làm hài lòng quân đội (bằng cách giữ nguyên các đặc quyền). Người dân được đi bầu, đúng, nhưng họ chỉ được bầu cho những gương mặt đã được giới tinh hoa sắp xếp sẵn trong cái Hiệp ước đó.
Nó mang lại sự ổn định chính trị suốt 40 năm sau đó, nhưng cũng chính nó đã nuôi dưỡng nạn tham nhũng tràn lan, khi các đảng phái này biến nhà nước thành cái máy rút tiền dầu mỏ để chia nhau, bỏ mặc tầng lớp dân nghèo sống trong các khu ổ chuột (barrios) ngày càng phình to.
Trong hệ thống Punto Fijo, mày muốn có việc làm trong nhà nước? Phải có thẻ đảng AD hoặc COPEI. Mày muốn xin giấy phép kinh doanh? Phải quen biết ông nghị sĩ đảng này đảng kia. Mày muốn con mày vào trường công? Phải nhờ đảng viên bảo lãnh. Hai đảng này biến bộ máy nhà nước thành một cái "trại tế bần" khổng lồ cho các đảng viên của họ. Để mua phiếu bầu, họ đẻ ra hàng triệu công việc hành chính vô nghĩa, trả lương bằng tiền dầu.
Bộ máy quan lại phình to như một con quái vật béo phì, làm việc thì ít mà hành dân thì nhiều, nhưng lại trung thành tuyệt đối với đảng vì "mất đảng là mất nồi cơm". Tham nhũng không phải là lỗi hệ thống, tham nhũng là tính năng của hệ thống này.
Đỉnh cao của sự hoang đường là nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Carlos Andrés Pérez (CAP) (1974-1979). Lúc đó, cuộc chiến Yom Kippur ở Trung Đông khiến giá dầu tăng gấp 4 lần. Kỷ nguyên này được gọi với cái tên “Venezuela Saudita” (Venezuela Ả Rập).
Tổng thống lúc đó là Carlos Andrés Pérez (CAP) từng ngạo nghễ tuyên bố:
“Vấn đề của chúng ta bây giờ là phải quản lý sự sung túc”.
Chính phủ tiêu tiền như rác, bao cấp từ giá xăng đến giá bánh mì, thậm chí còn vay nợ nước ngoài thêm hàng tỷ đô la để xây dựng các siêu dự án với tâm lý:
“Yên tâm, dầu còn tăng giá nữa, lo gì không trả được nợ”.
CAP đã làm một việc nghe thì rất yêu nước nhưng thực chất là trao chìa khóa kho bạc cho tham nhũng: Quốc hữu hóa ngành dầu khí năm 1976, lập ra tập đoàn nhà nước PDVSA.
Bình thường đụng vào túi tiền của Mỹ là ăn bom ngay, tại sao vụ này êm ru?
Câu trả lời ngắn gọn là: Mỹ KHÔNG trừng phạt Venezuela. Không cấm vận, không đảo chính, không đưa quân đội vào. Ngược lại, Mỹ và Venezuela vẫn bắt tay cười hề hề, cụng ly sâm panh ăn mừng.
Thường người ta hay đánh đồng vụ “quốc hữu" hóa” này giống với thời của Hugo Chávez sau này (những năm 2000), chứ cái vụ quốc hữu hóa năm 1976 của Carlos Andrés Pérez (CAP) nó lại là một vở kịch bậc thầy của nghệ thuật "Ly dị êm thấm".
Tại sao lại có chuyện lạ đời như thế khi Mỹ vừa mới thịt luộc Chile (1973) hay Iran (1953) vì lý do tương tự? Lý do nằm ở cách làm và bối cảnh. Vụ 1976 này được giới sử học gọi là “Quốc hữu hóa Nhung lụa” (Chilled Nationalization), một cuộc chuyển giao quyền lực được dàn xếp kỹ lưỡng để ai cũng có phần.
Carlos Andrés Pérez là lãnh đạo đảng AD, một người theo chủ nghĩa dân túy nhưng thân phương Tây. Ông ta không tịch thu tài sản của Exxon hay Shell rồi đuổi cổ họ ra đường trắng tay như Fidel Castro làm ở Cuba. Ngược lại, CAP chơi rất đẹp: Ông ta trả tiền bồi thường.
Điều khoản 5 (Article 5) gây tranh cãi của Luật Quốc hữu hóa 1976 - dưới sức ép của bọn tư bản, đã cài cắm một câu vào luật:
“Trong những trường hợp đặc biệt và vì lợi ích công cộng, Nhà nước có thể ký kết các thỏa thuận liên doanh với tư nhân”.
Chính phủ Venezuela đã chồng đủ hơn 1 tỷ đô la (thời giá năm 1976 là con số khổng lồ) cho các tập đoàn dầu khí nước ngoài để mua lại tài sản. Các công ty Mỹ tuy mồm thì kêu ít (họ đòi 5 tỷ), nhưng bụng thì mừng thầm.
Tại sao? Vì giấy phép khai thác của họ đằng nào cũng sẽ hết hạn vào năm 1983. Lúc đó tài sản sẽ phải trả về cho Venezuela miễn phí. Giờ tự nhiên được nhận 1 tỷ đô la tiền tươi sớm trước 7 năm, tội gì không cầm? Mỹ coi đây là một vụ "mua bán sòng phẳng" chứ không phải "ăn cướp".
Phe cánh tả và những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan (như Hugo Chávez sau này) chửi bới CAP thậm tệ, bảo rằng ông ta là kẻ phản bội, là “ăn cướp” niềm tin của nhân dân. Họ cho rằng cái “Quốc hữu hóa” này chỉ là cú lừa, thực chất vẫn mở cửa hậu cho bọn Mỹ vào kiếm ăn. Đối với họ, việc trả 1 tỷ đô bồi thường cho bọn Mỹ (những kẻ đã hút máu Venezuela suốt 50 năm) mới chính là hành động “lấy tiền dân đi biếu giặc”.
Sau khi đuổi hết công ty Mỹ trên dành nghĩa, chính phủ Venezuela lập ra tập đoàn quốc gia PDVSA để thay thế các công ty nước ngoài. Nhưng hài hước ở chỗ, PDVSA lúc đó chưa có đủ trình độ kỹ thuật để tự vận hành các giàn khoan phức tạp hay hệ thống lọc dầu. Thế là ngay sau khi ký lệnh quốc hữu hóa, PDVSA lại ký tiếp các Hợp đồng Hỗ trợ Kỹ thuật (Technical Service Agreements) với chính... bọn Exxon, Shell, Gulf Oil vừa bị đuổi.
Tức là: Sáng hôm đó, các kỹ sư Mỹ tháo cái biển hiệu "Standard Oil" xuống, treo cái biển "PDVSA" lên, thay bộ đồng phục mới, nhưng họ vẫn ngồi đúng cái ghế đó, làm đúng công việc đó, và nhận lương (phí tư vấn) cao ngất ngưởng từ chính phủ Venezuela.
Các tập đoàn Mỹ tuy mất quyền sở hữu mỏ dầu, nhưng họ vẫn nắm đằng chuôi là Công nghệ và Hệ thống phân phối. Venezuela hút dầu lên xong vẫn phải nhờ tàu của Mỹ chở đi bán, vẫn phải nhờ nhà máy lọc của Mỹ xử lý. Mỹ chấp nhận nhượng bộ cái "danh hão" chủ quyền cho Venezuela để giữ lại cái "lợi thực" là dòng tiền và nguồn cung dầu ổn định.
Sau khi Ả Rập cấm vận phương Tây vì chiến tranh Israel, giá dầu tăng phi mã. Mỹ đang khát dầu cháy cổ. Venezuela lúc đó là nguồn cung an toàn nhất, không dính dáng đến xung đột Trung Đông. Mỹ không dám mạo hiểm gây chiến với Venezuela lúc này vì sợ cắt đứt nguồn cung huyết mạch. Mỹ thà chấp nhận mua dầu giá cao từ một Venezuela “độc lập” còn hơn là mất trắng nguồn dầu đó vào tay Liên Xô hoặc bị gián đoạn do chiến tranh.
Thời kỳ này càng thể hiện rõ cái “Lời nguyền tài nguyên” tao nói ở trên bao giờ hết. Câu cửa miệng "Tá' barato, dame dos" (Rẻ bèo, cho tao hai cái) vang lên khắp Miami. Họ nhập khẩu từ tăm xỉa răng đến xe Cadillac. Whisky tiêu thụ tính trên đầu người cao nhất thế giới.
Nhưng tất cả sự giàu có đó chỉ là lớp kem phủ trên một cái bánh rỗng ruột. Tiền chảy vào túi quan chức, vào các dự án bánh vẽ, vào các tài khoản ở Thụy Sĩ, chứ không chảy vào nền sản xuất. Nông nghiệp và công nghiệp nội địa chết hẳn vì không cạnh tranh nổi với hàng nhập khẩu (Căn bệnh Hà Lan).
Caracas là một thung lũng nơi giới tinh hoa, quan chức, dân nhà giàu sống ở dưới thung lũng bằng phẳng, trong các tòa nhà chọc trời, đi xe hơi Mỹ, uống rượu Scotland. Còn dân nghèo - những người nông dân mất đất tràn về thành phố tìm việc - bị đẩy lên các sườn đồi dốc đứng bao quanh thung lũng. Họ dựng lên những khu ổ chuột tạm bợ Ranchos.
Ở dưới thung lũng là “Dân chủ, Tự do, Tiệc tùng”. Ở trên đồi là “Đói nghèo, Tội phạm, Bệnh tật”. Hai thế giới này nhìn thấy nhau mỗi ngày nhưng sống như hai hành tinh khác nhau. Dầu mỏ bơm lên hàng tỷ đô la, nhưng nước sạch và điện không bao giờ leo lên tới được các khu ổ chuột trên đỉnh đồi. Dân nghèo ở đó cảm thấy bị phản bội:
“Chúng nó nói dầu là của toàn dân, sao tao vẫn phải đi xách nước từng xô?”.
Sự kiện Caracazo năm 1989
Nhưng đến đầu năm 1980, nguồn cung thế giới dư thừa khiến giá dầu bắt đầu lao dốc không phanh. Cùng lúc đó, lãi suất ở Mỹ tăng vọt (Cú sốc Volcker) khiến khoản nợ nước ngoài như bom nổ chậm. Ngày định mệnh 18 tháng 12 năm 1983, Chính phủ Venezuela, dưới thời Tổng thống Luis Herrera Campins, chính thức thừa nhận: “Hết tiền rồi”.
Họ tuyên bố phá giá đồng Bolívar. Cái tỷ giá thần thánh 4.30 (đã ổn định cả thập kỷ) bị xóa sổ. Đồng tiền mất giá thảm hại. Được gọi là sự kiện Viernes Negro.
Đối với người dân Venezuela, ngày hôm đó giống như ngày tận thế. Hôm qua mày ngủ dậy tài sản còn trị giá 100.000 đô la, hôm sau tỉnh dậy nó chỉ còn 10.000 đô la. Giấc mơ “Miami” tan thành mây khói. Các doanh nghiệp nhập khẩu (vốn là xương sống nền kinh tế như tao đã nói) phá sản hàng loạt vì không còn đôla giá rẻ nhập hàng làm hàng hóa trên thị trường khan hiếm, chênh lệch cung cầu khi người ta sẵn sàng trả nhiều tiền hơn để mua một món hàng “hiếm” làm lạm phát tăng phi mã.
Những kẻ nắm thông tin, đám Mantuano hiện đại và quan chức chính phủ, chúng nó đã biết trước con tàu sắp chìm. Trước khi lệnh phá giá được ban hành, chúng nó đã kịp tẩu tán hàng chục tỷ đô la ra nước ngoài. Đây được gọi là vụ “Chảy máu vốn vĩ đại”. Trong khi dân đen ngơ ngác nhìn đồng tiền trong túi bốc hơi, thì giới nhà giàu đã ung dung ngồi ở Florida uống rượu vang. Gánh nặng nợ nần quốc gia đổ ập lên đầu tầng lớp nghèo và trung lưu.
Cựu tổng thống Carlos Andrés Pérez (CAP) quay lại nắm quyền nhiệm kỳ 2. Dân bầu hắn vì nhớ lại thời hoàng kim thập niên 70, hy vọng sẽ mang thời kỳ “Venezuela Saudita” trở lại. Nhưng đời không như mơ. Kho bạc rỗng tuếch, CAP buộc phải quỳ gối trước Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) để xin vay tiền cứu trợ.
IMF đồng ý, nhưng kèm theo điều kiện “Thắt lưng buộc bụng” (The Great Turnaround): Phải cắt giảm trợ cấp, thả nổi giá xăng dầu và giá điện nước.
Ngày 27 tháng 2 năm 1989, giá xăng tăng, dẫn đến giá vé xe buýt tăng 30%. Sáng hôm đó, tại bến xe ở Guarenas (ngoại ô Caracas), những người lao động nghèo bị bỏ mặc suốt 30 năm không đủ tiền đi xe buýt đi làm đã nổi điên. Họ đốt xe buýt. Ngọn lửa bạo loạn lan nhanh vào thủ đô Caracas như cháy rừng. Hàng triệu người từ các khu ổ chuột Ranchos trên đồi tràn xuống trung tâm thành phố.
Nhưng lần này không phải biểu tình ôn hòa. Đó là một cuộc cướp phá hỗn loạn vì đói khát và hận thù. Họ đập phá siêu thị, cướp sạch thức ăn, ti vi, tủ lạnh. Họ tấn công các khu nhà giàu. Cả thành phố Caracas chìm trong khói lửa và tiếng súng.
Và nền "dân chủ" Punto Fijo đã phản ứng thế nào? Pérez ra lệnh cho quân đội, kích hoạt “Kế hoạch Avila” – điều quân đội chính quy với súng trường và xe bọc thép vào thành phố để bắn dân. Xác chết nằm la liệt trên vỉa hè. Số liệu chính thức nói có khoảng 300 người chết, nhưng các nguồn tin độc lập và các ngôi mộ tập thể được tìm thấy sau này cho thấy con số phải lên tới 2.000 - 3.000 người.
Chính tiếng súng của vụ Caracazo 1989 đã giết chết tính chính danh của Hiệp ước Punto Fijo. Trong số những người lính trẻ bị bắt phải cầm súng bắn vào đồng bào mình hôm đó, có một gã lính dù tên là Hugo Chávez. Hắn nhìn thấy sự thối nát tận cùng của chế độ: "Dân chủ gì mà lại bắn dân để bảo vệ lợi ích của IMF và bọn nhà giàu?". Từ khoảnh khắc đó, hạt giống của cuộc đảo chính và sự trỗi dậy của Chủ nghĩa Xã hội thế kỷ 21 đã được gieo xuống, chấm dứt kỷ nguyên chia chác của các đảng phái thân Mỹ.
Hugo Chávez là ai?
Nếu đem câu hỏi này ra với bất kỳ người Venezuela thì tao nói thật, nó không khác gì hỏi dân Mỹ về Abraham Lincoln cộng với Donald Trump rồi nhân đôi lên đâu.
Với một nửa đất nước, Chávez là Thánh sống, là Đấng Cứu Thế (El Comandante) tái sinh từ Simón Bolívar để cứu vớt người nghèo. Còn với nửa còn lại, lão là Con Quỷ, là kẻ hủy diệt nền dân chủ và kinh tế. Nhưng dù yêu hay ghét, không ai phủ nhận được rằng Chávez là một thiên tài chính trị kiệt xuất, một kẻ biết cách thao túng cảm xúc đám đông ở đẳng cấp thượng thừa.
Hugo Chávez sinh năm 1954 ở Sabaneta, một vùng quê nghèo rớt mồng tơi ở bang Barinas (vùng đồng bằng Llanos). Lúc nhỏ , Hugo và anh trai Adán được gửi đến sống với bà nội, bà Rosa Inés Chávez, trong một ngôi nhà nhỏ làm bằng đất sét và gạch nung (adobe) với mái lợp lá cọ. Khi còn bé, Chávez phải đi bán kẹo đu đủ (gọi là arañas) dạo ngoài đường để kiếm sống. Biệt danh thời thơ ấu của ông là “El Arañero” (Người bán kẹo nhện). Ông lớn lên trong cảnh không có điện hay nước máy ổn định. Giày dép và quần áo mới là những thứ xa xỉ chỉ dành cho những dịp đặc biệt.
Huyết quản chảy trong máu Hugo là dòng máu lai tạp (Zambo/Pardo) giữa người da đen và thổ dân da đỏ. Cái xuất thân “chân lấm tay bùn” và làn da ngăm đen tưởng chừng là bất lợi nhưng sau này trở thành thứ bệ phóng, làm tuyên ngôn chính trị mỗi lần bước lên bục phát biểu trước đám đông và bảo "Tao giống tụi bay, tao là một thằng bán kẹo, tao không phải bọn da trắng ở Caracas", dân nghèo trong các khu ổ chuột Ranchos tin lão sái cổ. Họ nhìn thấy chính mình trong hình ảnh của Chávez, hoàn tối đối lập với đám "Mantuano" da trắng thượng đẳng hay đám tướng lĩnh ăn chơi xa hoa đang nắm quyền cai trị Venezuela.
Với một thanh niên nghèo xuất thân từ nông thôn như Chávez thì chỉ có con đường binh nghiệp là lựa chọn duy nhất. Vào thời điểm đó, các trường đại học dân sự tại Venezuela dù có hệ thống công lập nhưng chi phí sinh hoạt tại các thành phố lớn như Caracas là quá đắt đỏ đối với một gia đình giáo viên nông thôn.
Trong khi Học viện quân sự (AMV) cung cấp giáo dục hoàn toàn miễn phí, bao gồm cả ăn ở, quân phục và sách vở. Học viên sĩ quan còn được nhận một khoản phụ cấp nhỏ hàng tháng, giúp họ không còn là gánh nặng tài chính cho gia đình, thậm chí có thể gửi một ít về quê.
Năm 1971 (đúng năm Chávez nhập ngũ), quân đội Venezuela thực hiện cuộc cải cách giáo dục mang tên Kế hoạch Andrés Bello. Các học viện quân sự được nâng cấp tương đương trình độ đại học. Học viên không chỉ học về chiến thuật mà còn học về khoa học chính trị, kinh tế, lịch sử và kỹ thuật. Điều này cho phép một thanh niên nghèo nhận được tấm bằng Cử nhân Khoa học và Nghệ thuật Quân sự - một học vị có giá trị cao trong xã hội lúc bấy giờ.
Tuy nhiên Chávez lại bắt đầu con đường binh nghiệp một cách rất … tào lao. Hugo vào học viện quân sự chỉ vì mê bóng chày. Ở Venezuela thập niên 70s-80s, bóng chày là môn thể thao vua. Quân đội sở hữu những đội bóng chày mạnh nhất và các huấn luyện viên chuyên nghiệp. Hugo Chávez mơ ước trở thành vận động viên ném bóng (pitcher) ở giải nhà nghề Mỹ (MLB). Việc vào quân đội ở Caracas với một cậu bé da ngăm từ vùng nông thôn giống như một tấm vé để được các tuyển trạch viên để mắt tới.
Môi trường hình thành tư tưởng Mác-xít
Dù trong thời buổi chiến tranh lạnh với tư tưởng chống cộng, sợ hãi đầu đạn hạt nhân của Liên Xô, Venezuela là một "ngoại lệ" kỳ lạ so với Chile của Pinochet hay Argentina của Videla – nơi mà cứ cầm cuốn sách bìa đỏ là bị trực thăng thả xuống biển. Chế độ Puntofijismo chỉ tiến hành càn quét quân du kích cộng sản FALN trong rừng và dãy núi nhưng ở thành phố và trường đại học, tư tưởng cánh tả vẫn sống khỏe, thậm chí cực thịnh.
Trong khi Hugo vào quân đội để chơi bóng chày, thì anh trai Adán Chávez vào Đại học Andes (ULA) ở Mérida. Các trường đại học ở Mỹ Latin thời điểm này như hang ổ của chủ nghĩa Marx và phong trào cánh tả chống đối ách cai trị của chế độ Puntofijismo. Những sinh viên và giáo sư thảo luận về Cuba, Che Guevara, Fidel Casto, Liên Xôm Trung Quốc vô cùng sôi nổi. Adán tham gia phong trào cánh tả ngầm (PRV - Đảng Cách mạng Venezuela) và mang những cuốn sách cấm, những tờ rơi về nhà. Mỗi khi Hugo về thăm nhà, Adán lại dúi cho em trai những cuốn sách về chủ nghĩa xã hội, về Che, và rủ rỉ vào tai em về sự bất công xã hội. Chính Adán là cầu nối đưa Hugo đi gặp các trùm du kích sau này.
Ngoài ra còn một nhân vật mà ít người nhắc đến nhưng ảnh hưởng cực lớn đến tư duy lịch sử của Chávez: José Esteban Ruiz Guevara - nhà sử học địa phương Barinas, quê nhà Chávez. José vốn công khai là người cộng sản nhưng vì già cả lớn tuổi nên chính quyền không thèm bắt. Hồi trẻ, Chávez hay lui tới thư viện của lão già này. Chính Guevara đã dạy cho Chávez một phiên bản lịch sử khác về Simón Bolívar và Ezequiel Zamora.
Trong sách giáo khoa của nhà nước, Bolívar là một bức tượng đồng vô hại. Nhưng qua lời kể của Guevara, Bolívar là một nhà cách mạng chống đế quốc, và Zamora (tướng lãnh đạo cuộc Chiến tranh Liên bang mà tao kể ở phần trước) không phải là kẻ giết người man rợ, mà là người anh hùng đòi đất cho dân cày. Chávez nuốt trọn cái tư duy này: Hắn không nhìn mình là người Cộng sản theo kiểu Nga, mà là người kế thừa ngọn đuốc của Bolívar và Zamora. Cách tiếp cận "dân tộc chủ nghĩa" này giúp Chávez an toàn trong môi trường quân đội bảo thủ.
Có điều chính môi trường quân đội Venezuela nghiêm khắc, kỷ luật với tinh thần chống cộng điên rồ lại vô tình mở ra môi trường cánh tả bởi "Kế hoạch Andrés Bello" (Plan Andrés Bello) ảnh hưởng tới tư tưởng Chávez.
Vào thập niên 70, quân đội Venezuela nhận ra rằng muốn đánh bại du kích quân cánh tả, sĩ quan không thể chỉ biết bắn súng. Họ cần phải hiểu xã hội, hiểu kinh tế, hiểu tại sao dân lại nghèo (để ngăn dân theo cộng sản). Học viện Quân sự Venezuela cải cách giáo trình, đưa các môn Xã hội học, Khoa học Chính trị vào giảng dạy ở cấp đại học.
Họ thậm chí còn gửi các sĩ quan trẻ (như Chávez) đi học ké tại các trường đại học dân sự. Đây là "lỗi hệ thống" chết người. Thay vì đào tạo ra những sĩ quan biết cách chống cộng, họ lại thả những sĩ quan trẻ có xuất thân nghèo khó vào môi trường đại học đầy rẫy tư tưởng cánh tả. Chávez và đồng đội (như Arias Cárdenas) được tiếp cận các tài liệu phân tích về nghèo đói, tham nhũng, và lệ thuộc vào Mỹ dưới góc nhìn học thuật. Họ nhận ra: "Ủa, tụi du kích nói đúng mà? Đất nước này đang bị bọn elite bán rẻ thật mà?". Ghay vì ghét du kích, họ quay sang đồng cảm với giặc.
Vào khoảng năm 1980-1981, thông qua ông anh Adán, Hugo Chávez (lúc này đã là Trưởng khoa Giáo dục Thể chất tại Học viện Quân sự) đã bí mật gặp Douglas Bravo – lãnh tụ của lực lượng du kích Fuerzas Armadas de Liberación Nacional (FALN) đang bị truy nã gắt gao. Cuộc gặp diễn ra trong bí mật. Bravo đã khai sáng cho Chávez một chiến lược quan trọng: Du kích cầm súng trong rừng không bao giờ thắng được, muốn thắng phải xâm nhập vào quân đội chính quy (Infiltration). Chávez nghe theo và bắt đầu xây dựng phong trào MBR-200 ngay trong lòng quân đội, dưới vỏ bọc là các nhóm nghiên cứu lịch sử Bolívar.
Phong trào MBR-200
Phong trào MBR-200 (Phong trào Cách mạng Bolívar 200) ban đầu chỉ là một nhóm "mọt sách" gồm 4-5 viên sĩ quan trẻ rủ nhau đi uống cà phê chửi chế độ nhưng sự thiên tài của Chávez đã biến một nhóm bạn nhậu thành “hội kín” với kỷ luật thép và một lớp vỏ bọc hoàn hảo đến mức tình báo quân đội dù nghi ngờ cũng không dám sờ gáy.
Cái tên 200 không phải nhằm chỉ ra cái hội có 200 thành viên đâu. Số 200 ở đây nhằm kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Simón Bolívar (1783-1983). Ở đất nước Venezuela, Bolívar được coi như vị thánh cứu rỗi đến mức quân đội còn tự gọi mình là "Quân đội của Người giải phóng". Thế nên, khi Chávez lập ra nhóm này dưới danh nghĩa "nghiên cứu tư tưởng Bolívar để kỷ niệm ngày sinh của Người", thì đố thằng tướng nào dám cấm? Cấm chúng nó tức là cấm yêu nước, là xúc phạm Quốc phụ à?
Dưới vỏ bọc "Câu lạc bộ Lịch sử", Chávez và đồng bọn tha hồ họp hành, in ấn tài liệu, truyền bá tư tưởng lật đổ mà cấp trên cứ tưởng chúng nó đang làm bài tập chính trị.
Ngày 17 tháng 12 năm 1982 (đúng ngày giỗ Bolívar), Chávez rủ 3 người bạn thân nhất (trong đó có Felipe Acosta Carlez và Jesús Urdaneta) chạy bộ đến một cái cây cổ thụ khổng lồ tên là Samán de Güere ở bang Aragua. Tương truyền ngày xưa Bolívar đã từng cắm trại dưới gốc cây này. Tại đây, Chávez bắt chước đúng cái nghi thức mà Bolívar từng làm ở Rome năm 1805: Quỳ xuống, lặp lại lời thề sẽ không để cho cánh tay nghỉ ngơi, linh hồn yên nghỉ cho đến khi phá tan xiềng xích của kẻ thù.
Hành động này nghe thì sến súa, nhưng với đám lính trẻ đầy nhiệt huyết, nó thiêng liêng kinh khủng. Nó trói buộc họ vào một sứ mệnh lịch sử, khiến họ cảm thấy mình không phải là kẻ phản loạn, mà là những hiệp sĩ đang cứu quốc
Để chiêu mộ thêm thành viên mới, Chávez không thèm dụ dỗ bọn Tướng (Generals) bụng phệ, vì bọn đó ăn no ngủ kỹ rồi. Cũng không nhắm vào bọn lính nghĩa vụ (binh nhì) vì bọn đó ra quân sớm. Ông ta tập trung vào nhóm sĩ quan trung gian, viết tắt là COMACATE (gồm Comandantes - Trung tá, Mayores - Thiếu tá, Capitanes - Đại úy, Tenientes - Trung úy) - nhóm trực tiếp chỉ huy binh lính, nắm thực quyền súng đạn trong tay.
Đám này “bị kẹt” ở giữa trong xã hội Venezuela: đủ học thức để thấy đất nước đang nát, nhưng lương bổng thì thấp, đời sống thì khó khăn. Họ nhìn thấy bọn tướng lĩnh bên trên buôn lậu, ăn tiệc rượu whisky, trong khi lính của họ ở dưới thì đi giày rách, gia đình chết đói. Chávez khơi dậy cái "lương tri giai cấp" này: "Tại sao chúng ta phải bảo vệ bọn tướng cướp đó? Quân đội phải bảo vệ dân chứ!". Nhờ vậy tư tưởng MBR-200 lan ra khắp các trại lính thông qua mạng lưới các sĩ quan chỉ huy trực tiếp này.
Chávez biết nếu nói toạc ra là "Chủ nghĩa Cộng sản" hay "Marx-Lenin" thì đám sĩ quan sẽ chạy mất dép vì sợ (quân đội vẫn được dạy chống cộng mà). Nên lão chế ra một hệ tư tưởng "made in Venezuela" cực kỳ dễ nuốt, gọi là "Cây Ba Rễ" (El Árbol de las Tres Raíces) gồm:
Simón Bolívar: Tượng trưng cho Độc lập và Hội nhập Mỹ Latinh.
Simón Rodríguez (Thầy của Bolívar): Tượng trưng cho Giáo dục và xã hội học (ông này nổi tiếng lập dị và cấp tiến).
Ezequiel Zamora (Tướng của dân nghèo): Tượng trưng cho Cải cách ruộng đất và công bằng xã hội (Đất cho dân cày).
Không hề có chữ Marxist nào. Nhưng nội dung bên trong thì sặc mùi cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách “bình mới rượu cũ” này giúp Chávez tập hợp được cả những người lính cánh hữu yêu nước lẫn những người cánh tả ngầm. Đám tình báo quân đội khi ngửi mùi khét đã bắt Chávez lên thẩm vấn, thậm chí tìm thấy tài liệu MBR-200 trong cặp. Nhưng thay vì đuổi cổ Chávez ra khỏi quân đội hay tống giam, bọn tướng lĩnh lại xử lý cực kỳ cồng kềnh: chúng nó thuyên chuyển công tác Chávez đi chỗ khác, đến các vùng hẻo lánh như Elorza - một thị trấn hẻo lánh ở bang Apure, sát biên giới Colombia).
Chúng nó nghĩ đẩy hắn ta ra khỏi thủ đô kiểu: "Cho mày ra chỗ khỉ ho cò gáy này để mày hết đường tuyên truyền, hết bạn bè đàn đúm". Thế tửng chừng là xong.
Ai ngờ, đó là thả hổ về rừng. Chávez đến vùng biên giới, lại tiếp tục tuyên truyền và gầy dựng mạng lưới ở đó tự biến mình thành một “Vua con” (Caudillo địa phương).
Không chỉ làm chỉ huy quân sự mà đi hòa giải tranh chấp đất đai cho dân.
Tổ chức các lễ hội văn hóa, tôn vinh truyền thống người chăn bò (Llaneros).
Làm quen với các nhà sử học, các nhà hoạt động xã hội ở đó.
Chávez còn dùng thời gian rảnh để kết thân với các bộ lạc thổ dân, tìm hiểu địa hình, và thậm chí (như tao đã nói) móc nối với du kích. Chávez trở nên cực kỳ nổi tiếng và được yêu mến tại vùng này. Tiếng lành đồn xa, các báo cáo tình báo gửi về Caracas lại càng đáng báo động hơn:
“Sếp ơi, thằng này ra biên giới không những không chìm nghỉm mà nó còn đang xây dựng đế chế riêng. Dân ở đó nghe lời nó hơn nghe lời Thống đốc”.
Thay vì dập tắt ngọn lửa, bọn tướng lĩnh đã vô tình giúp Chávez rải tro than ra khắp cả nước.
Thấy chiến thuật “đày đi xa” phản tác dụng, Bộ Quốc phòng Venezuela quyết định đổi bài. Họ nghĩ:
“Thôi, mang nó về thủ đô Caracas, cho nó ngồi bàn giấy ngay dưới mũi mình để dễ bề kiểm soát. Đừng cho nó cầm quân ở xa nữa”.
Năm 1988, Thiếu tá Hugo Chávez được lệnh điều chuyển về thủ đô Caracas. Nhưng để giữ thể diện (và cũng vì quy trình quân đội), họ không thể nhốt vào tù (vì chưa có bằng chứng phản loạn cụ thể. Họ bổ nhiệm Chávez vào một vị trí nghe thì oai nhưng thực chất là "ngồi chơi xơi nước": Làm việc tại Hội đồng An ninh và Quốc phòng Quốc gia (Consejo Nacional de Seguridad y Defensa), văn phòng đặt ngay tại... Dinh Miraflores (Dinh Tổng thống).
Thật trớ trêu, muốn vô hiệu hóa mà lại đẩy hắn ta vào ngay trung tâm đầu não quyền lực cho cơ hội tiếp cận hồ sơ mật, quan sát cách vận hành của chính phủ, và nhìn thấy tận mắt sự thối nát, tiệc tùng xa hoa của đám chính trị gia ngay trong Dinh Tổng thống. Vì về lại Caracas, Chávez dễ dàng kết nối lại với các đồng chí MBR-200 cũ (đang rải rác ở các trường quân sự và đơn vị quanh thủ đô) thậm chí còn đi học thêm khóa Thạc sĩ Chính trị tại Đại học Simón Bolívar (theo diện sĩ quan đi học), tha hồ dung nạp thêm lý luận.
Vụ đảo chính “hụt” 1992
Vụ thảm sát Caracazo vào tháng 2/1989 diễn ra đúng lúc Chávez đang đóng quân ngay tại thủ đô Caracas.
Trên lý thuyết, với cấp bậc Thiếu tá, hắn sẽ phải dẫn lính ra đường để dẹp loạn theo lệnh của Tổng thống Carlos Andrés Pérez (CAP). Nhưng “ông bà độ” thế nào mà đúng mấy ngày trước đó dính bệnh thủy đậu (một số nguồn nói là bệnh sởi hoặc sốt virus nặng).
Một thằng lính máu nóng, đang chứng kiến quân đội của mình – cái lực lượng mà mình thề sẽ dùng để bảo vệ dân – lại đang được điều động để chở đạn dược, xăng dầu đi tàn sát dân nghèo ngay bên ngoài cửa sổ.
Chávez kể lại rằng mình nhìn thấy những chiếc xe tải quân sự chở đầy lính đi ra từ doanh trại, và khi quay về thì xe trống rỗng nhưng nòng súng đen ngòm khói. Hắn nghe tiếng súng nổ, tiếng la hét từ các khu ổ chuột Ranchos vọng xuống. Cơn sốt thủy đậu cộng với cơn sốt giận dữ đã khiến lão gần như phát điên. Hắn đấm tay vào tường thề rằng: “Không bao giờ nữa! Phải hành động ngay!”.
Chính cái sự kiện Caracazo là giọt nước tràn ly, biến MBR-200 từ một nhóm thảo luận chính trị thành một bộ máy lên kế hoạch đảo chính thực sự. Chávez nhận ra: Nếu không lật đổ chính quyền này, quân đội sẽ mãi mãi là con chó giữ nhà vấy máu dân thường.
Thời cơ đã chín muồi. Cái chính quyền này đã mất hết tính chính danh (legitimacy), chỉ cần một cú hích là sụp đổ. Cú hích đấy là Chiến dịch Zamora (Operación Zamora) thất bại thảm hại về mặt quân sự nhưng lại thành công rực rỡ về tuyên truyền chính trị.
Ban đầu MBR-200 chỉ có vài mống bạn thân. Nhưng đến năm 1991-1992, để chuẩn bị cho chiến dịch Zamora, Chávez đã mở rộng mạng lưới ra khủng khiếp.
Tuyển mộ hàng trăm sĩ quan COMACATE
Móc nối với các nhóm dân sự như nhóm cánh tả Causa R, cựu du kích
Huy động 5 tiểu đoàn dù và xe tăng, chẳng gì “lạy ông tôi ở bụi này”.
Giải thích kiểu gì cho đám tình báo quân đội (DIM) với 2.000 người lính chuẩn bị súng đạn, lau chùi xe tăng, tích trữ lương thực mà không ai nhìn thấy gì. Trong các quán rượu sĩ quan (Officer Clubs), khi say bét nhè rồi rượu vào lời ra, mấy ông Trung úy, Đại úy trẻ tuổi say sưa chém gió về "ngày phán xét", về việc "sắp dọn dẹp bọn tham nhũng". Tai mắt của DIM cài trong các quán rượu này nghe không sót một từ.
Vào cuối năm 1991, một sĩ quan trong nhóm MBR-200 đã bất cẩn để quên (hoặc làm rơi) một cái cặp táp trên xe buýt (hoặc xe quân sự). Khi DIM tìm thấy cái cặp này, họ toát mồ hôi hột. Bên trong chứa đầy tài liệu nhạy cảm:
Danh sách mật danh các sĩ quan tham gia.
Bản đồ phác thảo kế hoạch tấn công Dinh Miraflores.
Các bản nháp tuyên ngôn chính trị.
Dựa vào những bằng chứng thép này, DIM đã bắt đầu theo dõi sát sao Chávez. Họ thậm chí đã gọi Chávez lên thẩm vấn. Nhưng Chávez chối bay chối biến, bảo là "tài liệu nghiên cứu giả định". Do không muốn làm rùm beng (sợ bứt dây động rừng), cấp trên lại thả về nhưng ngầm đặt vào tầm theo dói sát sao
Tin đồn đảo chính đã râm ran. Cứ vài tháng lại có tin đồn: "Tuần sau đảo chính đấy". Nhưng tuần sau chả có gì xảy ra. Báo cáo của DIM gửi lên bàn Tổng thống dày cộp.
Thậm chí Đại sứ quán Mỹ cũng cảnh báo Tổng thống Carlos Andrés Pérez (CAP) rằng: “Thưa ngài tổng thống, CIA của chúng tôi nghe thấy tiếng mài dao trong quân đội để hất cẳng cái ghế của ông”. CAP với với sự ngạo mạn của một con cáo già chính trị đã gạt phăng những lời cảnh báo đi. Hắn một mực tin rằng: mình vừa tăng lương cho quân đội, mua vũ khí mới để tha hồ đục khoét tham nhũng lẽ nào chúng lại phản bội ngay lúc này? Lão nghĩ tin đồn chỉ là do phe đối lập tung ra để làm lung lay thị trường chứng khoán. Hắn bị "nhờn thuốc" với các tin đồn, đến mức khi tin thật đến, lão vẫn tưởng là tin giả.
Ban đầu kế hoạch không phải ngày 4/2, Chávez buộc phải đánh sớm vì có kẻ phản bội. Một trong những sĩ quan cấp cao được Chávez móc nối đã “quay xe” vào phút chót và báo cáo toàn bộ ngày giờ cụ thể cho DIM. Biết tin mình bị lộ, Chávez rơi vào thế “trên lưng cọp”. Nếu ngồi im thì sáng mai quân cảnh sẽ đến còng tay cả lũ. Thế là lão ra lệnh:
“Đánh ngay đêm nay! Đánh úp khi chúng nó chưa kịp phản ứng!”.
Kế hoạch của Chávez rất táo bạo: Không chỉ đánh Caracas, mà đồng loạt nổi dậy ở 4 thành phố lớn nhất Venezuela (Caracas, Maracaibo, Valencia, Maracay) để làm tê liệt hoàn toàn chính phủ.
Mục tiêu tối thượng: Chiếm Dinh Miraflores, bắt sống Tổng thống Carlos Andrés Pérez (CAP), chiếm đài truyền hình để phát đi thông điệp thành lập chính phủ mới.
Thời điểm: Đêm mùng 3, rạng sáng mùng 4 tháng 2 năm 1992.
Tổng tổng thống CAP vừa đi dự diễn đàn kinh tế ở Thụy Sĩ về thì nhận được lời cảnh báo khẩn cấp. CAP thay vì về Dinh ngủ như mọi khi, lão đã cảnh giác cao độ.
Tướng Ochoa Antich - người đứng đầu quân đội ra đón và trấn an: "Thưa Tổng thống, mọi thứ bình thường. Chỉ là mấy tin đồn nhảm thôi. Ngài cứ về Dinh ngủ ngon". Nhiều nhà sử học nghi ngờ rằng Ochoa Antich hoặc là bất tài vô dụng, hoặc là kẻ hai mặt (chờ xem phe nào thắng thì theo phe đó). Chính sự chần chừ và thông tin sai lệch của ông ta đã giúp Chávez có khoảng thời gian vàng để triển khai quân vào thủ đô mà không vấp phải sự kháng cự ngay từ cửa ngõ.
Chávez (mật danh Comandante Chávez) chỉ huy mũi nhọn tấn công Caracas. Ông thiết lập Bộ chỉ huy tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự (Museo Histórico Militar) nằm trên đồi La Planicie. Vị trí này cực đẹp về mặt chiến lược: Từ đây có thể nhìn bao quát xuống Dinh Miraflores ở ngay bên dưới.
Chávez chọn cái Bảo tàng làm trụ sở vì nó có tính biểu tượng lịch sử và tầm nhìn đẹp nhưng lại quên mất rằng : Nó là một cái bẫy. Khi quân chính phủ phản công, họ chỉ cần bao vây chân đồi là Chávez và đám lính dù bị nhốt chặt ở trên đó, không có đường lui, cũng không có đường tiếp viện. Hệ thống liên lạc của Chávez bị hỏng (hoặc bị phá sóng), lão không thể chỉ đạo được các cánh quân khác đang chiếm đài truyền hình hay sân bay.
Đơn vị xe tăng được giao nhiệm vụ húc đổ cổng Dinh Miraflores lại bị lạc đường và đến chậm. Yếu tố bất ngờ mất sạch. Khi xe tăng ầm ầm lao đến, lính bảo vệ Dinh (trung thành với CAP) đã kịp bố trí hỏa lực bắn trả dữ dội.
Khi lính dù của Chávez bắt đầu nã đạn vào Dinh, CAP đã nhanh như chớp chui xuống đường hầm bí mật và thoát ra ngoài, chạy thẳng đến đài truyền hình Venevisión (của ông trùm Cisneros – người mà lúc đó vẫn ủng hộ phe chính phủ). Tại đây, CAP lên sóng trực tiếp, tuyên bố với toàn dân là "đang có đảo chính nhưng chính phủ vẫn kiểm soát tình hình". Một khi Tổng thống còn sống và còn lên tivi, phe đảo chính coi như mất tính chính danh.
Trong khi đó, ở các thành phố khác như Maracaibo và Valencia, đồng đội của hắn (như Arias Cárdenas) thực ra đã thành công. Họ bắt giữ được thống đốc, chiếm được căn cứ. Nhưng đầu não ở Caracas thì bị tê liệt. Một con rắn bị chặt đầu thì cái đuôi dù có quẫy mạnh đến đâu cũng chết.
Sáng ngày 4 tháng 2, nhận thấy tình hình vô vọng, bị bao vây tứ phía, đạn dược cạn kiệt, và quan trọng nhất là không bắt được CAP, Chávez quyết định đầu hàng để tránh đổ máu vô ích cho lính của mình.
Khi Chávez bị bắt, đám tướng lĩnh của CAP muốn làm nhục ông ta. Chúng bắt hắn mặc nguyên bộ đồ lính dù, đội mũ nồi đỏ (boina roja), giải đi trước ống kính truyền hình để tuyên bố đầu hàng, nhằm cho dân chúng thấy: "Đây, thằng cầm đầu thảm hại của chúng mày đây".
Nhưng chúng đã trao cho Chávez vũ khí mạnh nhất: Microphone.
Trong 72 giây xuất hiện trên màn hình, với bộ quân phục lính dù, chiếc mũ nồi đỏ (Red Beret) đội lệch đầy phong trần, Chávez không hề tỏ ra sợ hãi hay hối lỗi. Hắn nhìn thẳng vào ống kính và nói;
“Trước hết, tôi muốn gửi lời chào buổi sáng tới toàn thể nhân dân Venezuela, và thông điệp Bolívar này được gửi trực tiếp tới những người lính dũng cảm đang ở tại Trung đoàn Lính dù Aragua và Lữ đoàn Thiết giáp Valencia.
Các đồng chí! Thật không may, vào lúc này (por ahora), các mục tiêu mà chúng ta đặt ra đã không đạt được tại thủ đô. Nghĩa là, chúng tôi, ở đây tại Caracas, đã không nắm được quyền kiểm soát. Các bạn đã làm rất tốt ở đó, nhưng đã đến lúc phải tránh đổ máu thêm nữa. Đã đến lúc phải suy ngẫm. Những cơ hội mới sẽ đến và đất nước này nhất định phải hướng tới một vận mệnh tốt đẹp hơn.
Vì vậy, hãy nghe lời tôi. Hãy nghe lệnh Trung tá Chávez, người đang gửi thông điệp này tới các bạn để yêu cầu các bạn suy nghĩ lại và hạ vũ khí xuống, bởi vì thực sự, các mục tiêu mà chúng ta vạch ra ở cấp độ quốc gia hiện tại là bất khả thi.
Các đồng chí! Hãy nghe thông điệp đoàn kết này. Tôi cảm ơn lòng trung thành của các bạn, tôi cảm ơn sự dũng cảm của các bạn, sự hy sinh của các bạn, và tôi, trước đất nước và trước các bạn, tôi xin nhận hoàn toàn trách nhiệm về phong trào quân sự Bolívar này. Xin cảm ơn.”
Suốt 40 năm lịch sử dân chủ giả hiệu của Venezuela trước đó, dân chúng chưa bao giờ nghe thấy một chính trị gia hay một vị tướng nào dám đứng ra nói câu: "Tôi xin nhận trách nhiệm" (Asumo la responsabilidad). Khi kinh tế sụp đổ, Tổng thống đổ lỗi cho giá dầu. Khi dân đói, họ đổ lỗi cho IMF. Khi thất bại, họ đổ lỗi cho cấp dưới.
Nhưng Chávez thì khác. Giữa lúc súng đạn vừa dứt, đang bị còng tay, hắn đứng thẳng lưng, nhìn vào ống kính và nhận hết tội về mình để bảo vệ lính dưới quyền. Hành động quân tử tàu này đã chạm đúng vào "điểm G" của tâm lý dân chúng lúc đó. Họ thốt lên: "Đây rồi! Đây mới là thằng đàn ông dám làm dám chịu mà chúng ta cần!". Hắn đã tách mình ra khỏi đám chính trị gia hèn nhát chỉ bằng một câu nói.
Nếu hắn nói “Chúng ta đã thất bại”, thì câu chuyện chấm hết. Hắn sẽ là một kẻ thua cuộc vĩnh viễn. Nhưng ông ta thêm hai chữ “Por Ahora” vào trở thành cái bẫy ngôn ngữ thiên tài. Nó ngụ ý rằng: “Hôm nay tao thua vì thời thế chưa đến, chứ không phải vì lý tưởng của tao sai”. Nó gieo vào đầu người dân một sự chờ đợi, một lời hứa hẹn về phần tiếp theo của bộ phim hành động này. Nó biến sự thất bại quân sự thành một “bước lùi chiến thuật”. Dân nghèo nghe xong câu đó, họ không thấy tuyệt vọng, họ thấy hy vọng. Họ bắt đầu rỉ tai nhau: “Đợi đấy, Chávez sẽ quay lại”.
Trong khi Tổng thống Carlos Andrés Pérez xuất hiện trên tivi với bộ dạng hoảng hốt, già nua, nói năng lắp bắp, thì Chávez xuất hiện với bộ quân phục lính dù chỉnh tề, cái mũ nồi đỏ đội lệch cực ngầu, gương mặt bình thản và giọng nói trầm ấm, dứt khoát. Hình ảnh đó đối lập hoàn toàn với sự thối nát của chế độ cũ. Đám thanh niên, phụ nữ, người nghèo nhìn Chávez như một ngôi sao điện ảnh, một biểu tượng tình dục chính trị (political sex symbol) mới. Cái mũ nồi đỏ (boina roja) từ đó trở thành vật bất ly thân của những người ủng hộ Chávez (Chavistas).
Chávez sau đó đi tù ở trại giam Yare nhưng sự sùng bái của những người dân bình thường biến trại giam thành thánh địa hành hương. Người dân lũ lượt kéo đến thăm, viết thư, tôn vinh như thánh sống. Trong khoảng thời gian Chávez ngồi tù đọc sách và viết cương lĩnh chính thì ở bên ngoài chế độ của Carlos Andrés Pérez tự sụp đổ vì tham nhũng và bị phế truất năm 1993.
Trở lại chính trường
Ngày 4/2/1992 khi tiếng súng đảo chính vừa dứt, nòng súng chưa nguội lạnh; cả quốc hội đang run rẩy lên án hành động của Chávez. Rafael Calder - cha đẻ của của Hiệp ước Punto Fijo 1958 - đang làm Thượng nghị sĩ trọn đời đã đứng lên làm bài phát biểu chấn động dư luận. Thay vì hùa theo số đông trong nghị viện lên án việc Chávez đảo chính thì ông ta quay sang chửi …. chính phủ đương nhiệm và bênh vực phe đảo chính, trong bài diễn văn có một câu xanh rờn gãi đúng chỗ ngứa người dân:
“Khó mà đòi hỏi nhân dân hy sinh cho tự do và dân chủ khi họ nghĩ rằng tự do và dân chủ chẳng hề mang lại cơm ăn áo mặc cho họ”.
Dân chúng vỗ tay ầm ầm biến Caldera từ một lão già hết thời trở thành "Người thấu hiểu nỗi đau dân tộc". Nhận ra cái tên Hugo Chávez là một mỏ vàng để khai thác phiếu bầu, Caldera quyết định cưỡi lên ngọn sóng đó để đắc cử Tổng thống lần thứ 2 vào năm 1993 (lần đầu là 1969-1974) nhờ chính lá phiếu của những người ủng hộ đảo chính.
Khi đang làm tổng thống, Caldera phải đối mặt với một Chávez vẫn tiếp tục ngồi trong trại giam mà vẫn nổi tiếng như thánh trong lòng người dân lao động và giới sĩ quan, binh lính cấp thấp trong quân đội. Bộ sậu tham mưu của Caldera đưa ra một chiến lược mà họ cho là thông minh:
Nếu để nó trong tù: Nó sẽ mãi là huyền thoại, là thánh tử đạo. Dân sẽ càng thần thánh hóa nó.
Nếu thả nó ra: Nó sẽ phải đối mặt với thực tế trần trụi. Nó không có tiền, không có đảng phái, không có kinh nghiệm quản lý. Nó sẽ nói năng lảm nhảm, sẽ mắc sai lầm, và dân chúng sẽ thấy: “À, hóa ra thằng này cũng chỉ là một gã lính thô kệch, bất tài”.
Caldera tin rằng với bản lĩnh chính trị 50 năm của mình, lão già 78 tuổi sẽ dư sức biến Chávez thành một con cừu ngoan ngoãn trong cái chuồng dân chủ mà lão xây dựng. Lão nghĩ:
“Thả nó ra, cho nó lập đảng, rồi nó sẽ chìm nghỉm trong các cuộc tranh luận ở Quốc hội thôi”.
Trong con mắt của một Tiến sĩ Luật, học giả uyên bác như Caldera; một thằng bán kẹo dạo, con nhà nghèo, học trường lính chẳng đáng nhìn bằng nửa con mắt. Caldera không tin rằng một kẻ “ít học” như thế có thể đe dọa được hệ thống chính trị tinh vi của giới tinh hoa Venezuela. Khi ký lệnh ân xá (Indulto) năm 1994, Caldera thậm chí còn không thèm tước quân tịch hay cấm Chávez tham gia chính trị (một sai lầm chết người). Một sự tự tin thái quá lặp đi lặp lại giống y hệt cách Trump chiến thắng năm 2016 lẫn năm nhiệm kỳ 2 năm 2024.
Chávez ra khỏi nhà tù Yare (ngày 26/3/1994) với cái mác “anh hùng dân nghèo” nhưng trong túi rỗng tuếch và kinh nghiệm chính trị bằng không. Người đã cầm tay chỉ việc, dắt Chávez đi vào các salon của giới thượng lưu, dạy cách mặc vest, cách nói chuyện bớt mùi thuốc súng chính là Luis Miquilena - một con cáo già của phe cánh tả, chính trị gia lão luyện từng lăn lộn trên chính trường Venezuela cả nửa thế kỷ. Miquilena nhìn thấy ở Chávez một “ngôi sao sáng” (hoặc một con cờ ngon ăn) để lật đổ hai đảng phái truyền thống AD và COPEI.
Chính Miquilena là người kết nối Chávez với các nguồn tài trợ ngầm và giới trí thức bất mãn, biến một phong trào quân sự (MBR-200) thành một đảng chính trị hợp pháp (MVR - Phong trào Đệ ngũ Cộng hòa). Nếu không có bộ não sạn sỏi của Miquilena, Chávez mãi chỉ là gã lính già hay hô khẩu hiệu.
Điều nghịch lý là chính đám nhà giàu đã đưa Chavez đưa lên vũ đài chính trị. Lúc đó, giới trùm sò truyền thông (đứng đầu là gia tộc Cisneros – chủ kênh Venevisión, và gia tộc Boulton) đang cực kỳ ghét ông Tổng thống đương nhiệm Rafael Caldera và hai đảng phái cũ vì tham nhũng và quản lý kinh tế kém. Chúng nhìn Chávez và nghĩ:
“Thằng cha này nhìn quê mùa, to mồm nhưng chắc đầu óc đơn giản. Mình có thể dùng nó như một ‘thằng ngốc hữu dụng’ (useful idiot) để đập nát bọn đảng phái cũ, rồi sau đó mình sẽ giật dây điều khiển nó”.
Nhờ thế lực của các ông trùm truyền thông giật dây, các kênh truyền hình tư nhân, thay vì dìm hàng Chávez, lại mời hắn lên sóng liên tục để diễn thuyết, chửi bới chính phủ.
Thậm chí Gustavo Cisneros – tỷ phú giàu nhất Venezuela – còn từng mời Chávez đến dinh thự riêng để đàm đạo. Họ đã mắc sai lầm thế kỷ: nghĩ họ đang nuôi một con chó giữ nhà, ai ngờ nuôi phải một con hổ đói. Khi Chávez lên nắm quyền, việc đầu tiên lão làm sau này là quay lại cắn nát chính cái đám truyền thông đã nâng đỡ mình
Giới quân đội khi nhìn thấy cái tên Chávez ngày một nổi tiếng lại càng chia rẽ theo mâu thuẫn giai cấp vốn đã tồn tại từ lâu. Với đám tướng lĩnh chóp bu lúc nào cũng ăn chơi tiệc tùng xa hoa, đánh golf cùng giới thượng lưu thì ghét Chávez như chó với mèo vì lão là thằng đảo chính.
Nhưng cái đám sĩ quan cấp trung (Trung tá, Thiếu tá - gọi là thế hệ Comacates) và binh lính cấp thấp thì coi Chávez là đại ca. Bọn họ chán ngấy cảnh phải đi làm bảo vệ cho bọn chính trị gia tham nhũng, và họ vẫn còn ám ảnh tội lỗi vì vụ thảm sát Caracazo (phải bắn dân nghèo). Chávez nắm được cái “hồn” của quân đội, tức là đám lính cầm súng trực tiếp, nên đám tướng lĩnh chóp bu dù ghét cũng không dám làm gì mạnh tay.
Còn giáo hội Công giáo mặc dù các hồng y liên tục cảnh báo về mối nguy hiểm cộng sản tiềm tàng của Chávez, nhưng dân nghèo đang đói rã họng thì họ nghe lời thằng hứa cho bánh mì hơn là nghe lời cha xứ hứa về nước thiên đàng. Sự mất kết nối giữa Giáo hội giàu có và con chiên nghèo khổ đã khiến lời răn đe của họ trở nên vô nghĩa.
Vậy là tam giác quyền lực “Quân đội - Giới tài phiệt - Giáo hội” của mọi thằng độc tài Mỹ Latin đã đổ, hầu như không còn gì có thể ngăn cản được Chávez tiến đến vị trí quyền lực cao nhất. Chỉ còn một con domino cuối cùng cần đổ: Chiến thắng bầu cử.
"Đi vào những hầm mộ của nhân dân" (Las catacumbas del pueblo).
Sau khi tuyên bố trước báo giới: Tôi sẽ đi đến những hầm mộ của nhân dân (las catacumbas del pueblo)”, Chavez liền bắt đầu một hành trình không ngừng nghỉ kéo dài 4 năm, gọi là chiến dịch "La Yaba”.
Ông leo lên một chiếc xe tải Ford cũ nát cùng với vài tên cận vệ trung thành đi đến từng ngôi làng hẻo lánh, xa xôi nhất bị bỏ rơi bên lề sự giàu có của Caracas. Những khu ổ chuột bẩn thỉu nhất, những ngôi làng hẻo lánh nhất ở vùng đồng bằng Llanos, những khu rừng rậm ở Amazon mà đám chính trị gia như Caldera cả đời không bao giờ đặt chân tới nhưng đều để lại dấu ấn của Chávez. Đi đến đâu Chávez cũng sẵn sàng ngồi xuống đất ăn bánh ngô (arepa) với bà con nông dân, lắng nghe họ chửi bới chế độ. Nó tạo ra sự đối lập hoàn toàn Caldera ngồi ở Dinh Miraflores bàn chuyện vĩ mô với IMF.
Chávez không tham gia vào cái "trò chơi nghị trường" mà Caldera giăng bẫy. Hắn kêu gọi tẩy chay các cuộc bầu cử địa phương. Chávez bảo dân:
"Đừng bầu cho bọn thị trưởng, nghị sĩ làm gì. Cái hệ thống này thối rồi, không sửa được đâu. Chúng ta phải đập đi xây lại bằng một Hiến pháp mới".
Nếu coi như đây là một chiến dịch truyền thông thì Chávez dù vô tình hay hữu ý rất giỏi trong việc định vị thị trường. Bọn chính trị gia cũ (AD và COPEI) tranh giành nhau cái bánh 40% dân số trung lưu ở thành phố. Chávez bỏ qua đám đó. Ông ta tập trung đánh vào 60% dân số còn lại – những người nghèo cùng cực (los marginales), những người không có giấy tờ tùy thân, những người đã mất niềm tin vào việc đi bầu cử, đánh thức "quái vật" đang ngủ yên này bằng một thứ vũ khí tâm lý cực mạnh: Sự phẫn nộ của giai cấp.
Trong những lần diễn thuyết, hùng biện trước đám đông Chávez không dùng từ ngữ học thuật kiểu "GDP", "lạm phát" hay "cán cân thương mại" như đám tinh hoa ở Caracas. Chávez dùng ngôn ngữ đường phố, ngôn ngữ của dân chăn bò, chửi thề văng mạng, chỉ tay về phía Bắc (thủ đô Caracas) và gào lên: "
Nhìn bọn chúng đi! Bọn thiểu số quyền lực (cúpulas podridas)! Chúng nó đi xe Cadillac, chúng nó uống Whisky 18 năm, con cái chúng nó đi học ở Miami. Tiền đó ở đâu ra? Đó là dầu của các người! Chúng nó đã đánh cắp sự giàu có của các người!".
Chávez không hứa cho tiền ngay tức khắc mà hứa sẽ trả thù tầng lớp tinh hoa cai trị Venezuela, biến cuộc bầu cử thành một cuộc thánh chiến giữa "Nhân dân chân chính" và "Bọn phản quốc".
Trong giai đoạn này, Chávez liên tục công kích Hiến pháp 1961 hiện tại là "con điếm" (moribunda) của bọn nhà giàu, được thiết kế để bảo vệ tài sản của chúng nó. Muốn đổi đời, không phải là bầu tổng thống mới, mà là phải đập nát cái móng nhà cũ đi, viết lại luật chơi từ đầu với một ý tưởng về Hội đồng Lập hiến (Constituyente) - bao gồm cả những người dân bình thường, nông dân, và công nhân, chứ không chỉ các luật sư và chính trị gia” cực kỳ hấp dẫn vì nó mang lại cảm giác về một sự tái sinh toàn diện, một sự "reset" lại đất nước mà ai cũng khao khát.
Không rõ là do trời xanh có mắt thật hay vì Chávez quá may mắn xuất hiện đúng thời điểm năm 1998 khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á bắt đầu từ Thái Lan sau đó lan sang các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Hongkong, Đài Loan kéo nhu cầu năng lượng sụp giảm làm giá dầu Venezuela rơi tự do xuống đáy lịch sử có lúc chạm mốc chỉ 7-8 USD/thùng.
Một cái đất nước bị dính vào “lời nguyền tài nguyên” như tao đã nói kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào giá dầu, ngân sách chính phủ Caracas giống như một cửa hàng chỉ bán mỗi một món là dầu, giờ giá món đó rẻ như cho thì lấy gì mà ăn?
Chính phủ đương nhiệm của Rafael Caldera lúc đó rơi vào cảnh "tiến thoái lưỡng nan". Ngân khố rỗng tếch trong khi vẫn phải chi trả tiền “phí trung thành” cho đám quân đội, cảnh sát không làm phản. Giữa lũ cầm súng lúc nào cũng có thể hất đổ cái ghế của mình và đám dân đen đông như dồi bọ, chẳng làm hại được mình thì tất nhiên trong đầu đám tinh hoa như Caldera sẽ chọn vế đầu tiên:in tiền, cắt giảm ngân sách giáo dục, y tế, và tệ nhất là cắt giảm lương công chức. Lạm phát năm 1996 đã vọt lên 100%, và đến năm 1998 vẫn ở mức 30-40%, ăn mòn từng đồng lương ít ỏi của dân nghèo. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm lên tới gần 50%.
Trong thời buổi kinh tế khó khăn đến mức người dân lục thùng rác kiếm đồ ăn thì tivi vẫn chiếu cảnh cuộc thi hoa hậu xa hoa và những lời của đám mặc Vest nói về “kinh tế vĩ mô, tỉ giá hối đoái, tinh gọn bộ máy” nghe như tiếng ong ve ve bên tai biến lời nói của Chávez trở thành chân lý. Khi Chávez nói "Chủ nghĩa tân tự do là con đường dẫn xuống địa ngục", dân tin sái cổ vì họ đang sống trong địa ngục đó đây.
Đến khi cuộc bầu cử năm 1999 diễn ra thì bọn đối thủ chẳng làm gì hơn ngoài .. dâng tận tay chiến thắng cho Chávez. Ban đầu, ứng cử viên sáng giá nhất không phải Chávez, mà là Irene Sáez. Bà này là cựu Hoa hậu Hoàn vũ (Miss Universe 1981), đẹp như tiên, từng làm thị trưởng rất được lòng dân. Dân Venezuela cuồng hoa hậu mà, nên tỷ lệ ủng hộ bà ta cao ngất ngưởng. Nhưng bà ta mắc một sai lầm chết người: Nhận sự ủng hộ của đảng COPEI (một trong hai đảng thối nát cũ). Dân chúng nhìn thấy bà ta đứng chung với bọn tham nhũng, họ quay xe ngay lập tức. Tỷ lệ ủng hộ bà ta tụt dốc không phanh.
Khi Irene Sáez ngã ngựa, phe đối lập (giới tinh hoa) cuống cuồng tìm người thay thế và dồn phiếu cho Henrique Salas Römer. Tay này là ai? Hình mẫu hoàn hảo của sự “thượng đẳng” mà Chávez đang tấn công.
Xuất thân: Quý tộc da trắng.
Học vấn: Tốt nghiệp Đại học Yale (Mỹ).
Phong cách: Lịch lãm, nói chuyện sặc mùi kỹ trị, xa rời quần chúng. Nói về việc "phân quyền" và "thu hút đầu tư nước ngoài"trong khi dân nghèo nghe như tiếng súng bên tai. Họ không cần đầu tư, họ cần bánh mì và công lý.
Biệt danh: “Frijolito” (tên con ngựa của hắn).
Trong chiến dịch tranh cử, hắn cưỡi một con ngựa trắng Frijolito đi diễu hành để thể hiện sự oai phong. Hắn tưởng mình là oai giống Simón Bolívar ngày xưa, nhưng trong mắt dân nghèo, lão trông giống hệt một gã địa chủ thực dân Tây Ban Nha đang đi thị sát nông nô. Khoảnh cách giai cấp nó hiện lên rõ mồn một: Một bên là nước hoa thơm phức trên lưng ngựa, một bên là mùi mồ hôi chua loét trên xe tải.
Tất cả sự thù hận, mong muốn trả thù của tầng lớp thấp hèn đông đảo của Venezuela năm 1998 được dồn nén hết vào trong thùng phiếu. Dân Venezuela không muốn Chủ nghĩa Xã hội hay muốn nếm mùi bao cấp. Họ bầu cho Chávez vì họ muốn Phá hủy. Họ muốn đập tan cái hệ thống tham nhũng cũ, họ muốn trả thù bọn nhà giàu đi xe Cadillac. Chávez là biểu tượng “ngón tay thối” (Middle Finger) mà người nghèo giơ lên vào mặt giới tinh hoa.
Kết quả bầu cử năm 1998 là một cú đấm knock-out: Chávez thắng áp đảo với 56% phiếu bầu, Römer chỉ được 40%. Tổng cộng phiếu của cả hai đảng AD và COPEI cộng lại còn không bằng số lẻ của Chávez. Hệ thống chính trị cũ Puntofijismo đã chết lâm sàng ngay trong đêm hôm đó, không phải do súng đạn đảo chính, mà do sự trừng phạt của những lá phiếu đầy hận thù được tôi luyện qua 4 năm đói khổ và chiến dịch mị dân tài tình của Hugo Chávez.
Lần đầu tiên trong lịch sử, một kẻ ngoại đạo, một gã da ngăm đen lai da đỏ (Zambo), xuất thân bần hàn, đã bước vào dinh Miraflores bằng lá phiếu chứ không phải bằng xe tăng.
Trong ngày lễ nhậm chức của Chávez năm 1999, Chávez đã phá vỡ nghi thức tuyên thệ. Thay vì đọc lời thề theo hiến pháp cũ (Hiến pháp 1961 - đứa con tinh thần của Caldera), Chávez đặt tay lên cuốn hiến pháp và nói:
“Tôi xin thề trước Chúa, trước Tổ quốc, và trước nhân dân tôi, trên bản Hiến pháp đang hấp hối này (esta moribunda Constitución)...”
Câu nói đó như một cú tát thẳng vào mặt cựu tổng thống Rafael Caldera đang ngồi ngay bên cạnh. Chávez công khai tuyên bố di sản của Caldera là "đã chết". Caldera rời vũ đài chính trị trong cay đắng, chứng kiến kẻ mà mình ân xá đang từng bước gỡ bỏ từng viên gạch của nền cộng hòa mà mình đã dành cả đời để xây dựng.
Luật của kẻ cai trị
Tới đây thì mày nghĩ tao sẽ kể câu chuyện cổ tích đẹp như mơ khi người hùng của nhân dân lên cầm quyền rồi sẽ chia lại của người giàu cho người nghèo, trừng trị bọn quan chức tham nhũng chà đạp lên người dân sao? Không. Trò chơi quyền lực không vận hành như thế. Thằng nào trước khi bầu lên cũng nói mấy lời lẽ dối trá đầy cao cả, nhân văn, thương xót như chúa Jesus răn dạy "Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em" nhưng đến khi hắn ta nắm được cái ghế đầy quyền lực, sắp đặt những kẻ trung thành với mình vào các vị trí then chốt cầm súng lẫn cầm tiền, tiêu diệt những mầm mống phản loạn từ trong trứng nước thì đã quá muộn màng rồi.
Hugo Chávez chỉ là cái tên mới vô tình bước vào cái vòng lặp “Luật của kẻ cai trị” mà tao sẽ giải thích cho mày câu hỏi: tại sao nền dân chủ nào cũng sẽ tự sụp đổ bằng cách trải thảm đỏ cho kẻ độc tài dẫm lên xác của những kẻ bị trị mà vẫn không ngừng ngợi ca?
Cái đám tri thức Tây học nói tiếng Việt điển hình nhất lúc nào cũng ca ngợi “nền dân chủ” đến mức tao phát nôn ựa ra. Nào là “trao quyền quyết định về tay nhân dân”, “tự do dân chủ là cốt lõi của phát triển quốc gia”, “nhân quyền là quyền phổ quát” , “thể chế dân chủ là hình thái tối ưu nhất của nhân loại” . Toàn cứt dát vàng lỗ tai. Chả được nước mẹ gì cả.
Triết học chính trị của tao bắt đầu bằng việc chạm vào đúng cái tử huyệt của nhân loại mà đám triết gia phương Tây hay đám Nho sĩ phương Đông đều cố lấp liếm, đó là cái nghịch lý: con người mồm thì gào thét đòi tự do nhưng bản năng lại khao khát được quỳ gối.
Con người không thực sự thèm khát tự do, mà muốn được cai trị
Tại sao con người lại chấp nhận sự cai trị?
Chính trị là gì?
Chính trị đối tao không được định nghĩa bằng kiểu “mối quan hệ giữa người với người, đấu tranh giai cấp” của chủ nghĩa Mác-Lênin. Nó bắt đầu bằng nỗi sợ.
Ngay từ ban đầu dù chế độ cai trị của một bầy đàn từ bộ lạc tới Nation-State hiện đại có là độc tài, phong kiến dòng dõi hay nền dân chủ (ban đầu của Hy Lạp) vẫn là vì con người đéo muốn được tự do, họ muốn được cai trị. Sự tự do tự quyết lấy số phận đời mình đi kèm với nó là trách nhiệm phải gánh lấy là một gánh nặng quá lớn với con người kể cả khi trưởng thành đi nữa.
Khi con người được giải phóng khỏi xiềng xích (như kiểu chế độ phong kiến, tôn giáo trung cổ hay tự bước đời kiếm cơm không phụ thuộc vào gia đình), họ đạt được cái gọi là "tự do khỏi" (freedom from).
Nhưng ngay lúc đó, họ rơi vào một trạng thái cô độc cực độ. Tách mình ra khỏi bầy đàn đồng nghĩa với việc mày trở thành một hạt cát lẻ loi giữa sa mạc, không còn ai bảo vệ, không còn ai định hướng, và cái cảm giác bất lực, lo âu đó nó kinh khủng đến mức con người thà quay lại tìm một cái xiềng xích mới còn hơn là phải chịu đựng sự tự do. Erich Fromm gọi cảm giác này là "Escape from Freedom" (Trốn thoát khỏi tự do) còn tao thích gọi thẳng bản chất “Con người muốn được cai trị hơn là tự do chết đói”. Thích xài cái nào tùy tụi mày lựa.
Một cá nhân trong cuộc đời khi đứng trước những ngã rẽ cuộc đời chả biết mình phải làm cái đéo gì, hướng nào đi mới là đúng. Huống chi khi đứng trước bầy đàn - một tập thể đông đảo với những cá nhân khác nhau , khác biệt, xung đột về cả lợi ích lẫn tư tưởng thì con người, theo tao quan sát có xu hướng nghiêng về phía số đông , phó mặc cho bầy đàn quyết định số phận của cuộc đời mình. Bấp chấp quyết định đó có cản trở chính những điều hắn ta/cô ta mong muốn, trái ngược lại với thứ tài năng, thiên bẩm có tiềm năng phát triển của mình. Người ta thà nôn hết quyền tự quyết cho một thằng cầm gậy to nhất để đổi lấy một giấc ngủ yên, không lo bị thằng hàng xóm đập đầu cướp vợ trong đêm.
Mọi quyết định về chuyến đi săn thú , hái lượm quả rơi xuống đất, phân chia ruộng đất, cần có người phân xử khi có tranh chấp về bạn tình (hay nói thẳng ra là bạn đụ) , miếng ăn và quan trọng nhất là chiến tranh để đoạt lấy tài nguyên từ tay bầy đàn khác trở nên quá sức với một bầy đàn đéo có người đứng đầu để chỉ ra một hướng đi chung cho tất cả cùng gật đầu , nhắm mắt đi theo.
Vậy nên bạo lực trở thành phương tiện tiện lợi nhất để một con đực mạnh nhất trở thành thủ lĩnh, để dễ dàng cai trị hắn đặt ra những luật lệ có lợi cho địa vị của mình, bất kỳ ai xâm phạm đều bị trừng phạt bằng bạo luật.
Đánh đập mãi cũng mỏi tay, giết nhiều quá thì lấy ai làm nô lệ?
Dần dần theo thời gian sau đó việc cai trị bằng cơ bắp trở nên thừa thãi khi kẻ cai trị bầy đàn nhận ra mình có thể dùng cái đầu óc khiến lũ cừu trong bầy ngoan ngoãn răm rắp tuân theo luật như một lẽ phải tự nhiên, quên mất rằng đó là luật của kẻ mạnh.
Lũ cầm quyền đẻ ra cái gọi là "tính chính danh" (legitimacy). Thay vì nói "tao cai trị mày vì tao đấm đau hơn", nó chuyển sang "tao cai trị mày vì Thần linh chọn tao", hoặc sau này là "vì Hiến pháp quy định thế". Nó biến sự phục tùng cưỡng bức thành sự phục tùng tự nguyện. Lũ cừu không còn thấy sợ cây gậy nữa, mà chúng bắt đầu thấy yêu cái chuồng. Chúng tin rằng luật lệ sinh ra để bảo vệ chúng, trong khi thực chất luật đó được thiết kế để bảo vệ tài sản và địa vị của thằng chăn cừu.
“An abnormal reaction to an abnormal situation is normal behavior.” -Victor Frankl, Man's Search For Ultimate Meaning
"Common Sense" (lẽ thường) là thứ thuốc phiện, làm tê liệt khả năng phản kháng ngay từ trong trứng nước biến những thứ bất thường trở thành lẽ tự nhiên không thể tranh cãi.
Vấn đề sinh tồn của mọi chế độ chính trị là chọn người kế vị ngôi báu thống trị như thế nào đây?
Thông thường trong suốt chiều dài lịch sử thì đó là thừa kế theo dòng dõi của thằng mạnh nhất, cứ là con trai trưởng là được. Chuyện "cha truyền con nối" nó sinh ra không chỉ đơn thuần vì thằng vua muốn để của cho con, mà còn vì chính cái đám bầy đàn bên dưới cũng cần điều đó. Nếu một thằng vua chết mà không có quy tắc thừa kế rõ ràng, cái bầy đàn đó sẽ rơi vào hỗn loạn ngay lập tức. Các phe phái sẽ chém giết nhau, máu sẽ chảy, và nỗi sợ hãi về sự vô định lại ùa về. Thế nên, dù thằng con trai trưởng có ngu đần, tàn bạo hay dở hơi đi nữa, đám đông vẫn chấp nhận tung hô "vạn tuế" vì ít nhất, chúng biết ngày mai ai sẽ là chủ. Sự ổn định, dù là trong tăm tối, vẫn hấp dẫn hơn là ánh sáng của sự hỗn mang.
Bản chất của chính trị sinh ra từ nỗi sợ nên dù là thừa kế bằng huyết thống hay bầu cử dân chủ trong suốt 5000 năm qua nó chỉ xoay quanh việc tìm người thay thế để nắm giữ cái dây cương. Con người thà chết đói trong trật tự còn hơn chết trong tự do. Bởi vì tự do đồng nghĩa với với việc mày phải tự tìm thức ăn, tự xây nhà, và tự bảo vệ mình trước thú dữ. Cái giá đó quá đắt. Nên cái vòng lặp lịch sử cứ thế quay:
Sợ hãi -> tìm lãnh tụ -> trao quyền -> bị lạm quyền -> sụp đổ -> lại sợ hãi.
Nhân loại chưa bao giờ thực sự trưởng thành, chúng ta chỉ là những đứa trẻ to xác đi tìm một ông bố nghiêm khắc để bám váy mà thôi.
Tấm màn lừa dối “dân chủ”
Cái thể chế mà đám pro-Democracy luôn rao giảng về tự do, dân chủ ,nhân quyền luôn luôn làm tao mắc cười. Chúng nhai lại những khẩu hiệu ấy nhiều quá mức khi người ta hỏi đến “tao cần lá phiếu để làm gì khi cơm không có mà ăn” là lại câm họng.
Cái thể chế đo lường quyết định thay vì của một nhà vua, tù trưởng, tướng lĩnh duy nhất thay bằng lá phiếu nghe thì có vẻ “tiến bộ” hơn để né tránh trách nhiệm chung trong việc giải quyết vấn đề bầy đàn. Bởi vì ai cũng được chia phần bánh bằng nhau nên khi có chuyện con người cảm giác ít bị trách nhiệm đè nặng hơn khi mọi chuyện dần trở nên tồi tệ.
Nhờ được chia “cổ phần” trong việc quản lý xã hội (bầy đàn) nên chúng trở nên hăng hái hơn trong việc cãi nhau nhằm biến lý lẽ có lợi cho mình và đồng bọn được thông qua với danh nghĩa “lợi ích chung”.
Thật là văn minh, tiến bộ đúng không? Đó là mấy thằng bút nô lậm triết Tây tới mù quáng sẽ lùa gà mày như thế.
Khi xem kỹ lại cái bản chất của từ dēmokratía trong tiếng Hy Lạp do nguồn gốc của thành Athnes mày sẽ nhận ra vấn đề ngay từ bản chất sơ khai của nó.
Sách giáo khoa sẽ bảo Demos là "nhân dân", còn Kratos là "quyền lực". Ghép lại là "quyền lực thuộc về nhân dân". Nghe sướng tai vãi đái đúng không? Sai bét.
Định nghĩa chữ "Demos" trong đầu đám Athens và các thành bang Hy Lạp đéo phải là tất cả mọi người đang sống trong thành bang. Nó là một cái danh từ riêng chỉ dành cho một nhóm cực nhỏ: đàn ông, trưởng thành, sinh ra ở Athens, và quan trọng nhất là phải có tài sản (đất đai) và khả năng tự trang bị vũ khí để ra trận.
Đàn bà, trẻ con, người ngụ cư (Metics - bọn dân ngoại tỉnh đến làm ăn) và đặc biệt là nô lệ (chiếm số lượng khổng lồ) đéo được tính là Demos. Chúng nó là tài sản hoặc là công cụ biết nói.
Vậy nên, dịch đúng bản chất của Democracy thời đó phải là: "Sự cai trị bằng bạo lực của tập đoàn các ông chủ". Chữ Kratos ở đây không phải là quyền lực hành chính nhẹ nhàng đâu, gốc của nó là sức mạnh cơ bắp, là sự áp chế.
Nền dân chủ Athens thực chất là một cái câu lạc bộ kín của bọn chủ nô, nơi chúng nó thỏa thuận với nhau cách chia chác lợi ích và cách dùng sức mạnh đó để đè đầu cưỡi cổ đám đông còn lại.
Tại sao bọn nó lại từ chối để một thằng làm vua gánh vác cho cả bầy chủ nô trong việc quyết định giống như phần còn lại của thế giới cổ đại?
Trong cái xã hội nông nghiệp sơ khai tích lũy được chút của cải ấy, thằng Vua là rủi ro lớn nhất đối với đám nhà giàu. Vua có quyền tịch thu đất, chém đầu bất cứ thằng quý tộc nào gai mắt, và vơ vét tài sản về túi riêng.
Đối với bọn chủ nô - những kẻ đã bắt đầu mạnh lên nhờ bóc lột sức lao động của đám nô lệ và buôn bán - thì việc để mạng sống và túi tiền của mình phụ thuộc vào tâm trạng nắng mưa của một thằng độc tài cá nhân là quá nguy hiểm.
Thay vì để một thằng cầm cái bánh, tại sao chúng ta - những thằng giàu nhất, mạnh nhất - không cùng nhau cầm dao chia cái bánh đó?
Cái nền dân chủ sơ khai đó chính xác là một bản "hợp đồng bảo hiểm" giữa các ông trùm. Bằng cách tạo ra một hội đồng, một cái nghị viện nơi các chủ nô có quyền biểu quyết, chúng nó triệt tiêu được rủi ro bị một thằng điên nào đó cướp sạch.
"Dân chủ" lúc này có nghĩa là "sự bình đẳng giữa những kẻ cai trị". Nó đảm bảo rằng thằng chủ nô A không thể cướp đất của thằng chủ nô B mà không thông qua sự đồng ý của cả hội đồng.
Còn về đám dân đen và nô lệ? Chúng nó chính là cái "tài nguyên" mà bọn chủ nô cần quản lý.
Làm sao số ít chủ nô không bị số đông nô lệ đâm chết? Đòn roi chỉ là hạ sách thôi. Muốn cai trị bền vững, bọn chủ nô phải dùng đến những thủ thuật tâm lý cực kỳ thâm độc, thứ mà tao gọi là "công nghệ thuần hóa người".
Khi ra chợ nô lệ mua hàng, thằng chủ khôn ngoan đéo bao giờ mua một đám nô lệ đến từ cùng một vùng đất, cùng một bộ lạc. Nó sẽ mua một thằng da đen, một thằng da trắng phương Bắc, một thằng Tiểu Á.
Tại sao? Để chúng nó đéo thể giao tiếp với nhau.
Mày không thể rủ thằng bên cạnh làm cách mạng nếu mày đéo hiểu nó nói cái gì. Sự bất đồng ngôn ngữ tạo ra một bức tường vô hình ngăn cách sự đoàn kết. Mỗi thằng nô lệ trở thành một hòn đảo cô độc giữa cái trại của chủ, và người duy nhất nó có thể giao tiếp, trớ trêu thay, lại là thằng cai nô hoặc thằng chủ.
Ngay khi bước chân vào nhà chủ, cái tên cha sinh mẹ đẻ của mày bị vứt vào sọt rác. Chủ sẽ đặt cho mày một cái tên mới, thường là tên chó mèo hoặc những cái tên hèn mọn. Aristotle - một trong những triết gia được tụi Tây tung hô lên tận mây xanh - đã định nghĩa nô lệ một cách lạnh lùng là "công cụ biết nói" (instrumentum vocale). Chúng nó cấy vào đầu nô lệ tư tưởng rằng: "Mày không phải con người, mày là cái cuốc, cái xẻng, chỉ khác là mày biết vâng dạ". Khi bị nhồi sọ đủ lâu, nô lệ sẽ tự mặc định mình thấp kém, và sự phục tùng là lẽ tự nhiên của vũ trụ, giống như con chó phải nghe lời chủ vậy.
Bọn chủ nô Athens hay La Mã rất hay dùng chiêu này: hứa hẹn tự do. Chúng nó đặt ra luật là nếu mày làm việc chăm chỉ, trung thành, mày có thể tích cóp tiền (từ tiền thưởng còm cõi) để tự chuộc thân, hoặc chủ sẽ trả tự do cho mày trong di chúc khi lão chết. Cái bánh vẽ “tự do” này là liều thuốc phiện cực mạnh. Thay vì mài dao đâm chủ, thằng nô lệ sẽ cày như trâu, và thậm chí quay sang đập chết mẹ thằng nô lệ nào có ý định bỏ trốn hay nổi loạn, vì nó sợ sự nổi loạn đó sẽ làm hỏng cơ hội được tự do của chính nó, biến nô lệ thành những kẻ canh giữ lẫn nhau.
Chủ sẽ chọn ra vài thằng khôn lanh, khỏe mạnh hoặc đẹp mã để làm "nô lệ trong nhà" (house slaves) hoặc cai nô. Đám này được ăn ngon hơn, mặc đẹp hơn đám "nô lệ ngoài đồng" hay nô lệ hầm mỏ. Chính cái sự ưu đãi nhỏ giọt này khiến đám nô lệ trong nhà cảm thấy mình "sang" hơn bọn kia, và chúng nó sẽ trung thành tuyệt đối với chủ để bảo vệ cái đặc quyền cỏn con đó. Mày thấy cái này quen không? Nó y hệt cách các tập đoàn hay các đế quốc dùng đám trung lưu giả cầy để cai trị đám dân nghèo bây giờ vậy.
Để duy trì cái trật tự mà 10% dân số (công dân tự do có tài sản) cai trị 90% còn lại (nô lệ, phụ nữ, người ngụ cư), bọn chủ nô cần một sự đoàn kết nội bộ cực cao. Nếu bọn chủ nô đánh nhau tranh giành ngôi vua, đám nô lệ sẽ có cơ hội nổi dậy cắt cổ chủ. Nhưng nếu bọn chủ nô bắt tay nhau trong cái gọi là “thể chế dân chủ”, chúng tạo ra một khối thống nhất cực mạnh để trấn áp bất cứ sự phản kháng nào từ bên dưới.
Cái nguyên mẫu của Athens về sau được copy về tái diễn ở London và Paris nhưng bản chất “hợp tác xã chủ nô” vẫn bất biến chả hề lay chuyển. Nền dân chủ của Anh Quốc khởi đầu từ bản Hiến chương Magna Carta năm 1215, thứ mà đám tri thức hay tụng ca như là “bình minh của tự do” lại không đến từ đòi quyền lực cho đông đảo nhân dân mà là là một bản thỏa thuận chia quyền giữa Nhà vua và đám Nam tước (Barons). Tụi nó chỉ đơn giản là không muốn vua được tự ý thu thuế hay tịch thu đất đai của mình mà không thông qua hội đồng. . Tụi nó tạo ra Nghị viện (Parliament) để đảm bảo rằng thằng chủ nô A không thể cướp đất của thằng chủ nô B mà không có sự đồng ý của cả đám. “Dân chủ” lúc này chỉ là sự bình đẳng giữa những kẻ đang nắm giữ dây cương quyền lực và tài sản, còn đám dân đen thì vẫn chỉ là những “công cụ biết nói” (instrumentum vocale) đứng bên lề cuộc chơi.
Còn ở Pháp sau cuộc cách mạng 1789 thì còn kinh tởm và tinh vi hơn nhiều. Tụi nó lật đổ một vị vua bằng xương bằng thịt để thay thế bằng một vị thần trừu tượng mang tên “Nhân dân” hay “Ý chí chung” (General Will). Đây chính là bước tiến hóa của “tính chính danh” (legitimacy). Thay vì “tao cai trị mày vì Thần linh chọn tao”, tụi nó chuyển sang “tao cai trị mày nhân danh chính mày”. Khi quyền lực nhân danh một thứ trừu tượng như “Dân tộc” hay “Nhân dân”, nó trở nên tuyệt đối và tàn bạo hơn bất kỳ vị vua nào, vì mày đéo thể chặt đầu một khái niệm. Robespierre và thời kỳ Khủng bố (Reign of Terror) đã chứng minh rằng tụi nó có thể treo cổ bất kỳ ai bằng cái nhãn “kẻ thù của nhân dân” để bảo vệ cái ghế của mình.
Hình mẫu Anh - Pháp mà đám Tây học sùng bái thực chất chỉ là một “sự nâng cấp hoàn hảo từ độc tài thô bạo sang độc tài tinh vi”. Tụi nó tạo ra một cái sân khấu bầu cử hào nhoáng, nơi mày được chọn giữa Pepsi và Coca-Cola, nhưng cả hai đều là nước đường do cùng một bọn sản xuất. Cái mà tụi nó gọi là “phát triển quốc gia” thực chất là cách “bóc lột hiệu quá nhất” đám đông nô lệ tự nguyện thông qua nợ nần và tiêu dùng, khiến con người ta “sợ mất việc hơn sợ mất tự do”.
Tao hỏi:
“Trao quyền quyết định về tay nhân dân” là trao cái gì, khi mà mọi chính sách quan trọng nhất về tiền tệ, chiến tranh và tài sản đều được chốt trong những bữa tiệc rượu của giới chóp bu và các ông trùm tài chính sau bức màn nhung?.
Cái mô hình "hợp tác xã chủ nô" này hoạt động ngon lành khi trời yên biển lặng, khi mà việc chính chỉ là chia nhau lợi nhuận từ đám nô lệ cày cuốc. Nhưng khi đụng chuyện lớn, cái sự chậm chạp của nó trở thành án tử. Có một thành ngữ tiếng việt rất phù hợp thay vì cái tên gọi hoa mỹ của bọn học giả phương Tây là "sự tê liệt của cơ chế quyết định" (decision-making paralysis), tao với mày cứ thẳng gọi là "cha chung không ai khóc".
Mày tưởng tượng nhé, khi quân địch đã áp sát biên giới, trong khi một thằng vua độc tài chỉ cần hô một tiếng "Đánh" là quân lính rầm rập lên đường, thì cái đám hội đồng dân chủ kia vẫn còn bận... họp. Chúng nó phải cãi nhau xem nên cử tướng nào đi (sợ cử thằng giỏi quá thì nó quay lại cướp quyền), nên chi bao nhiêu tiền (thằng nào cũng sợ phải đóng góp nhiều hơn thằng khác), và chiến thuật là công hay thủ.
Cái quy tắc đa số thắng thiểu số 51/49 lúc này nó trở thành liều thuốc độc cực mạnh. Phe 49% thua cuộc kia, chúng nó đâu có phục? Chúng nó là những kẻ có tiền, có quyền, có binh lính riêng. Khi bị phe 51% ép uổng, thay vì đồng lòng chống ngoại xâm, bọn 49% này sẵn sàng ngáng chân, phá hoại ngầm, hoặc tệ hơn là mở cổng thành cho địch vào chỉ để thấy phe bên kia sụp đổ.
Lịch sử chiến tranh Peloponnesian giữa Athens (dân chủ) và Sparta (quân phiệt) là minh chứng rõ nhất: Athens thua không phải vì thiếu tiền hay thiếu quân, mà vì nội bộ cắn xé nhau nát bét, các phe phái mải mê đấu tố nhau giữa nghị trường trong khi quân Sparta đang đốt phá ngoài đồng.
Hơn nữa cái đám lính thuê lại cực kỳ bất ổn. Bọn này cầm gươm cầm súng vì tiền, không phải vì lý tưởng hay lòng trung thành với cái nền dân chủ kia. Khi cái bộ máy dân chủ cãi nhau, chậm trả lương, hoặc khi phe 49% thua cuộc lén lút bơm tiền cho chúng nó làm loạn, thì cái đám lính bảo vệ trật tự ấy lập tức quay nòng súng vào chính những ông chủ của mình. Lúc này, cái “common sense” về trật tự áp bức bỗng nhiên tan biến, thay vào đó là trở về luật rừng nguyên thủy: thằng nào trả tiền tươi thóc thật, thằng đó là bố.
Cái sự bế tắc và hỗn loạn do "quá nhiều cái đầu" gây ra chính là mảnh đất màu mỡ nhất để hạt giống độc tài nảy mầm. Khi dân chúng (bao gồm cả đám chủ nô hạng xoàng và dân tự do nghèo khổ) nhìn thấy cảnh nghị viện biến thành cái chợ vỡ, đường phố loạn lạc, kinh tế đình trệ vì không ai dám quyết cái gì, nỗi sợ hãi sẽ lấn át khao khát tự do.
Lúc đó, như một phản xạ tự nhiên, tất cả ánh mắt sẽ đổ dồn về một cá nhân nổi bật nhất - kẻ dám đứng lên đập bàn, dám chửi thẳng vào mặt cái hội đồng vô dụng kia và hét lên: "Tao sẽ dọn dẹp đống rác này!". Người ta sẽ trao quyền lực tuyệt đối cho hắn không phải vì bị ép buộc, mà với một tiếng thở phào nhẹ nhõm, mừng rỡ vì cuối cùng cũng có một thằng dám đứng ra gánh vác cái trách nhiệm nặng nề mà đám đông đang đùn đẩy nhau. Đó là lúc nền dân chủ tự sát để dọn đường cho Caesar bước lên đài vinh quang.
Đám đông nghĩ thầm trong đầu:
“Đợi đến lúc mọi chuyện đã qua tao thì đá đít thằng Caesar này ra khỏi cái ghế Dictator, khôi phục lại trật tự có lợi cho tao”.
Sự ngây thơ ấy đéo có tính toán quên rằng kẻ độc tài luôn luôn có được sự ủng hộ đông đảo của bọn sợ hãi. Quyền lực giống như thuốc độc, càng uống càng thấy khát, hắn ta càng ngồi trên ngai vàng thêm một ngày nào nữa thì càng không muốn từ bỏ nó.
Sự tha hóa này sẽ liên tục gây ra những cuộc hỗn loạn khác để đám bầy đàn tiếp tục lại bỏ phiếu duy trì quyền lực , trao thêm nhiều quyền hành hơn nữa như rót thuốc độc vào miệng cho thứ lòng tham vô đáy không nào ngưng cơn khát.
Mọi hành động của hắn đều trở nên “hợp lý”, “chính nghĩa” vì luật pháp mới được ban hành trao cho “quyền lực trọn đời” không thể lay chuyển.
Mọi kẻ thắc mắc trở thành “dị giáo”, “lạc loài”, “phản động”, “đi ngược lại với tiến bộ”. Hắn ta ngấm ngầm sai đệ tử đốt nhà mày, tạo ra khủng hoảng, rồi chính hắn lái xe nước đến dập lửa trong tiếng vỗ tay reo hò của đám đông đang hoảng loạn.
Lúc này, đám đông bỏ phiếu và vỗ tay cho hắn không phải vì yêu, mà vì nỗi sợ hãi nguyên thủy: “Nếu không có Ngài, ai sẽ bảo vệ chúng tôi khỏi ngọn lửa?”. Hắn tạo ra nhu cầu được bảo vệ, rồi bán cái giải pháp đó với cái giá cắt cổ là toàn bộ quyền tự do của mày.
Cái sự “hợp lý” và “chính nghĩa” mà pháp luật mới ban hành thực chất chỉ là tờ giấy gói ghém lại cái giao kèo bán linh hồn này cho đẹp mắt thôi. Carl Schmitt, một tay trùm lý thuyết chính trị pháp lý (dù hắn phục vụ Đức Quốc xã), đã nói một câu chính xác:
“Kẻ có quyền lực tối cao là kẻ có quyền quyết định trạng thái ngoại lệ”.
(The sovereign is he who has absolute control over the juridical order itself.)
Tức là hắn có quyền chỉ tay và nói:
“ Bây giờ tình hình đang nguy cấp, luật pháp tạm gác lại sau, tao là luật”.
Và khi cái “trạng thái ngoại lệ” đó kéo dài mãi mãi, nó thành cái chuồng nhốt bầy đàn vĩnh viễn.
Ban đầu danh hiệu Dictator chỉ là một chức vụ hiến định chỉ kéo dài tối đai 6 tháng, trao cho một người duy nhất có quyền duy nhất ra quyết định nhanh chóng mà không bị phủ quyết bởi các Quan chấp chính (Consul) hay Viện Nguyên lão. Sau khi giải quyết xong khủng hoảng, vị Dictator phải từ chức ngay lập tức. Nhưng đến khi Julius Caesar phá vỡ luật chơi tự phong cho mình Dictator perpetuo (Độc tài vĩnh viễn) vào đầu năm 44 TCN. Hành động này đã xóa bỏ giới hạn thời gian 6 tháng truyền thống, biến chức vụ cứu quốc thành công cụ thống trị cá nhân và chấm dứt nền Cộng hòa La Mã, mở ra triều đại của các Hoàng đế Rome.
Việc chụp mũ dán nhãn "dị giáo", "phản động", "lạc loài" ấy, nó là công cụ sinh tồn bắt buộc chứ không phải hắn ghét bỏ gì cá nhân ai đâu. Có một quy luật tâm lý đám đông bất thành văn trong trò chơi quyền lực của mọi kẻ cai trị dù hắn có là Tổng thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, Thủ tướng Anh, Vua của Ả Rập Xê-út, Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam, … khi muốn kéo dài thời gian cầm quyền càng lâu nhất có thể:
Một thằng độc tài không thể tồn tại nếu thiếu kẻ thù.
Năng lượng căm phẫn của đám đông bị áp bức hàng ngày cần một cái cống để xả. Nếu không xả vào "kẻ thù tưởng tượng" (Do Thái, tư sản, thế lực thù địch, phù thủy...), đám đông sẽ nhìn thấy sự thật và xả cơn giận vào chính cái thằng đang ngồi trên ngai. Cái nhãn mác đó biến một con người bằng da bằng thịt thành một con quái vật trừu tượng, khiến cho việc hàng xóm đấu tố nhau, con cái tố giác cha mẹ trở thành hành động "đạo đức" và "đấu tranh cách mạng". Nó xé nát cái liên kết xã hội ngang (giữa người với người) để chỉ còn lại liên kết dọc (giữa từng cá nhân cô độc với lãnh tụ).
Nhưng khi kẻ độc tài ngồi trên ngai vàng quá lâu, xây dựng quyền lực dựa trên máu, sự dối trá và nỗi sợ. Hắn đã trót "Cưỡi lưng cọp" không còn đường lùi nữa.
Một tổng thống dân chủ hết nhiệm kỳ thì về quê viết sách, đi diễn thuyết kiếm tiền. Một thằng độc tài mà bước xuống ngai vàng thì chỉ có hai cửa: ra pháp trường nếm mùi đạn 7.62mm hoặc chết rục xương trong tù.
Kẻ độc tài sinh ra đủ căn bệnh ảo tưởng vì sợ bị lật đổ nên hắn phải thanh trừng nội bộ, làm đủ trò hề hước thu hút sự chú ý của đám đông nhằm “tao vẫn còn đủ sáng suối để cai trị bọn mày” hoặc gây chiến tranh, chia rẽ bầy đàn với nhau để khỏi ai nhắm vào sai lầm của hắn. Ceasar, Napoleon, Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông, Franklin D. Roosevelt, George H. W. Bush, Hugo Chavez đều đi chung một con đường này.
Cái nỗi sợ bị trả thù từ chính những thằng mình đã chà đạp khiến hắn buộc phải bám lấy quyền lực đến hơi thở cuối cùng, phải tàn bạo hơn ngày hôm qua để đảm bảo ngày mai mình còn sống. Hắn trở thành tù nhân trong chính cái cung điện của mình, xung quanh toàn là những thằng gật đầu răm rắp nhưng trong túi quần thì thằng nào cũng nắm chặt một con dao găm chờ hắn sẩy chân.
Đó là cái giá của "thuốc độc quyền lực": mày không chết vì thuốc, mày chết vì sợ cái ngày mày ngừng uống thuốc.
Hắn càng quyền lực, hắn càng mù lòa. Vì khi mày nắm mọi quyền sinh sát trong tay, không một thằng thuộc hạ nào dám mở mồm nói ra sự thật mất lòng (lạm phát, dân chúng mất niềm tin, quân đội suy yếu) vì sợ bay đầu.
Kết quả là hắn sống trong một cái bong bóng thông tin toàn màu hồng do đám nịnh thần vẽ ra. Hắn tưởng dân chúng đang tung hô hắn, tưởng kho lúa đang đầy, tưởng quân đội đang mạnh, nhưng thực chất bên dưới là một đống tro tàn sắp bùng cháy.
Hắn ta đã mất kết nối với thực tại. Không phải vì ngu đi mà bởi cơ chế sinh tồn của hệ thống quyền lực đã lọc sạch mọi tín hiệu cảnh báo trước khi nó đến được tai hắn.
Mọi quyết định được đưa ra đều dựa trên ảo tưởng ngông cuồng. Đám thuộc hạ vì sợ mất miếng ăn lại càng tung hô chủ nhân là sáng suốt, anh minh trong khi thừa thời cơ để tham ô vơ vét. Đây là lý do sao những thảm họa nhân tai liên tiếp diễn ra dưới triều đại của các bạo chúa.
Dân chúng càng phẫn uất, làm loạn, khởi nghĩa thì hắn ta càng đưa quân đến trấn áp, tiêu diệt khiến cho chi phí cai trị (cost of ruling) ngày càng đắt đỏ hơn: phải cho thêm tiền, địa vị, đặc quyền đặc lợi để đám đàn em tiếp tục cầm súng chĩa vào đám kẻ thù thay vì chính mình.
Một chế độ độc tài càng về cuối đời càng trở nên đắt đỏ một cách khủng khiếp. Để duy trì cái ghế, hắn phải nuôi một bộ máy an ninh khổng lồ, một đám tướng lĩnh tham lam và một lũ quan chức quan liêu. Tiền để bịt miệng bọn này (loyalty payments) ngày càng tăng vì lòng tham không đáy và rủi ro ngày càng cao.
Kết cục thường thì hoặc hắn ngồi đến chết, không một ai chống đối nhưng cái đất nước hắn trị vì thì ngày một mục rỗng, dân chúng nghèo rơi rớt vì không còn gì để vơ vét.
Hoặc rơi vào trường hợp thứ 2: kinh tế suy sụp do tham nhũng và quản lý ngu dốt, hoặc khi có biến cố bên ngoài như dầu rớt (trường hợp kinh điển của Liên Xô những năm 80 hay Venezuela sau này), cái quỹ lương để nuôi “chó giữ nhà” cạn kiệt. Lúc này, lòng trung thành bốc hơi ngay lập tức. Những thằng tướng lĩnh hôm qua còn thề sống chết bảo vệ lãnh tụ, hôm nay sẽ là những kẻ đầu tiên chĩa súng vào đầu hắn để mặc cả với phe đối lập mới là điều kiện cần, bọn phản bội vẫn cần thêm cái gật đầu quan thầy ngoại bang - tức các cường quốc (Mỹ, Trung, Nga...) bảo kê cho sự tồn vong chế độ độc tài đứng vững - chịu đồng ý buông, không thèm đỡ nữa.
Cái ghế độc tài ở các nước nhỏ nghe thì có vẻ oách khi được làm vua 1 nước nhưng thực chất chỉ đứng ra với vai trò "quản lý chi nhánh" cho các đế chế lớn. Khi "quản lý" làm ăn thua lỗ, gây rối loạn ảnh hưởng đến lợi ích của "tổng công ty" (ví dụ như nguồn cung dầu mỏ bị gián đoạn, làn sóng tị nạn tràn sang biên giới), thì thằng đại ca ở Washington hay Bắc Kinh sẽ gật đầu cho thay ngựa giữa dòng. Việc lật đổ Ngô Đình Diệm năm 1963 hay việc Mỹ buông tay Mubarak ở Ai Cập năm 2011 là những ví dụ điển hình cho cái "gật đầu" lạnh lùng đó.
Vậy điều gì xảy ra sau khi một thằng khốn nạn bị lật đổ? Chả có cái mùa xuân dân chủ đẹp đẽ ấy đâu.
Cái “mùa xuân” mà bọn lãng mạn hay vẽ ra thực chất thường kết thúc bằng một “mùa đông khắc nghiệt” của hỗn loạn hoặc một sự sắp xếp lại ghế ngồi của giới tinh hoa. Quyền lực nó có cái tính chất vật lý của nó: Nó cực kỳ ghét khoảng trống (Vacuum of Power). Khi một thằng độc tài ngã ngựa, cái ghế nóng đó không thể để trống dù chỉ một giây, và những gì lấp vào đó thường kinh tởm không kém gì cái thứ vừa bị vứt đi.
Kịch bản thứ nhất: Khoảng trống quyền lực" dẫn đến tắm máu.
Cái này xảy ra là do cơ chế "chia để trị" của thằng độc tài cũ. Khi còn sống, hắn cố tình làm suy yếu mọi thể chế (quân đội, tòa án, đảng phái) để đảm bảo không ai mạnh hơn hắn. Hắn biến các tướng lĩnh thành những con chó giữ nhà chỉ biết nghe lệnh chủ chứ không biết phối hợp với nhau.Thế nên khi thằng chủ chết, đám chó đó mất phương hướng và quay sang cắn xé nhau để tranh giành miếng thịt.
Mày nhìn Libya sau khi Gaddafi chết xem, từ một quốc gia ổn định (dù độc tài) biến thành cái chợ vỡ cho hàng trăm nhóm phiến quân, bộ lạc xâu xé. Dân đen lúc này không những không có tự do mà còn mất luôn cả cái quyền cơ bản nhất là quyền được an toàn đi ra đường không bị dính đạn lạc. Lúc này, dân chúng sẽ lại khao khát một "bàn tay sắt" mới để dẹp loạn, và vòng lặp độc tài lại bắt đầu.
Kịch bản thứ hai (hiếm thấy hơn): Niềm dân chủ giả cầy (Lobbycracy)
Các đảng phái lớn (đại diện cho các nhóm lợi ích khác nhau) bắt tay nhau, đồng ý chia sẻ quyền lực và luân phiên nắm quyền để ngăn chặn sự trở lại của một tên độc tài cá nhân, nhưng đồng thời cũng để loại bỏ các lực lượng cực tả hoặc tiếng nói thực sự của dân nghèo ra khỏi cuộc chơi.
Chúng nó tạo ra một cái sân khấu bầu cử hào nhoáng, nơi dân chúng được đi bỏ phiếu định kỳ, nhưng danh sách ứng cử viên thì đã được các ông trùm dầu khí và giới tinh hoa duyệt trước sau bức màn nhung rồi. Đó là một nền dân chủ được thiết kế để bảo vệ lợi ích của thiểu số nhưng lại mang bộ mặt của đa số, một sự nâng cấp hoàn hảo từ độc tài thô bạo sang độc tài tinh vi. Đây là tương lai mà tao nhìn thấy được trong tương lai nếu cái chế độ Đảng trị của Việt Nam sụp đổ, chẳng có một bức tranh xán lạn nào để chờ đợi phía.
Venezuela từng có một cái vỏ bọc dân chủ đẹp đẽ suốt 40 năm (từ 1958 đến khi Chavez lên năm 1998) được báo chí phương Tây khen ngợi là "ngọn hải đăng dân chủ" ở Mỹ Latinh. Nhưng bên trong, đó là một nền Lobbycracy (Cai trị bằng vận động hành lang) và Partyarchy (Đảng trị). Các quyết định quan trọng đéo được đưa ra ở nghị trường, mà được chốt trong các bữa tiệc rượu của giới chóp bu đảng phái và các ông trùm dầu khí.
Dân đi bầu cứ tưởng mình được chọn giữa "thay đổi" và "ổn định", nhưng thực ra là chọn giữa Pepsi và Coca-Cola, cả hai đều là nước đường có ga do cùng một bọn sản xuất. Cái sự bất công xã hội bị nén lại dưới cái nắp nồi áp suất "dân chủ giả cầy" đó suốt 40 năm, để rồi khi nó nổ tung, nó đẻ ra con quái vật Hugo Chávez – một thằng độc tài dân túy khác lợi dụng chính sự phẫn uất của dân nghèo để leo lên.
Thế nên, sau khi lật đổ độc tài, cái mà người ta nhận được thường chỉ là sự thay đổi "người cầm roi" chứ không phải thay đổi thân phận nô lệ. Hoặc là loạn sứ quân, hoặc là một cái "Hợp tác xã cai trị" của bọn nhà giàu mới nổi. Cái hệ thống nó tự bảo vệ nó bằng cách thay đổi hình dạng, như con tắc kè đổi màu, chứ cái lõi bóc lột và thao túng thì vẫn y nguyên. Dân chủ, trong trường hợp này, chỉ là cái bao cao su để giới tinh hoa hiếp đáp dân đen mà không sợ dính bệnh "cách mạng bạo lực" mà thôi.
Điểm mù của triết học chính trị Đông - Tây
Bọn tri thức tây học né tránh thừa nhận thuyết “Nỗi sợ là bà đỡ của chính trị” này vì xã hội tư bản hiện đại được xây dựng trên cái ảo ảnh rằng "cá nhân là tối thượng".
Nếu chúng nó thừa nhận tao đúng thì chính là thừa nhận rằng cái đám đông đang đi shopping, đang bầu cử kia thực chất chỉ là những "con robot tự động" (automaton conformity).
Tụi nó không chọn độc tài quân sự, nhưng tụi nó chọn sự độc tài của dư luận xã hội và quảng cáo. Tụi nó trốn thoát khỏi gánh nặng phải tự quyết định cuộc đời mình bằng cách hòa tan cái tôi vào đám đông, mặc quần áo giống nhau, xem phim giống nhau, suy nghĩ những điều mà truyền thông mớm cho, để rồi tự lừa mình rằng "đây là lựa chọn của tao".
Vậy cuối cùng nền dân chủ của chúng đang vận hành bởi những con cừu đội lốt sói, những kẻ đã tự nguyện thiến đi cái tư duy độc lập chỉ để được cảm thấy an toàn và thuộc về một cái gì đó.
Còn phương Đông nhờ trưởng thành sống trong cái môi trường nồi lẩu nho giáo, pháp gia, phật giáo , lão giáo cùng trộn lại với nhau một cách đéo thể thấm mùi mắm tôm hơn gọi là “tam giáo đồng nguyên” . Để trốn thoát khỏi nỗi sợ, chúng sẵn sàng quy phục uy quyền (authoritarianism). Hệ thống nho giáo hay chế độ gia trưởng được thiết kế hoàn hảo để vuốt ve cái nỗi sợ tự do này. Nó nói với mày rằng:
"Đừng lo, con trai. Đừng nghĩ, để cha nghĩ cho. Đừng quyết, để vua quyết cho. Mày chỉ cần nghe lời, mày sẽ được an toàn, được yêu thương, được là một phần của tổng thể".
Đây là một mối quan hệ bạo dâm - khổ dâm (sadomasochism) về mặt tâm lý. Kẻ cai trị cần người để đạp lên nhằm khỏa lấp sự cô độc của hắn, còn kẻ bị trị cần người để quỳ lạy nhằm vứt bỏ cái gánh nặng trách nhiệm. Nếu mang lý thuyết này ra ra mổ xẻ ở Trung Quốc và Việt Nam thì cái tấm màn nhung "Đạo đức", "Hiếu nghĩa", "Trung quân" sẽ bị xé toạc, lòi ra bên trong chỉ là những cá thể yếu đuối đang bám víu lấy nhau vì sợ hãi sự cô đơn của kiếp người.
Né tránh đề cập đến "Con người muốn được cai trị hơn là tự do chết đói" là một cơ chế phòng vệ của hệ thống. Bởi vì nếu con người nhận ra rằng cái khát khao phục tùng độc tài hay hòa tan vào đám đông không phải là “nghĩa vụ” hay “xu hướng tự nhiên” mà là một căn bệnh tâm lý, một sự thất bại trong việc trưởng thành của bản ngã, thì họ sẽ bắt đầu đặt câu hỏi. Mà hệ thống cai trị, dù là nền dân chủ giả cầy hay độc tài toàn trị, đều sợ nhất là khi con cừu nhận ra cái hàng rào không phải để bảo vệ nó khỏi sói, mà là để nhốt nó lại cho dễ vắt sữa.
Người ta nghĩ lịch sử lúc nào cũng đi theo một đường thẳng: từ mông muội đến văn minh, từ độc tài đến dân chủ. Nhưng trong mắt tao, lịch sử chỉ là một vòng tròn khép kín như hình ảnh Ouroboros (con rắn tự cắn đuôi mình). Nó luẩn quẩn trong những cái bẫy mãi không giải quyết nổi Hỗn loạn đẻ ra Độc tài, Độc tài đẻ ra Tha hóa, Tha hóa đẻ ra Sụp đổ, Sụp đổ lại đẻ ra Hỗn loạn. Cái gọi là "Dân chủ" hay "Lobbycracy" chỉ là những trạm nghỉ tạm thời, những biến thể tinh vi để che đậy bản chất của việc một nhóm thiểu số đang chăn dắt đa số. Dù thể chế có tên là gì, quyền lực luôn nằm trong tay một nhóm nhỏ có tổ chức, chống lại một đám đông vô tổ chức.
Bi kịch của vòng lặp độc tài lên ngôi bắt nguồn từ việc con người chưa chưa bao giờ thực sự đạt được "tự do để" (freedom to) - tức là khả năng tự phát triển bản thân, tự yêu thương và tự quyết định mà không cần bám víu vào quyền lực hay bầy đàn.
Chừng nào con người còn chưa đủ bản lĩnh để đối diện với nỗi cô đơn hiện sinh đó, thì mọi lá phiếu bầu cử cũng chỉ là giấy ủy quyền cho một kẻ khác chăn dắt đời mình mà thôi.
Đây chính là câu trả lời của tao để giải thứ câu hỏi mà triết học chính trị cả Đông lẫn Tây cố tình né tránh suốt 2000 năm nay.
Vậy tụi mày chấp nhận bước ra khỏi cái ma trận ảo tưởng đó để trả cái giá là sự cô độc mà đéo phải ai cũng chịu nổi không? Tao nghĩ đa phần câu trả lời nhận lại là tiếng “CÓ!” hèn nhát, đầy giả dối chẳng mấy được nhiều thằng thừa nhận “KHÔNG!” một cách thẳng thắn.
Con lừa đó bi kịch không phải vì nó chở nặng, mà vì nó biết mình đang chở cái gì trong khi những con khác cứ nghĩ mình đang chở vàng bạc châu báu lên thiên đường. Cái gánh nặng của sự thật trần trụi – rằng thế giới này vận hành bằng lòng tham, bạo lực và nỗi sợ hãi chứ không phải bằng công lý hay tình thương – nó đè nát bất cứ tâm hồn yếu đuối nào - đó là thứ tao mở mắt ra mỗi ngày cho đến khi chìm vào giấc ngủ.
Càng nhìn đủ lâu vào vực sâu, ngắm nhìn thế giới hỗn loạn, tăm tối kia tao lại thấy nó … đẹp.
Đẹp theo một cách tàn tàn nhẫn và chân thực nhất, không đạo đức giả mà không phải qua đủ thứ lăng kính chủ nghiã với cái đuôi -ism, , lớp áo “đạo đức”, lớp phấn “nhân quyền” nào để trấn an bằng liều thuốc an thần “đạo đức nô lệ” mà bọn sói ban phát cho cả hàng trăm triệu người ngoài kia.
Ngày xưa, "đạo đức nô lệ" là tôn giáo, dạy người ta cam chịu để chờ kiếp sau.
Ngày nay, "đạo đức nô lệ" là chủ nghĩa tiêu dùng và tín dụng ngân hàng. Nó dạy người ta rằng hạnh phúc nằm ở cái sổ đỏ, ở con xe VinFast, ở chuyến du lịch check-in sang chảnh. Để đạt được cái "hạnh phúc" nhân tạo đó, con người ta tự nguyện chui đầu vào cái rọ nợ nần.
Lũ chăn cừu ngày nay không cần roi vọt để bắt nô lệ đi làm đúng giờ. Mày chỉ cần treo lên đầu nó một khoản nợ 3 tỷ, lãi suất thả nổi. Thế là xong. Nó sẽ tự động ngoan ngoãn, tự động câm mồm trước sếp, tự động gạt bỏ ước mơ, tự động quên đi tự do để cày cuốc trả lãi. Nó sợ mất việc hơn sợ mất tự do. Đó là cách hệ thống tạo ra những con cừu hoàn hảo: những con cừu tự hào về cái chuồng đắt tiền của mình.
Ai lại dám đứng giữa đám đông đang say sưa với giấc mơ "an cư lạc nghiệp" mà hét lên rằng: "Cái nhà tụi mày đang cày cuốc trả nợ 20 năm thực chất chỉ là cái chuồng bê tông giá 100 triệu/m2 để nhốt tụi mày lại cho dễ vắt sữa"? Thằng nào dám nói câu đó sẽ bị coi là điên, là loser, là kẻ phá bĩnh. Chắc mỗi tao đủ ngông cuồng, kiêu ngạo, điên khùng để nói điều này bằng tiếng việt.
Sự ngạo mạn này nếu mày không chịu đựng nổi vì tao tước đi cái quyền được "đóng vai nạn nhân" thì tao cũng không thèm xin lỗi. Nó là điều kiện bắt buộc. Muốn phá vỡ những bức tượng thần tượng cũ kỹ (Idols) đã mọc rêu phong ngàn năm, tao không thể dùng cái búa gõ nhẹ nhẹ kiểu khiêm tốn “theo ý kiến của tôi thì...” được. Tao phải dùng búa tạ, phải ngạo nghễ, phải đứng trên cái đống gạch vụn đó mà nhìn xuống.
Thứ tàn dư nho giáo để lại trong xã hội này căm ghét những kẻ có tư tưởng lạc loài, cách biệt với đám đông an phận. Nếu mày bắt tao phải giả vờ khiêm nhường chỉ để thỏa thiệp với đám đông mong được yên thân, được vỗ tay thì mày có thể cút ngay bây giờ được rồi đó.
Người ta hay khóc lóc "tại thằng độc tài ác quá" còn tao phải đủ nhẫn tâm chỉ thẳng vào mặt nói: "tại tụi mày hèn, tụi mày lười trưởng thành, tụi mày chỉ muốn tìm bố chứ không muốn làm người lớn".
Mà đã đứng bên lề quan sát cái rạp xiếc đang cháy, thì cần đéo gì phải khiêm tốn với mấy thằng hề đang diễn trò bên trong?
Không cần tranh luận, mày có gào như điên dưới phần bình luận tao cũng đéo trả lời. Kẻ mạnh với niềm tin sắt đá vào bản thân không thể lay chuyển thì việc tranh luận rất thừa thãi. Chỉ có lũ yếu đuối bị đánh khụy bởi thứ lý thuyết này khiến thâm tâm run rẩy nghi ngờ niềm tin của mình sẽ nhảy vào phản ứng giãy nảy, chửi bới, tấn công cá nhân, gào thét đạo lý... thực chất lộ rõ tiếng kêu của sự sợ hãi của chính mày.
Giờ thì quay lại Venezuela dưới cuộc “Cách mạng Bolivar” do chính bàn tay của đám đông mong muốn trả thù tầng lớp tinh hoa bằng lá phiếu cho mày thấy cái Thuyết "Luật của kẻ cai trị" này nó thực tế đến phũ phàng.
"Cách mạng Bolivar"
Nó bắt đầu bằng những hy vọng lãng mạn, bùng nổ bằng tiền dầu, cực đoan hóa bởi thù hận, và kết thúc trong sự hoang tàn khi người cầm lái gục ngã. Đây không phải là một đường thẳng, mà là một cú tàu lượn siêu tốc đưa Venezuela từ thiên đường xuống địa ngục.
Tuần trăng mật và Cú lừa Hiến pháp (1999 - 2001)
Học thuyết Constituyente
Như mọi kẻ cầm quyền ngồi lên chiếc ghế nóng mà cả triệu người ao ước, hắn ta sẽ bắt đầu cuốn vào vòng xoáy “Luật của kẻ cai trị” từ lúc nào không biết. Không ai cai trị một mình, Chávez biết rõ điều đó, hắn ta cần cài những kẻ trung thành trong vòng tròn thân cận của mình vào các vị trí lãnh đạo bộ máy và tiền cũng như lý tưởng để chúng ngoan ngoãn phục tùng mệnh lệnh.
Ngay trong ngày đầu tiên nhậm chức (2/2/1999), sau khi tuyên thệ trên "bản hiến pháp hấp hối", Chávez ký ngay Sắc lệnh số 3: Trưng cầu dân ý để bầu ra Hội đồng Lập hiến.
Theo bản hiến pháp 1961 trước đó, Venezuela trên lý thuyết có Quốc hội lưỡng viện (Thượng viện và Hạ viện) học theo mô hình “Check and Balace” (Tam quyền phân lập) kiểu Hoa Kỳ cực cồng kềnh nhưng nó giúp phân tán quyền lực, phe này kiềm chế phe kia. Nó được thiết kế vì sợ có một thằng điên nào đó như gã độc tài Marcos Pérez Jiménez năm 1958 đảo chính thành công và nắm trọn quyền lực nên cố tình chia nhỏ quyền lực ra: Thượng viện kìm Hạ viện, Tòa án kìm Tổng thống, Địa phương kìm Trung ương. Muốn thông qua một cái luật, mày phải đi năn nỉ, đàm phán, thỏa hiệp gãy cả lưỡi mới xong.
Bình thường một ông tổng lên nắm quyền lúc nào cũng bị kiềm hãm quyền lực dựa trên bộ luật (Hiến pháp) có sẵn và bị kìm kẹp bởi Quốc hội (nơi bọn đối lập đang ngồi). Chávez lên năm 1999 cũng thế, dù làm Tổng thống nhưng Quốc hội và Tòa án Tối cao vẫn đầy rẫy người của phe cũ (đảng AD và COPEI). Hắn muốn ra lệnh, bọn kia cản. Hắn muốn chi tiền, bọn kia soi.
Với một thằng đang muốn tập trung hết quyền lực vào tay mình, phải tiêu diệt cái thể chế này bằng mọi giá. Để làm được điều này như mọi kẻ cai trị luôn cần đến một tên quan văn đủ giỏi đẻ bẻ cong chữ nghĩa hòng đạt được ý muốn của chủ nhân, con người bị lãng quên trong góc khuất của lịch sử này chính là Luis Miquilena. Tao đã nhắc sơ qua một lần ở trên về việc Miquilena đón Chávez năm 1994, bảo trợ về mặt tiền bạc và dạy bài học chính trị quan trọng nhất cho 1 thằng tướng võ biền:
"Đừng dùng súng cướp quyền nữa, thời đại này phải dùng lá phiếu và luật pháp để cướp quyền".
Là một con cáo già chính trị, cựu đảng viên cộng sản kỳ cựu; từng lăn lộn trong giới tài phiệt (ông trùm ngành thuốc lá và bảo hiểm), Miquilena cực kỳ hiểu rõ tâm lý của giới công nhân thợ thuyền lẫn những ông trùm tư bản. Để thành công trong việc chinh phục trái tim của số đông mày phải cực kỳ giỏi trong việc dùng một thứ lý thuyết luật học cực kỳ cao siêu, vay mượn từ các triết gia Pháp (như Sieyès), rồi diễn giải lại bằng ngôn ngữ bình dân dễ lọt tai đến mức bà bán rau ngoài chợ cũng thấy mình trở thành vĩ nhân.
Miquilena dạy Chávez nói với dân rằng: Các cơ quan nhà nước hiện tại (Quốc hội, Tổng thống, Tòa án) chỉ là “Quyền lực Phái sinh” (Constituted Power) – tức là những kẻ làm thuê được sinh ra từ Hiến pháp cũ. Còn Nhân dân mới là “Quyền lực Gốc” (Original Constituent Power) – là ông chủ, là đấng sáng thế tạo ra Hiến pháp.
Từ đây Miquilena đưa ra một lập luận cực kỳ ngọt như mía lùi xỏ lỗ tai công chúng như sau:
Vì Nhân dân là ông chủ tối thượng, nên bất cứ lúc nào ông chủ thấy đám làm thuê hư hỏng, ông chủ có quyền triệu hồi sức mạnh gốc để xóa bỏ tất cả, đập đi xây lại từ đầu mà không cần tuân theo bất kỳ quy tắc nào của bọn làm thuê.
"Hội đồng Lập hiến" chính là hiện thân của ông chủ đó. Khi Hội đồng này xuất hiện, mọi luật lệ cũ đều vô nghĩa, mọi cơ quan cũ phải cúi đầu hoặc biến mất.
Nếu nhìn trên phương diện marketing lẫn triết học thì thứ lý thuyết Constituyente này quả là cực thành công trong việc biến một “câu chuyện” (narrative) in đậm trong tâm thức bị áp bức, mong muốn được trả thù bọn chính trị gia đảng AD và COPEI trong suốt 40 năm qua. Nhưng vì không có tiếng nói, không có trình độ học thức nên họ không thể tài nào tìm ra cách mô tả nỗi uất ức này ngoài việc chấp nhận sự cai trị trong nỗi bức xúc. . Lý thuyết của Miquilena trao cho họ một cây "Thượng phương bảo kiếm":
“Các bạn không cần phải đợi bọn nó hết nhiệm kỳ, các bạn có quyền đuổi cổ bọn nó ngay lập tức thông qua Hội đồng Lập hiến.”
Dân đen nghe quá sướng tai, cảm thấy mình như Bao Công đang trừng thị kẻ gian ác lấy lại công lý đã mất. Thay vì nói thẳng ra là “sửa luật”, Miquilena và Chávez dùng câu từ mỹ miều hơn đánh lạc hướng gọi là "Sáng lập lại nền Cộng hòa" (Refounding the Republic. Hai tên này nói đất nước hỏng từ nền móng phải đạp đi xây lại. Hứa hẹn bản hiến pháp mới sẽ là là một bản khế ước xã hội hoàn hảo, nơi quyền lợi của mọi người được ghi rõ từng chữ: quyền có nhà, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền của người bản địa, quyền của phụ nữ. Cái bánh vẽ này quá thơm, ai cũng nghĩ rằng chỉ cần viết những điều tốt đẹp vào giấy thì tự nhiên ngoài đời nó sẽ thành hiện thực.
Để kích thích thêm sự cuồng nhiệt với nền dân chủ giả cầy đang chết yểu tự tay dâng quyền lực vào một Julius Caesar với khuôn mặt của một một gã da ngăm đen lai da đỏ (Zambo), Miquilena biết rằng dân chúng vốn thờ ơ với bầu cử vì họ chỉ được bầu 5 năm một lần rồi về nhà ngủ, mặc kệ mọi quyền hành trong tay lũ tinh hoa. Miquilena bảo:
"Không, với Hiến pháp mới, các bạn sẽ tham gia trực tiếp vào việc điều hành đất nước mỗi ngày".
Họ tổ chức hàng ngàn cuộc họp tổ dân phố, kêu gọi dân đóng góp ý kiến viết Hiến pháp. Dân nghèo lần đầu tiên thấy mình được hỏi ý kiến, được tôn trọng, họ cảm thấy mình là chủ nhân thật sự. Họ say sưa trong cái cảm giác quyền lực ảo đó mà không biết rằng những ý kiến của họ chỉ là vật trang trí, còn khung sườn độc tài thì Chávez và Miquilena đã đóng sẵn rồi.
Movimiento V República (Phong trào nền cộng hòa thứ năm)
Tất nhiên chỉ với mỗi lý thuyết đủ sức lôi cuốn là không đủ, Chávez cần phải có thêm một đám tay chân đông đảo để đi tuyền truyền khắp hang cùng ngõ cụt ở các khu ổ chuột, bến cảng, nhà máy ở khắp nơi trên Venezuela.
Chávez tuyên bố lịch sử Venezuela từ trước tới năm 1998 là "Nền Cộng hòa Thứ Tư". Hắn bảo cái nền cộng hòa đó đã chết, đã thối rữa vì tham nhũng và bọn tư bản. Hắn lập ra một đảng mới với mục tiêu duy nhất: khai sinh ra "Nền Cộng hòa Thứ Năm" – một kỷ nguyên mới, sạch sẽ và thánh thiện. Đặt cái tên như thế là đã vỗ mặt bọn đối lập rằng: "Bọn mày là quá khứ, tao là tương lai".
Movimiento V República (MVR) với nòng cốt đến từ chính đám lính cũ MBR-200 tham gia đảo chính thất bại năm 1992 , vì luật cấm quân nhân làm chính trị (trước 1975 gọi là tham chính) nên Chávez tự lột cái áo vằn quân đội ra và khoác áo dân sự, đổi tên thành MVR. Nhưng cái đảng phái này vẫn vận hành theo kiểu quân đội ra lệnh - phục tùng như trại lính chứ không có tranh luận dân chủ gì hết.
Để hốt thêm phiếu, Chávez gom tất cả những thành phần bất mãn trong xã hội vào một cái liên minh gọi là Polo Patriótico (Cực Yêu nước). Trong cái liên minh này có đủ loại người: từ đám cộng sản già nua (Đảng Cộng sản Venezuela), đám trí thức cánh tả mộng mơ (như đảng MAS), cho đến đám dân nghèo thất học. Luis Miquilena chính là người đứng ra khâu vá cái đám hổ lốn này lại. Luis dùng uy tín và mạng lưới quan hệ của mình để thuyết phục bọn cánh tả rằng Chávez là vị cứu tinh duy nhất, bảo bọn họ phải gạt bỏ hiềm khích mà dồn phiếu cho "Comandante".
Nhiệm vụ chính trị của đảng MVR chỉ một mục đích duy nhất: Círculos Bolivarianos (Vòng tròn Bolivar) - một mạng lưới chân rết cắm sâu vào từng ngóc ngách của xã hội.
Ngay từ những ngày đầu vận động cho cái Hội đồng Lập hiến, Chávez và bộ sậu MVR đã không chơi kiểu vận động tranh cử quý tộc trên tivi như đám chính trị gia cũ. Chúng chơi chiến thuật “vết dầu loang” bằng cách tuyển mộ hàng ngàn, hàng vạn những kẻ cuồng tín, thất nghiệp, những thanh niên đường phố, những bà mẹ bỉm sữa ở các khu ổ chuột (barrios) để làm cái gọi là "tuyên truyền viên".
Nhiệm vụ của đội quân MVR này là cầm cuốn sách nhỏ màu xanh dương - bản dự thảo hiến pháp - đi gõ cửa từng nhà, chui vào từng cán lán xập xệ trên các sườn đồi Caracas. Không chỉ đi phát tờ rơi kiểu tiếp thị vốn dĩ hiệu quả tuyên truyền rất thấp, MVR tổ chức các buổi "đọc sách thánh" tụ tập dân nghèo lại, đọc to từng điều khoản trong hiến pháp dự kiến, rồi giải thích theo kiểu bình dân học vụ:
"Đấy, các bác thấy chưa, điều này nói là đất đai là của toàn dân, tức là của các bác, chứ không phải của bọn nhà giàu. Bầu cho Chávez là lấy lại đất!".
Điều này tạo ra một hiệu ứng bầy đàn cực kỳ khủng khiếp. Những kẻ tuyên truyền không phải là đám người đội mũ đỏ, mặc áo phông hô khẩu hiệu trong các buổi diễn thuyết mà chính là hàng xóm láng giềng của mày, là chị Juliez đang làm thợ may, là anh Andrez vừa mới thất nghiệp vì chủ đuổi. Không có gì hiệu quả hơn bằng tin đồn truyền miệng lan qua tai người này hết người khác. Vì nói cùng thứ tiếng của dân lưu manh chửi thề đám nhà giàu nên người dân tin sái cổ hơn gấp vạn lần mấy thằng chính trị gia mặc Vest nói chuyện trịch trượng.
Để nuôi cái bộ máy khổng lồ này chạy ro ro thì dùng nước bọt hô hào “phụng sự lý tưởng cách mạng” là đủ. Chávez đã bơm "doping" cho nó thông qua cái Plan Bolívar 2000 biến những tay chân thân tín cấp thấp thành những “ông trùm con” ở địa phương. Mày muốn nhận gạo miễn phí? Phải qua tay thằng tổ trưởng dân phố phe Chávez. Mày muốn xin thuốc men? Phải đăng ký với hội phụ nữ phe Chávez.
Dần dần, đám tay chân này trở thành tai mắt của chế độ. Ở mỗi khu phố, chúng nó biết rõ nhà nào ủng hộ Chávez, nhà nào “phản động”. Ai mà hó hé chê bai Chávez là hôm sau bị cắt viện trợ, hoặc bị đám côn đồ (tiền thân của các nhóm Colectivos vũ trang sau này) đến dằn mặt ngay.
Chính cái đám đông đảo, hung hãn và được tổ chức chặt chẽ này đã tạo ra áp lực đường phố cực lớn. Khi phe đối lập định tổ chức biểu tình, Chávez chỉ cần phất tay một cái là đám này từ các khu ổ chuột tràn xuống trung tâm như ong vỡ tổ, bao vây, đe dọa, thậm chí tấn công phe kia. Chúng biến đường phố thành lãnh địa riêng của Chávez, nơi mà luật pháp không phải là sách luật, mà là nắm đấm của đám đông.
Khi Chávez đứng trên bục phát biểu nói về "quyền lực nhân dân", thì ở dưới, hàng vạn cặp mắt rực lửa của đám chân rết này đang nhìn chằm chằm vào bất cứ ai dám không vỗ tay. Đó là cách hắn biến một cuộc bỏ phiếu thành một cuộc biểu dương lực lượng, khiến cho bất kỳ ai muốn chống đối cũng phải rùng mình sợ hãi mà im miệng.
"Những gã khờ hữu dụng" (Useful Idiots)
Không có tiền thì lý thuyết chỉ là gió bay, và đám tay chân MVR cũng giải tán sớm vì đói.
Trong giai đoạn 1998-1999, trước khi Chávez nắm trọn vẹn cái “kho bạc” dầu mỏ khổng lồ, dòng tiền để nuôi bộ máy vận động Hiến pháp đến từ một nguồn cực kỳ trớ trêu, mà tao gọi là “Những gã khờ hữu dụng” (Useful Idiots). Đó chính là đám tài phiệt ngân hàng và giới truyền thông tư bản gộc của Venezuela.
Tại sao những kẻ giàu có nhất Venezuela lại bỏ tiền ra mua sợi dây thừng để Chávez treo cổ họ sau này?
Phải kể đến công lao của "bố già" Luis Miquilena một lần nữa. Không chỉ “quân sư Khổng Minh” của Chávez trong việc đóng vai trò như bộ não chính trị. Mà còn là cái phiễu hút tiền từ đám nhà giàu. Nhờ là một doanh nhân thành đạt trong ngành bảo hiểm, chơi thân với giới chủ ngân hàng và các ông trùm truyền thông, Miquilena đi gặp họ và rót mặt vào tai:
"Bọn đảng cũ AD và COPEI tham nhũng quá rồi, chúng nó ăn hết phần của các anh. Hãy ủng hộ thằng nhóc Chávez này đi, nó chỉ là con tốt thôi, tao sẽ giật dây nó. Nó lên sẽ dẹp bọn kia, mở đường cho các anh làm ăn".
Đám tư bản lúc đó ghét cay ghét đắng sự quan liêu của chế độ cũ, nên tin sái cổ. Các ngân hàng lớn (đặc biệt là nhóm tài chính đang muốn thâu tóm thị trường sau cuộc khủng hoảng ngân hàng giữa thập niên 90) đã bơm tiền tấn cho chiến dịch tranh cử và vận động Hiến pháp của Chávez.
Họ nghĩ rằng bỏ tiền ra "đầu tư" vào Chávez là đang mua một con chó giữ nhà biết nghe lời. Những chuyến bay vận động tranh cử bằng chuyên cơ, những sân khấu hoành tráng, hàng triệu cuốn sách xanh (bản dự thảo hiến pháp) được in phát miễn phí... tất cả đều có mùi tiền của giới tư bản này.
Trong chính trị đương đại, "thời lượng phát sóng" chính là tiền, thậm chí còn quý hơn tiền mặt. Khi các đài truyền hình khác bắt đầu nghi ngờ, e dè tầm ảnh hưởng của Chávez, đài truyền hình Venevisión lớn nhất Venezuela lại mở toang cánh cửa cho “người hùng nhân dân” này lên sóng trong những khung giờ vàng, tô vẽ hình ảnh như một một người hùng bình dân, một người cha của dân tộc. Tất cả đều có cái gật đầu của ông trùm Gustavo Cisneros - chở sở hữu đài Venevisión. Cisneros làm vậy vì muốn dùng Chávez để tiêu diệt đối thủ cạnh tranh là đài RCTV (đài này chống Chávez và sau này bị Chávez đóng cửa). Cái giá trị quy đổi của sự ủng hộ truyền thông này lên tới hàng trăm triệu đô la quảng cáo miễn phí.
Thứ ba nữa lại đến từ … Tiền ngân sách nhà nước. Ngay khi Chávez nhậm chức Tổng thống vào tháng 2 năm 1999, hắn chưa có Hiến pháp mới, nhưng hắn đã có chìa khóa kho bạc. Từ tháng 2 đến tháng 12 năm 1999 (lúc bỏ phiếu thông qua Hiến pháp), hắn đã thực hiện một cú chuyển tiền khổng lồ dưới danh nghĩa Plan Bolívar 2000.
Hắn lấy tiền từ Tập đoàn Dầu khí Quốc gia (PDVSA) và ngân sách quốc phòng, nhưng thay vì dùng để khoan dầu hay mua súng, hắn chuyển thẳng vào tay quân đội để làm “công tác dân vận” - là tiền để mua phiếu cho cuộc trưng cầu dân ý về Hiến pháp.
Từ tiền bẩn này các lính tráng chở xe tải đầy ắp thực phẩm, vật liệu xây dựng xuống các khu ổ chuột, vừa phát quà vừa nói: "Đây là quà của Tổng thống Chávez, các bác nhớ đi bầu 'CÓ' cho Hiến pháp mới nhé". Dân nghèo cầm ổ bánh mì, nhìn thấy logo của chính phủ, thì họ bầu ngay tắp lự. Tiền thuế của dân được dùng để tẩy não dân, khiến họ tự nguyện trao quyền lực tuyệt đối cho kẻ đang cai trị mình.
Sự bảo kê của quân đội
Trước thời Chávez (giai đoạn 1958-1998), giới tinh hoa chính trị Venezuela đối xử với quân đội như “con chó giữ nhà”. Tức là: tao nuôi mày, cho mày súng, mày canh gác biên giới và bảo vệ tao, nhưng cấm mày được ngồi vào bàn ăn (chính trị).
Giới tướng lĩnh cảm thấy bị khinh rẻ, bị cô lập trong doanh trại, trong khi bọn chính trị gia mặc vest thì ăn sung mặc sướng và tham nhũng. Chávez nắm thóp được cái tâm lý mặc cảm này. Hắn bắt đầu “chính trị hóa” quân đội - tức là biến khẩu súng từ trung thành với hiến pháp quay sang trung thành với lãnh tụ Chávez bằng học thuyết "Liên minh Dân sự - Quân sự" với luận điểm cốt lõi: Quân đội không phải là kẻ bảo vệ tách biệt, Quân đội chính là Nhân dân.
Binh lính bị nhồi sọ câu thần chú này: "El Ejército es el Pueblo en uniforme" (Quân đội là Nhân dân mặc quân phục). Câu này nghe thì sướng tai, đầy tính đoàn kết, nhưng thực chất nó là liều thuốc độc giết chết tính chuyên nghiệp của quân đội.
Khi mày định nghĩa “Quân đội là Nhân dân”, mày đã xóa nhòa ranh giới giữa nhiệm vụ “Quốc phòng” (bảo vệ lãnh thổ) và nhiệm vụ “Chính trị” (điều hành đất nước). Chávez bảo rằng: Vì quân đội là nhân dân, nên nỗi đau của nhân dân (đói nghèo, thất học) cũng là nhiệm vụ của quân đội. Quân đội không được ngồi yên trong trại khi dân đói. Quân đội phải ra đường, phải bán gạo, phải xây nhà, phải dạy học.
Từ lý thuyết này, hắn đẻ ra một khái niệm mới về an ninh quốc gia: An ninh Toàn diện (Integral Security). Trước đây an ninh là chống ngoại xâm. Giờ Chávez bảo: “Đói nghèo là kẻ thù, dốt nát là kẻ thù”. Thế là hắn hợp pháp hóa việc đưa tướng tá sang làm việc của các bộ trưởng kinh tế, giáo dục, y tế.
Khi các sĩ quan quân đội được Chávez cho phép bước ra khỏi doanh trại để làm “kinh tế”, họ như chuột sa chĩnh gạo. Trước giờ chỉ biết cầm súng, giờ được cầm ngân sách, được ký hợp đồng thầu, được quản lý đô la nhập khẩu. Chávez biết thừa bọn này không có kỹ năng quản lý, và hắn cũng biết thừa bọn này sẽ ăn bớt. Nhưng hắn mặc kệ, thậm chí là khuyến khích ngầm.
Tại sao? Vì khi một ông tướng đã lỡ nhúng tay vào chàm, đã lỡ xây biệt thự bằng tiền bớt xén từ chương trình Plan Bolívar 2000, ông tướng đó đã trở thành con tin của Chávez. Nếu chế độ này sụp đổ, nếu Hiến pháp 1961 quay lại với cơ chế kiểm toán độc lập, ông tướng đó sẽ đi tù mọt gông.
Do đó, cái “Liên minh Dân sự - Quân sự” thực chất là một bản “Hợp đồng Mafia”: Tao (Chávez) cho tụi bay (Quân đội) quyền lực và tiền bạc mà hiến pháp cũ cấm tiệt. Đổi lại, tụi bay phải dùng súng để bảo vệ tao và cái Hiến pháp mới của tao. Tụi bay không còn bảo vệ Tổ quốc trừu tượng nữa, tụi bay bảo vệ cái “nồi cơm” cụ thể của chính mình.
Kết quả là, khi phe đối lập la làng lên rằng Chávez đang vi hiến, đang độc tài, thì quân đội điếc đặc. Họ không thấy Chávez là kẻ thù của hiến pháp, họ thấy phe đối lập mới là kẻ thù đang lăm le đập vỡ bát cơm của họ. Chávez đã biến quân đội từ một trọng tài trung lập thành một đấu sĩ trên võ đài, đứng cùng phe với hắn để đấm vỡ mồm bất cứ ai dám thách thức. Cái gọi là "Liên minh" ấy, trần trụi ra mà nói, là sự chia chác quyền lực giữa một gã mị dân và một đám lính đánh thuê được hợp pháp hóa.
Sức hút của Đấng Cứu Thế (Messianic Charisma).
Mày không thể chỉ dùng tiền và lý thuyết khô khan để khiến hàng triệu người phát điên vì mày được. Mày cần cảm xúc. Chávez là một thiên tài về giao tiếp, một diễn viên đại tài trên sân khấu chính trị.
Hắn tạo ra một sự kết nối tâm linh kỳ lạ với tầng lớp cùng đinh. Trước Chávez, các tổng thống Venezuela nói giọng, ăn mặc, và cư xử như người Mỹ hoặc người châu Âu. Còn Chávez nói giọng đường phố, hát nhạc dân ca (joropo) trên sóng truyền hình, kể chuyện cười tục tĩu, chơi bóng chày. Hắn làm cho bà bán vé số, anh xe ôm cảm thấy: “Thằng cha này giống mình vãi! Nó là mình, và mình là nó!”.
Đây là thứ vũ khí vô hình nhưng cực mạnh: Sự đồng nhất hóa (Identification). Khi Chávez bị tấn công, dân nghèo cảm thấy chính họ đang bị tấn công. Khi Chávez chửi bọn nhà giàu, dân nghèo cảm thấy sướng như chính họ đang chửi. Hắn đã biến cuộc bỏ phiếu sửa Hiến pháp không còn là vấn đề pháp lý nữa, mà thành một cuộc Thánh chiến giữa “Dân tộc” (là Chávez và người nghèo) chống lại “Bọn Phản quốc” (bất kỳ ai chống Chávez).
Đặc biệt, chương trình truyền hình Aló Presidente (bắt đầu từ tháng 5 năm 1999) mỗi chủ nhật, hắn lên tivi nói chuyện lan man hàng tiếng đồng hồ, gọi điện giải quyết khiếu nại trực tiếp cho dân, mắng mỏ bộ trưởng ngay trên sóng. Nó phá vỡ hoàn toàn rào cản giữa người cai trị và kẻ bị trị.
Bình thường, dân muốn khiếu nại phải làm đơn, chờ chực cửa quan, bị hành lên hành xuống. Trong Aló Presidente, Chávez đảo lộn tất cả. Hắn ngồi đó, một bà già gọi điện đến khóc lóc vì nhà dột hay thiếu nước. Chávez làm gì? Hắn không bảo "để tôi xem xét". Hắn gọi ngay tên ông Bộ trưởng chịu trách nhiệm (thường là đang ngồi rúm ró ở hàng ghế dưới) và chửi té tát ngay trên sóng:
"Tại sao bà con khổ thế này mà mày ngồi yên à? Tao ra lệnh cho mày trong 24h phải sửa nhà cho bà ấy! Đi ngay!".
Dân chúng xem tivi sướng run người. Họ thấy công lý được thực thi ngay tức khắc. Họ thấy Chávez quyền uy lấn át cả đám quan lại hách dịch. Nhưng họ không nhận ra cái bẫy chết người ở đây: Chávez đang phá hủy hệ thống hành chính. Hắn dạy cho dân một bài học: Luật pháp, quy trình là vô dụng. Chỉ có ý chí của Chávez là giải quyết được vấn đề ,biến chính phủ từ một bộ máy vận hành theo luật thành một cái tiệm tạp hóa mà hắn là ông chủ duy nhất biết chỗ cất tiền.
Chávez cực kỳ giỏi trong việc sử dụng ngôn ngữ tôn giáo để chính trị hóa. Hắn cầm cây thánh giá trên tay, trích dẫn Kinh Thánh và tuyên bố: “Chúa Giê-su là người xã hội chủ nghĩa đầu tiên”. Với một đất nước sùng đạo như Venezuela, đây là đòn sát thủ biến phe đối lập không chỉ thành kẻ thù chính trị, mà thành “Quỷ dữ”, thành những kẻ chống Chúa. Hắn gọi bọn họ là escualidos (lũ ốm đói, lũ thảm hại).
Khi đưa cuốn hiến pháp nhỏ màu xanh (Cuốn sách xanh tí hon mà hắn luôn cầm theo như Kinh Thánh) ra trưng cầu dân ý, dân nghèo đi bầu không phải vì họ đã đọc và hiểu các điều khoản pháp lý phức tạp trong đó. Họ đi bầu vì "Đấng Cứu Thế" bảo rằng cuốn sách này sẽ cứu rỗi linh hồn và cái bụng của họ.
Viết lại hiến pháp
Phe đối lập (do hai đảng AD và COPEI thất bại trong cuộc bầu cử) cười khẩy:
"Vẽ chuyện. Viết lại Hiến pháp thì cứ viết, nhưng Quốc hội (do tao nắm đa số) vẫn còn đây, làm sao mày thông qua được?
Vì theo luật muốn sửa đổi thì phải thông qua quốc hội. Đường thẳng đi không được thì chơi đường ống cống khiến đám nghị sĩ già nua không đỡ nổi: không thèm đi qua Quốc hội, đi đường vòng qua Tòa án Tối cao và Nhân dân.
Ngay trong ngày nhậm chức (tháng 2/1999), Chávez đã ký một sắc lệnh yêu cầu tổ chức trưng cầu dân ý. Hắn đặt câu hỏi cho Tòa án Tối cao (CSJ):
Trong một nền dân chủ, quyền lực tối thượng thuộc về ai? Thuộc về Quốc hội hay thuộc về Nhân dân?”.
Về mặt triết học và luật học, Tòa án buộc phải trả lời:
“Thuộc về Nhân dân”.
Chávez chộp lấy ngay câu trả lời đó:
“A ha! Nếu quyền lực thuộc về Nhân dân, thì Nhân dân có quyền quyết định có viết lại Hiến pháp hay không mà KHÔNG CẦN sự cho phép của Quốc hội. Quốc hội chỉ là kẻ làm thuê (quyền lực phái sinh), không có tư cách cấm cản ông chủ (quyền lực gốc).”
Tòa án Tối cao lúc đó, dưới sức ép khủng khiếp của dư luận và những lời đe dọa ngầm từ quân đội, đã run rẩy gật đầu.
Vào tháng 1 năm 1999, Tòa án ra phán quyết lịch sử: Tổng thống có quyền triệu tập trưng cầu dân ý về Hiến pháp mà không cần Quốc hội phê chuẩn. Bùm! Cái chốt chặn Quốc hội của phe đối lập bị Tòa án giật sập trong một nốt nhạc.
Cuộc trưng cầu dân ý đầu tiên diễn ra vào ngày 25 tháng 4 năm 1999. Chávez giăng cái bẫy thứ hai tinh vi hơn. Hắn đưa ra tờ phiếu với hai câu hỏi.
Câu 1:
“Bạn có muốn triệu tập một Hội đồng Lập hiến để viết lại Hiến pháp không?”
Câu này thì ai cũng “Say Yes” rồi, vì dân đang ghét chế độ cũ mà.
Nhưng cái cài cắm nằm ở Câu 2:
“Bạn có đồng ý với các quy tắc bầu cử do Tổng thống đề xuất để bầu ra thành viên Hội đồng này không?”
Phe đối lập ngu ngốc ở chỗ họ chỉ tập trung chửi câu 1 mà lờ đi câu 2. Họ không đọc kỹ cái "quy tắc bầu cử" mà Chávez kẹp vào.
Để bầu ra cái Hội đồng Lập hiến (Constituyente) này, Chávez cần một bộ luật bầu cử mới. Hắn khôn khéo gạt bỏ cái cơ chế “đại diện theo tỷ lệ” (proportional representation) vốn là truyền thống của Venezuela (nơi mà đảng nhỏ cũng có ghế nếu kiếm được chút phiếu). Thay vào đó, hắn áp dụng một cơ chế quái thai gọi là “Kino” (kiểu như sổ xố lô tô).
Cơ chế này phức tạp về toán học nhưng hiểu đơn giản là: “Được ăn cả, ngã về không”. Việc chia nhỏ các khu vực bầu cử sao cho phe nào thắng phiếu phổ thông sẽ hốt trọn ổ ghế ngồi.
Kết quả ngày 25/4/1999: Hơn 80% dân chúng bỏ phiếu “CÓ” cho cả hai câu hỏi.
Với tấm lệnh bài “80% ý dân” này trên tay, Chávez coi như đã cầm thanh gươm Thượng phương bảo kiếm. Hắn quay sang Quốc hội và cười nhạo:
“Các ông thấy chưa? Ông chủ (nhân dân) đã ra lệnh rồi. Các ông giờ chỉ cần phục tùng”.
Đến tháng 7 năm 1999, cuộc bầu cử thành viên Hội đồng Lập hiến diễn ra dựa trên cái luật chơi quái đản ở Câu 2. Phe Chávez chỉ giành được 60% phiếu bầu nhưng chiếm tới 125/131 ghế (95%). Phe đối lập dù vẫn có 40% dân ủng hộ nhưng do bị xé lẻ phiếu nên gần như trắng tay.
Ngay khi Hội đồng Lập hiến (toàn người của Chávez) bước vào tòa nhà, việc đầu tiên họ làm là ra lệnh:
“Vì chúng tao đại diện cho Ý chí Nhân dân (vừa được 80% duyệt), nên chúng tao tuyên bố Quốc hội cũ... nghỉ chơi! Cấm họp! Cấm ra luật!”.
Đám nghị sĩ đối lập lúc này mới ngớ người ra, định cãi lý thì bị đám đông ủng hộ Chávez vây kín cửa, còn Cảnh vệ Quốc gia thì khoanh tay đứng nhìn. Họ chạy sang cầu cứu Tòa án Tối cao. Chủ tịch Tòa án Tối cao lúc đó là bà Cecilia Sosa. Bà này đứng trước áp lực kinh khủng: một bên là luật pháp, một bên là đám đông cuồng nhiệt ủng hộ Chávez đang vây quanh tòa nhà.
Cuối cùng, Tòa án Tối cao đã đưa ra một phán quyết lịch sử... tự sát: Họ công nhận quyền lực tối thượng của Hội đồng Lập hiến. Tức là Tòa án tự nhận mình là “con”, còn Hội đồng Lập hiến là “bố”.
Ngay sau phán quyết đó, bà Cecilia Sosa từ chức với câu nói: “Tòa án đã tự sát để tránh bị ám sát”. Nhưng mọi chuyện đã muộn. Hội đồng Lập hiến lập tức thành lập một “Ủy ban Tư pháp Khẩn cấp” ra tay thực hiện một cuộc đại phẫu thuật mà họ gọi mỹ miều là “Tình trạng Khẩn cấp Tư pháp”.
Mày biết họ làm gì không? Họ lập ra một cái ủy ban nhỏ, và cái ủy ban này có quyền sinh sát tối thượng. Chỉ trong vài tuần, chúng lôi đầu hơn 190 thẩm phán ở các tòa án cấp dưới ra chém (đuổi việc) không cần xét xử, với lý do là “tham nhũng” hoặc “không đủ năng lực”. Nhưng cái thâm độc ở cách lấp vào chỗ trống đó.
Chúng không bổ nhiệm thẩm phán chính thức (có nhiệm kỳ trọn đời hoặc dài hạn để đảm bảo độc lập). Không, Hội đồng Lập hiến bổ nhiệm “Thẩm phán tạm quyền” (Provisional Judges).
Mày phải khắc cốt ghi tâm cái chiêu này, vì nó là chìa khóa để kiểm soát tòa án. Một thẩm phán “tạm quyền” là kẻ có thể bị đuổi việc bất cứ lúc nào chỉ bằng một cú điện thoại nếu dám tuyên án trái ý cấp trên. Bằng cách này, Chávez không cần ra lệnh trực tiếp, hắn chỉ cần tạo ra một nỗi sợ hãi bao trùm: Mày muốn giữ ghế? Mày muốn có lương? Thì hãy xử cho đúng ý Bố già. Thế là ngành tư pháp Venezuela từ chỗ độc lập (dù có tham nhũng) đã biến thành một bầy cừu ngoan ngoãn.
Xong cái Tòa án, Chávez quay sang xử nốt cái Quốc hội cũ.
Lúc này, các nghị sĩ phe đối lập vẫn cố đấm ăn xôi, đòi vào tòa nhà Quốc hội để họp. Nhưng Hội đồng Lập hiến đã ra lệnh phong tỏa tòa nhà. Một cảnh tượng bi hài diễn ra mà báo chí quốc tế chụp được: Các nghị sĩ dân bầu phải trèo rào để cố gắng vào nơi làm việc của mình, trong khi đám đông ủng hộ Chávez (Chavistas) ở ngoài ném đá, chửi bới, còn lính Cảnh vệ Quốc gia thì đứng cười.
Cuối cùng, biết không thể chống lại được sức mạnh của đám đông và họng súng, Quốc hội cũ đành phải chấp nhận tự giải tán. Hội đồng Lập hiến lập tức đẻ ra một cái quái thai gọi là “Congresillo” (Quốc hội tí hon). Đây là một nhóm gồm 21 người (dĩ nhiên toàn phe Chávez) được chỉ định để làm thay việc của Quốc hội trong thời gian chờ Hiến pháp mới. Quyền Lập pháp cũng chính thức nằm gọn trong túi Chávez.
Đến tháng 11 năm 1999, bản Hiến pháp Bolivar được viết xong. Nó dày cộp, dài dòng văn tự, và được Chávez quảng cáo là “bản Hiến pháp tiến bộ nhất thế giới”. Nó có gì?
Ngoài những lời hứa hẹn về nhân quyền, về an sinh xã hội để dụ dân nghèo, nó cài cắm những viên thuốc độc bọc đường:
Đổi tên nước: Từ “Cộng hòa Venezuela” thành “Cộng hòa Bolivar Venezuela”. Đây là cách Chávez đóng dấu chủ quyền lên đất nước, như kiểu chó đái đánh dấu lãnh thổ vậy.
Tăng quyền Tổng thống: Nhiệm kỳ tăng từ 5 lên 6 năm, được tái cử ngay lập tức (trước đây phải đợi 10 năm mới được quay lại).
Xóa bỏ Thượng viện: Chuyển sang Quốc hội một viện để dễ kiểm soát.
Quyền giải tán Quốc hội: Tổng thống có quyền giải tán Quốc hội nếu nó gây cản trở (cái này là tối thượng quyền lực).
Ngày 15 tháng 12 năm 1999 là ngày định mệnh: Trưng cầu dân ý thông qua Hiến pháp mới. Và đây là lúc lịch sử Venezuela có một sự trùng hợp rùng rợn như phim kinh dị.
Đúng vào ngày người dân đi bỏ phiếu để trao quyền lực tuyệt đối cho Chávez, thì Trời sập. Một trận mưa bão kỷ lục đã trút xuống bang Vargas (vùng ven biển gần thủ đô Caracas). Những ngọn núi ngấm nước bão hòa đã sụp đổ, tạo ra những dòng lũ bùn khổng lồ cuốn phăng hàng chục ngàn ngôi nhà, chôn sống ước tính từ 10.000 đến 30.000 người. Đây là thảm họa thiên nhiên tồi tệ nhất lịch sử Venezuela, được gọi là Thảm kịch Vargas (La Tragedia de Vargas).
Trong khi xác người trôi lềnh bềnh, bùn đất chôn vùi cả thành phố, thì Chávez làm gì?
Phe đối lập và giáo hội nói rằng đây là “Sự trừng phạt của Chúa” vì dân chúng đã đi theo con đường sai lầm, Chávez đã lên tivi, mặc quân phục, đứng giữa mưa bão và hét lên một câu nói nổi tiếng thể hiện sự ngạo mạn đến tận cùng của một kẻ độc tài:
“Si la naturaleza se opone, lucharemos contra ella y haremos que nos obedezca!” (Nếu thiên nhiên chống lại chúng ta, chúng ta sẽ chiến đấu với nó và bắt nó phải phục tùng!)
Câu nói đó đã định hình toàn bộ phong cách cai trị của Chávez sau này: Bất chấp quy luật, bất chấp thực tế, bất chấp cả tự nhiên. Hắn tin rằng ý chí của hắn có thể bẻ cong được vạn vật.
Kết quả? Dân vẫn đi bầu trong mưa bão. Hiến pháp mới được thông qua với 71% phiếu thuận.
Chávez thắng lớn. Hắn có Hiến pháp mới, có Quốc hội mới, có Tòa án mới, và có cả một đất nước vừa bị thiên nhiên tàn phá cần hắn “cứu rỗi”. Giai đoạn 1999 khép lại với hình ảnh Chávez đứng trên đống đổ nát của cả thể chế cũ lẫn những ngôi nhà ở Vargas, tay nắm chặt cuốn Hiến pháp màu xanh, sẵn sàng cho một kỷ nguyên quyền lực không giới hạn.
Đó là cách một nền dân chủ chết đi trong niềm hân hoan của các cử tri mà không cần đến tiếng súng, lặng lẽ trao quyền lực cho 1 Caesar trở thành Hoàng đế vĩnh viễn trên ngai vàng dân chủ.
Tuần trăng mật của Chávez (1999-2001)
Đây là giai đoạn mà Chávez được Thần May Mắn (hoặc Thần Dầu mỏ) độ trì tận răng. Nếu không có những yếu tố thiên thời địa lợi này, cái ghế của hắn chưa chắc đã ngồi vững qua năm 2000.
Khi Chávez nhậm chức đầu năm 1999, giá dầu thế giới đang ở đáy vực (khoảng 9 USD/thùng). Kinh tế Venezuela nát bét. Nhưng đúng lúc hắn lên, giá dầu bắt đầu quay đầu tăng vọt. Tại sao? Vì Chávez đã làm một việc rất được lòng các ông trùm dầu mỏ: Hắn đi năn nỉ, lôi kéo các nước OPEC (Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ) ngồi lại với nhau để cắt giảm sản lượng.
Trước năm 1999, Venezuela là "đứa con ngỗ nghịch" nhất của OPEC. Dưới thời các chính phủ cũ, Tập đoàn Dầu khí Venezuela (PDVSA) hoạt động gần như độc lập, bọn nó coi OPEC là trò hề. PDVSA theo đuổi chiến lược "tăng sản lượng tối đa" để chiếm thị phần, bất chấp hạn ngạch của OPEC. Tức là OPEC bảo "anh em giảm bán để tăng giá nhé", thì thằng Venezuela lén mở van xả láng để bán được nhiều hàng.
Ả Rập Xê Út (anh cả của OPEC) cay lắm. Năm 1997-1998, Ả Rập Xê Út quyết định dạy cho Venezuela và các nước gian lận một bài học. Họ chơi bài ngửa: “Được, tụi bay thích xả láng thì tao xả láng”. Ả Rập Xê Út mở hết công suất van dầu, bơm ngập thị trường. Đúng lúc đó, Khủng hoảng Tài chính Châu Á 1997 nổ ra, nhu cầu tiêu thụ năng lượng tụt dốc không phanh. Cung tăng đột biến gặp cầu giảm đột biến, giá dầu rớt cái bịch từ 20 đô xuống còn dưới 10 đô/thùng.
Đây là lúc "đám nhà giàu ả rập" bắt đầu toát mồ hôi hột. Bọn Vùng Vịnh (Saudi, Kuwait, UAE) sống hoàn toàn bằng dầu. Giá dầu dưới 10 đô nghĩa là ngân sách quốc gia thâm hụt, các dự án xây dựng đắp chiếu, và ngai vàng của các hoàng thân bắt đầu lung lay. Họ nhận ra rằng cuộc chiến trừng phạt này đã đi quá xa, họ đang “tự lấy dao cứa cổ mình”. Họ cần một lối thoát, một cái cớ để dừng cuộc chiến vô nghĩa này lại.
Tình cờ làm sao Chávez xuất hiện như một “sứ giả hòa bình” đúng lúc bọn Ả Rập đang tuyệt vọng nhất.
Chávez, với sự cáo già của mình, nhận thấy ngay cơ hội. Hắn cử Alí Rodríguez Araque – một cựu du kích quân nhưng lại cực kỳ am hiểu về dầu mỏ – làm Bộ trưởng Năng lượng. Thông điệp Chávez gửi đến Ả Rập Xê Út rất đơn giản nhưng chấn động:
“Tao không phải là bọn chính phủ cũ. Tao sẽ tuân thủ hạn ngạch. Tao sẽ bắt thằng PDVSA phải nghe lời. Hãy ngừng chiến và cùng nhau kiếm tiền”.
Đám OPEC nhận thấy rằng Chávez là một kẻ "nắm quyền thực sự". Khác với các tổng thống Venezuela yếu ớt trước kia không kiểm soát nổi PDVSA (vốn hoạt động như một nhà nước trong nhà nước), Chávez cho thấy hắn sẵn sàng chặt chém ban lãnh đạo PDVSA để ép tập đoàn này tuân thủ lệnh cắt giảm. Ả Rập Xê Út tin rằng lần này Venezuela sẽ chơi đẹp.
Để lấy lòng tin, Chávez đã làm một việc cực kỳ liều lĩnh mà bọn Ả Rập rất nể: Hắn thực hiện chuyến công du “Tour du lịch của kẻ xấu”. Năm 2000, Chávez đích thân bay sang Baghdad gặp Saddam Hussein. Lúc đó Saddam là kẻ thù số 1 của Mỹ, bị cấm vận, không ai dám dây vào. Chávez là nguyên thủ quốc gia đầu tiên dám đến thăm Saddam kể từ sau Chiến tranh Vùng Vịnh. Sau đó hắn qua Libya gặp Gaddafi, qua Iran gặp giáo chủ Khatami.
Hành động này của Chávez đánh trúng vào tâm lý của khối Ả Rập và Hồi giáo. Dù Ả Rập Xê Út ghét Saddam và Iran, nhưng họ lại thích cái cách Chávez dám “vuốt râu hùm” (nước Mỹ) để đề cao vị thế của OPEC. Chávez đã biến OPEC từ một tổ chức thương mại rệu rã thành một khối liên minh chính trị có tiếng nói. Hắn khơi dậy lòng kiêu hãnh của các quốc gia dầu mỏ rằng:
“Chúng ta nắm nguồn sống của thế giới, tại sao phải bán rẻ cho bọn phương Tây?”.
Mexico là nước sản xuất dầu lớn nhưng không nằm trong OPEC và là sân sau của Mỹ. Chávez và Ả Rập Xê Út đã rủ rê được Mexico tham gia vào thỏa thuận cắt giảm sản lượng (gọi là thỏa thuận ba bên Riyadh). Việc Mexico gật đầu đã gửi một tín hiệu cực mạnh cho thị trường: "Lần này là thật, cả trong và ngoài OPEC đều đồng lòng siết van".
Đỉnh cao là vào năm 2000, Chávez tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh OPEC ngay tại thủ đô Caracas. Đây là lần đầu tiên sau 25 năm các nguyên thủ OPEC mới họp mặt đầy đủ. Chávez đóng vai chủ nhà hiếu khách, lái xe Jeep chở các hoàng thân Ả Rập đi chơi.
Rập Xê Út, Venezuela và Mexico cùng nhau cắt giảm sản lượng. Nguồn cung thắt lại, kinh tế thế giới hồi phục sau khủng hoảng châu Á, giá dầu bật tăng trở lại lên 20 rồi 30 USD/thùng. Chávez được tiếng là "Cứu tinh của OPEC", còn bọn Ả Rập thì thở phào nhẹ nhõm vì tiền lại chảy về túi.
Vì giá dầu tăng cao, tiền bắt đầu chảy ngược vào Venezuela như thác lũ cho phép Chávez dùng tiền để đổi lấy lòng trung thành của dân chúng và quân đội thông qua Plan Bolívar 2000 và mua chuộc sự im lặng của tầng lớp trung lưu.
Đầu tiên và quan trọng nhất là Quân đội, cái trụ cột mà hắn sợ bị lật đổ nhất. Như tao đã nói thông qua Plan Bolívar 2000, Chávez đã thực hiện một cú lừa ngoạn mục: biến tướng lĩnh thành nhà thầu.
Thay vì để các bộ ngành dân sự (như Bộ Giao thông, Bộ Xây dựng) quản lý ngân sách công trình, hắn giao thẳng cục tiền tươi thóc thật cho các đơn vị quân đội. Hắn bảo lính đi sửa trường học, vá đường, bán thực phẩm.
Nghe thì rất nhân văn, nhưng thực chất hắn đã gỡ bỏ mọi cơ chế kiểm toán. Các tướng lĩnh tha hồ kê khống giá vật liệu, lập công ty sân sau để nhận thầu, và bỏ túi hàng triệu đô la. Tham nhũng bùng nổ khủng khiếp, nhưng Chávez nhắm mắt làm ngơ.
Đối với Tầng lớp Trung lưu, Chávez đã chơi chiêu bài "Đồng Đô la giá rẻ". Nhờ dòng tiền dầu mỏ chảy vào, Chávez giữ cho đồng nội tệ Bolivar mạnh một cách giả tạo (định giá cao hơn thực tế). Dân Venezuela có thể đổi tiền nội tệ ra đô la Mỹ với giá cực hời để đi du lịch Miami, mua xe hơi Ford, mua rượu whisky Scotland và hàng điện tử Nhật Bản với giá rẻ như cho.
Trong giai đoạn trăng mật này, Venezuela là nước tiêu thụ rượu whisky đắt tiền tính theo đầu người cao nhất thế giới. Giới trung lưu, bác sĩ, kỹ sư, tiểu thương... ai cũng thấy mình giàu lên, ai cũng mua sắm điên cuồng. Họ bị cái sự sung sướng vật chất làm mờ mắt. Họ tặc lưỡi: “Ừ thì lão Chávez này hơi thô lỗ, hơi độc tài tí, nhưng miễn là tao vẫn mua được tivi Sony giá rẻ và đi Disney World mỗi năm thì kệ lão”. Chính cái “ảo giác tiêu dùng” này đã khiến giới trung lưu tê liệt, không phản kháng mạnh mẽ khi Chávez bắt đầu tháo dỡ nền dân chủ, vì họ sợ nếu Chávez đi, cái thiên đường hàng nhập khẩu giá rẻ này cũng tan biến.
Cuối cùng là Dân nghèo, cái pháo đài phiếu bầu của hắn. Với Plan Bolívar 2000, Chávez không đưa tiền mặt, hắn đưa “cảm giác được chăm sóc”. Lính tráng lái xe tải chở gà đông lạnh, sữa bột, thuốc men đến tận các khu ổ chuột bán với giá rẻ bèo hoặc cho không. Hắn gọi đó là các “chợ phiên nhân dân”. Cái hay của Chávez là hắn gắn cái dạ dày của dân với hình ảnh của hắn. Dân ăn miếng thịt gà thấy ngon, họ không cảm ơn nhà nước, họ cảm ơn “Tổng thống Chávez”. Hắn tạo ra một mối quan hệ gia trưởng: Chávez là người cha lo cơm ăn áo mặc cho đàn con nheo nhóc. Sự trung thành này bền vững đến mức cuồng tín, vì dân nghèo sợ rằng nếu phe đối lập (bọn nhà giàu) quay lại, cái nồi cơm thạch sanh này sẽ bị đập vỡ ngay lập tức.
Tiền dầu mỏ đã giúp Chávez xây dựng một cái kiềng ba chân vững chắc: Quân đội được ăn chia (nên trung thành vì lợi), Dân nghèo được bao cấp (nên trung thành vì ơn), và Trung lưu được tiêu xài (nên im lặng vì sướng). Cả xã hội Venezuela giai đoạn 1999-2001 sống trong một cơn say tập thể, không ai nhận ra rằng Chávez đang dùng chính tiền của đất nước để mua sợi dây thừng trói buộc tự do của họ lại.
Trong suốt năm 2000, sau khi Hiến pháp mới đã xong, Chávez yêu cầu Quốc hội (lúc này hắn đã nắm đa số) trao cho hắn Luật Ủy quyền (Ley Habilitante).
Hắn bảo:
“Các đồng chí ơi, đất nước đang cần cải cách nhanh, mà Quốc hội họp hành lâu quá. Thôi thì cho tao quyền tự viết luật, tự ký ban hành luôn trong vòng 1 năm cho lẹ”.
Quốc hội, gồm toàn những kẻ gật đầu, đồng ý ngay tắp lự vào tháng 11 năm 2000.
Hắn cầm cái quyền “vua con” đó trong tay nhưng hắn... im lặng. Hắn không làm gì mạnh tay cả. Hắn chờ. Hắn đợi đến đúng lúc giới tư bản mất cảnh giác nhất.
Và rồi, vào ngày 13 tháng 11 năm 2001, khi cái hạn 1 năm của Luật Ủy quyền sắp hết, Chávez bất ngờ ký một lúc 49 Đạo luật mà không qua thảo luận, không qua tham vấn bất kỳ ai. Trong 49 cái luật đó, có hai cái luật khiến giới tư bản và trung lưu Venezuela chết đứng:
Luật Đất đai (Ley de Tierras): Cho phép nhà nước tịch thu các trang trại, đồn điền mà nhà nước cho là “không sản xuất hiệu quả” để chia cho dân nghèo. Tức là quyền tư hữu đất đai bị xóa bỏ trên thực tế. Một thằng quan chức chỉ cần chỉ tay vào trang trại của mày bảo “mày làm ăn lười quá”, thế là mất đất.
Luật Dầu khí (Ley de Hidrocarburos): Tăng thuế tài nguyên (royalty) từ 16% lên 30% đối với các công ty nước ngoài và bắt buộc công ty dầu khí nhà nước PDVSA phải nắm cổ phần chi phối (>51%) trong mọi liên doanh. Điều này đánh thẳng vào túi tiền của các tập đoàn đa quốc gia và giới quản lý kỹ trị của PDVSA.
Lúc này, cái mặt nạ “Con đường thứ ba” vỡ tan tành. Giới chủ doanh nghiệp (đại diện là liên đoàn Fedecámaras) và giới công đoàn lao động (CTV) mới ngớ người ra: “Chết mẹ, nó không phải là Tony Blair, nó là thằng cộng sản!”. Chávez không còn nói chuyện hòa giải nữa, tuyên bố thẳng thừng: “Ai không theo tao là kẻ thù của tao”.
Tuần trăng mật kết thúc bằng một cuộc ly hôn đẫm máu. Ngày 13 tháng 11 năm 2001 chính là ngày khai tử cho cái ảo vọng về một Chávez ôn hòa.
Bình thường, Fedecámaras (đám chủ doanh nghiệp, đại diện là Pedro Carmona) và CTV (Tổng liên đoàn Lao động, đại diện là Carlos Ortega) là kẻ thù không đội trời chung. Một bên muốn bóc lột, một bên muốn tăng lương. Nhưng 49 đạo luật của Chávez quá tàn bạo, nó đánh vào cả hai phía cùng lúc.
Với đám chủ (Fedecámaras), Luật Đất đai là ăn cướp trắng trợn quyền tư hữu. Còn với đám thợ (CTV), Chávez không chỉ đánh kinh tế, hắn còn muốn xóa sổ luôn quyền lực chính trị của công đoàn cũ. Hắn muốn thay thế CTV bằng các công đoàn “đỏ” do hắn dựng lên.
Thế là lần đầu tiên trong lịch sử, ông chủ bắt tay với đầy tớ. Pedro Carmona và Carlos Ortega đứng chung một sân khấu, cùng hô hào đình công tổng bãi công vào ngày 10 tháng 12 năm 2001. Đây là tín hiệu báo động đỏ: Cả nền kinh tế (vốn và lao động) đang quay lưng lại với Tổng thống.
Nhưng cái thùng thuốc súng nguy hiểm nhất không nằm ở mấy ông chủ tịch công đoàn già nua, mà nằm ở PDVSA – con gà đẻ trứng vàng. Cái tâm lý của đám "cổ cồn trắng" (technocrats) ở PDVSA lúc đó tự coi mình là "tinh hoa của đất nước" (La Meritocracia). Họ là kỹ sư, tiến sĩ học ở Mỹ về, họ vận hành tập đoàn dầu khí hiệu quả nhất nhì thế giới. Họ coi thường chính trị gia, và đặc biệt khinh bỉ đám quân nhân thất học của Chávez.
Khi Luật Dầu khí mới ra đời, cộng với việc Chávez bổ nhiệm những kẻ bất tài nhưng trung thành (như Gaston Parra) vào ban lãnh đạo tập đoàn, đám tinh hoa này nổi điên. Họ coi đó là sự sỉ nhục vào lòng tự trọng nghề nghiệp. Họ không chịu để một đám “nhà quê” vào phá nát cái gia tài mà họ đã xây dựng hàng chục năm. Thế là cuộc chiến trong lòng PDVSA bùng nổ.
Các quản lý cao cấp bắt đầu lên tivi tố cáo Chávez, đe dọa ngừng sản xuất, ngừng xuất khẩu. Đây là đòn chí mạng vì 90% ngoại tệ của Venezuela đến từ dầu. Nếu PDVSA ngừng chạy thì Chávez chết đói.
Phản ứng của Chávez trước tình hình này mới gọi là kinh điển của sự ngạo mạn. Thay vì xoa dịu, hắn đổ thêm dầu vào lửa.
Trên chương trình Aló Presidente, khi nghe tin giới chủ dọa đình công, Chávez cười khẩy và nói một câu đi vào lịch sử sự thù hận:
“Chúng mày muốn đình công à? Cứ việc! Nhưng nhớ chuẩn bị tinh thần đi, vì tao sẽ lấy cái trang trại của chúng mày đấy! Tao có súng, tao có dân, chúng mày có cái gì?”.
Hắn còn lôi cái còi trọng tài ra thổi tuýt tuýt trên sóng truyền hình, tuyên bố sa thải hàng loạt lãnh đạo cao cấp của PDVSA ngay trên sóng trực tiếp (sa thải bằng còi, mày tin được không?).
Hành động này là cú tát thẳng mặt vào giới trung lưu và thượng lưu. Từ lúc đó, cuộc chiến không còn là trên giấy tờ nữa. Nó tràn ra đường phố. Các cuộc biểu tình Cacerolazo (gõ xoong nồi) vang rền khắp các khu phố giàu có ở Caracas mỗi đêm. Đáp lại, Chávez xua đám Círculos Bolivarianos (Vòng tròn Bolivar) đi xe máy, cầm gậy gộc xuống uy hiếp.
Không khí lúc này (đầu năm 2002) căng như dây đàn. Truyền thông tư nhân (như đài RCTV, Venevisión) chính thức tuyên chiến, họ phát đi phát lại hình ảnh Chávez như một tên điên độc tài, cắt ghép các bài phát biểu của hắn để kích động nỗi sợ hãi. Hai phe đã dàn trận xong xuôi: Một bên là “Xã hội Dân sự” (giới chủ, công đoàn, trung lưu, Giáo hội, truyền thông), bên kia là “Nhân dân Bolivar” (quân đội, dân nghèo, các nhóm vũ trang).
Mọi thứ đã được sắp đặt hoàn hảo cho ngày định mệnh 11 tháng 4 năm 2002 – ngày mà máu sẽ đổ ở cầu Llaguno và Chávez sẽ nếm mùi bị lật đổ (dù chỉ trong 47 tiếng).
Tử chiến và Sự cực đoan hóa (2002 - 2004)
Cuộc Đảo chính 47 giờ
Sáng ngày 11 tháng 4, phe đối lập tổ chức một cuộc đại biểu tình khổng lồ. Hàng trăm ngàn người xuống đường, khí thế hừng hực. Ban đầu, kế hoạch chỉ là đi bộ đến trụ sở PDVSA ở Chuao (một khu nhà giàu an toàn) để ủng hộ các lãnh đạo dầu khí bị sa thải. Nhưng đến trưa, những kẻ cầm đầu như Carlos Ortega và Pedro Carmona bất ngờ hô hào qua loa phóng thanh: “Đến Chuao làm cái gì? Đến thẳng dinh Tổng thống Miraflores mà lôi cổ nó ra!”.
Đây là một quyết định điên rồ hoặc cực kỳ thâm độc. Bởi vì Miraflores đang được vây quanh bởi hàng ngàn người ủng hộ Chávez (Chavistas) sẵn sàng tử vì đạo. Đẩy đoàn biểu tình phe đối lập vào đó chính là đẩy họ vào “hố vôi”.
Và rồi, bi kịch xảy ra tại Cầu Llaguno, nằm ngay gần dinh Tổng thống.
Khoảng đầu giờ chiều, tiếng súng nổ. Đoàng! Đoàng! Người biểu tình ngã xuống, đầu vỡ toác. Máu chảy lênh láng trên đường nhựa. Cả hai phe đều có người chết. Nhưng đây là lúc truyền thông tư nhân (Venevisión, RCTV) tung ra đòn sát thủ.
Họ quay được cảnh một nhóm người ủng hộ Chávez đứng trên cầu Llaguno đang chĩa súng bắn xuống đường. Tivi phát đi phát lại cảnh này với lời bình: “Nhìn đi! Bọn côn đồ của Chávez đang bắn vào đoàn biểu tình hòa bình không vũ trang!”.
Cả nước Venezuela sốc tận óc. Hình ảnh đó là bằng chứng không thể chối cãi cho thấy Chávez là một tên sát nhân khát máu. Giới tướng lĩnh quân đội, vốn đã nóng mắt với Chávez, khi xem cảnh này trên tivi đã quyết định: “Không thể để thằng điên này làm Tổng thống nữa”.
Nhưng sự thật sau này mới vỡ lở (và đã được giải oan một phần): Góc quay của đài truyền hình đã cố tình cắt cúp. Thực tế, phía dưới cầu lúc đó không có đoàn biểu tình đối lập nào cả (họ chưa đi tới đó), mà nhóm người trên cầu đang đấu súng với cảnh sát và lính bắn tỉa ẩn nấp từ các tòa nhà đối diện. Nhưng lúc đó thì ai mà biết được? Sự thật đã bị truyền thông giết chết để dọn đường cho đảo chính.
Đến tối, quân đội quay súng. Các tướng lĩnh cấp cao lần lượt lên tivi tuyên bố không tuân lệnh Chávez nữa. Dinh Miraflores bị bao vây bởi xe tăng. Chávez bị cô lập hoàn toàn.
Lúc này xuất hiện một nhân vật định mệnh: Tướng Lucas Rincón (Tổng thanh tra quân đội). Ông này đứng trước ống kính camera quốc gia và nói một câu trứ danh: “Chúng tôi đã yêu cầu Tổng thống từ chức, và ông ấy đã chấp nhận (la cual aceptó)”.
Chávez bị bắt và đưa ra đảo La Orchila giam lỏng. Phe đối lập ăn mừng như điên dại. Sâm panh nổ đùng đoàng khắp các khu nhà giàu. Họ tưởng họ đã thắng. Chávez đã xong đời.
Ngày 12 tháng 4, Pedro Carmona (Chủ tịch Fedecámaras - đại diện giới chủ) tự phong làm Tổng thống lâm thời. Thay vì hành xử khôn khéo, tôn trọng luật pháp để trấn an dư luận, Carmona hiện nguyên hình là một kẻ độc tài cánh hữu cực đoan. Hắn ban hành cái gọi là “Sắc lệnh Carmona”. Trong một tờ giấy A4, hắn đã:
Giải tán Quốc hội.
Giải tán Tòa án Tối cao.
Giải tán Hội đồng Bầu cử.
Xóa chữ “Bolivar” ra khỏi tên nước, quay lại tên cũ “Cộng hòa Venezuela”.
Trao cho mình quyền lực tuyệt đối.
Hành động này ngu xuẩn đến mức ngay cả những người chống Chávez ôn hòa cũng phải thốt lên: “Cái quái gì thế này? Chúng ta đuổi một thằng độc tài cánh tả để rước về một thằng độc tài cánh hữu à?”. Các nước Mỹ Latinh khác (trừ Mỹ và Tây Ban Nha lỡ mồm ủng hộ sớm) lập tức lên án cuộc đảo chính này.
Quan trọng hơn, hành động hống hách của Carmona đã chọc giận những sĩ quan quân đội trung lập và tầng lớp lính tráng cấp thấp (vốn xuất thân nghèo khó và vẫn thần tượng Chávez). Họ thấy Carmona như một gã nhà giàu đang cướp đất nước về tay giới thượng lưu.
Trong khi Carmona đang bận chia ghế cho bạn bè trong dinh Tổng thống, thì ở ngoài kia, tin đồn bắt đầu lan ra: “Chávez chưa từ chức! Chávez bị bắt cóc!”.
Từ các khu ổ chuột trên sườn đồi Caracas, hàng triệu người nghèo bắt đầu tràn xuống. Họ không sợ súng đạn nữa. Họ bao vây dinh Miraflores, họ bao vây các đài truyền hình. Họ đòi trả lại “Tổng thống của họ”.
Cùng lúc đó, Tướng Raúl Baduel (người bạn thân tín của Chávez, chỉ huy lữ đoàn lính dù ở Maracay) quyết định ra tay. Ông ta tuyên bố trung thành với Chávez và khởi động chiến dịch “Phục hồi phẩm giá”. Lính dù – lực lượng tinh nhuệ nhất – bắt đầu hành quân về thủ đô.
Đội Cảnh vệ Dinh Tổng thống (Honor Guard), những người lính cận vệ vẫn còn ở trong Miraflores, khi thấy dân chúng bao vây bên ngoài và lính dù đang tới, đã bất ngờ lật mặt lại với Carmona. Họ rút súng bắt giữ các bộ trưởng của chính quyền mới. Carmona sợ vãi linh hồn, bỏ chạy thục mạng ra cửa sau.
Rạng sáng ngày 14 tháng 4, một chiếc trực thăng quân sự đáp xuống dinh Miraflores. Hugo Chávez bước ra, không phải trong bộ quân phục, mà mặc áo thường dân, tay cầm cây thánh giá.
Đám đông vỡ òa. Chávez quay lại ghế Tổng thống chưa đầy 48 giờ sau khi bị lật đổ. Cú đảo chính hụt này là món quà vô giá mà phe đối lập ngu ngốc dâng tặng cho Chávez.
Chávez có cớ danh chính ngôn thuận để đuổi cổ hàng trăm tướng tá không trung thành. Từ sau 2002, quân đội Venezuela sạch bóng phe đối lập, chỉ còn lại những kẻ thề sống chết với Chávez. Chávez giờ đây không chỉ là Tổng thống, hắn là “kẻ được Chúa chọn”, kẻ đã chết đi sống lại. Hắn trở nên bất khả chiến bại trong mắt dân nghèo. Hắn nhận ra hông thể sống chung với phe đối lập và tư bản được nữa.
Thanh trừng quân đội
Sau sự kiện này, hắn trượt dài vào con đường xã hội chủ nghĩa cực đoan, tịch thu tài sản và bóp nghẹt truyền thông tư nhân không thương tiếc. Một thằng cha đang ngồi trên đỉnh cao danh vọng, đùng một cái bị lôi cổ xuống, bị dí súng vào đầu, bị nhốt trên một hòn đảo hoang vắng và nghe tin kẻ thù đang khui rượu ăn mừng trên cái ghế của mình. Cảm giác đó không chỉ là sợ hãi, mà là sự nhục nhã và thù hận thấu xương tủy.
Sau cái đêm định mệnh đó, cái thằng Chávez “dân túy vui tính” hay hát hò trên tivi đã chết hẳn rồi. Thay vào đó là một con sói già đầy hận thù, hoang tưởng và tàn độc hơn gấp bội.
Về mặt tâm lý, Chávez mắc phải cái hội chứng mà tao gọi là “Hoang tưởng của kẻ sống sót”. Hắn tin rằng việc hắn thoát chết không phải do may mắn, mà là do Chúa trời hoặc Định mệnh đã chọn hắn. Hắn tin mình là bất tử, là hiện thân của Bolívar tái thế. Nhưng đồng thời, hắn cũng nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Hắn nhận ra rằng:
“Nương tay với kẻ thù là tự sát. Lần sau chúng nó sẽ không bắt giam mình nữa đâu, chúng nó sẽ bắn nát sọ mình ngay lập tức”.
Thế nên, ngay khi quay lại dinh Miraflores, hắn không còn chơi trò mèo vờn chuột nữa. Hắn chuyển sang chế độ “Thà giết nhầm còn hơn bỏ sót” và thực hiện một cuộc thanh trừng toàn diện trên ba mặt trận cốt tử.
Hắn hiểu rằng chừng nào đám tướng tá tốt nghiệp từ West Point hay Trường Châu Mỹ (School of the Americas) còn nắm quyền, hắn còn gặp nguy. Vì chính Hoa Kỳ đã nhúng tay trực tiếp vào cuộc đảo chính năm 2002 bằng bài “Bật đèn xanh” và “Chiến tranh tâm lý” kinh điển của việc kiểm Nam Mỹ như sân nhà của mình.
Carmona - tên tổng thống tự phong 47 tiếng, khi lên nắm quyền khiến cả Châu Mỹ Latinh và Châu Âu còn đang ngơ ngác không hiểu chuyện gì xảy ra, thì Nhà Trắng dưới thời George W. Bush đã nhanh nhảu lên tiếng đầu tiên. Người phát ngôn Nhà Trắng Ari Fleischer đã công khai đổ lỗi cho Chávez tự làm tự chịu và ngầm công nhận chính quyền mới của Carmona. Hành động này nhanh đến mức lộ liễu, kiểu như "Tao biết trước kịch bản rồi".
Sau này, các tài liệu giải mật và điều tra báo chí đã lòi ra cái đuôi chuột: Các quan chức cấp cao của Mỹ (như Otto Reich) đã gặp gỡ các lãnh đạo phe đảo chính (kể cả Carmona) tại Nhà Trắng nhiều tháng trước khi sự việc nổ ra. Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) biết rõ âm mưu đảo chính nhưng không hề cảnh báo cho chính quyền hợp hiến Venezuela (theo luật quốc tế là phải báo). Thêm vào đó, Quỹ Quốc gia vì Dân chủ (NED) của Mỹ đã bơm hàng triệu đô la cho các tổ chức “xã hội dân sự” và công đoàn đối lập – chính là cái đám tổ chức biểu tình dẫn đến vụ nổ súng ở cầu Llaguno. Mỹ không trực tiếp bóp cò, nhưng Mỹ đã mua súng, đưa đạn và vỗ vai khích lệ thằng bắn.
Thứ hai, tại sao Chávez lại phải truy sát đám tướng tá học ở Mỹ? Mày phải hiểu cái “phần mềm tư duy” mà Mỹ cài vào đầu sĩ quan quân đội các nước đồng minh. Tại các trường quân sự Mỹ (như WHINSEC), họ dạy môn “Quan hệ Dân sự - Quân sự” (Civil-Military Relations). Cốt lõi của nó là: Quân đội phải chuyên nghiệp, phi chính trị và trung thành với Hiến pháp, không được trung thành với cá nhân lãnh tụ.
Cái tư duy này chính là thuốc độc đối với Chávez. Hắn không cần một quân đội chuyên nghiệp biết tuân thủ luật pháp quốc tế. Hắn cần một đám kiêu binh sẵn sàng bắn vào dân nếu hắn ra lệnh. Đám tướng tá học ở Mỹ về thường có cái tôi rất lớn, họ coi trọng danh dự nhà binh, họ khinh thường việc quân đội đi bán gà, bán gạo hay làm tay sai chính trị. Trong vụ đảo chính 2002, chính những sĩ quan cao cấp được đào tạo bài bản nhất (như Tướng Efrain Vasquez Velasco) là những người đầu tiên từ chối lệnh trấn áp người biểu tình của Chávez vì họ cho rằng lệnh đó là vi hiến.
Chávez nhận ra rằng chừng nào quân đội còn dính dáng đến tư duy kiểu Mỹ, chừng đó cổ mình còn nằm trên thớt. Hắn gọi đó là “chủ nghĩa đế quốc trong tư tưởng”. Thế là sau năm 2002, hắn thực hiện một cuộc phẫu thuật não bộ (chính trị hóa) cho quân đội Venezuela:
Cắt đứt liên lạc với Mỹ: Đuổi cổ phái bộ quân sự Mỹ ra khỏi căn cứ Fuerte Tiuna. Cấm tiệt sĩ quan đi học ở Mỹ.
Thay máu giáo trình: Thay vì học chiến thuật của NATO, bắt sĩ quan học chiến tranh du kích, học chủ nghĩa Mác, và quan trọng nhất là học tư tưởng “Người lính cách mạng”.
Nhập khẩu “Hệ điều hành” mới: mời hàng ngàn cố vấn tình báo và quân sự Cuba (G2) sang. Cuba thì trùm về khoản xây dựng lòng trung thành và theo dõi nội bộ. Cố vấn Cuba được cài cắm vào từng đơn vị, báo cáo thẳng cho Chávez thằng nào có dấu hiệu “lệch sóng”.
Không cần nể nang gì nữa, hắn tước quân hàm, đuổi cổ hàng trăm sĩ quan cao cấp, bất kể người đó có tài hay không.
Tiêu chí duy nhất để được ở lại là: Trung thành tuyệt đối. Hắn thà dùng một thằng tướng ngu dốt nhưng biết nghe lời, còn hơn dùng một thiên tài quân sự mà dám cãi lệnh.
Từ đây, quân đội Venezuela từ một lực lượng được trang bị F-16 của Mỹ, vận hành theo chuẩn phương Tây, đã biến thành một lực lượng cầm súng AK-103 của Nga, lái máy bay Sukhoi, và vận hành theo mô hình giám sát tư tưởng của Cuba.
Chávez thà dùng vũ khí Nga dù hệ thống hậu cần không đồng bộ, cốt để đảm bảo rằng Mỹ không thể “tắt công tắc” quân đội của hắn thông qua cấm vận phụ tùng hay gây ảnh hưởng lên đám tướng lĩnh. Ngoài ra vì còn một lý do không muốn để lộ ra bên ngoài: Tiền hoa hồng (Kickback). Mua vũ khí của Mỹ thì quy trình kiểm soát gắt gao, khó ăn bớt. Nhưng mua vũ khí của Nga (thời Putin mới lên) hay Trung Quốc thì dễ thở hơn nhiều về mặt “lại quả”. Chávez đã ký những hợp đồng tỷ đô để mua máy bay Sukhoi Su-30MK2, trực thăng Mi-17, và xây cả nhà máy sản xuất súng AK-103 tại Venezuela.
Đám tướng tá mới lên (những kẻ trung thành nhưng ngu dốt) nhìn thấy cơ hội làm giàu không lối thoát. Họ trở thành những tay môi giới vũ khí, những nhà thầu quân sự. Chávez cho phép họ lập công ty riêng để lo hậu cần, vận tải, và nhập khẩu khí tài. Thế là từ những người lính, họ biến thành những doanh nhân mặc quân phục. Mà mày biết rồi đấy, khi một thằng tướng đang bận đếm tiền trong biệt thự, nó sẽ không còn thời gian đâu mà nghĩ chuyện lật đổ Tổng thống nữa
Nhưng nhiêu đó là chưa đủ, Chávez biết thừa là dù có đuổi hết tướng Mỹ, thì đám sĩ quan còn lại vẫn có súng, và súng thì vẫn nguy hiểm. Thế là hắn chơi bài "Chia để trị" ngay trong lòng lực lượng vũ trang bằng cách đẻ ra một con quái vật mới: Lực lượng Dân quân Bolivar (Milicia Bolivariana).
Hắn không tin quân đội chính quy 100%, nên hắn lập ra một đội quân riêng gồm toàn dân nghèo, bà già, ông lão, thanh niên thất nghiệp. Hắn phát cho họ những khẩu súng trường lởm khởm (thường là súng cũ hoặc súng Nga mới nhập), cho họ mặc bộ đồng phục màu be xấu xí, và gọi họ là “Nhân dân vũ trang”. Nhiệm vụ của đám này không phải là đánh giặc ngoại xâm (vì bọn họ bắn súng còn chưa thạo), mà nhiệm vụ chính là làm đối trọng với quân đội chính quy.
Một ông tướng chính quy đào tạo từ trường sĩ quan, được quân lính tôn trọng bây giờ muốn đảo chính mà nhìn ra ngoài cổng doanh trại thấy hàng ngàn “dân quân” cuồng tín Chavismo đang cầm súng canh chừng nhất cử nhất động của mình làm ý chí muốn lật đổ Chávez tắt ngụp vì sợ hãi. Đó là một thế trận kìm kẹp: Quân đội giám sát dân, còn Dân quân thì giám sát Quân đội. Hắn đưa học thuyết “Chiến tranh toàn dân” lên làm kim chỉ nam, xóa nhòa ranh giới giữa lính chuyên nghiệp và dân thường cầm súng.
Điều này làm cho danh dự của giới sĩ quan chuyên nghiệp bị chà đạp thê thảm, vì giờ đây họ phải đứng chung hàng ngũ với đám “bà bán cá” được phong hàm.
Chávez đã biến quân đội Venezuela từ một con hổ Nam Mỹ (được trang bị và đào tạo tốt nhất nhì khu vực thập niên 80-90) thành một gánh xiếc. Một gánh xiếc được trang bị tận răng bằng máy bay siêu thanh Nga, nhưng phi công thì thiếu giờ bay, bảo trì thì bỏ bê, còn tướng chỉ huy thì bận buôn lậu thực phẩm và ma túy. Cái giá phải trả cho sự "trung thành tuyệt đối" chính là sự hoại tử từ bên trong. Đến khi kinh tế sập tiệm sau này, chính cái quân đội nát bét này lại là lực lượng duy nhất còn béo tốt, vì họ đang bận trấn lột chính người dân của mình.
Cuộc đình công Dầu khí (2002-2003)
Như tao nói ở trên giới kỹ trị “cổ cồn trắng” vốn dĩ kiêu ngạo, không ưa đám chính trị gia bặm trợn từ lâu.
Juan Fernández - quản lý cấp cao của PDVSA (Petróleos de Venezuela, S.A.) - với phong thái lịch lãm, nói tiếng anh như người bản xứ - một ví dụ điển hình của giới tinh hoa được đào tạo bài bản đã đứng ra làm đại diện cho nhóm "Gente del Petróleo" (Người Dầu khí) - một tổ chức không chính thức của các kỹ sư, chuyên gia, quản lý trong “con gà đẻ trứng vàng” PDVSA.
Đám này tự coi mình như “đẳng cấp Bà La Môn” của Ấn Độ: thông minh nhất, giàu có nhất và xem Chávez và đám bộ sậu như lũ khỉ đột mới trèo xuống từ cây, không biết gì về văn minh quản trị.
Mâu thuẫn đã âm ỉ từ khi Chávez mới lên nắm quyền năm 1999 nhưng cái thùng thuốc nổ này chỉ bắt đầu bén lửa khi Chávez dám đưa bàn tay nhám nhúa của chính trị thọc vào "thánh địa" chuyên môn của họ. Mục đích chính là kiểm soát “vàng đen” - thứ đảm bảo được bọn lính tráng trung thành và đám tùy tùng lẫn dân đen tiếp tục bỏ phiếu tín nhiệm cho Chávez.
Đầu năm 2002, vì là một công ty quốc doanh nên Chávez với tư cách nguyên thủ quốc gia đã bổ nhiệm một ban lãnh đạo mới cho PDVSA, đứng đầu là Gaston Parra Luzardo – một giáo sư kinh tế cánh tả già nua, người mà đám kỹ sư PDVSA coi là một kẻ ngoại đạo ngu dốt. Trong giới kỹ trị, PDVSA vận hành theo nguyên tắc vàng: Meritocracia (Chế độ nhân tài). Tức là mày giỏi thì mày lên, mày ngu thì mày xuống, chính trị gia cấm cửa. Việc Chávez cài cắm người của mình vào hội đồng quản trị bị họ coi là một sự sỉ nhục vào lòng tự trọng nghề nghiệp và là bước đầu tiên để biến tập đoàn thành công cụ chính trị. Diễn biến trước khi lên cao trào là một cuộc “đấu trí” căng thẳng từng ngày một.
Ban đầu, vào những tháng cuối năm 2002, sau khi Chávez quay lại quyền lực từ cú đảo chính hụt, hắn bắt đầu rục rịch trả thù. Juan Fernández và nhóm Gente del Petróleo nhận thấy thời gian không còn nhiều. Họ bắt tay với Carlos Ortega (trùm công đoàn CTV) và Carlos Fernández (trùm giới chủ Fedecámaras - thay thế Pedro Carmona đã bỏ trốn). Họ quyết định chơi ván bài tất tay: “Paro Cívico” (Đình công Công dân) bắt đầu từ ngày 2 tháng 12 năm 2002.
Khác với những cuộc đình công thông thường là công nhân vứt kìm búa đi về nhà ngủ, cuộc đình công của giới tinh hoa dầu khí này thâm độc và “có học” hơn nhiều. Họ không đập phá máy móc. Họ dùng trí tuệ để làm tê liệt hệ thống.
Đầu tiên, các thuyền trưởng của hạm đội tàu chở dầu PDVSA quyết định thả neo. Điển hình nhất là vụ con tàu Pilín León chở đầy xăng thả neo ngay tại kênh đào hồ Maracaibo. Thuyền trưởng tuyên bố: “Tao không nhổ neo cho đến khi Chávez từ chức”. Hình ảnh con tàu khổng lồ nằm im lìm trở thành biểu tượng của sự thách thức. Việc này làm tắc nghẽn toàn bộ chuỗi cung ứng, vì dầu thô hút lên không có tàu chở đi, kho chứa bị đầy, buộc các giàn khoan phải ngừng hoạt động.
Tiếp theo đám kỹ sư IT và vận hành của PDVSA đã can thiệp vào bộ não điện tử của tập đoàn. Họ thay đổi mật khẩu truy cập hệ thống, họ khóa mã các phần mềm điều khiển van dầu từ xa, họ ngắt kết nối các máy chủ dữ liệu với trụ sở chính. Mày hình dung Chávez ngồi trong dinh Tổng thống, ra lệnh “Bơm dầu đi!”, nhưng các màn hình điều khiển tại trung tâm đều tối đen hoặc báo lỗi “Access Denied”. Hệ thống dầu khí phức tạp bị biến thành cục gạch. Họ muốn chứng minh cho Chávez thấy: “Không có bộ não của bọn tao, mày chỉ là thằng ăn mày ngồi trên đống vàng”.
Căng thẳng leo thang từng giờ. Các trạm xăng cạn kiệt. Dân chúng xếp hàng dài cả cây số để mua từng lít xăng. Gas nấu ăn hết sạch, dân phải chặt củi nấu cơm ngay giữa thủ đô. Nền kinh tế tê liệt hoàn toàn. Phe đối lập hí hửng tin rằng Chávez sẽ phải quỳ gối xin hàng trong vòng 1 tuần vì không chịu nổi áp lực xã hội và cạn tiền.
Nhưng họ đã tính sai một nước cờ: Họ đánh giá thấp độ lỳ đòn và sự tàn nhẫn của Chávez. Thay vì đàm phán, Chávez coi đây là hành động phản quốc và khủng bố. Hắn huy động quân đội (lúc này đã được thanh lọc) xông vào cưỡng chế các nhà máy lọc dầu. Hắn đưa lính lên tàu Pilín León dí súng vào đầu thủy thủ đoàn bắt nhổ neo (dù lính đếch biết lái tàu, phải nhờ chuyên gia nước ngoài giúp). Và cuối cùng Chávez lên tivi thổi còi (cái còi trọng tài bóng đá) và sa thải trực tiếp 18.000 nhân viên của PDVSA – từ giám đốc đến kỹ sư vận hành.
Cuối cùng, Juan Fernández phải trốn sang Mỹ tị nạn sau đó Chávez lấp đầy khoảng trống của các kỹ sư MIT, Harvard bằng đám người mà tiêu chuẩn duy nhất là mặc áo đỏ và hô to khẩu hiệu "Viva Chávez". Hắn giao tập đoàn cho Rafael Ramírez, một kẻ trung thành mù quáng, người sau này nổi tiếng với câu nói để đời:
"PDVSA là đỏ, đỏ rực (Rojo, rojito). Ai không thoải mái với điều này thì cút xéo"
Dầu của Venezuela, đặc biệt là ở vành đai Orinoco, không phải là loại dầu ngọt nhẹ (light crude) sủi tăm như champagne của Ả Rập Xê Út mà dạng Dầu siêu nặng (Extra Heavy Crude).
Nó đặc quánh như nhựa đường (hắc ín) rải đường vậy. Ở nhiệt độ thường, nó không chảy được. Mày không thể cứ thế mà hút nó lên rồi đổ vào thùng bán. Muốn khai thác nó, mày cần một quy trình kỹ thuật cực kỳ phức tạp và tốn kém: phải bơm hơi nước nóng xuống lòng đất để làm loãng nó ra, hoặc pha trộn nó với dung môi (như Naphtha), rồi phải đưa qua các nhà máy khổng lồ gọi là “Upgraders” (Nhà máy nâng cấp) để “xào nấu”, tách lưu huỳnh, tách kim loại nặng thì mới ra được thứ dầu thương phẩm bán được.
18.000 người vừa bị đuổi kia là những bậc thầy của quy trình "xào nấu" phức tạp này. Họ biết chính xác áp suất bơm là bao nhiêu để cái giếng không bị sập (nếu bơm sai, cấu trúc địa chất sụp đổ, cái giếng coi như vứt đi vĩnh viễn). Họ biết khi nào cần bảo trì các tháp chưng cất để nó không nổ tung. Họ biết cách quản lý hàng nghìn km đường ống dẫn dầu chạy dưới lòng hồ Maracaibo nước mặn chát để nó không bị rỉ sét.
Khi Chávez đuổi cổ bọn này và thay bằng đám “hồng hơn chuyên” (lũ trung thành nhưng dốt nát), thảm họa bắt đầu theo quy trình “lỗ dần vào vốn”.
Đám quản lý mới không biết cách điều áp. Chúng nó muốn lấy thành tích dâng lên Chávez, nên cứ mở van hết cỡ để hút cho nhanh (ép giếng). Hậu quả là áp suất mỏ tụt đột ngột, đất đá sập xuống bịt kín mạch dầu. Những cái giếng lẽ ra khai thác được 30 năm thì chỉ sau 3-4 năm là chết lâm sàng, không hồi phục được nữa. Đó là lý do sản lượng cứ tụt dần đều.
Thứ hai là sự ngừng bảo trì (Cannibalization). Trong các phim tài liệu về sự suy thoái kinh tế của Venezuela luôn có những phân cảnh máy móc rỉ sét, các giếng dầu bị bỏ hoang. Vốn dĩ các loại máy móc để vận hành ổn định, liên tục trong thời giai dài cần được thay thế phụ tùng liên tục tránh bị ăn mòn do quá trình khai thác cường độ cao. Nhưng đám quản lý mới vừa dốt vừa tham, tiền bảo trì chúng nó đút túi hoặc đem đi làm từ thiện chính trị. Khi một cái máy bơm hỏng, thay vì mua phụ tùng mới, chúng nó tháo phụ tùng từ cái máy bên cạnh lắp sang. Dần dần, cả một hệ thống máy móc biến thành đống sắt vụn rỉ sét . Hồ Maracaibo, từng là trái tim của ngành dầu khí, biến thành nghĩa địa của hàng ngàn giàn khoan ma.
Khi đường ống rỉ sét và vỡ, quy trình chuẩn là phải khóa van, quây dầu loang và sửa chữa ngay lập tức. Nhưng đám nhân viên mới không biết quy trình, hoặc lười, hoặc sợ báo cáo lên trên sẽ bị chửi. Thế là chúng nó... kệ mẹ cho dầu chảy. Dầu thô hòa với nước hồ, giết chết tôm cá, đóng váng đen kịt lên bờ bãi.
Những ngư dân ở hồ Maracaibo giờ kéo lưới lên toàn là dầu nhớt, lưới hỏng, động cơ cano bị dầu làm tắc nghẽn hỏng máy. Cá thì chết hoặc nhiễm độc không ai dám ăn. Làng chài chết đói. Còn đám công nhân tay chân (lao công, bảo vệ, lái xe, thợ hàn) trong PDVSA khi giàn khoan ngừng chạy, nhà máy đóng cửa cũng bị đá ra đường ăn xin dù cho có mở mồm ủng hộ Chávez đi nữa, nhưng không có việc làm thì cũng chết đói.
Để vắt hết cọng lông của con gà đẻ trứng vàng, PDVSA bị biến thành một Bộ An sinh Xã hội khổng lồ kiêm cái máy rút tiền ATM không đáy. Từ một công ty quốc doanh chỉ quan tâm đến chuyện khoan giếng, lọc dầu, bảo trì đường ống, thì ban lãnh đạo PDVSA lại bận rộn đi... bán gà đông lạnh, phân phối sữa bột và xây nhà xã hội.
PDVAL (Công ty Sản xuất và Phân phối Thực phẩm Venezuela), một công ty con mà Chávez bắt PDVSA đẻ ra để nhập khẩu thực phẩm giá rẻ cho dân. Đám kỹ sư dầu khí đang quen tính toán áp suất giếng khoan đùng một cái bị bắt đi đàm phán mua thịt bò, sữa bò, đậu đen từ nước ngoài. Chuyên môn, kinh nghiệm không có nhưng lại thừa tiền mặt từ bán dầu và lòng tham vô đáy nên cái đám ngu dốt này đã nhập khẩu vô tội vạ để ăn tiền hoa hồng (kickback) từ các nhà cung cấp nước ngoài. Hàng ngàn container thực phẩm nhập về cảng Puerto Cabello nhưng không ai thèm phân phối vì... lười, hoặc vì hệ thống kho bãi không có điện.
Năm 2010, người ta phát hiện ra hơn 130.000 tấn thực phẩm (thịt, gà, sữa, mì ống) đang thối rữa, bốc mùi hôi thối nồng nặc, giòi bọ lúc nhúc ngay tại cảng. Dân thì đói, xếp hàng rồng rắn mua từng gói bột ngô, trong khi thực phẩm do tiền dầu mỏ mua về thì bị đem đi chôn hoặc đốt vì thối. Người dân Venezuela gọi châm biếm vụ này là "Pudreval" (Pudre nghĩa là thối rữa). Đây là minh chứng hùng hồn nhất cho việc dùng tiền dầu để làm an sinh xã hội một cách ngu dốt và tham nhũng có hệ thống.
Trong khi các giàn khoan ở hồ Maracaibo thiếu từng con ốc vít, thiếu sơn chống rỉ, thì PDVSA lại ký séc chi tới 50 triệu đô la mỗi năm để tài trợ cho đội đua Williams F1, chỉ để dán cái logo PDVSA lên chiếc xe đua chạy vòng vòng quanh thế giới. Pastor Maldonado, được mệnh danh là "Crashtor" vì hay đâm xe, trở thành biểu tượng cho sự ném tiền qua cửa sổ của Chávez. Lợi nhuận công ty (sau này là vay nợ) thay vì để trả lương cho công nhân của công nhân nhà máy lọc dầu đang bị lạm phát ăn mòn trong môi trường rò rỉ khí độc thì nó lại xuất hiện trên tivi để thấy cái xe đua F1 bị bốc chạy trên đường đua Monaco.
Và rồi cái gì đến cũng phải đến, mọi sự ngu dốt và tắc trắc đều phải trả giá. Vì đã đuổi hết chuyên gia bảo trì và an toàn, lại còn cắt giảm ngân sách đầu tư để dồn tiền làm từ thiện lấy phiếu, các nhà máy lọc dầu của Venezuela trở thành những quả bom nổ chậm.
Nhà máy lọc dầu Amuay thuộc tổ hợp Trung tâm Lọc dầu Paraguaná (CRP) lớn thứ hai thế giới, là niềm tự hào của kỹ thuật Venezuela. Nhưng dưới thời Chávez, ngân sách bảo trì (maintenance budget) bị cắt giảm thê thảm để dồn tiền cho các chiến dịch tranh cử và các sứ mệnh xã hội. Năm 2011, PDVSA đã hủy bỏ 9 đợt bảo dưỡng lớn theo quy định. Các van an toàn, các cảm biến khí gas đã quá hạn sử dụng cả chục năm nhưng không được thay thế.
Đêm ngày 25 tháng 8 năm 2012, một đám mây khí gas (olefin) bị rò rỉ từ một máy bơm bị hỏng gioăng cao su. Bình thường, hệ thống cảm biến phải hú còi báo động để sơ tán, và hệ thống chữa cháy tự động phải kích hoạt. Nhưng không, cảm biến đã bị vô hiệu hóa vì nó hay báo lỗi giả (do hỏng hóc không sửa), và lính cứu hỏa thì thiếu thiết bị. Đám mây khí gas trôi là là mặt đất, lan sang doanh trại của Lực lượng Vệ binh Quốc gia gần đó.
Và... BÙM!
Một vụ nổ có sức công phá tương đương một quả bom hạt nhân chiến thuật xé toạc màn đêm. Hơn 40 người chết ngay lập tức, chủ yếu là lính vệ binh và gia đình họ, hàng trăm ngôi nhà xung quanh bị san phẳng.
Cái tàn nhẫn nhất không phải là vụ nổ, mà là thái độ của Chávez sau đó. Khi đến hiện trường, đi giữa đống đổ nát và xác người, thay vì nhận trách nhiệm hay xin lỗi, Chávez thốt ra một câu lạnh lùng:
"La función debe continuar" (Vở diễn vẫn phải tiếp tục).
Hắn coi mạng sống của công nhân và người dân chỉ là những tổn thất phụ (collateral damage) trong cuộc cách mạng vĩ đại của hắn. Hắn đổ lỗi cho một "âm mưu phá hoại" vô hình nào đó của đế quốc Mỹ, cấm tiệt mọi cuộc điều tra độc lập. Vụ nổ Amuay chính là phát súng ân huệ kết liễu uy tín kỹ thuật của PDVSA.
Sau vụ nổ đó, công suất lọc dầu của của Venezuela chưa bao giờ hồi phục tính đến thời điểm tao viết bài này vào năm 2026. Một nhà máy lọc dầu hiện đại như Amuay hay Cardón nó không phải là cái bếp lò đun nước sôi, nó là một tổ hợp hóa chất cực kỳ tinh vi, giống như một cái đồng hồ Thụy Sĩ khổng lồ vậy. Vụ nổ không chỉ phá hủy các bồn chứa mà còn phá hủy nốt các đơn vị Cracking xúc tác và đơn vị Alkylation. Đây là những "bộ lòng" quan trọng nhất để biến dầu thô (đặc biệt là cái thứ dầu siêu nặng như hắc ín của Venezuela) thành xăng thành phẩm.
Khi đám "hồng hơn chuyên" của Chávez tiếp quản đống đổ nát đó, chúng nó đối mặt với hai vấn đề: Một là không biết sửa, hai là không có tiền mua linh kiện. Các thiết bị này toàn là công nghệ Mỹ và Châu Âu, muốn sửa phải đặt hàng chính hãng. Nhưng vì PDVSA nợ đầm đìa và bị mang tiếng xấu (không chịu trả tiền nhà thầu), chẳng ai thèm bán chịu cho nữa.
Vì vậy chúng tháo linh kiện từ nhà máy này đắp sang nhà máy kia, tháo van từ tổ máy số 2 lắp sang tổ máy số 1 đang hỏng. Kết quả là thay vì có 2 nhà máy chạy 50% công suất, chúng nó có cả một hệ thống nát bét chạy 10% công suất rồi chết hẳn.
Vì không được dầu nên Venezuela rơi vào cái vòng luẩn quẩn nhục nhã: Phải nhập khẩu xăng và chất pha loãng (diluents). Thứ dầu Venezuela đặc như nhựa đường muốn đem xuất khẩu lấy tiền đô thì phải pha nó với một loại dung môi nhẹ (như Naphtha) để nó chảy được trong đường ống. Trước đây, PDVSA tự sản xuất được Naphtha. Giờ nhà máy hỏng, không làm được nữa, nên phải bỏ tiền đô la tươi thóc thật ra mua Naphtha từ... Mỹ (kẻ thù số 1) về để pha chế. Tức là bán dầu thô thì rẻ, nhưng phải nhập nguyên liệu pha chế thì đắt. Lời lãi bị ăn mòn sạch bách chỉ để có có xăng cho xe tải chạy trong khi nhập từ nước ngoài rẻ hơn. Đến khi Mỹ cấm vận không bán Naphtha nữa vào năm 2019, thì ngành dầu khí Venezuela coi như bị rút ống thở, nằm liệt giường luôn.
Mày nghĩ giá xăng dầu lúc này với thu nhập người dân Venezuela thế nào? Dưới thời Chávez và những năm đầu của Maduro, giá xăng không đắt, mà nó RẺ HƠN NƯỚC LÃ. Vì sợ dân nổi loạn (như vụ Caracazo năm 1989 khi chính phủ định tăng giá xăng), nên hắn bao cấp toàn bộ) bằng cách dùng tiền dầu thô bù lỗ cho xăng. Với Chávez, xăng rẻ là một "quyền lợi xã hội" để mua chuộc lòng dân. Vài bằng bạc lẻ từ thuế xăng đánh lên doanh nghiệp có thể thay bằng việc kiếm tiền xuất khẩu dầu thô ra thế giới.
Mày có thể đổ đầy bình xăng chiếc xe tải 50 lít bằng số tiền không mua nổi một viên kẹo cao su. Giá rẻ đến mức tiền in cái tờ hóa đơn còn đắt hơn tiền xăng thu được.
Nhưng cái gì cũng có giá của nó. Vì xăng rẻ như cho, nên sinh ra nạn Buôn lậu xăng dầu (Bachaqueo) sang Colombia. Dân nghèo, băng đảng, và đặc biệt là Vệ binh Quốc gia (lũ có súng canh biên giới) thi nhau chở xăng sang biên giới bán lãi gấp hàng nghìn lần. PDVSA mỗi năm lỗ hàng chục tỷ đô la chỉ để bao cấp cho cái trò buôn lậu này. Tiền chảy vào túi bọn buôn lậu, còn nhà nước thì rỗng túi.
Nhưng khi sản lượng dầu thô sụt giảm (do PDVSA nát), nguồn thu chính biến mất, thì cái gánh nặng bao cấp xăng dầu trở thành hòn đá tảng dìm chết ngân sách quốc gia. Đến lúc Maduro muốn tăng giá xăng để thu tiền thì đã quá muộn, nền kinh tế đã chết lâm sàng, dân không còn tiền để mà vặt lông nữa rồi. Hiện tại ở Venezuela tồn tại hai loại giá xăng:
Giá bao cấp: Rẻ, nhưng muốn mua thì mày phải xếp hàng 2-3 ngày, ngủ trong xe hơi, đút lót cho lính canh, và chưa chắc đã đến lượt.
Giá quốc tế (Dollarized): Khoảng 0.5 USD/lít. Nghe thì có vẻ rẻ so với Việt Nam hay Mỹ, nhưng so với thu nhập của dân Venezuela thì nó là CẮT CỔ.
Một giáo viên hay y tá ở Venezuela hiện nay có mức lương cơ bản (tính theo tiền Bolivar mất giá) chỉ khoảng 3 đến 5 USD/tháng. Mày nghe kỹ nhé: MỘT THÁNG. Nếu đổ xăng giá quốc tế, đổ đầy một bình 40 lít mất 20 USD.
Tức là một lần đổ xăng tốn bằng 4 đến 6 tháng lương của một người lao động bình thường. Thế thì đi làm bằng niềm tin à? Dân phải đi bộ, đi xe đạp, hoặc chen chúc trên những chiếc xe tải chở gia súc (gọi là "kennels") để đi làm. Chỉ có tầng lớp tham nhũng, buôn lậu hoặc có người nhà gửi đô la về mới dám chạy xe hơi.
Từ một nước xuất khẩu xăng, Venezuela giờ đây là kẻ ăn mày, phải chờ từng tàu xăng cứu trợ từ Iran cập cảng. Các nhà máy lọc dầu thì đứng sừng sững như những xác chết khổng lồ bên bờ biển, làm di tích cho một thời kỳ ngu dốt mà nhân loại chưa từng thấy. Nhưng nếu mày cứ nhìn qua cái lăng kính chống cộng của Cold War rồi phán “đấy thấy hậu quả của việc rước cộng sản về nhà chưa” thì tao chỉ biết mắc cười, Venezuela ngồi trên đống vàng đen mà chết khát tiền đổ xe chỉ vì lòng tham, ngu dốt và quản lý bất tài một cách có chủ đích. Việc xài ý thức hệ để làm kết luận cuối cùng chỉ cho thấy cái góc nhìn ngu dốt, nông cạn của bè lũ chống cộng ngu si mà thôi.
Cơn mưa tiền và Ảo ảnh Thịnh vượng (2004 - 2008)
Chó ngáp phải ruồi
Lại một lần nữa Chávez lại gặp may khi giá dầu thế giới tăng phi mã, đỉnh điểm lên tới 147 USD/thùng (7/2008) bấp chấp sự mục nát của PDVSA.
Giai đoạn 2004-2014 là thời điểm con rồng Trung Quốc thức tỉnh và đói khát năng lượng hóa thạch đến mức điên cuồng. Sau gia nhập WTO năm 2001, Trung Quốc biến thành "công xưởng của thế giới". Cả nước như một đại công trường khổng lồ: xây đường cao tốc, xây sân bay, xây thành phố ma, sản xuất từ cái kim đến tàu vũ trụ cho dư thừa đủ cho cả hành tinh dùng.
Để nuôi cái guồng máy sản xuất khổng lồ đó, Trung Quốc cần dầu, cần rất nhiều dầu. Họ đi khắp thế giới vơ vét nhiên liệu, đẩy nhu cầu (Demand) lên mức kỷ lục chưa từng có. Thế giới lúc đó bơm không kịp để bán cho Trung Quốc. Chávez may mắn ngồi đúng vào cái ghế Tổng thống Venezuela ngay lúc thằng hàng xóm khổng lồ bên kia đại dương đang khát nước, và nước nó cần uống chính là dầu của Chávez. Các nhà kinh tế gọi đây là “Siêu chu kỳ hàng hóa” (Commodities Supercycle), và Venezuela là thằng trúng số độc đắc.
Trong khi cầu (Trung Quốc) tăng vọt thì cung lại bị đe dọa bởi súng đạn. Năm 2003, Mỹ đánh Iraq. Sau đó là căng thẳng hạt nhân với Iran, rồi đến các cuộc nội chiến, và đỉnh điểm là Mùa xuân Ả Rập năm 2011 làm loạn cả khu vực Bắc Phi và Trung Đông (Libya, Ai Cập). Giới đầu tư tài chính cực kỳ sợ hãi việc nguồn cung dầu bị cắt đứt bất ngờ. Khi sợ hãi, họ làm gì? Họ mua hợp đồng dầu mỏ tương lai (Futures) để tích trữ. Cái này gọi là “Phí bảo hiểm rủi ro” (Risk Premium). Giá dầu tăng không phải vì thiếu dầu thực tế, mà vì người ta sợ ngày mai sẽ thiếu. Mỗi lần một quả bom nổ ở Baghdad hay một lời đe dọa từ Tehran là Chávez lại bỏ túi thêm vài tỷ đô la mà không cần làm gì cả.
Có một yếu tố thứ ba nghe hơi nghịch lý là là Sự suy yếu của đồng Đô la Mỹ. Trước cuộc khủng hoảng tài chính 2008, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã bơm tiền ngập thị trường (gói nới lỏng định lượng QE) và hạ lãi suất về gần 0 để cứu kinh tế Mỹ hậu bong bóng Dotcom. Tiền rẻ tràn ngập thế giới, và đồng Đô la mất giá. Mà mày biết rồi đấy, dầu được định giá bằng Đô la. Khi Đô la giảm giá trị, thì giá dầu (tính bằng số lượng tờ đô la) phải tăng lên để bù đắp. Giới đầu cơ cầm tiền rẻ trong tay không biết làm gì bèn đổ xô đi mua vàng và dầu để giữ giá trị. Chávez, kẻ luôn mồm chửi đế quốc Mỹ, lại sống khỏe nhờ chính cái chính sách in tiền của Mỹ.
Thêm một yếu tố tâm lý nữa là cái huyền thoại về “Đỉnh dầu” (Peak Oil). Lúc đó, công nghệ khai thác dầu đá phiến (fracking) của Mỹ chưa hoàn thiện và chưa bùng nổ như sau năm 2014. Người ta tin rằng dầu mỏ sắp cạn kiệt, thế giới đã khai thác hết những mỏ dễ ăn rồi. Tâm lý “hàng hiếm” càng khiến giá bị đẩy lên cao chót vót. Không ai nghĩ rằng chỉ vài năm sau, Mỹ sẽ trở thành nước xuất khẩu dầu số 1 thế giới nhờ công nghệ mới và đánh sập giá dầu.
Chávez và đám đệ tử của hắn, vì không có kiến thức kinh tế vĩ mô, đã nhìn vào cái biểu đồ giá dầu dựng đứng đó và ảo tưởng rằng đó là "trạng thái bình thường mới".
Nợ PDVSA tăng từ 3.7 tỷ USD lên 19 tỷ USD trong giai đoạn 2004-2008. Chi phí vận hành bởi đám Chavismo ngu dốt tăng 11.8 lên 15.3 tỷ USD. Trong khi sản lượng khai thác thì tụt dốc không phanh, giảm từ ~3.4 triệu thùng/ngày (1998) xuống <2.6 triệu thùng/ngày (2005). Lời nguyền tài nguyên lại một lần nữa tái diễn khi việc bán dầu chiếm đến 64% thu ngân sách (2008) so với 31% (1998).
Chúng nghĩ rằng giá dầu sẽ vĩnh viễn ở mức 100 đô, thậm chí lên 200 đô nên mặc sức chi tiêu ngân sách quốc gia và vay nợ nước ngoài dựa trên cái giả định điên rồ đó.
Chủ nợ lớn nhất, hào phóng nhất và cũng thâm sâu nhất chính là Trung Quốc. Trong giai đoạn từ 2007 đến 2014, Bắc Kinh đã bơm cho Venezuela tổng cộng khoảng 65 tỷ USD. Con số này khổng lồ đến mức Venezuela chiếm tới hơn một nửa tổng số tiền Trung Quốc cho cả khu vực Mỹ Latinh vay. Ngoài ra còn có Nga (khoảng 17 tỷ USD thông qua Rosneft và bán vũ khí) và Phố Wall (thông qua phát hành trái phiếu chính phủ).
Đám chủ nợ (mà chủ yếu là Bắc Kinh) sáng tạo ra một cái máy hút máu gọi là "Quỹ Hợp tác Trung Quốc - Venezuela" (Fondo Chino). Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB) chuyển hàng tỷ đô la tiền mặt vào tài khoản của quỹ này. Venezuela không cần thế chấp đất đai hay cảng biển, mà họ thế chấp bằng "Dầu Tương lai". Tức là, PDVSA có nghĩa vụ phải gửi hàng trăm nghìn thùng dầu mỗi ngày sang Trung Quốc để trừ nợ.
Tiền nợ thì tính bằng Đô la Mỹ, nhưng trả nợ thì bằng Dầu. Khi giá dầu cao (100 USD/thùng), Venezuela chỉ cần gửi ít dầu là đủ trả lãi. Nhưng khi giá dầu sập (xuống 30-40 USD), Venezuela phải gửi gấp đôi, gấp ba lượng dầu mới đủ trả cùng một khoản nợ đó. Lúc cần bán dầu lấy tiền nhất (khi giá thấp) thì lại không có dầu để bán vì phải mang đi trả nợ hết rồi. Giống như đi vay nặng lãi, lúc đầu lãi nhẹ, nhưng khi mày thất nghiệp thì lãi mẹ đẻ lãi con, mày phải đi làm không công cho chủ nợ cả đời. Đây cũng là số dầu bị Trump tịch thu sau khi phế truất Maduro vào đầu năm 2026.
Ngoài Trung Quốc, Chávez còn vay của Phố Wall (Wall Street) thông qua việc phát hành Trái phiếu Chính phủ (Bonos Soberanos) và trái phiếu PDVSA.
Tại sao bọn tư bản Mỹ lại tin và cho một kẻ ghét Mỹ vay tiền? Vì Lòng Tham.
Chávez chơi bài “liều ăn nhiều”. Trong khi trái phiếu Mỹ hay Châu Âu chỉ có lãi suất 1-2%, trái phiếu Venezuela trả lãi suất lên tới 12-15%. Đây là mức lãi suất của bọn cờ bạc liều lĩnh. Giới đầu cơ tài chính thế giới, từ Goldman Sachs cho đến các quỹ hưu trí, đều lao vào mua trái phiếu Venezuela bất chấp rủi ro chính trị, vì họ tin rằng với giá dầu 100 USD, Venezuela không bao giờ vỡ nợ. Họ gọi đây là “Trái phiếu Bolivar” – món hàng nóng bỏng tay nhưng siêu lợi nhuận. Tiền từ bán trái phiếu chảy thẳng vào ngân khố hoặc các quỹ đen (như FONDEN) để Chávez tiêu xài mà không chịu sự giám sát của Quốc hội.
Về tài sản thế chấp khi vỡ nợ, Trung Quốc và Nga đòi có quyền siết nợ bằng tài sản dầu khí. Điển hình là Nga (thông qua Rosneft) đã khôn ngoan hơn Trung Quốc ở chỗ họ đòi thế chấp bằng cổ phiếu của CITGO (công ty con của PDVSA tại Mỹ, sở hữu hệ thống lọc dầu và trạm xăng khổng lồ). Khi Venezuela kiệt quệ, Nga đã nắm trong tay gần 50% cổ phần của CITGO như một con tin. Tức là tài sản chiến lược của Venezuela nằm trên đất Mỹ nhưng lại bị cầm cố cho Nga. Còn với Trung Quốc, họ không cần lấy đất, họ chỉ cần đảm bảo rằng trong vòng 20 năm tới, bất cứ giọt dầu nào Venezuela hút lên đều phải ưu tiên chảy về Bắc Kinh trước khi được bán ra thị trường. Venezuela trở thành nô lệ năng lượng, làm bao nhiêu cúng cho chủ nợ bấy nhiêu.
Tại sao các chủ nợ lại tin Chávez?
Với Trung Quốc, đây không chỉ là bài toán kinh tế mà là Địa chính trị. Trung Quốc đang trỗi dậy, họ cần đảm bảo an ninh năng lượng (cần nguồn dầu ổn định thay vì phụ thuộc Trung Đông). Hơn nữa, bơm tiền cho Venezuela là cách Trung Quốc cắm một cái gai vào sân sau của Mỹ. Họ chấp nhận rủi ro mất tiền để đổi lấy quyền lực mềm và quyền khai thác tài nguyên lâu dài. Họ tính toán rằng dù chế độ nào lên nắm quyền cũng vẫn phải bán dầu, và Trung Quốc sẽ là người mua lớn nhất.
Với Phố Wall, họ tin vào ảo ảnh giá dầu. Như tao đã nói ở trên, cái tâm lý “Đỉnh dầu” khiến ai cũng nghĩ tiền của Venezuela là vô tận. Họ không tin một quốc gia có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới lại có thể vỡ nợ. Họ đã sai lầm khi đánh giá thấp mức độ phá hoại của đám lãnh đạo PDVSA. Đến năm 2017, khi Venezuela chính thức vỡ nợ trái phiếu, giới đầu tư Phố Wall mới ngớ người ra là mình đang cầm một đống giấy lộn, nhưng lúc đó thì đám cá mập đã chốt lời và chạy từ lâu rồi, chỉ có những nhà đầu tư nhỏ lẻ là chết chìm.
Ảo ảnh thịnh vượng
Nhờ cầm trên tay núi tiền từ trên trời rơi xuống nhờ giá dầu cao và các khoản nợ được vay một cách dễ dãi Chávez đã tạo ra một "Thiên đường ảo giác" đẹp như trong tranh vẽ. Khoảng thời gian 2004-2012 chính là lúc Venezuela biến thành cái "Disneyland xã hội chủ nghĩa", nơi mà tiền từ trên trời rơi xuống và ai cũng có quà mang về. Nếu mày là một người dân nghèo sống trong các khu ổ chuột (Barrios) lúc đó, mày sẽ thấy Chávez không phải là tổng thống, ông ấy là Thánh sống.
Chávez cho tiến hành cơn mưa quà tặng trong nước mang tên các Sứ mệnh (Misiones). Đây không phải là chính sách an sinh xã hội kiểu "phát chẩn" nhỏ giọt như các đời tổng thống trước, mà là một cuộc tổng tấn công vào nghèo đói bằng tiền tấn. Chávez nhận ra một điều: Muốn dân yêu mình, đừng hứa hẹn vĩ mô, hãy nhét thức ăn vào mồm họ và chữa bệnh cho con cái họ ngay lập tức.
Misión Barrio Adentro
Sứ mệnh nổi tiếng nhất, gây xúc động mạnh nhất là Misión Barrio Adentro (Sứ mệnh Tiến vào Xóm liều). Trước đây, dân nghèo ở trên các sườn đồi Caracas cả đời không biết mùi bệnh viện là gì, ốm là cúng bái hoặc chờ chết. Chávez đã làm một cuộc trao đổi lịch sử với Fidel Castro: Venezuela gửi dầu sang Cuba, Cuba gửi 30.000 bác sĩ và nhân viên y tế sang Venezuela.
Một ngày đẹp trời, ngay cạnh túp lều rách nát của mày mọc lên một cái phòng khám bát giác (Módulo) sạch sẽ, có bác sĩ nói tiếng Tây Ban Nha giọng lơ lớ (giọng Cuba) khám bệnh miễn phí, phát thuốc miễn phí 24/7. Cảm giác đó nó "phê" lắm. Người dân cảm thấy lần đầu tiên họ được đối xử như con người. Chávez đã đem y tế đến tận giường ngủ của dân nghèo theo đúng nghĩa đen.
Đằng sau cái hào quang "nhân đạo" của Barrio Adentro là một trong những phi vụ buôn bán con người và thao túng chính trị tinh vi nhất thế kỷ 21. Cả Havana và Caracas đều không làm từ thiện, chúng đang chơi một ván bài sòng phẳng đến tàn nhẫn trên lưng của chính các bác sĩ và người bệnh.
Sau khi Liên Xô sụp đổ, Cuba đói ngoại tệ và xăng dầu. Fidel Castro nhìn thấy ở Chávez một mỏ vàng. Cuba có thừa bác sĩ (nhân lực) nhưng thiếu tiền. Fidel biến bác sĩ thành "mặt hàng xuất khẩu" chủ lực.
Venezuela gửi cho Cuba khoảng 53.000 đến 100.000 thùng dầu mỗi ngày (tùy thời điểm). Đổi lại, Cuba duy trì khoảng 20.000 - 30.000 nhân viên y tế tại Venezuela.
Venezuela trả cho nhà nước Cuba trung bình khoảng 4.000 - 10.000 USD/tháng cho mỗi đầu bác sĩ (tùy cấp bậc). Nhưng bản thân người bác sĩ chỉ nhận được khoảng 200 - 400 USD tiền túi (stipend) để sống tại Venezuela. Phần còn lại (khoảng 80-90%) đám lãnh đạo ở Havana đút túi.
Bác sĩ Cuba thực chất là những "nô lệ áo trắng" mang về cho chính quyền Cuba khoảng 6 - 8 tỷ USD mỗi năm (từ các phái bộ trên toàn cầu, trong đó Venezuela là khách sộp nhất). Ngay khi xuống sân bay Maiquetía, hộ chiếu của họ bị "quản lý" tịch thu. Họ không thể tự ý rời khỏi Venezuela hay về nước thăm nhà.
Trong mỗi đoàn y tế luôn có cài cắm các nhân viên an ninh Cuba (G2) dưới danh nghĩa "cố vấn pháp lý" hoặc quản lý hành chính. Nhiệm vụ của bọn này là soi mói xem bác sĩ nào có tư tưởng đào tẩu, ai hay nói xấu chế độ, ai quan hệ tình cảm với người bản địa (bị cấm tiệt). Nếu một bác sĩ đào tẩu, họ sẽ bị cấm nhập cảnh về Cuba thăm gia đình trong ít nhất 8 năm. Đây là đòn tâm lý cực mạnh, buộc họ phải chọn giữa tự do và bố mẹ già/con cái ở quê nhà.
Theo điều tra chấn động của tờ New York Times năm 2019 (dựa trên tài liệu mật và phỏng vấn bác sĩ đào tẩu), các bác sĩ Cuba bị ép buộc phải đi gõ cửa từng nhà để vận động bầu cử. Trước các cuộc bầu cử quan trọng, bác sĩ nhận lệnh: "Dọa bọn dân đen là nếu không bầu cho Maduro, dịch vụ y tế sẽ bị cắt, thuốc men sẽ hết". Họ thậm chí còn dùng thuốc men làm quà hối lộ để mua phiếu.
Các bác sĩ bị ép phải kê khống số lượng bệnh nhân khám trong ngày. Ví dụ: Khám 1 người nhưng phải ghi vào sổ là 5 người để báo cáo thành tích lên trên. Thậm chí, họ bị buộc phải vứt bỏ thuốc men còn tốt vào thùng rác để khớp số liệu (giả vờ là đã phát cho dân), trong khi bệnh viện công thì thiếu thuốc trầm trọng.
Cái giá đắt nhất mà dân Venezuela phải trả chính là sự hủy diệt của hệ thống y tế quốc gia (vốn từng rất tốt). Vì Chávez dồn hết tiền dầu vào Barrio Adentro để nuôi Cuba, các bệnh viện công truyền thống của Venezuela bị cắt ngân sách, lương bác sĩ bản địa rẻ mạt. Điều này dẫn đến làn sóng di cư khổng lồ: Hơn 30.000 bác sĩ Venezuela đã bỏ nước ra đi.
Nhiều "bác sĩ" Cuba được gửi sang thực chất chỉ là kỹ thuật viên hoặc sinh viên chưa tốt nghiệp, nhưng được khoác áo blouse trắng để lấp đầy quân số. Khi gặp ca khó, họ bó tay, nhưng hệ thống chuyển tuyến lên bệnh viện lớn đã nát bét rồi.
Misión Mercal
Chávez mở hàng nghìn cửa hàng tạp hóa nhà nước, bán thực phẩm với giá rẻ như cho không. Gạo, thịt gà, dầu ăn, sữa bột... được trợ giá tới 80-90% so với giá thị trường. Dân nghèo cầm vài đồng bạc lẻ vào Mercal là xách được cả túi đồ ăn về. Lúc đó, tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm hẳn, người nghèo ăn no mặc ấm, béo tốt hồng hào. Họ tôn thờ Chávez vì đơn giản: “Nhờ Chávez mà nồi cơm nhà tao có thịt”.
Chávez đã tiêm thẳng vào tĩnh mạch nền kinh tế Venezuela một tư duy chết người: “Cần gì phải làm ruộng khi chúng ta có dầu?”. Mercal đã giết chết nền sản xuất nội địa của Venezuela.
Một nông dân Venezuela trồng lúa, chi phí phân bón, nhân công, vận chuyển khiến giá thành một cân gạo là 10 đồng. Nhưng ngay bên cạnh ruộng của lão, cửa hàng Mercal bán gạo nhập khẩu từ Brazil (do chính phủ dùng tiền dầu bao cấp) với giá chỉ 1 đồng.
Thằng nông dân nào sống nổi? Không ai cả.
Thế là nông dân vứt cuốc, bỏ ruộng hoang, chạy lên thành phố xếp hàng mua gạo Mercal cho sướng. Chávez đã dùng Mercal để bóp chết ngắc người sản xuất trong nước, biến Venezuela từ một nước tự cung tự cấp được thịt bò, cà phê, gạo thành một quốc gia nhập khẩu 80% thực phẩm. Cái dạ dày của 30 triệu dân hoàn toàn phụ thuộc vào việc tàu hàng có cập cảng hay không.
Thêm vào đó, Mercal đẻ ra một tầng lớp ký sinh trùng mới gọi là “Bachaquero” (Kiến thợ). Vì giá đồ ăn trong Mercal rẻ như cho (rẻ hơn nước lã), nên sinh ra một nghề mới: nghề xếp hàng. Hàng nghìn người không chịu đi làm việc, chỉ ngày đêm chầu chực ở cửa Mercal vét sạch sữa, đường, bột ngô rồi đem ra chợ đen bán lại với giá gấp 10, gấp 20 lần, hoặc tuồn lậu sang Colombia. Mercal thay vì cứu đói, lại trở thành nguồn hàng cho bọn đầu cơ.
Cái cảnh người nghèo được ăn no chỉ diễn ra trong vài năm đầu khi kho bạc còn đầy tiền. Đến khi giá dầu sập, không còn tiền nhập hàng, các kệ hàng Mercal trống hoác, bụi phủ đầy, thì dân chúng mới nhận ra: Ruộng đồng đã hoang hóa hết rồi, lấy gì mà ăn?
Để được mua hàng giá rẻ, mày thường phải có thẻ thành viên đảng cầm quyền, hoặc phải sống trong khu vực ủng hộ Chávez. Các cửa hàng Mercal mọc lên dày đặc ở các khu ổ chuột ủng hộ chính phủ, nhưng lại khan hiếm ở các khu vực phe đối lập. Chávez đã cầm cái nồi cơm của dân và bảo: “Ngoan thì tao cho ăn, hư thì tao cắt”. Hắn tạo ra một xã hội “há miệng chờ sung”, nơi người dân mất hết động lực lao động, chỉ biết trông chờ vào bầu sữa ngân sách.
Khi Chávez chết và giá dầu rơi tự do năm 2014, cái "thiên đường Mercal" sụp đổ ngay lập tức. Không còn đô la để nhập thịt gà Brazil hay sữa bột New Zealand nữa. Dân Venezuela, vốn đã quên cách trồng trọt và chăn nuôi sau 10 năm được bao cấp, rơi thẳng vào nạn đói. Cái gọi là "Chế độ ăn kiêng Maduro" (The Maduro Diet) ra đời, khiến trung bình mỗi người dân Venezuela sụt mất 11kg cân nặng vào năm 2016-2017. Những đứa trẻ từng được Chávez vỗ béo bằng sữa Mercal năm nào, giờ lại phải đi bới rác tìm đồ ăn thừa.
Misión Robinson (xóa mù chữ)
Song song với đó là Misión Robinson (xóa mù chữ). Chávez tung hô khẩu hiệu “Yo sí puedo” (Tôi có thể làm được), dạy chữ cho hàng triệu người già, người thất học. UNESCO lúc đó còn phải tuyên bố Venezuela là “lãnh thổ không còn mù chữ”. Mày thấy đấy, cái cảm giác của một bà già 60 tuổi cả đời điểm chỉ tay, nay viết được tên mình, nó vĩ đại lắm. Đó là lý do tại sao họ sẵn sàng sống chết để bảo vệ Chávez. Thống kê của chính phủ: Tỷ lệ nghèo đói giảm từ 50% xuống còn khoảng 25-30% trong giai đoạn này. Dân sướng, sướng đến mức mụ mị đầu óc.
Nhưng nếu mày nhìn sâu vào bản chất của Misión Robinson (và các sứ mệnh giáo dục tiếp theo như Ribas và Sucre), mày sẽ thấy nó không đơn thuần là "xóa mù chữ". Nó là một chiến dịch Tẩy não đại quy mô và Mua chuộc lòng trung thành tinh vi nhất mà Chávez học được từ sư phụ Fidel Castro.
Trong các lớp học Robinson, người ta không dạy mày đánh vần “Con gà”, “Cái cây” một cách ngây thơ đâu. Người ta dùng giáo trình Cuba, trong đó các ví dụ tập đọc toàn là: “Chávez là người bạn”, “Fidel là lãnh tụ”, “Cách mạng là cuộc sống”. Mày học chữ, nhưng đồng thời mày nuốt luôn cả cái hệ tư tưởng Chavismo vào đầu. Việc biết chữ trở thành công cụ để mày đọc báo của đảng, đọc hiến pháp của Chávez. Nó biến hàng triệu người mù chữ (vốn không quan tâm chính trị) thành những cử tri trung thành, biết ơn Chávez như cha mẹ tái sinh. Họ không được dạy tư duy phản biện để thoát nghèo bền vững, họ được dạy để trở thành “Chiến sĩ bảo vệ cách mạng”.
Chávez ghét cay ghét đắng các trường đại học công lập lâu đời và uy tín như Đại học Trung tâm Venezuela (UCV) hay Đại học Simon Bolivar (USB). Tại sao? Vì đó là cái nôi của trí thức, của tư duy tự do, và là nơi sinh viên hay tổ chức biểu tình chống hắn. Chávez không thể kiểm soát bọn đầu to mắt cận này. Thế là hắn chơi bài: Bỏ đói và Xây mới. Hắn cắt giảm ngân sách của các trường đại học xịn, để mặc cho cơ sở vật chất xuống cấp, lương giáo sư chết đói (khiến chất xám chảy máu ồ ạt ra nước ngoài). Song song đó, hắn mở ra hệ thống Đại học Bolivar (UBV) và Misión Sucre. Đây là những cái “nhà máy in bằng”. Mày không cần thi đầu vào, không cần học hành nghiêm túc, chỉ cần trung thành và đi học lớp chính trị là có bằng đại học.
Venezuela tràn ngập một thế hệ “Kỹ sư Bolivar”, “Luật sư Xã hội chủ nghĩa” cầm tấm bằng đỏ chót trên tay nhưng kiến thức thì rỗng tuếch. Chính đám này sau đó được nhét vào PDVSA, vào các bộ ban ngành để thay thế đám chuyên gia cũ bị đuổi. Mày thấy cái vòng tròn chết chóc chưa? Xóa mù chữ thì nhanh, nhưng tạo ra một lớp tri thức giả hiệu để điều hành đất nước thì là thảm họa.
Các nghiên cứu độc lập sau này đã chỉ ra rằng tuyên bố “Venezuela là lãnh thổ không còn mù chữ” của UNESCO (vốn dựa trên số liệu do chính phủ Chávez cung cấp) là thổi phồng. Thực tế, tỷ lệ biết chữ không thay đổi thần kỳ như vậy.
Nhiều người chỉ học vẹt được cách ký tên để đi nhận trợ cấp và đi bầu cử, chứ không thực sự đọc hiểu được văn bản.
Còn về tỷ lệ nghèo đói giảm từ 50% xuống 25%? Đúng, con số đó là thật. NHƯNG, đó là giảm nghèo nhờ Tiền mặt (Cash transfer), không phải nhờ Năng suất lao động. Mày hình dung thế này:
Tao cho một thằng ăn mày 100 đô mỗi ngày. Thống kê sẽ ghi nhận: “Thằng này đã thoát nghèo”. Nhưng thằng ăn mày đó vẫn không có nghề nghiệp, không tạo ra của cải. Nó chỉ “giàu” lên nhờ lòng hảo tâm của tao. Khi tao hết tiền (giá dầu sập), tao cắt 100 đô đó, thì thằng ăn mày quay lại cái máng lợn ngay lập tức, thậm chí còn thảm hơn vì nó đã quên cách đi xin ăn.
Đó chính xác là những gì xảy ra với Venezuela. Chávez dùng tiền dầu để “tắm” cho dân nghèo, tạo ra ảo giác thịnh vượng. Khi giá dầu sập, tỷ lệ nghèo đói ở Venezuela bắn ngược lên 90% (số liệu hiện tại), cao hơn cả trước khi Chávez lên cầm quyền. Misión Robinson đã thất bại trong việc tạo ra “cần câu”, nó chỉ phát con cá tẩm thuốc mê mà thôi.
Ngoại giao
Còn về mặt quốc tế, Chávez chơi ngông theo kiểu “trọc phú tốt bụng” để xây dựng hào quang của một lãnh tụ thế giới thứ ba. Hắn dùng dầu mỏ như một thứ vũ khí ngoại giao thượng hạng (Petro-Diplomacy).
Người Venezuela có một câu thành ngữ đau đớn để mô tả chính xác giai đoạn này: "Candil de la calle, oscuridad de la casa" (Cây đèn ngoài phố, bóng tối trong nhà).
Đỉnh cao của chiến lược này là PetroCaribe thành lập năm 2005. Chávez tập hợp các nước nghèo ở vùng Caribbean và Trung Mỹ lại (như Jamaica, Haiti, Nicaragua...) và bảo:
“Tụi bay cứ lấy dầu của tao về xài đi. Trả trước một ít thôi, còn lại tao cho nợ 25 năm, lãi suất 1% tượng trưng”.
Nhưng mày có biết số tiền khổng lồ mà Chávez cho các nước này "nợ" (thực chất là cho không) đã đi đâu không? Nó không đi vào trường học hay bệnh viện của Haiti hay Nicaragua đâu. Nó đi thẳng vào túi của đám quan chức tham nhũng ở các nước đó.
Vụ bê bối PetroCaribe ở Haiti cho thấy hàng tỷ đôla tiền bán dầu mà Venezuela cho Haiti giữ lại để tái thiết đất nước sau động đất đã biến mất không dấu vết. Dân Haiti biểu tình rầm rộ, đốt phá vì họ nhận ra Chávez không giúp họ, Chávez đã nuôi béo đám lãnh đạo thối nát của họ. Chávez đã vô tình tạo ra một mạng lưới các chế độ "ăn bám" (Clientelism) khắp vùng Caribbean. Đám này nghiện dầu giá rẻ của Venezuela như nghiện ma túy.
Khi Venezuela sụp đổ năm 2015-2016 và phải cắt viện trợ, cả vùng Caribbean chao đảo. Nền kinh tế Cuba lao dốc vì mất nguồn dầu miễn phí, Haiti chìm trong bạo loạn. Chávez không giúp họ tự đứng vững, hắn chỉ biến họ thành những con nghiện phụ thuộc, và khi "đại lý" Venezuela hết hàng, cả đám cùng lên cơn vật vã.
Đổi lại, Chávez có được 14-17 lá phiếu trung thành tuyệt đối tại Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS) và Liên Hợp Quốc. Mỗi khi Mỹ muốn ra nghị quyết trừng phạt hay lên án Venezuela, đám đàn em Caribbean này lập tức giơ tay phản đối, bảo vệ đại ca Chávez. Hắn đã mua được chủ quyền và sự an toàn quốc tế bằng những thùng dầu giá rẻ.
Nhưng cái trò “bố láo” nhất, khiến dân Mỹ vừa buồn cười vừa nể, là vụ viện trợ dầu cho người nghèo Mỹ.
CITGO (Citgo Petroleum Corporation) là "viên ngọc quý" của Venezuela trên đất Mỹ: sở hữu 3 nhà máy lọc dầu lớn, hàng nghìn cây xăng, và hệ thống đường ống chằng chịt. Trước thời Chávez, CITGO hoạt động như một công ty Mỹ: chuyên nghiệp, lợi nhuận cao, và gửi tiền đều đặn về nước. Nhưng Chávez đã biến CITGO thành cái máy rút tiền (Cash Cow) và công cụ chính trị. Thay vì để CITGO giữ lại lợi nhuận để bảo trì máy móc hay đầu tư công nghệ mới, Chávez bắt CITGO chuyển hết tiền về Caracas để hắn làm từ thiện và bù lỗ cho ngân sách.
Năm 2005, sau bão Katrina và Rita, giá nhiên liệu ở Mỹ tăng cao. Chávez, thông qua công ty con CITGO đã bắt tay với cựu nghị sĩ Joseph Kennedy II để cung cấp dầu sưởi giá rẻ (giảm 40%) và thậm chí miễn phí cho các hộ gia đình nghèo ở khu Bronx (New York) và bang Massachusetts.
Xe bồn của CITGO (công ty của kẻ thù Venezuela) chạy bon bon trên đường phố Mỹ, bơm dầu sưởi ấm cho dân Mỹ giữa mùa đông giá rét, trong khi Tổng thống George W. Bush thì đang bị dân chửi vì phản ứng chậm chạp với bão lũ. Chávez gửi một thông điệp sỉ nhục thẳng vào Nhà Trắng: “Nhìn đi Bush! Tao là kẻ độc tài mà tao còn lo cho dân Mỹ tốt hơn mày. Chủ nghĩa tư bản của mày là đồ bỏ đi!”. Dân nghèo ở Bronx cầm phiếu giảm giá dầu của Chávez, họ không quan tâm chính trị, họ chỉ biết “Cảm ơn ngài Chávez”.
Trong khi Chávez đang được tung hô ở Bronx vì phát dầu sưởi miễn phí, thì tại quê nhà Venezuela, hệ thống điện lưới bắt đầu sập. Những năm 2009-2010, Venezuela bắt đầu trải qua các đợt cắt điện luân phiên (apagones). Một đất nước xuất khẩu năng lượng mà dân phải sống trong bóng tối, bệnh viện mất điện khiến trẻ sơ sinh trong lồng ấp tử vong. Tại sao? Vì tiền đã đem đi làm từ thiện ở nước ngoài hết rồi, không còn tiền để bảo trì các nhà máy thủy điện Guri hay các nhà máy nhiệt điện trong nước. Người dân Venezuela nhìn cảnh Chávez lên tivi ôm hôn bà già ở New York, trong khi tủ lạnh nhà họ bị hỏng vì mất điện, lòng họ như xát muối.
Đó là một cú PR (quan hệ công chúng) thần sầu, biến Chávez thành một Robin Hood toàn cầu, lấy của người giàu (bán dầu giá cao cho thế giới) chia cho người nghèo (kể cả người nghèo ở nước Mỹ). Chávez thà mua danh tiếng hão huyền ở nước ngoài còn hơn là lo cho cái bóng đèn trong nhà dân mình được sáng.
Trong giai đoạn "trăng mật" với giá dầu này, Chávez đã làm được những điều mà ít ai làm được: Hắn thực sự đã nâng cao đời sống của tầng lớp đáy cùng và tạo ra một vị thế quốc tế lẫy lừng cho Venezuela. Dân chúng yêu hắn không phải vì bị tẩy não, mà vì họ nhận được lợi ích thật, cầm được, ăn được, sờ được. Nhưng bi kịch nằm ở chỗ, tất cả sự thịnh vượng này được xây trên nền móng của sự tiêu xài hoang phí chứ không phải đầu tư sinh lời. Hắn giống như một người trúng số, thay vì gửi tiết kiệm hay mở xưởng làm ăn, hắn lại đi mở tiệc khao cả làng ăn nhậu suốt 10 năm trời. Và tiệc nào rồi cũng phải tàn.
Cuộc trưng cầu dân ý phế truất năm 2004
Tại sao Chávez lại tung ra Misiones ồ ạt vào năm 2003-2004? Không phải vì hắn bỗng dưng tốt bụng, mà vì hắn đang đứng trước giá treo cổ: Cuộc trưng cầu dân ý phế truất năm 2004. Tiền dầu và các bác sĩ Cuba chính là lá bùa hộ mệnh giúp hắn lội ngược dòng
Đám đối lập lúc này như con thú bị thương, cùng đường rồi mới nhớ ra trong tay mình còn một lá bài tẩy. Đó chính là Điều 72 trong Hiến pháp 1999 mà Chávez từng tự hào khoe khoang. Điều luật này cho phép dân chúng thu thập chữ ký để đòi tổ chức trưng cầu dân ý phế truất Tổng thống khi ông ta đi hết nửa nhiệm kỳ. Phe đối lập hí hửng:
“A ha! Gậy ông đập lưng ông! Dân đang ghét nó vì kinh tế nát bét năm 2002-2003, giờ mình gom chữ ký là đuổi được nó”.
Với niềm tin ngây thơ đó, phe đối lập đổ công sức đi thu thập hàng triệu chữ ký (gọi là El Reafirmazo), tỉn rằng Chávez sẽ chơi đẹp. Nhưng Chávez đã biến cái quy trình dân chủ này thành một cái bẫy chuột khổng lồ.
Hắn dùng Hội đồng Bầu cử Quốc gia (CNE) – lúc này đã toàn người của mình – để hành hạ phe đối lập: bắt bẻ từng nét chữ, từng dấu phẩy, tuyên bố hàng triệu chữ ký là "giả mạo" (firmas planas) rồi còn câu giờ kéo dài thời gian để làm hai việc: Một là đợi giá dầu tăng lên để có tiền mua phiếu, hai là chuẩn bị vũ khí bí mật.
Và vũ khí đó chính là Luis Tascón, một nghị sĩ thân tín của Chávez.
Chávez đã làm một việc vi phạm nhân quyền trắng trợn nhất lịch sử hiện đại Venezuela: Hắn ra lệnh cho CNE tuồn toàn bộ dữ liệu cá nhân của những người đã ký tên đòi phế truất hắn cho Luis Tascón. Sau đó, Tascón đưa danh sách này lên mạng internet cho cả thế giới vào xem.
Hơn 2,4 triệu cái tên, kèm theo số chứng minh thư (Cédula), địa chỉ, nơi làm việc... bị phơi bày ra ánh sáng với cái mác: “Kẻ thù của Tổ quốc”.
Cái Danh sách Tascón này ngay lập tức biến thành một bản án tử hình về kinh tế. Chávez ra lệnh ngầm (mà ai cũng hiểu) cho toàn bộ bộ máy nhà nước: “Rà soát lại nhân viên. Thằng nào có tên trong danh sách này? Đuổi việc ngay lập tức!”. Hàng ngàn công chức, bác sĩ bệnh viện công, giáo viên, nhân viên dầu khí... bị sa thải trong một nốt nhạc chỉ vì trót dại ký tên.
Chưa hết, nó còn lan sang cả các dịch vụ hành chính. Mày có tên trong danh sách? Mày đi xin hộ chiếu? “Hồ sơ thất lạc”. Mày đi xin vay vốn ngân hàng nhà nước? “Không đủ điều kiện”. Mày xin đấu thầu dự án? “Biến đi”. Thậm chí các công ty tư nhân muốn làm ăn với nhà nước cũng bị ép phải sa thải nhân viên có tên trong danh sách đen này nếu muốn ký hợp đồng.
Chávez đã biến quyền chính trị cơ bản (quyền kiến nghị) thành một hành động tự sát. Hắn gieo rắc một nỗi sợ hãi bao trùm: “Big Brother đang theo dõi mày. Mày chống tao, tao sẽ làm cho mày và gia đình mày chết đói”.
Kết quả của cuộc trưng cầu dân ý năm 2004 như một lẽ tất yếu nghiêng về một chiều. Phe đối lập bị khủng bố tinh thần, bị chia rẽ, trong khi Chávez dùng tiền dầu mỏ (lúc này đang tăng vùn vụt) để tung ra các “Sứ mệnh” (Misiones) phát tiền, phát thuốc, dạy chữ cho dân nghèo. Ngày 15 tháng 8 năm 2004, Chávez thắng cuộc trưng cầu dân ý với 59% phiếu ủng hộ.
Phe đối lập sụp đổ hoàn toàn về mặt tinh thần. Họ cảm thấy bất lực trước một bộ máy gian lận quá tinh vi. Đến cuộc bầu cử Quốc hội năm 2005, họ phạm phải sai lầm chiến lược ngu xuẩn nhất: Tẩy chay bầu cử. Họ nghĩ rằng nếu họ không đi bầu thì cuộc bầu cử sẽ mất tính danh chính ngôn thuận, quốc tế sẽ lên án.
Nhưng Chávez đếch quan tâm quốc tế nghĩ gì. Phe đối lập ở nhà? Tốt quá! Chávez hốt trọn 100% ghế trong Quốc hội.
Từ năm 2005 đến 2010, Quốc hội Venezuela sạch bóng phe đối lập. Không còn ai cãi lại, không còn ai chất vấn. Chávez trở thành Hoàng đế không ngai. Hắn muốn thông qua luật gì thì chỉ cần búng tay là 167 nghị sĩ gật đầu cái rụp. Đây chính là giai đoạn hắn chính thức đổi tên nước, đổi quốc kỳ, đổi múi giờ (lùi lại 30 phút cho khác biệt với Mỹ), và bắt đầu quốc hữu hóa vô tội vạ các ngành điện, viễn thông, xi măng.
"Cơn say quyền lực và Chính sách Cướp ngày (Expropiese)
Sau khi nắm trọn Quốc hội vào năm 2005 và tái đắc cử Tổng thống năm 2006 với số phiếu áp đảo, Chávez cảm thấy mình không còn là một tổng thống dân chủ nữa. Hắn là Messiah (Đấng Cứu Thế). Hắn chính thức tuyên bố khai tử cái gọi là “Con đường thứ ba” hay chủ nghĩa tư bản nhân văn. Hắn vén màn sân khấu cho một vở kịch mới mang tên: “Chủ nghĩa Xã hội thế kỷ 21” (Socialismo del siglo XXI).
Và đặc sản của cái chủ nghĩa này là gì? Là “Expropiese!” (Tịch thu hết cho tao!).
Nếu như năm 2001 hắn chỉ rục rịch đe dọa đất đai, thì từ năm 2007, với cái Quốc hội “gật đầu”, Chávez bắt đầu thực hiện cuộc quốc hữu hóa tàn bạo nhất lịch sử Mỹ Latinh.
Mày phải xem cái video kinh điển "Aló Presidente" (số 351) diễn ra vào ngày 7 tháng 2 năm 2010 tại Quảng trường Bolívar, trung tâm Caracas để thấy độ ngông của hắn:
Chávez đi dạo quanh Quảng trường Bolívar ở thủ đô Caracas, xung quanh là tùy tùng và máy quay. Hắn chỉ tay vào từng tòa nhà một cách ngẫu hứng như một ông vua đang đi chợ mua rau:
Hắn chỉ vào một tòa nhà thương mại: “Cái tòa nhà đó là của ai?”
Tùy tùng: “Dạ thưa Tổng thống, đó là tiệm vàng và các văn phòng tư nhân ạ.”
Chávez phất tay: “Expropiese!” (Tịch thu nó!).
Hắn chỉ sang tòa bên cạnh: “Còn cái kia?”
Tùy tùng: “Dạ tòa nhà lịch sử đang cho thuê ạ.”
Chávez: “Expropiese!”
Chỉ trong vài phút đi dạo, hắn tước đoạt quyền sở hữu của hàng chục doanh nghiệp mà không cần tòa án, không cần bồi thường thỏa đáng, chỉ bằng một câu nói cửa miệng.
Nhưng đó chỉ là phần nổi. Phần chìm là cuộc thâu tóm các ngành công nghiệp chiến lược để biến nhà nước thành “Ông trùm độc quyền”.
Dầu
Giai đoạn 2004-2008 chính là lúc mối quan hệ Mỹ - Venezuela chuyển từ trạng thái "Cơm không lành, canh không ngọt" sang trạng thái "Kẻ thù không đội trời chung" trên hai mặt trận: "Võ mồm" (Ngoại giao) và "Tiền túi" (Kinh tế).
Vào những năm 90, giá dầu rẻ mạt (chỉ 10-15 USD/thùng). Venezuela có dầu ở Orinoco nhưng là dầu siêu nặng (như nhựa đường), PDVSA lúc đó không đủ tiền và công nghệ để tự khai thác. Chính phủ tiền nhiệm (của Rafael Caldera) đã phải “trải thảm đỏ” mời bọn Mỹ vào với cơ chế cực kỳ ưu đãi gọi là Hiệp hội Chiến lược. Bốn dự án khổng lồ được lập ra: Ameriven, Cerro Negro, Sincor, và Petrozuata. (Trong đó Exxon và Conoco nắm vai trò chính ở Cerro Negro và Petrozuata).
PDVSA chỉ đóng vai "phụ", nắm cổ phần thiểu số (thường là 30-49%). Các tập đoàn nước ngoài (IOCs) nắm đa số và nắm quyền điều hành (Operational Control). Tức là Exxon bảo khoan chỗ nào thì khoan chỗ đó. Để khuyến khích đầu tư vào dầu nặng khó khai thác, Venezuela chỉ thu thuế tài nguyên 1% (trong khi dầu thường là 16.6%). MỘT PHẦN TRĂM. Coi như biếu không tài nguyên. Bọn nó chỉ phải đóng thuế thu nhập 34% (như các ngành nghề bình thường) thay vì mức thuế dầu khí tiêu chuẩn là 67%.
Các tập đoàn Big Oil của Mỹ (như Exxon, Chervon) nhảy vào vì lợi nhuận quá khủng khiếp. Để bán được loại dầu siêu nặng (extra-heavy crude), đặc quánh như nhựa đường (bitumen) cần có các nhà máy "Upgrader" khổng lồ để pha loãng hoặc tách carbon ra. Mà trên thế giới chỉ có ExxonMobil và ConocoPhillips là hai thằng nắm giữ công nghệ độc quyền để vận hành mấy cái máy này hiệu quả nhất.
Khi Chávez lên nắm quyền năm 1999, hắn cay lắm chứ. Hắn nhìn thấy bọn Mỹ hút dầu của nước mình mà trả có 1% thuế tài nguyên, hắn gọi đó là “vụ cướp thế kỷ”. Hắn ban hành Luật Thủy văn (Hydrocarbons Law) năm 2001, yêu cầu PDVSA phải nắm tối thiểu 51% cổ phần và thuế tài nguyên phải là 30%.
NHƯNG, luật này chỉ áp dụng cho các dự án MỚI. Các dự án ở Orinoco của Exxon và Conoco đã ký từ trước, được bảo vệ bởi các điều khoản “bảo lưu” (Grandfather clause) và các hiệp định bảo hộ đầu tư quốc tế. Chúng nó bảo Chávez:
“Này ông, hợp đồng giấy trắng mực đen ký năm 1997 có thời hạn 35 năm. Ông không được đụng vào luật chơi cũ”.
Lúc đó (2002-2003), Chávez đang bận đối phó với đảo chính và đình công, PDVSA đang tê liệt, hắn cần tiền và cần sản lượng dầu ổn định từ Orinoco để nuôi sống chế độ. Nên hắn đành phải “ngậm bồ hòn” để yên cho bọn Exxon/Conoco tiếp tục khai thác theo cơ chế cũ.
Đến năm 2006, tình thế thay đổi:
Giá dầu thế giới tăng vọt.
Chávez đã nắm chắc quyền lực trong tay (sau khi thắng trưng cầu dân ý và bầu cử).
Exxon/Conoco lãi quá nhiều (do giá dầu tăng nhưng thuế vẫn 1%).
Chávez bắt đầu chiến dịch “cắt lát salami”:
Bước 1: Tuyên bố các dự án Orinoco đã thu hồi đủ vốn đầu tư ban đầu. Hết thời gian ưu đãi.
Bước 2: Đơn phương tăng thuế tài nguyên từ 1% lên 16.6%, rồi lên 33.3%.
Bước 3 (Chí mạng - 2007): Ra sắc lệnh Quốc hữu hóa Vành đai Orinoco.
Hắn đặt lên bàn đàm phán một hợp đồng mới:
“Chuyển đổi từ ‘Hiệp hội Chiến lược’ sang ‘Doanh nghiệp Hỗn hợp’ (Mixed Companies). PDVSA phải nắm 60%. Tao là chủ, mày là tớ. Chịu thì ở lại, không chịu thì biến”.
Các công ty châu Âu như Total (Pháp) hay Statoil (Na Uy) ngậm bồ hòn làm ngọt, chấp nhận ở lại làm "phó" cho Chávez để vớt vát chút cháo. Chervon (Mỹ) thì ở lại chấp nhận nắm phần thiểu số trong liên doanh nhờ Ali Moshiri đi cửa sau với Chávez, tính đến hiện tại Chervon vẫn hoạt động tại Venezuela nhờ vào các giấy phép đặc biệt từ Văn phòng Kiểm soát Tài sản Nước ngoài (OFAC) của Mỹ, chiếm 25% tổng sản lượng dầu của Venezuela.
Nhưng ExxonMobil và ConocoPhillips thì không. Hai thằng Mỹ này cực rắn. Họ bảo: "Không đời nào tao giao công nghệ và tài sản cho một thằng ăn cướp". Thế là họ cuốn gói ra đi và ngay lập tức nộp đơn kiện Venezuela ra tòa trọng tài quốc tế (ICC và CIADI), đòi bồi thường hàng chục tỷ đô la.
Năm 2008, Exxon xin được lệnh của tòa án Anh và Hà Lan phong tỏa 12 tỷ USD tài sản toàn cầu của PDVSA. PDVSA đang đi buôn bán khắp thế giới, đùng một cái tài khoản bị đóng băng, tàu dầu không dám cập cảng vì sợ bị tịch thu. Chávez lúc đó phải gào lên là "khủng bố kinh tế", nhưng Exxon kệ mẹ. Chúng nó muốn gửi thông điệp:
"Mày cướp của tao 1 đồng, tao sẽ làm mày mất 10 đồng".
Cuộc kiện tụng này kéo dài cả thập kỷ, và đến năm 2019, trọng tài quốc tế (ICSID) chốt hạ Venezuela phải đền cho ConocoPhillips 8,7 tỷ USD. Lúc này Venezuela đã vỡ nợ rồi, nên con số này trở thành cái thòng lọng siết chặt lấy bất cứ tài sản nào của Venezuela ở nước ngoài, dù đéo thèm trả đồng nào.
Khi Exxon và Conoco cuốn gói ra đi, bọn nó mang theo cả hướng dẫn sử dụng, phần mềm điều khiển, và quan trọng nhất là đội ngũ kỹ sư vận hành thượng thừa. Chávez giao lại mấy cái cỗ máy tỷ đô phức tạp này cho ai? Cho đám kỹ sư “Bolivar” mới ra trường, kinh nghiệm bằng không nhưng lòng nhiệt tình cách mạng thì có thừa. Và cho các đối tác mới là Nga (Rosneft) và Trung Quốc.
Nga và Tàu tuy cũng có dầu, nhưng họ không chuyên về loại dầu siêu nặng đặc thù của Orinoco như bọn Mỹ. Họ loay hoay không biết vận hành tối ưu. Các nhà máy Upgrader bắt đầu hỏng hóc liên tục, cháy nổ, bảo trì kém. Hiệu suất chuyển đổi tụt dốc không phanh.
Khi các Upgrader này chết lâm sàng, Venezuela buộc phải chuyển sang phương án “chữa cháy” hạ sách: Thay vì lọc dầu thành phẩm cao cấp, họ pha loãng nhựa đường với dầu nhẹ nhập khẩu (hoặc Naphtha) để nó lỏng ra mà bán. Sản phẩm này gọi là Blended Crude (Dầu pha trộn).
Trước đây: Xuất khẩu dầu tổng hợp giá cao (ví dụ 100 USD/thùng).
Bây giờ: Phải bỏ đô la ra đi nhập khẩu dung môi (diluents) từ Mỹ (lại là Mỹ!) để pha trộn, rồi bán ra loại dầu pha tạp chất lượng thấp với giá rẻ bèo (ví dụ 60 USD/thùng).
Đám Total và Statoil ở lại, cố gắng vớt vát, nhưng cũng chỉ cầm cự được một thời gian trước khi bị cái sự quản lý hỗn loạn của PDVSA làm cho chán nản. Cuối cùng, Total và Statoil cũng phải rút lui vào năm 2021, bỏ lại tất cả cho một Venezuela hoang tàn.
Vụ cướp này là giọt nước tràn ly khiến giới đầu tư Mỹ nhận ra Chávez không còn là đối tác làm ăn nữa, mà là một mối đe dọa trực tiếp. Nó khiến Washington nóng mặt, nhưng lúc đó Bush con (George W. Bush) đang sa lầy ở Iraq và Afghanistan nên chưa rảnh tay để trừng phạt mạnh.
Tuy nhiên, đỉnh điểm của sự căng thẳng trong giai đoạn này lại không nằm ở mỏ dầu, mà nằm ở cái bục phát biểu của Liên Hợp Quốc năm 2006. Đây là sự kiện mà cả thế giới không bao giờ quên.
Chávez đứng trên bục Đại hội đồng LHQ ở New York, chỉ tay vào cái bục mà Tổng thống Bush vừa đứng hôm qua và nói: “Ở đây vẫn còn mùi lưu huỳnh. Hôm qua, con quỷ dữ đã đứng ở chỗ này”. Hắn gọi Tổng thống Mỹ là “Con quỷ” (El Diablo) ngay trên đất Mỹ, trước mặt toàn thể thế giới.
Hành động này là một cái tát ngoại giao chưa từng có tiền lệ. Nó biến Chávez thành kẻ thù số 1 trong mắt công chúng Mỹ bảo thủ. Trước đó, Mỹ còn coi Chávez là một gã dân túy phiền toái, nhưng sau bài phát biểu “Lưu huỳnh” đó, Mỹ coi Chávez là một tên hề nguy hiểm cần phải bị cô lập. Năm 2005, Chávez cũng đã đuổi cổ Cơ quan Phòng chống Ma túy Mỹ (DEA) ra khỏi Venezuela với cáo buộc làm gián điệp, cắt đứt sự hợp tác an ninh quan trọng nhất giữa hai nước.
Thế nhưng, có một sự thật trớ trêu và đạo đức giả đến mức buồn cười trong giai đoạn 2004-2008 này: Mồm chửi nhau nhưng tay vẫn đếm tiền của nhau. Dù Chávez gọi Bush là quỷ, dù Exxon bị cướp tài sản, nhưng Mỹ vẫn là khách hàng mua dầu lớn nhất của Venezuela (mua khoảng 1,2 - 1,5 triệu thùng/ngày).
Và ngược lại, dù chửi đế quốc Mỹ, Chávez vẫn bán dầu đều đặn cho “quỷ dữ” vì chỉ có các nhà máy lọc dầu ở bờ Vịnh Mexico (Mỹ) mới đủ công nghệ để xử lý cái loại dầu siêu nặng của Venezuela. Đây là một cuộc “hôn nhân không tình yêu”: Hai bên ghét nhau như chó với mèo, ngủ riêng giường, nhưng vẫn phải sống chung một nhà vì vấn đề tài chính.
Chávez dùng tiền bán dầu cho Mỹ để nuôi các chương trình chống Mỹ. Còn Mỹ thì nhắm mắt mua dầu của Chávez để giữ giá xăng trong nước không tăng quá cao. Mối quan hệ này chỉ thực sự đứt gãy hoàn toàn vào năm 2019 khi Trump ra lệnh cấm vận toàn diện ngành dầu khí (PDVSA).
Còn giai đoạn 2004-2008, nó là một kiểu quan hệ “Thù địch nồng ấm” (Hostile interdependence) – chửi thì cứ chửi, buôn bán thì cứ buôn bán. Chính cái sự phụ thuộc kinh tế này đã khiến Chávez ảo tưởng rằng hắn có thể chọc giận Mỹ mãi mà không sao, vì “Mỹ cần dầu của tao”. Hắn đã sai lầm khi không nhận ra rằng Mỹ đang âm thầm chuẩn bị cho cuộc cách mạng dầu đá phiến để đá đít hắn sau này.
Điện lực
Nếu như vụ cướp dầu khí (PDVSA) làm đất nước nghèo đi, thì vụ cướp điện lực này làm đất nước quay về thời kỳ đồ đá.
Electricidad de Caracas (EdC) được thành lập từ năm 1895, là công ty tư nhân lâu đời và uy tín nhất trên thị trường chứng khoán Caracas. EdC là biểu tượng của sự ổn định Dù chính trị có đảo điên thế nào thì thủ đô Caracas vẫn luôn sáng đèn nhờ EdC.
Đến năm 2000, gã khổng lồ năng lượng Mỹ là AES Corporation đã thực hiện một cú thâu tóm thù địch (hostile takeover) chấn động thị trường tài chính, bỏ ra khoảng 1,6 tỷ USD để mua lại đa số cổ phần của EdC. Đây là khoản đầu tư nước ngoài lớn nhất vào Venezuela bên cạnh dầu khí.
AES nắm giữ thế độc quyền phân phối điện cho thủ đô Caracas và vùng phụ cận – nơi tập trung giới thượng lưu, cơ quan chính phủ và trung tâm kinh tế. Về thị phần, EdC cung cấp khoảng 13-15% tổng sản lượng điện cả nước, nhưng quan trọng nhất là họ nắm giữ "trái tim" của mạng lưới phân phối. Doanh thu của nó cực khủng, hoạt động hiệu quả, máy móc bảo trì theo chuẩn Mỹ, và quan trọng là nó có lãi.
Cơ chế giá điện dưới thời AES rất rõ ràng: “Tiền trao cháo múc”. Giá điện được tính toán dựa trên chi phí sản xuất cộng với biên lợi nhuận hợp lý để tái đầu tư. Mày xài nhiều trả nhiều, mày không trả tiền tao cắt điện. Nó sòng phẳng kiểu tư bản. Nhờ thế, hệ thống lưới điện của Caracas luôn được nâng cấp, các nhà máy nhiệt điện (như Tacoa) luôn chạy ro ro để dự phòng cho thủy điện.
Nhưng đến năm 2007, Chávez lên cơn say “Chủ quyền năng lượng”. Hắn tuyên bố điện năng là quyền con người, không phải hàng hóa, và không thể để bọn đế quốc Mỹ nắm giữ công tắc điện của thủ đô được. Hắn ép AES phải bán lại EdC cho nhà nước.
Khác với vụ cướp trắng trợn CEMEX hay Sidor sau này, vụ với AES diễn ra khá “êm thấm” về mặt tài chính nhưng lại là một cú lừa ngoạn mục về chiến lược.
Chávez đồng ý trả cho AES khoảng 740 triệu USD cho 82% cổ phần. Paul Hanrahan, CEO của AES lúc đó, đã cười khẩy ký séc và chạy mất dép. Tại sao cười? Vì hắn biết con tàu Venezuela sắp chìm. Lão đã kịp tẩu tán tài sản và rút chân ra trước khi thảm họa ập đến. Chávez hí hửng tưởng mình mua được món hời, thực ra là đang ôm một quả bom nổ chậm.
Sau khi “ăn cướp” thành công, Chávez sáp nhập EdC vào một con quái vật nhà nước khổng lồ mới đẻ ra tên là CORPOELEC (Tổng công ty Điện lực Quốc gia). Và đây là lúc bi kịch bắt đầu.
Về cơ chế giá điện, Chávez áp dụng chính sách “Giá đông lạnh”. Hắn giữ nguyên giá điện ở mức thấp thảm hại bất chấp lạm phát phi mã. Đến mức sau này, giá điện rẻ đến nỗi tiền in tờ hóa đơn còn đắt hơn số tiền thu được.
Một hộ gia đình ở Caracas trả tiền điện cả tháng chỉ bằng giá một viên kẹo. Mày nghe thì tưởng sướng, nhưng hậu quả kinh tế là: CORPOELEC không có doanh thu. Không có doanh thu thì lấy tiền đâu mua phụ tùng thay thế? Lấy tiền đâu trả lương kỹ sư? Ngân sách nhà nước phải gồng mình bù lỗ bằng nhờ giá dầu cao.
Sự ngu dốt trong quản lý đã giết chết hệ thống. EdC trước đây mạnh về Nhiệt điện (chạy bằng gas hoặc dầu). Đây là nguồn điện dự phòng sống còn khi hạn hán xảy ra làm các đập thủy điện trơ đáy.
Nhưng đám quan chức CORPOELEC lười biếng và tham nhũng đã bỏ mặc các nhà máy nhiệt điện này. Nhà máy Tacoa, niềm tự hào của EdC, dần dần biến thành đống sắt vụn vì không được bảo trì. Khi không còn nhiệt điện, toàn bộ đất nước (kể cả Caracas) phải phụ thuộc hoàn toàn vào đập thủy điện Guri (cung cấp 70-80% điện). Chávez và sau này là Maduro đã đánh cược an ninh năng lượng quốc gia vào... ông trời.
Hậu quả nhãn tiền ập đến vào năm 2009-2010 và đỉnh điểm là thảm họa Blackout toàn quốc năm 2019.
Khi hạn hán El Niño xảy ra, mực nước đập Guri tụt xuống mức báo động. Bình thường, lúc này phải bật nhiệt điện lên để bù. Nhưng ôi thôi, các nhà máy nhiệt điện của EdC cũ đã hỏng hết rồi! Thế là cả nước Venezuela chìm trong bóng tối. Caracas, nơi từng được AES đảm bảo điện 24/7, giờ đây mất điện triền miên. Có những đợt mất điện kéo dài 5-7 ngày liên tục. Thức ăn trong tủ lạnh thối rữa. Bệnh nhân trong bệnh viện chết vì máy thở ngừng chạy. Nước máy không bơm được lên nhà cao tầng. Dân phải ra sông Guaire (con sông ô nhiễm đầy phân) để múc nước tắm.
Chávez tịch thu EdC với lý do “Tăng sự phụ thuộc của người dân vào nhà nước”. Hắn đã thành công. Bây giờ người dân phụ thuộc hoàn toàn vào nhà nước để có điện, và nhà nước thì... không có điện để cho. Từ một khách hàng thượng đế được phục vụ bởi tư bản Mỹ, dân Venezuela trở thành những kẻ ăn mày năng lượng, phải biết ơn rối rít khi có điện được vài tiếng mỗi ngày.
Xi măng
CEMEX niềm tự hào Mexico, gã khổng lồ xi măng lớn ba thế giới trở thành nạn nhân của thói côn đồ của đội lốt "ái quốc" của Chávez. Năm 2008 khi CEMEX đang vận hành rất hiệu quả tại Venezuela, họ sản xuất dư thừa nhu cầu nội địa nên họ xuất khẩu phần dư ra nước ngoài để kiếm đô la. Đó là chuyện làm ăn bình thường.
Nhưng Chávez đã bóp méo sự thật, hắn chỉ vào những con tàu chở xi măng và hét lên:
“Nhìn kìa! Bọn tư bản Mexico đang chở đất đá của Tổ quốc đi bán lấy tiền, trong khi dân nghèo Venezuela còn đang ở nhà tranh vách đất! Tại sao chúng ta lại để chúng nó hút máu như thế?”.
Câu nói này đánh trúng vào cái bụng sô-vin (chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi) của dân chúng. Nghe nó sướng lỗ tai lắm. Dân nghèo gật gù:
“Đúng rồi, xi măng của mình thì mình phải xây nhà mình chứ”.
Chávez biến một hoạt động kinh tế (xuất khẩu) thành một tội ác đạo đức. Hắn lờ đi sự thật là CEMEX đóng thuế đầy đủ và tạo công ăn việc làm. Hắn chỉ muốn khắc sâu vào đầu dân chúng hình ảnh: Doanh nghiệp nước ngoài là kẻ cắp, còn Chávez là người giữ của.
Mục đích thực sự nhằm Kiểm soát nguồn vật liệu để "mua phiếu" thông qua Misión Vivienda (Sứ mệnh Nhà ở).
Chávez biết rằng muốn dân nghèo trung thành vĩnh viễn, cái bụng no (Misión Mercal) là chưa đủ, phải có cái chỗ chui ra chui vào (nhà ở). Hắn vẽ ra kế hoạch xây hàng triệu căn nhà xã hội miễn phí. Nhưng để làm được điều đó, hắn cần xi măng, sắt thép với giá rẻ mạt, rẻ hơn cả chi phí sản xuất. Nếu để CEMEX nắm nguồn cung, họ sẽ bán theo giá thị trường, tiền đâu mà Chávez bao cấp? Hắn không muốn phải đi mặc cả giá từng bao xi măng với bọn Mexico. Hắn muốn chiếm đoạt luôn nhà máy để thích lấy bao nhiêu thì lấy. Khi nắm trọn ngành xi măng trong tay, Chávez biến bao xi măng thành tấm thẻ cử tri.
Mày muốn có nhà? Mày muốn có vật liệu sửa bếp? Hãy trưng cái thẻ đảng PSUV ra, hãy đi mít tinh ủng hộ Chávez, rồi tao sẽ cấp cho mày phiếu nhận xi măng. Hắn đã biến ngành xây dựng từ một thị trường tự do thành một cơ chế "Xin - Cho" khổng lồ, nơi quyền lực chính trị quyết định ai được xây nhà.
Ngoài ra vì còn thù hằn cá nhân và căng thẳng địa chính trị với Mexico. Chávez ghét cay ghét đắng các đời Tổng thống Mexico lúc bấy giờ là Vicente Fox và sau đó là Felipe Calderón. Vì Mexico là thành viên của NAFTA (Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ), chơi thân với Mỹ và từ chối tham gia cái liên minh cánh tả ALBA của Chávez. Chávez từng chửi Vicente Fox là "Cachorro del Imperio" (Con chó con của Đế quốc Mỹ). Fox cũng không vừa, từng dọa cắt quan hệ ngoại giao.
Việc Chávez chọn CEMEX để "làm thịt" (trong khi nhẹ tay hơn với Lafarge của Pháp hay Holcim của Thụy Sĩ cũng bị quốc hữu hóa cùng đợt) là một cú tát dằn mặt Mexico. Hắn muốn gửi thông điệp: "Mày chơi với Mỹ thì tao sẽ bóp chết doanh nghiệp của mày trên đất tao. Để xem thằng Mỹ có cứu được mày không". Hắn từ chối trả mức giá bồi thường 1.3 tỷ USD mà CEMEX yêu cầu, ép giá xuống thấp hơn nhiều, khiến quan hệ hai nước căng như dây đàn.
Sau khi đuổi cổ các kỹ sư và quản lý người Mexico của CEMEX về nước, Chávez giao các nhà máy xi măng cho... quân đội và đám quan chức đảng quản lý. Và kịch bản cũ lặp lại y hệt như ngành dầu khí (PDVSA) hay ngành điện.
Chỉ trong vòng vài năm, sản lượng xi măng của Venezuela sụt giảm 60%. Các lò nung hỏng không ai biết sửa, dây chuyền đóng bao bị kẹt, tham nhũng tràn lan. Mỉa mai thay, từ một nước xuất khẩu xi măng (cái lý do để Chávez cướp nhà máy), Venezuela rơi vào tình trạng thiếu xi măng trầm trọng. Các công trình nhà ở xã hội đắp chiếu vì không có vật liệu. Giá xi măng ở chợ đen tăng gấp 50 lần giá niêm yết.
Người dân muốn mua một bao xi măng phải hối lộ cho lính canh hoặc mua lại từ bọn phe vé (vốn là người nhà của quan chức). Cuối cùng, Venezuela phải đi nhập khẩu xi măng từ Cuba và Trung Quốc để xây nhà.
Cướp nhà máy để không phải xuất khẩu, cuối cùng làm hỏng nhà máy và phải đi nhập khẩu với giá cắt cổ. Chávez đã phá nát một ngành công nghiệp đang đẻ trứng vàng chỉ để thỏa mãn cái tôi chính trị và sự thù hằn ngoại giao của mình.
Thép
Sidor (Siderúrgica del Orinoco) là nhà máy thép lớn nhất khu vực Andean và vùng Caribbean thuộc tập đoàn Techint (Argentina).
Trước năm 2008, dưới bàn tay quản lý của Techint (tập đoàn thép sừng sỏ gốc Ý - Argentina), Sidor hoạt động như một cỗ máy in tiền. Năm 2007, nó sản xuất kỷ lục 4,3 triệu tấn thép lỏng, không chỉ đủ xây cả nước Venezuela mà còn xuất khẩu đi khắp thế giới. Sidor lúc đó là biểu tượng của sự hiệu quả sau khi tư nhân hóa.
Nhưng cái gai trong mắt Chávez là Công đoàn (Sutiss). Công đoàn ngành thép ở bang Bolívar cực kỳ hung hãn. Họ đòi tăng lương, đòi phúc lợi trên trời. Techint, với tư cách là tư bản làm ăn, dĩ nhiên là cò kè bớt một thêm hai, không chịu nhả tiền dễ dàng. Thế là đình công xảy ra liên miên. Thay vì đứng ra làm trọng tài hòa giải giữa Doanh nghiệp và Người lao động, Chávez nhìn thấy cơ hội để đóng vai “Người hùng của giai cấp công nhân”.
Ngày 12 tháng 5 năm 2008, Chávez xuống tận nhà máy, tuyên bố trước biển người công nhân đang hò reo:
“Techint không tôn trọng người lao động Venezuela! Bọn tư bản bóc lột này phải cút đi! Sidor giờ là của nhân dân!”.
Hắn quốc hữu hóa Sidor để lấy lòng công đoàn, hứa hẹn biến công nhân thành ông chủ, lương thưởng ngập mặt. Đám công nhân lúc đó sướng phát điên, nghĩ đời mình lên hương rồi.
Nhưng hài kịch bắt đầu từ cái sự “Nể mặt đồng minh” tốn kém. Khác với Mexico (kẻ thù), Argentina lúc đó đang được cai trị bởi bà Cristina Kirchner, một đồng minh thân cận của Chávez trong khối cánh tả. Chávez không thể cướp trắng trợn như vụ CEMEX được. Hắn phải “làm đẹp mặt” chị Cristina.
Kết quả: Chávez đã đồng ý trả cho Techint một khoản bồi thường khổng lồ lên tới 1,97 tỷ USD cho 60% cổ phần. Techint cầm cục tiền đó cười khẩy đi về. Họ lãi to. Họ bán lại được cái nhà máy đang gặp rắc rối về lao động với giá hời, để lại cho Chávez một cục nợ và một đám công nhân đang đòi hỏi vô độ. Techint thoát chết ngoạn mục, còn Chávez thì ôm bom.
Sau khi “nhân dân” (thực chất là nhà nước) làm chủ, Sidor rơi thẳng xuống vực thẳm theo quy trình quen thuộc: Thứ nhất, Biến nhà máy thành trại tế bần. Để giữ lời hứa mị dân, Chávez nhồi nhét hàng ngàn người vào bảng lương của Sidor. Số lượng nhân viên tăng vọt từ 5.000 lên hơn 18.000 người, trong khi sản lượng thì tụt dốc. Nhà máy phải gánh một quỹ lương khổng lồ cho những người... không làm gì cả, hoặc chỉ đi họp chính trị.
Với kiểu quản lý trại lính, Chávez tống cổ các kỹ sư luyện kim của Techint đi, thay vào đó là các Tướng quân đội. Một ông tướng chỉ biết hò hét ra lệnh làm gì có kiến thức về lò cao (blast furnace)? Biết gì về tỷ lệ carbon trong thép? Không bảo trì, không đầu tư phụ tùng, các lò luyện thép nổ tung hoặc tắt ngóm dần dần.
Năm 2007 (Techint quản lý): Sản xuất 4,3 triệu tấn.
Năm 2018 (Nhà nước quản lý): Sản xuất 50.000 tấn.
Mày không nghe nhầm đâu. Từ 4,3 triệu xuống 50 ngàn. Sidor từ một gã khổng lồ luyện kim biến thành một đống sắt vụn đúng nghĩa đen.
Khi sản xuất đình trệ nhưng vẫn có quyền lực, các băng đảng bắt đầu hình thành ngay trong nhà máy và công đoàn. Chúng nó không sản xuất thép mới, chúng nó đi... ăn cắp sắt vụn và linh kiện nhà máy để bán ra chợ đen. Một hệ thống tội phạm có tổ chức gọi là “Pranes” thâu tóm quyền kiểm soát khu vực này. Ai dám lên tiếng tố cáo thì bị bắn chết ngay tại cổng nhà máy. Khu vực công nghiệp Guayana trở thành vùng đất vô pháp luật, nơi súng đạn nói chuyện thay cho quy trình kỹ thuật.
Venezuela, đất nước có quặng sắt, có năng lượng, có nhà máy thép lớn nhất khu vực, bây giờ không sản xuất nổi một cái đinh ốc. Toàn bộ sắt thép để xây nhà (cho chương trình Misión Vivienda), xây cầu, khoan dầu... đều phải nhập khẩu từ Trung Quốc hoặc Thổ Nhĩ Kỳ. Đám công nhân từng reo hò năm 2008 giờ sống trong cảnh đói khổ, lương bị lạm phát ăn sạch, quyền lợi bị cắt xén, và bị chính cái chính phủ "của nhân dân" đàn áp nếu dám biểu tình đòi lương.
Viễn thông
Năm 1991, Venezuela đã làm một việc rất sáng suốt là tư nhân hóa ngành viễn thông. Một liên minh do GTE (sau này sáp nhập thành Verizon) đứng đầu đã mua lại CANTV. Trong vòng 15 năm (1991-2006),
Verizon đã biến CANTV từ một con khủng long nhà nước chậm chạp thành một con hổ công nghệ của khu vực. Họ đầu tư hàng tỷ đô la để trải cáp quang, phổ cập internet băng thông rộng (dịch vụ ABA), và phát triển mạng di động Movilnet.
Lúc đó, internet của Venezuela thuộc hàng nhanh nhất và ổn định nhất Nam Mỹ, cổ phiếu CANTV niêm yết sòng phẳng trên sàn New York (NYSE), trả cổ tức đều đặn và là niềm mơ ước của giới đầu tư.
Nhưng đến năm 2007, sau khi tái đắc cử và cảm thấy cái ghế của mình vẫn lung lay vì truyền thông đối lập, Chávez quyết định ra tay. Hắn đưa ra lý do nghe rất lọt tai: “An ninh quốc gia” và “Chủ quyền công nghệ”. Hắn bảo rằng không thể để một công ty Mỹ kiểm soát luồng dữ liệu, cuộc gọi và bí mật quốc gia của Venezuela. Hắn sợ CIA nghe lén mình qua đường dây của Verizon, nhưng thực chất là hắn muốn chính mình được quyền nghe lén phe đối lập.
Thương vụ này diễn ra cũng khá nhanh gọn. Verizon, giống như AES bên điện lực, là những con cáo già phố Wall. Họ ngửi thấy mùi “cộng sản hóa” nồng nặc nên khi Chávez ngỏ ý muốn mua lại, họ gật đầu cái rụp. Chính phủ Venezuela chi khoảng 572 triệu USD để mua lại 28,5% cổ phần của Verizon, và sau đó tốn thêm hàng tỷ đô nữa để mua lại cổ phần trôi nổi, đưa nhà nước lên nắm quyền kiểm soát tuyệt đối (hơn 90%). Verizon cầm tiền chạy thoát thân, để lại CANTV cho đám “hồng hơn chuyên” của Chávez tiếp quản.
Sau ngày định mệnh đó, CANTV trượt dài từ một công ty công nghệ cao xuống thành một cơ quan kiểm duyệt và tuyên truyền.
Để thực hiện bài ca “Internet giá rẻ cho mọi người”, Chávez ra lệnh đông lạnh cước phí internet và điện thoại cố định. Hắn muốn ai cũng được lên mạng (để đọc báo đảng). Nhưng một lần nữa, quy luật kinh tế vỗ mặt Chávez đôm đốp. Doanh thu của CANTV bị lạm phát ăn mòn, giá cước thu về không đủ tiền mua một cuộn cáp quang mới. Ngân sách đầu tư hạ tầng bị cắt sạch sành sanh để chuyển sang trả lương cho một bộ máy nhân sự phình to vô tội vạ (nhét con cháu đảng viên vào làm việc nhàn hạ).
Tốc độ internet của Venezuela tụt dốc không phanh. Từ vị trí dẫn đầu khu vực, Venezuela rơi xuống hạng bét thế giới. Có thời điểm, tốc độ trung bình chỉ đạt 1-2 Mbps, chậm hơn cả Haiti hay những nước đang có chiến tranh. Mày tải một cái ảnh mất cả phút, xem YouTube thì quay đều quay đều. Hạ tầng cũ kỹ, quá tải, cáp đồng bị trộm cắp cắt dây bán đồng nát mà không ai thay thế. Mạng Movilnet thì sóng chập chờn, gọi điện thoại trở thành một trò chơi may rủi.
Nhưng cái mục đích thâm độc nhất của Chávez – Kiểm soát và Nghe lén – thì lại thành công rực rỡ.
Sau khi nắm CANTV, chính phủ nắm luôn quyền kiểm soát cổng kết nối internet quốc tế (Gateway). Chávez và sau này là Maduro đã biến CANTV thành cánh tay phải của cơ quan kiểm duyệt CONATEL.
Mày muốn đọc báo lề trái như La Patilla hay El Nacional? CANTV chặn IP.
Mày muốn xem livestream biểu tình của phe đối lập? CANTV bóp băng thông (throttling) cho mạng lag tung chảo, không ai xem được.
Mày là thủ lĩnh đối lập gọi điện bàn kế hoạch? Mọi cuộc gọi, tin nhắn của mày đều nằm trên bàn giấy của cơ quan tình báo SEBIN vào sáng hôm sau.
CANTV không còn phục vụ khách hàng, nó phục vụ chế độ. Nó được sử dụng để tấn công từ chối dịch vụ (DDoS) vào các trang web đối lập, và cài cắm phần mềm gián điệp để theo dõi công dân. Cái lý do “loại bỏ ảnh hưởng của tư bản Mỹ” thực chất là để thay thế sự giám sát của Mỹ bằng sự giám sát toàn trị của nhà nước Venezuela (với sự hỗ trợ kỹ thuật nhiệt tình từ các chuyên gia Trung Quốc sau này).
Người dân Venezuela hiện nay sống trong một cái "ao làng internet". Mạng thì chậm như rùa bò, đứt cáp triền miên, giá cước thì tuy rẻ (trên giấy tờ) nhưng muốn lắp đặt đường truyền mới thì phải hối lộ nhân viên CANTV hàng trăm đô la (bằng cả năm lương) mới có mạng. Một hạ tầng viễn thông trị giá hàng tỷ đô la của Verizon để lại đã bị biến thành đống sắt vụn lạc hậu, chỉ còn chức năng duy nhất là làm cái rọ bịt miệng dân chúng.
Kính
Owens-Illinois (O-I) là tập đoàn sản xuất bao bì thủy tinh lớn nhất thế giới của Mỹ. Họ đã cắm rễ ở Venezuela từ năm 1958, tức là hơn nửa thế kỷ. Trước tháng 10/2010, O-I Venezuela sở hữu 4 nhà máy khổng lồ (ở Valera và Los Guayos), nắm giữ khoảng 60-80% thị phần bao bì thủy tinh của cả nước. Đây là thế độc quyền tự nhiên do năng lực sản xuất quá bá đạo. Họ là đối tác sống còn của các hãng bia (như Polar), hãng rượu, hãng thực phẩm (như Heinz) và các công ty dược. Doanh thu của O-I tại Venezuela cực tốt, công nghệ lò nung thuộc hàng tối tân nhất Nam Mỹ, và họ chưa bao giờ để thị trường thiếu một cái chai nào.
Nhưng Chávez ghét O-I vì hai lý do.
Thứ nhất, nó là của Mỹ (đương nhiên).
Thứ hai, và quan trọng hơn, O-I là nhà cung cấp chính cho Empresas Polar – tập đoàn thực phẩm tư nhân lớn nhất Venezuela của tỷ phú Lorenzo Mendoza. Mendoza là kẻ thù không đội trời chung mà Chávez muốn tiêu diệt nhưng chưa dám cướp trực tiếp vì sợ dân đói (Polar cung cấp 80% bia và bột ngô cho dân). Thế là Chávez chơi bài “bóp cổ gián tiếp”: Cướp nhà máy làm chai để thằng làm bia không có cái mà đựng.
Ngày 25 tháng 10 năm 2010, Chávez lên tivi tuyên bố “Expropiese” nhà máy của O-I với lý do nực cười: “Bọn này khai thác cát và tài nguyên của Venezuela để làm giàu, hủy hoại môi trường và bóc lột công nhân”. Hắn đổi tên công ty thành Venvidrio (Venezolana del Vidrio) và cũng giao cho... một đám quan chức bất tài quản lý.
Sau khi bị cướp là một thảm họa dây chuyền. Sản xuất thủy tinh là một ngành kỹ thuật cực khó. Các lò nung phải hoạt động 24/7 ở nhiệt độ hơn 1.500 độ C. Nếu mày tắt lò hoặc để nhiệt độ trồi sụt, thủy tinh nóng chảy sẽ đông cứng lại, phá hỏng toàn bộ lò nung, coi như vứt cả nhà máy đi. Đám quản lý mới của Venvidrio không hiểu điều này.
Vì thiếu tiền bảo trì, nguyên liệu thô (soda ash), và quản lý nhân sự kém. Chỉ sau một thời gian ngắn, sản lượng của Venvidrio tụt giảm 40-50%. Hậu quả là các hãng bia và nước ngọt (như Polar và Coca-Cola Venezuela) phải liên tục ngừng sản xuất vì... không có vỏ chai. Dân nhậu Venezuela khóc ròng vì bia khan hiếm. Các công ty dược phẩm không có lọ đựng thuốc siro cho trẻ em. Từ một nước tự túc được bao bì, Venezuela phải bỏ đô la ra đi nhập khẩu vỏ chai từ Brazil và Colombia. Owens-Illinois sau đó kiện Venezuela ra tòa án trọng tài quốc tế (ICSID) và thắng kiện hơn 400 triệu USD, nhưng dĩ nhiên Chávez và Maduro chây ì không trả, biến Venezuela thành kẻ quỵt nợ quốc tế.
Thực phẩm
Nhà máy sữa Lácteos Los Andes là công ty sữa tư nhân lớn, sản phẩm chất lượng, phân phối khắp cả nước, làm ăn có lãi. Chávez mua lại (ép bán) với lý do "đảm bảo sữa giá rẻ cho trẻ em".
Sau khi về tay nhà nước, Lácteos Los Andes biến thành cái ổ tham nhũng. Số lượng nhân viên bị nhồi nhét tăng gấp 3 lần (để giải quyết khâu oai cho đảng), trong khi sản lượng sữa tươi thu mua từ nông dân giảm thê thảm vì nhà nước ép giá thu mua quá thấp (nông dân thà đổ sữa cho heo uống còn hơn bán lỗ).
Để có sữa bán, Lácteos Los Andes chuyển sang nhập khẩu sữa bột giá rẻ từ Trung Quốc về pha với nước lã, đóng hộp và bán dưới mác "sữa tươi xã hội chủ nghĩa". Chất lượng tồi tệ đến mức dân cũng chán không buồn uống. Đến năm 2019, một lãnh đạo của công ty này (Đại tá Luis Augustus Piligra) đã bị bắt vì tội tham nhũng làm giàu bất chính, phơi bày sự thật là công ty đã nát bét từ trong ra ngoài.
Tương tự với ngành Gạo, Chávez tấn công tập đoàn Cargill (Mỹ) và cướp các nhà máy xay xát lúa gạo của Monaca. Lý do muôn thuở: “Bọn này đầu cơ tích trữ, làm giá gạo cao”. Sau khi tịch thu, các nhà máy xay xát của nhà nước hoạt động cầm chừng vì không có lúa để xay (do nông dân đã bỏ ruộng vì chính sách áp trần giá). Gạo biến mất khỏi siêu thị. Dân Venezuela phải ăn gạo nhập khẩu chất lượng kém trong các túi cứu trợ CLAP sau này.
Ngân hàng
Banco de Venezuela - ngân hàng lâu đời nhất đất nước (thành lập năm 1890) được Santander (cá mập tài chính châu Âu) mua lại năm 1966 hoạt động cực kỳ hiệu quả và chuyên nghiệp theo tiêu chuẩn châu Âu. Nó nắm giữ tiền gửi của tầng lớp trung lưu và là nguồn cấp vốn chính cho các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ. Santander kiếm bộn tiền từ đây và chuyển lợi nhuận về Madrid.
Với Chávez, việc nhìn thấy dòng tiền lãi chảy ra nước ngoài trong khi hắn đang hô hào "Chủ nghĩa xã hội" là cái gai trong mắt. Hắn gán cho hành động kinh doanh bình thường này cái tội danh là "hút máu thuộc địa".
Năm 2008, Santander nhìn thấy mùi bất ổn ở Venezuela nên muốn rút lui êm đẹp. Họ đã lén đàm phán để bán lại Banco de Venezuela cho một chủ ngân hàng tư nhân trong nước (được đồn đoán là Nelson Mezerhane của ngân hàng Banco Federal - một người thân phe đối lập). Chávez nghe tin này và nổi trận lôi đình. Hắn lên tivi gầm gừ:
"Tao nghe nói bọn Santander định bán ngân hàng cho bọn tư sản Venezuela? Không đời nào! Nếu bán, phải bán cho Nhà nước! Tao cần cái ngân hàng đó để phục vụ nhân dân!".
Thực chất, Chávez sợ rằng nếu ngân hàng lớn thứ 3 đất nước này rơi vào tay một tỷ phú đối lập, phe đối lập sẽ có một nguồn tài chính khổng lồ để nuôi dưỡng các phong trào chống lại hắn. Thế là hắn tuyên bố:
"Tao mua lại hết! Santander, đưa ngân hàng đây và cầm tiền biến đi".
Thương vụ này được chốt với giá khoảng 1,05 tỷ USD. Chávez trả tiền tươi thóc thật (lúc này tiền dầu vẫn còn nhiều) để giữ thể diện ngoại giao với Tây Ban Nha, nhưng bản chất vẫn là ép buộc. Santander cầm tiền chạy thoát thân trước khi con tàu chìm, còn Chávez thì hí hửng vì nắm được món đồ chơi mới.
Sau khi “cướp” (mua ép) được Banco de Venezuela, Chávez đã thực hiện đúng cái chiến lược Kiểm soát dòng tín dụng.
Biến Ngân hàng thành Bộ Tài chính thứ hai
Thay vì hoạt động theo nguyên tắc "Ai có khả năng trả nợ thì cho vay", Banco de Venezuela giờ đây cho vay theo chỉ đạo chính trị. Mày là một chủ doanh nghiệp ủng hộ phe đối lập? Mày cần vay vốn để mở rộng sản xuất? "Hồ sơ bị từ chối". Dù mày có tài sản thế chấp tốt đến đâu cũng bị cắt nguồn tiền. Chávez dùng ngân hàng để bóp nghẹt khu vực tư nhân, ép họ phải phá sản hoặc quy phục. Ngược lại, các "Hợp tác xã xã hội chủ nghĩa" (vốn hoạt động kém hiệu quả) hoặc các công ty sân sau của quan chức lại được bơm tiền vay vô tội vạ mà không cần thẩm định rủi ro. Kết quả là nợ xấu chồng chất, nhưng ngân sách nhà nước lại nhảy vào bù lỗ.
Công cụ phân phối phúc lợi (Máy phát tiền)
Chávez biến Banco de Venezuela thành cái "két sắt" của 2,6 triệu công chức nhà nước và hàng triệu người nhận trợ cấp xã hội. Tất cả lương bổng, tiền thưởng, tiền phát chẩn đều phải đi qua tài khoản của ngân hàng này. Điều này làm cho quy mô của ngân hàng phình to khủng khiếp về số lượng khách hàng (từ 3 triệu lên hơn 10 triệu tài khoản). Nhưng chất lượng dịch vụ thì tụt xuống đáy.
Hệ thống ATM luôn hết tiền, trang web (e-banking) sập liên tục vì quá tải, người dân phải xếp hàng rồng rắn cả ngày mới rút được vài đồng tiền mặt lạm phát. Ngân hàng không còn là nơi kinh doanh tiền tệ, nó trở thành một cơ quan hành chính quan liêu để phân phối vụn bánh mì cho dân.
Cái bẫy thanh khoản
Bằng cách nắm giữ Banco de Venezuela (cộng với các ngân hàng nhà nước khác), Chávez kiểm soát hơn 50% thị phần tài chính. Hắn dùng sức mạnh này để ép lãi suất xuống thấp một cách nhân tạo (thấp hơn lạm phát). Điều này có nghĩa là ai gửi tiền vào ngân hàng thì lỗ (tiền bốc hơi giá trị), còn ai vay được tiền (phe thân hữu) thì coi như được cho không. Đây là cách hắn chuyển giao tài sản từ người dân tiết kiệm sang túi của đám quan chức tham nhũng được quyền vay ưu đãi.
Doanh nghiệp không thể sống nếu thiếu vốn, và vốn bây giờ nằm trong tay Chávez. Hắn không cần tịch thu nhà máy của mày, hắn chỉ cần ra lệnh cho ngân hàng: "Đừng cho thằng đó vay một xu nào", là doanh nghiệp của mày tự khắc chết khô.
Tổng cộng, Chávez đã tịch thu hơn 1.000 công ty tư nhân và hàng triệu hecta đất nông nghiệp.
Nó đẻ ra một nền kinh tế "Vua Midas ngược": Chávez chạm tay vào cái gì, cái đó biến thành cứt (theo nghĩa đen). Những công ty đang làm ăn có lãi, sau khi bị tịch thu và giao cho đám quan chức bất tài hoặc quân đội quản lý, lập tức thua lỗ, máy móc rỉ sét, nhân viên đình công. Nhưng Chávez mặc kệ, vì hắn có tiền dầu bù lỗ. Hắn coi việc sở hữu các công ty này không phải để kinh doanh, mà để biến nhân viên ở đó thành "công chức", tức là thành nô lệ phụ thuộc vào lương nhà nước để dễ bề sai khiến.
Phi vụ ăn cướp cuối cùng đã biến Venezuela từ một nước xuất khẩu cà phê và thịt bò hàng đầu thành một kẻ chết đói phải đi bới rác là vụ cướp Agroisleña và bi kịch của người nông dân Franklin Brito.
Ở Venezuela, công ty Agroisleña chính là xương sống của mọi nông dân. Nó là một công ty tư nhân gốc Tây Ban Nha, hoạt động 52 năm trời, cung cấp hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu, và quan trọng nhất là tín dụng kỹ thuật cho hơn 18.000 nông dân. Nông dân thiếu tiền? Agroisleña cho nợ phân bón, cuối vụ trả bằng nông sản. Một hệ thống win-win cực kỳ hiệu quả.
Đùng một cái, tháng 10 năm 2010, Chávez lên cơn điên trên chương trình “Aló Presidente”. Hắn hét lên: “
Agroisleña là bọn đầu cơ! Expropiese! Từ nay nó sẽ là tài sản của nhân dân, đổi tên thành Agropatria”.
Hắn hứa hẹn Agropatria sẽ bán phân bón giá rẻ hơn 40%. Nông dân nghe thì sướng tai lắm. Nhưng chỉ vài tháng sau, thực tế tát họ tỉnh ngủ.
Dưới tay quản lý của nhà nước, Agropatria trở thành một cái xác rỗng tếch. Kho hàng trống trơn. Không có hạt giống, không có thuốc trừ sâu, và dĩ nhiên là cắt luôn khoản cho nợ gối đầu.
Nông dân muốn mua một bao phân đạm? Phải điền 8 tờ đơn, xếp hàng 3 tuần, và phải hối lộ cho quản lý kho thì mới có hàng. Mà hàng thì toàn là hàng dởm nhập từ Trung Quốc, bón cây cây chết.
Hậu quả là năng suất nông nghiệp sụp đổ hoàn toàn. Cây cà phê bị nấm bệnh không có thuốc chữa, ruộng ngô thiếu đạm còi cọc. Venezuela chính thức mất khả năng tự túc lương thực.
Franklin Brito - là một nhà sinh học, một nông dân nhỏ có mảnh đất ở bang Bolivar. Nhưng mảnh đất của ông bị đám quan chức địa phương và các nhóm "dân cày" (được Chávez bảo kê) nhảy vào chiếm đoạt. Brito không dùng súng, ông dùng thân xác mình để đấu tranh. Ông tuyệt thực. Ông tuyệt thực hết lần này đến lần khác, khâu miệng lại, cắt ngón tay để phản đối trước mặt cả thế giới. Ông đòi Chávez trả lại công lý cho quyền tư hữu.
Mày biết Chávez làm gì không? Hắn tống Brito vào bệnh viện quân y trái ý muốn, tuyên bố ông bị... điên. Và Chávez để mặc cho Brito chết đói dần mòn ngay trong sự giám sát của nhà nước. Năm 2010, Franklin Brito trút hơi thở cuối cùng, da bọc xương, nặng chưa đầy 35kg. Cái chết của ông là bản cáo trạng đẫm máu cho cái chính sách cải cách ruộng đất của Chávez: Không có công lý, chỉ có sự cướp bóc được hợp pháp hóa.
Bolivarian Oligarchs - Tài phiệt Bolivar
Sau khi cướp hết từ nhà máy đến ruộng đồng, Chávez đã tạo ra một “Nền kinh tế Cảng biển” (Port Economy). Vì trong nước không còn ai sản xuất được cái gì (do bị tịch thu hết rồi), Venezuela phải nhập khẩu 100% mọi thứ. Từ cái giấy vệ sinh, cục xà phòng, đến hạt gạo, miếng thịt. Và đây chính là lúc lũ kền kền xuất hiện.
Tại sao Chávez lại thích nhập khẩu hơn là sản xuất không? Có phải chỉ vì ngu không? Không, đằng sau đó là một âm mưu làm giàu khủng khiếp của tầng lớp quý tộc mới mang tên "Boligarchs" (Đại gia Bolivar). Bọn này chính là những đứa con đẻ quái thai của chế độ, những kẻ đã biến sự sụp đổ của đất nước thành cơ hội để trở thành tỷ phú đô la.
Định nghĩa bọn này rất đơn giản: Mặc áo đỏ, mồm hô “Xã hội chủ nghĩa”, nhưng đi xe Ferrari, uống rượu vang 5.000 đô và cất tiền ở Thụy Sĩ.
Năm 2003, Chávez lập ra CADIVI để kiểm soát việc mua bán ngoại tệ. Hắn quy định tỷ giá cố định. Ví dụ (số liệu tượng trưng cho dễ hiểu):
Tỷ giá Ưu đãi (Nhà nước): 1 USD = 10 Bolivar. (Dành cho việc nhập khẩu hàng thiết yếu: thuốc men, thực phẩm).
Tỷ giá Chợ đen (Thực tế): 1 USD = 1.000 Bolivar. (Vì ai cũng muốn mua đô la mà nhà nước không bán, nên giá chợ đen tăng phi mã).
Từ nay, không ai được tự do mua bán đô la nữa. Mày muốn nhập khẩu hàng hóa? Mày muốn đi du lịch? Mày phải làm đơn xin phép nhà nước để được mua đô la theo tỷ giá ưu đãi. Đây là cái vòng kim cô siết chặt cổ giới tư bản. Doanh nghiệp nào chống đối Chávez? “Duyệt hồ sơ thất bại”, không cho mua đô la, mày sẽ phá sản vì không có tiền nhập nguyên liệu. Doanh nghiệp nào ngoan ngoãn? Được mua đô la giá rẻ, tha hồ làm giàu. CADIVI chính là công cụ để Chávez phân loại: Ai là bạn thì cho sống, ai là thù thì bóp chết đói.
Tuy nhiên đối với đám Boligrarchs sự chênh lệch giữa 10 và 1.000 chính là mỏ vàng.
Bước 1: Lập công ty ma.
Một thằng Boligarch (thường là tướng quân đội hoặc bạn thân quan chức) lập ra một công ty nhập khẩu ma.
Bước 2: Xin đô la giá rẻ.
Nó làm hồ sơ xin CADIVI cấp cho 1 triệu USD để nhập khẩu “Thịt bò cho dân nghèo”. Vì là người nhà, hồ sơ được duyệt cái rụp.
Nó chỉ phải trả cho nhà nước: $1.000.000 \ 10 = 10.000.000 Bolivar.
Bước 3: Trò ảo thuật “Container Rỗng” (Ghost Imports).
Để hợp thức hóa hồ sơ hải quan, nó thuê tàu chở về cảng Puerto Cabello những container... rỗng tuếch, hoặc chứa toàn gạch đá, phế liệu, hoặc thực phẩm hết hạn giá rẻ mạt.
Thậm chí, nhiều khi nó còn không thèm nhập gì cả, chỉ làm giấy tờ giả khống.
Bước 4: Bán đô la ra chợ đen.
Nó đem 1 triệu USD đó bán ra chợ đen với giá 1.000 Bolivar/USD.
Nó thu về: $1.000.000 \1.000 = 1.000.000.000 Bolivar.
Kết quả:
Vốn bỏ ra: 10 triệu Bolivar.
Thu về: 1 tỷ Bolivar.
Lợi nhuận: 10.000% trong một nốt nhạc.
Tại sao phải đi xây nhà máy, trồng lúa, chăn bò làm gì cho khổ?
Tại sao phải lo bảo trì máy móc, lo đối phó với công nhân đình công?
Chỉ cần một cái chữ ký của quan chức CADIVI, mày trở thành tỷ phú sau một đêm mà không cần làm gì cả. Đó là lý do tại sao Venezuela PHẢI nhập khẩu.
Nếu tự sản xuất trong nước, bọn Boligarchs lấy đâu ra cớ để xin đô la giá rẻ? Nền sản xuất nội địa bị giết chết không chỉ vì chính sách ngu dốt, mà vì nó cản đường làm giàu của đám quan chức tham nhũng.
Alejandro Andrade - "Gã vệ sĩ một mắt” xuất thân là vệ sĩ riêng của Chávez, từng tham gia đảo chính năm 1992 và bị mất một mắt. Vì lòng trung thành, Chávez bổ nhiệm hắn làm Bộ trưởng Ngân khố Quốc gia (Treasurer) từ 2007-2010. Thằng cha này nắm giữ chìa khóa két sắt quốc gia. Hắn đã tuồn hàng tỷ đô la cho bạn bè và nhận lại tiền hối lộ khổng lồ. Sau khi Chávez chết, hắn chuồn sang Mỹ sống ở Florida. Hắn sở hữu biệt thự, máy bay riêng, và một trang trại ngựa đua trị giá hàng triệu đô. Con trai hắn khoe khoang lối sống xa hoa trên Instagram. Năm 2018, hắn bị FBI bắt và thú nhận đã nhận hối lộ 1 tỷ USD. Mày nghe kỹ nhé: Một tỷ đô la tiền mặt đút túi riêng. Trong khi dân Venezuela đang bới rác kiếm ăn.
Raúl Gorrín Chủ sở hữu kênh truyền hình Globovisión. Hắn là trùm rửa tiền cho các con của Chávez và quan chức cao cấp. Hắn dùng hệ thống ngân hàng Mỹ để tẩu tán hàng tỷ đô la tiền bẩn từ trò chênh lệch tỷ giá. Hiện nay hắn đang bị Mỹ truy nã gắt gao.
Nhớ vụ Pudreval nhập về hàng trăm ngàn tấn thịt thối ở cảng không ? Tại sao chúng nó nhập về rồi để thối? Giờ mày hiểu rồi đấy. Chúng nó không quan tâm đến thực phẩm. Mục đích của việc nhập khẩu là để lấy Đô la, không phải để lấy Hàng. Khi đô la đã chảy vào túi rồi, thì cái container thịt gà kia chỉ là rác rưởi, là cái vỏ bọc. Phân phối làm gì cho tốn tiền xăng xe? Cứ vứt đấy cho thối rồi đem chôn. Tiền đã nằm trong tài khoản ở Thụy Sĩ rồi.
Chávez đã tạo ra một nền kinh tế quái thai:
Phá hủy người làm thật: Tịch thu tài sản của doanh nhân chân chính (như vụ Agroisleña, Sidor, CEMEX).
Nuôi dưỡng ký sinh trùng: Tạo điều kiện cho bọn Boligarchs hút máu ngân khố qua trò chênh lệch tỷ giá.
Hơn 300 tỷ USD (theo ước tính của chuyên gia kinh tế Jorge Giordani - cựu bộ trưởng của Chávez) đã bị biển thủ và tuồn ra nước ngoài thông qua các công ty ma. Số tiền đó đủ để xây mới hoàn toàn đất nước Venezuela 3 lần. Nhưng thay vào đó, nó đang nằm trong các bất động sản ở Miami, Madrid và các tài khoản bí mật ở Panama.
Venezuela không chết vì chủ nghĩa xã hội, nó chết vì Kleptocracy (Chế độ đạo tặc) đội lốt chủ nghĩa xã hội.
PSUV: Sự ra đời của “Đảng toàn trị” (2007)
Để quản lý cái đống tài sản khổng lồ vừa cướp được và hàng triệu công chức mới, cái phong trào MVR ngày xưa chỉ là một cái rạp xiếc ô hợp được dựng lên vội vàng để thắng cử năm 1998, gồm đủ loại thành phần từ cánh tả, quân nhân, đến dân túy cơ hội. Nó lỏng lẻo, vô kỷ luật, đầy rẫy những "sứ quân" (caudillos) ở các địa phương tự tung tự tác và quan trọng nhất là không thấm nhuần tư tưởng "trung thành tuyệt đối" với lãnh tụ.
Chávez nhận ra rằng cái nồi lẩu này chỉ dùng để đi bầu cử thì được, chứ dùng để cai trị vĩnh viễn và cải tạo xã hội thì vứt đi. Hắn ra lệnh A, thằng cấp dưới làm B. Hắn muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, đám cấp dưới lại muốn làm tư bản thân hữu. Thế là hắn quyết định đập bỏ cái nhà cấp 4 lụp xụp MVR để xây một cái pháo đài bê tông cốt thép PSUV, nơi chỉ có một mệnh lệnh duy nhất từ trên xuống dưới: Tuân phục hoặc Chết.
Vậy ai là kẻ đứng sau thì thầm vào tai Chávez cái mô hình đảng trị kiểu Leninism này? Câu trả lời không ai khác chính là Fidel Castro và bộ sậu cố vấn Cuba, cộng với một phần lý thuyết của nhà xã hội học người Đức Heinz Dieterich (cha đẻ khái niệm "Chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21").
Sau cuộc đảo chính hụt năm 2002, Fidel đã dạy Chávez một bài học xương máu: "Cách mạng mà không có một đảng tiên phong (Vanguard Party) kỷ luật sắt và nắm chặt quân đội thì sớm muộn cũng bị Mỹ lật đổ". Fidel đã cử hàng ngàn cố vấn tình báo và chính trị sang Caracas để giúp Chávez thiết kế lại bộ máy. Mô hình PSUV chính là bản sao của Đảng Cộng sản Cuba: Một đảng duy nhất nắm trọn nhà nước, quân đội và các tổ chức xã hội. Chávez bị ám ảnh bởi sự trường tồn của chế độ Castro (dù bị cấm vận vẫn sống nhăn), nên hắn copy y nguyên công thức đó: Đảng = Nhà nước = Lãnh tụ.
Năm 2007 khi vừa thắng cuộc bầu cử tổng thống năm 2006 với số phiếu kỷ lục 63%; Chávez đang ở trên đỉnh thế giới, cảm giác mình là "Bố thiên hạ" đúng nghĩa đen. Nhìn xuống đám đàn em lố nhố bên dưới – những đảng phái nhỏ trong liên minh cầm quyền như Podemos, PPT (Tổ quốc cho Mọi người) hay PCV (Đảng Cộng sản) – và thấy ngứa mắt. Hắn nghĩ:
"Tại sao tao phải đi nịnh nọt, chia ghế cho lũ ăn hại này trong khi dân bầu cho tao chứ có bầu cho chúng nó đâu?".
Thế là vào một buổi tối đẹp trời trên sóng truyền hình quốc gia, hắn ra lệnh giải tán tất cả các đảng phái cánh tả nhỏ lẻ đã từng ủng hộ hắn để sáp nhập vào một siêu đảng duy nhất: Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Venezuela (PSUV). Đây không chỉ là đổi tên đảng, đây là bước chuyển mình từ một chế độ dân túy sang một chế độ toàn trị (Totalitarian).
Chávez đưa ra một tối hậu thư lạnh lùng cho tất cả các đảng phái cánh tả trong liên minh cầm quyền (như Đảng Cộng sản PCV, Đảng Tổ quốc cho Mọi người PPT, Podemos):
“Giải tán hoặc Biến đi”.
Hắn nói thẳng trên tivi:
“Các đảng phái này đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó rồi. Giờ thì dẹp đi, ai không vào PSUV thì ra rìa, là chống lại sự thống nhất, là tiếp tay cho đế quốc Mỹ”.
Podemos - đảng cánh tả lớn thứ hai trong liên minh MVR từng đảo chính cùng Chávez năm 1992 do nắm nhiều ghế trong Quốc hội và chức Thống đốc, nên chúng nó có chút ảo tưởng sức mạnh. Lãnh đạo Podemos là Ismael García đã rụt rè lên tiếng:
“Thưa Tổng thống, chúng tôi ủng hộ cách mạng, nhưng chúng tôi muốn giữ bản sắc riêng, dân chủ đa nguyên..."
Chávez cắt lời ngay lập tức. Hắn lên tivi chửi thẳng mặt Podemos là lũ "phản bội", là "mặt nạ của chủ nghĩa xã hội giả hiệu".
Ngay lập tức, vòi bạch tuộc quyền lực siết lại: Các thống đốc, thị trưởng thuộc phe Podemos bị cắt ngân sách trung ương. Họ không có tiền trả lương nhân viên, không có tiền rải nhựa đường. Dân chúng (vốn bị Chávez dắt mũi) quay sang chửi bới lãnh đạo Podemos là vô dụng. Cuối cùng, Podemos tan đàn xẻ nghé, một nửa chạy sang đầu hàng Chávez, một nửa (như Ismael García) phải chạy sang phe đối lập để sống sót.
Tiếp đến là Đảng Cộng sản Venezuela (PCV). Đây là những ông già gân, bảo thủ và có lịch sử lâu đời hơn cả tuổi đời của Chávez. Họ từ chối giải tán vì “lịch sử quang vinh”. Chávez chơi bài tâm lý chiến cực thâm. Hắn không bỏ tù họ, hắn sỉ nhục họ. Hắn mỉa mai trên tivi:
“Mấy ông cộng sản này chỉ lo giữ cái logo búa liềm thôi, chứ có làm được cái tích sự gì đâu. Họ lạc hậu rồi”.
Dù PCV không chịu giải tán về mặt pháp lý, nhưng Chávez đã hút sạch cử tri và đảng viên trẻ của họ sang PSUV. PCV còn lại chỉ là cái vỏ rỗng tuếch, vẫn phải cun cút giơ tay ủng hộ Chávez trong Quốc hội vì sợ bị xóa sổ hoàn toàn.
Còn với Đảng MVR (đảng của chính Chávez), việc giải tán diễn ra trong một nốt nhạc. Chávez ra lệnh một cái, toàn bộ cấu trúc đảng cũ biến mất. Hắn muốn xóa sạch những “công thần” cũ, những kẻ dám cậy quyền cậy thế vì đã theo hắn từ năm 1992. Vào PSUV, tất cả làm lại từ đầu. Ai ngoan, ai nịnh giỏi, ai lôi kéo được nhiều người vào đảng thì được lên chức. Hắn thay thế lòng trung thành dựa trên “chiến hữu” bằng lòng trung thành dựa trên “số liệu”.
Nói tới đây tao chắc chắc mọi thằng biết tiếng Việt là tự động hiểu cái cách Đảng kiểu Leninism hoạt động như thế nào rồi đấy. Chỉ là tụi mày mù mờ chưa đủ ngôn ngữ diễn tả mà thôi.
Đó là mô hình cai trị theo kiểu quân đội dưới danh nghĩa "tập trung dân chủ" - nơi mà mọi ý kiến cá nhân bị gạt phăng ra bên lề để phục tùng mệnh lệnh của tổ chức dưới danh nghĩa "nghị quyết" nhưng thực chất nó là chế độ cai trị của 1 thằng bí thư ra lệnh cho tất cả đám còn lại phải nghe theo. Thông thường vì để giữ hình ảnh kỷ luật, đám trong ban chấp hành thường đưa ra tỷ lệ ủng hộ tuyệt đối 100% trong mỗi lần họp hành thông qua nghị quyết. Vậy bầu bán làm gì khi tất cả đều cùng gật đầu?
Để đưa quyền lực trong nội bộ đảng cài cắm vào trong bộ máy nhà nước theo kiểu "Vừa đá bóng vừa thổi còi", Chavez hợp nhất Đảng-Nhà nước lại làm một. Hội đồng Bầu cử Quốc gia (CNE) hay Tòa án Tối cao (TSJ) của Venezuela trên lý thuyết là những cơ quan trọng tài độc lập. Nhưng thực tế, 100% thẩm phán và ủy viên hội đồng đều là đảng viên PSUV nòng cốt. Việt Nam cũng tương tự như thế, mày hiểu được cái mô hình Leninism này thì lập tức chính sự trong nước nhà chả còn gì khó khăn nữa.
Khi một quan chức tham nhũng bị lộ tẩy, nếu nó là người của phe Chávez, Tòa án (Đảng) sẽ nói: "Đây là âm mưu bôi nhọ của thế lực thù địch". Hồ sơ bị đóng lại. Nhưng nếu thằng đó dám ho he cãi lời Chávez, ngay lập tức Tòa án sẽ lôi ra đủ thứ tội từ trốn thuế đến phản quốc. Cái mô hình này tạo ra một "vùng cấm" (Impunity) tuyệt đối cho giới tinh hoa đảng. Chúng nó biết rằng miễn là chúng nó còn trung thành với "Nghị quyết", chúng nó có thể ăn cắp ngân sách, buôn lậu ma túy mà không bao giờ bị sờ gáy. Pháp luật chỉ là con chó giữ nhà cho Đảng, chỉ cắn người ngoài chứ không bao giờ cắn chủ.
Chávez cảm thấy bộ máy hành chính cũ (các đô trưởng, thống đốc bang) dù đã bị PSUV nắm giữ nhưng vẫn còn rườm rà, quan liêu, hắn đẻ ra cái gọi là "Comunas" (Công xã) dạng như Đảng ủy ở Việt Nam len lỏi từ xã phường tới mọi tổ chức xã hội.
Đây là những đơn vị hành chính cực nhỏ, được bơm tiền trực tiếp từ Tổng thống, bỏ qua luôn cả chính quyền địa phương. Lãnh đạo các Comunas này không ai khác chính là các bí thư chi bộ của PSUV. Bằng cách này, Chávez tạo ra một mạng lưới quyền lực chân rết cắm thẳng xuống từng khu phố, phá nát cấu trúc hành chính thông thường. Ngân sách nhà nước thay vì chảy qua Bộ Tài chính để được kiểm toán, thì chảy thẳng vào túi các Đảng ủy viên khu phố dưới danh nghĩa "dự án cộng đồng". Điều này biến cả đất nước thành một bàn cờ mà mỗi ô vuông đều bị kiểm soát bởi một tay chân của Đảng, khiến cho bất kỳ mầm mống phản kháng nào cũng bị bóp chết từ trong trứng nước.
Trong PSUV, không có khái niệm "quy hoạch cán bộ" bài bản dựa trên năng lực đâu, mà là sự tùy hứng của Chávez. Hắn áp dụng triệt để cái gọi là "El Dedazo" – tức là Ngón tay trỏ quyền lực.
Hắn chỉ vào ai, thằng đó làm Thống đốc. Hắn chỉ vào ai, con đó làm Bộ trưởng. Có những lần bầu cử sơ bộ trong đảng, dân chúng (cơ sở đảng) bỏ phiếu bầu cho ông A vì ông này được việc. Nhưng Chávez ghét ông A, hắn lên tivi tuyên bố: "Đồng chí A chưa đủ bản lĩnh chính trị, tôi quyết định đồng chí B sẽ là ứng cử viên của đảng". Thế là xong. Cả cái đảng ủy bên dưới phải quay xe 180 độ, từ ủng hộ A sang tung hô B là "thiên tài kiệt xuất". Ý chí của một người đè bẹp lá phiếu của hàng triệu đảng viên. Nó biến các cuộc họp chi bộ thành những vở kịch câm mà ai cũng biết trước kịch bản.
Trong mô hình này, luôn phải có một thằng đóng vai "Ác quỷ" để thằng đứng đầu đóng vai "Thánh thiện". Chávez đóng vai cha già dân tộc nhân từ, còn Diosdado Cabello (Phó chủ tịch đảng, trùm quân đội và tình báo) đóng vai đao phủ. Cabello nắm trong tay hồ sơ đen của tất cả các quan chức còn lại. Thằng nào trong cuộc họp Ban Chấp hành mà dám có ý kiến ngược chiều, Cabello chỉ cần vỗ vai nhẹ một cái, nhắc khéo về "vụ rắc rối tài chính" của thằng đó hồi năm ngoái. Thế là im phăng phắc. Sự đoàn kết 100% mà mày thấy trên tivi không phải đến từ sự đồng thuận, nó đến từ nỗi sợ hãi bị thanh trừng. Cabello điều hành đảng như một trại lính: "Tuân lệnh hoặc biến mất".
Sau khi quốc hữu hóa hàng loạt từ dầu khí, điện lực đến xi măng, ngân hàng, Chávez nắm trong tay hàng triệu vị trí việc làm. Và thẻ đảng PSUV chính là tấm vé thông hành để mày được nhận vào làm, được thăng chức, hay đơn giản là không bị đuổi việc. Mày muốn làm kỹ sư ở PDVSA? Vào đảng.
Mày muốn làm giáo viên trường công? Vào đảng.
Mày muốn nhận học bổng? Vào đảng.
Chávez đã biến 6 triệu đảng viên PSUV thành những con tin kinh tế. Họ buộc phải trung thành, phải đi mít tinh, phải mặc áo đỏ, vì nếu chế độ sụp đổ, bát cơm của họ cũng vỡ tan tành. Các nhà chính trị học gọi đây là Clientelism (Chủ nghĩa thân hữu/Bảo trợ) ở quy mô công nghiệp.
Chávez xây dựng các UBCh (Unidades de Batalla Bolívar - Chávez) - Đơn vị Chiến đấu Bolívar - đây là đám "Công an phường" phiên bản vũ trang tư tưởng. Các UBCh được cài cắm xuống từng khu phố, từng tòa nhà chung cư. Nhiệm vụ của chúng là lập danh sách "1x10": Mỗi đảng viên nòng cốt phải quản lý và chịu trách nhiệm lôi kéo (hoặc ép buộc) 10 cử tri khác đi bầu cho Chávez. Chúng nắm rõ trong khu phố nhà nào theo phe đối lập, nhà nào hay chửi chính phủ, nhà nào đang đói cần gạo. Khi có bầu cử hay biểu tình, bọn UBCh này sẽ đi gõ cửa từng nhà, một tay cầm túi thực phẩm (quà thưởng), tay kia cầm danh sách đen (đe dọa).
Để bảo nòng súng không quay ngược chĩa thẳng vào đầu mình, Chávez xóa nhòa ranh giới cấm kỵ giữa Đảng và Quân đội. Theo hiến pháp cũ (và hiến pháp của mọi nước văn minh), quân đội phải trung lập về chính trị. Nhưng Chávez bắt binh lính phải hô vang khẩu hiệu: "Patria, Socialismo o Muerte" (Tổ quốc, Xã hội chủ nghĩa hay là Chết). Hắn phong tướng cho các đảng viên thân tín, và ngược lại, đưa các tướng lĩnh sang làm Bộ trưởng, Thống đốc bang. Việc này tạo ra một tầng lớp "Quân nhân - Chính trị gia" (Military-Politician) gắn chặt lợi ích của súng đạn với sự tồn vong của đảng. Nếu đảng chết, bọn tướng tá này cũng sẽ phải ra tòa án binh hoặc quốc tế. Do đó, chúng nó sẽ bảo vệ PSUV đến viên đạn cuối cùng, không phải vì lý tưởng, mà vì sợ bị thanh trừng.
Chávez đã hoàn thiện mô hình Đảng - Nhà nước - Quân đội. Hắn là Chủ tịch Đảng, là Tổng thống, là Tổng tư lệnh. Không còn ranh giới nào nữa. Bất cứ ai chống lại PSUV đều bị coi là chống lại Tổ quốc.
Đến năm 2010, Venezuela về cơ bản đã hoàn thành việc chuyển đổi từ một nền dân chủ khiếm khuyết sang một chế độ độc tài toàn trị, được bọc đường bởi những khẩu hiệu dân túy và được bôi trơn bởi dòng dầu mỏ tưởng chừng như vô tận.
Cú trượt dài và Cái chết (2009 - 2013)
Giá dầu lao dốc
Tháng 7 năm 2008 khi giá dầu lên mức đỉnh 147 USD/thùng, Chávez còn cười ngạo nghễ vào mặt “Mr. Donkey” Bush và cả thế giới tư bản đang phụ thuộc vào giếng dầu của mình. Nhưng hắn không biết rằng mình đang đứng ngay mép vực. Chỉ trong vòng 5 tháng ngắn ngủi, từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2008, giá dầu đã thực hiện một cú nhảy lầu ngoạn mục nhất lịch sử: rơi tự do từ 147 USD xuống còn 32 USD/thùng.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (bắt đầu từ sự sụp đổ của Lehman Brothers) đã khiến cả thế giới thắt lưng buộc bụng. Các nhà máy ở Trung Quốc đóng cửa, xe tải ở Mỹ nằm bãi, máy bay nằm đất. Cầu (Demand) tụt dốc không phanh thì giá phải giảm.
Trong giai đoạn 2004-2008, đám quỹ đầu cơ (Hedge Funds) ở phố Wall đã vay tiền rẻ để mua hàng tỷ thùng dầu trên giấy (Hợp đồng tương lai) nhằm đầu cơ trục lợi. Khi Lehman Brothers phá sản, thị trường tài chính hoảng loạn. Các ngân hàng đòi nợ (Margin Call). Đám đầu cơ buộc phải bán tháo tất cả mọi thứ chúng có trong tay, từ vàng, cổ phiếu cho đến hợp đồng dầu mỏ để lấy tiền mặt trả nợ. Một lượng khổng lồ "dầu giấy" bị xả ra thị trường cùng lúc, tạo ra một cơn lũ cung ảo, đạp giá dầu xuống đáy vực sâu hơn cả mức giảm của nhu cầu thực tế.
Khủng hoảng bắt nguồn từ Mỹ, nhưng khi cả thế giới sợ hãi, họ lại đổ xô đi mua Đô la Mỹ và Trái phiếu kho bạc Mỹ để trú ẩn (Safe Haven). Quy luật bất biến là: Dầu được định giá bằng Đô la, nên khi Đô la mạnh lên thì giá dầu (tính bằng số đô la) phải giảm xuống. Chávez cứ nghĩ kinh tế Mỹ sập thì Đô la chết và Dầu lên ngôi, nhưng thực tế diễn ra ngược lại hoàn toàn.
Warrent Buftt có nói 1 câu nổi tiếng là:
"Chỉ khi thủy triều rút, chúng ta mới biết ai đang bơi mà không mặc quần"
(You only find out who is swimming naked when the tide goes out)
Vụ khủng hoảng 2008 mới làm cả thế giới nhận ra Chávez chỉ là thằng hoàng đế cởi truồng mà nghĩ mình đang mặc chiếc áo đẹp nhất
Vì hắn Không có một xu dính túi. Các nước xuất khẩu dầu khôn ngoan khác như Na Uy, Ả Rập Xê Út, hay thậm chí Nga, khi giá dầu 147 đô, họ đã trích một phần lớn bỏ vào các Quỹ Bình ổn (Sovereign Wealth Funds) để phòng khi cơ lỡ. Chávez thì không.
Hắn có cái Quỹ Ổn định Kinh tế Vĩ mô (FEM), nhưng thay vì bỏ tiền vào, hắn đã rút sạch ruột nó từ những năm trước để chi cho các chương trình Misiones và mua vũ khí của Nga và Trung Quốc. Khi khủng hoảng ập đến, trong quỹ FEM chỉ còn vỏn vẹn 700 triệu USD – không đủ tiền mua giấy vệ sinh cho cả nước trong một tuần.
Đối mặt với ngân khố trống rỗng và giá dầu 32 đô (trong khi ngân sách cần giá 100 đô để hòa vốn), Chávez đứng trước hai lựa chọn:
Thắt lưng buộc bụng: Cắt giảm chi tiêu công, giảm bớt các chương trình xã hội, phá giá đồng tiền để cân bằng ngân sách. (Cách này đau nhưng cứu được nền kinh tế).
Đánh cược tất tay (Doubling Down): Tiếp tục tiêu xài như chưa hề có cuộc chia ly, và bù đắp thiếu hụt bằng cách Vay nợ và In tiền.
Và dĩ nhiên, với bản tính dân túy và sĩ diện hão, Chávez chọn cách thứ 2. Hắn không chịu thừa nhận thất bại. Hắn tuyên bố trên tivi:
“Khủng hoảng thế giới không chạm được vào dù chỉ một sợi lông chân của Venezuela”.
Để chứng minh cho cái tuyên bố ngông cuồng đó, hắn bắt đầu một chuỗi hành động tự sát kinh tế từ năm 2009 đến 2012.
2009: Cú chối bỏ hiện thực và Bơm tiền ảo
Tháng 2 năm 2009, hắn tổ chức trưng cầu dân ý để sửa đổi Hiến pháp, cho phép Tổng thống được tái cử vô thời hạn. Tại sao một kẻ đã nắm trong tay quân đội, tòa án, quốc hội, dầu mỏ và cả đảng PSUV (Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Venezuela) khổng lồ như Chávez lại phải sống chết đòi sửa Hiến pháp năm 2009?
Khi viết bản hiến pháp này, Chávez lúc đó còn khá tự tin (và cũng muốn ra vẻ dân chủ với thế giới), nên lão đồng ý quy định: Tổng thống có nhiệm kỳ 6 năm và chỉ được tái cử một lần duy nhất. Tức là tối đa làm 2 nhiệm kỳ liên tiếp (12 năm).
Theo lịch trình, Chávez đắc cử nhiệm kỳ đầu năm 2000, tái cử nhiệm kỳ hai năm 2006. Vậy theo đúng luật, đến tháng 1 năm 2013, lão bắt buộc phải về hưu. Không có ngoại lệ. Đây chính là cơn ác mộng của Chávez vào năm 2009. Dù lão có quyền lực to đến mấy, nhưng nếu Hiến pháp vẫn ghi rành rành là "cấm tái cử lần 3", thì đến năm 2012, lão sẽ trở thành một con "Vịt què" (Lame Duck): Nếu đám đàn em biết sếp sắp phải nghỉ hưu vào ngày X, thì từ trước đó 2 năm, bọn nó sẽ không còn sợ sếp nữa.Bọn nó sẽ bắt đầu chạy chọt, tìm người kế nhiệm, bè phái sẽ nổi lên tranh giành ghế trống.
Quyền lực của Chávez sẽ bị “pha loãng” ngay lập tức. Chávez không chịu được cảnh đó. Lão muốn là “Vua Mặt Trời” duy nhất, không ai được phép nghĩ đến chuyện thay thế lão.
PSUV chỉ vừa mới thành lập được 2 năm, nhìn giống một cái "Fan club của Hugo Chávez" hơn là một tổ chức chính trị có lý tưởng vững chắc như Đảng Cộng sản Cuba hay Liên Xô.
Nó là một nồi lẩu thập cẩm gồm: lính tráng, cánh tả, dân nghèo, bọn cơ hội, bọn tham nhũng... Thứ duy nhất gắn kết đám hổ lốn này lại với nhau chính là uy tín cá nhân của Chávez.
Chávez biết thừa rằng nếu bước xuống ghế, dù có chỉ định ai lên thay (kể cả Maduro hay Diosdado Cabello), thì cái đảng này sẽ xâu xé nhau ra trăm mảnh ngay lập tức. Phe quân đội sẽ đánh phe dân sự, phe cực tả sẽ đánh phe tham nhũng. Để giữ cho “Cách mạng Bolívar” sống sót (và để bảo vệ khối tài sản khổng lồ mà đám đàn em đã vơ vét), Chávez buộc phải là người cầm lái vĩnh viễn. Không có phương án B nào được phép xảy ra.
Thực ra Chávez đã từng đòi sửa hiến pháp để làm Tổng thống vĩnh viễn vào năm 2007 rồi, nhưng lúc đó lão tham quá. Hắn đưa ra một gói cải cách Hiến pháp khổng lồ (gồm cả việc định nghĩa lại tài sản tư nhân, biến Venezuela thành nhà nước Xã hội chủ nghĩa công khai...). Dân chúng (kể cả người ủng hộ ) thấy "gắt" quá nên đã bỏ phiếu KHÔNG trong cuộc trưng cầu dân ý năm 2007. Đó cũng là bầu cử thất bại đầu tiên trong sự nghiệp chính trị của Chávez.
Rút kinh nghiệm xương máu, năm 2009 hắn chơi bài khôn hơn. Chávez không sửa lung tung nữa. Chỉ sửa đúng 5 điều khoản liên quan đến việc bầu cử.
Nội dung sửa đổi cực kỳ đơn giản: Xóa bỏ giới hạn số lần tái cử đối với Tổng thống (và cả Thống đốc, Thị trưởng, Nghị sĩ để dụ bọn quan chức cấp dưới ủng hộ theo). Hắn dùng một lập luận mị dân đỉnh cao:
“Đây không phải là tôi muốn làm Tổng thống mãi mãi. Đây là tôi muốn trao quyền cho nhân dân. Nếu dân còn yêu tôi, dân có quyền bầu cho tôi tiếp. Tại sao lại tước đi quyền được bầu cho người mình yêu thích của nhân dân bằng cái giới hạn nhiệm kỳ ngớ ngẩn đó?”.
Chávez gọi đó là “Tái cử vô thời hạn” (Reelección Indefinida), biến tham vọng quyền lực cá nhân thành một cái vỏ bọc “dân chủ trực tiếp”. Để thắng cuộc trưng cầu dân ý tháng 2/2009 này, Chávez đã chơi tất tay.
Nhưng để có tiền trả cho đám tay chân Chavismo tiếp tục khua chiêng gõ mõ khắp hàng cùng ngõ tận như năm 1999, hắn ta cần có tiền. Giá dầu giờ đang rớt thảm hại còn 30-40 USD/thùng thì kiếm đâu ra? Vậy là phải đi vay nợ nước ngoài.
Bình thường, khi một quốc gia vay tiền IMF hay World Bank, họ phải cam kết cải cách kinh tế, minh bạch chi tiêu (dù đau đớn). Chávez ghét điều đó. Hắn muốn tiền tươi thóc thật ngay lập tức mà không ai được quyền hỏi hắn tiêu vào đâu. Trung Quốc đáp ứng ngay.
Thông qua CDB (China Development Bank - Ngân hàng Phát triển Trung Quốc) bơm khoản tiền 20 tỷ USD (và tổng cộng hơn 60 tỷ trong cả giai đoạn sau) vào tài khoản Quỹ Trung Quốc - Venezuela (Fondo Chino) dưới dạng "Vay tiền đổi Dầu" (Loans-for-Oil). Venezuela không trả bằng tiền, mà trả bằng Dầu thô. PDVSA phải giao hàng trăm nghìn thùng dầu mỗi ngày cho CNPC (Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc).
Số tiền nợ được tính bằng Đô la, nhưng trả bằng Dầu. Nếu giá dầu là 100 USD/thùng, Venezuela chỉ cần giao 1 thùng để trừ 100 USD nợ. Nhưng khi giá dầu sập xuống 30 USD/thùng (như sau năm 2014), Venezuela phải giao hơn 3 thùng mới trừ được cùng khoản nợ 100 USD đó. Càng khủng hoảng, càng nghèo, thì lại càng phải mang nhiều dầu đi trả nợ. Lúc dân đói cần tiền bán dầu nhất thì không có dầu để bán thương mại, vì phải mang đi cúng cho chủ nợ hết rồi.
Dự án “Đường sắt Tinaco - Anaco” là ví dụ điển hình: Vay 7.5 tỷ USD của Trung Quốc để xây đường sắt cao tốc. Tiền giải ngân hết, nhưng giờ chỉ còn lại những cái trụ bê tông trơ trọi giữa rừng, không một mét đường ray nào hoàn thành. Tiền đã bốc hơi, nhưng nợ thì con cháu vẫn phải trả bằng dầu.
Tức là Chávez đã bán trước tương lai của đất nước để lấy tiền mặt tiêu ngay lập tức.
Số tiền khổng lồ này (khoảng 4 tỷ USD đợt đầu và tăng lên 12 tỷ USD sau đó) không hề đi qua Ngân sách Quốc gia hay bị Quốc hội kiểm soát. Nó đi thẳng vào một cái quỹ đen gọi là FONDEN (Quỹ Phát triển Quốc gia) do Chávez trực tiếp ký séc dùng tiền vay này như tiền tiêu vặt của riêng mình.
Khoản tiền thứ 2 đến từ … không khí.
Bình thường, Ngân hàng Trung ương (BCV) là cái phanh của nền kinh tế. Nó phải độc lập để ngăn chính phủ in tiền bậy bạ gây lạm phát. Nhưng Chávez bảo:
“Độc lập cái con khỉ. Tiền nằm trong két mà không tiêu là tiền chết”.
Năm 2009-2010, Chávez ép Quốc hội sửa Luật BCV. Hắn tạo ra khái niệm “Millarditos” (tạm dịch: Tỷ phú nhí).
Cơ chế cũ: PDVSA bán dầu -> thu Đô la -> bán Đô la cho BCV -> BCV đưa lại Bolivar cho PDVSA tiêu. (Tiền có bảo chứng bằng Đô la).
Cơ chế mới (Millarditos): Chávez ra lệnh cho BCV chuyển trực tiếp hàng tỷ Bolivar (tiền điện tử, không cần in ra giấy) vào tài khoản của quỹ đen FONDEN và PDVSA mà không cần nộp Đô la đối ứng.
Tức là Chávez đã ra lệnh cho BCV: “Mày cứ ghi thêm số 0 vào tài khoản của tao đi”. Hành động này gọi là “Tiền tệ hóa thâm hụt ngân sách” (Monetizing the deficit). Một lượng tiền khổng lồ được bơm ra thị trường nhưng không có hàng hóa tương ứng. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến siêu lạm phát sau này.
Có tiền trong tay, Chávez triển khai ngay mũi nhọn thứ hai: Chiến dịch "Mi Casa Bien Equipada" (Nhà tôi được trang bị đầy đủ)
Thay vì đưa tiền mặt (dễ bị lạm phát ăn mòn), Chávez nhập khẩu hàng triệu món đồ gia dụng từ Trung Quốc (thương hiệu Haier) về: Tủ lạnh, máy giặt, điều hòa, tivi màn hình phẳng. Ngay trước thềm cuộc bỏ phiếu tháng 2/2009, những chiếc xe tải chở đầy đồ điện tử Haier chạy rầm rập vào các khu ổ chuột Barrios.
Quy trình rất đơn giản: Mày là dân nghèo? Mày ủng hộ Chávez? Mày được mua cái tủ lạnh xịn với giá rẻ như cho (được trợ giá tới 80-90%), hoặc thậm chí được tặng miễn phí nếu mày là "cốt cán" của khu phố. Hình ảnh những bà nội trợ ôm cái máy giặt mới cáu cạnh, khóc lóc cảm ơn "Tư lệnh" Chávez xuất hiện tràn ngập trên tivi.
Chávez đã biến cái tủ lạnh thành biểu tượng của lòng trung thành ngầm nhắn nhủ:
"Chỉ có tao mới mang lại cho tụi bay cuộc sống tiện nghi này. Bọn đối lập lên là tụi bay quay lại giặt tay ngay"
Để đảm bảo chiến thắng, Chávez ra lệnh tăng lương tối thiểu và tăng lương cho quân đội thêm lên 20-30% ngay giữa lúc khủng hoảng kinh tế (tiền đâu ra? Lại là in tiền và tiền vay Trung Quốc).
Vì hắn sợ đảo chính. Hắn biết kinh tế đang nát, dân đang đói. Nếu quân đội cũng đói, chúng nó sẽ quay súng bắn vào sọ ngay. Hắn phải nhét đầy mồm các tướng lĩnh và binh sĩ bằng những cọc tiền Bolivar mới in, cộng với đặc quyền được mua xe hơi, nhà ở giá rẻ (từ nguồn tiền Trung Quốc). Quân đội trở thành tầng lớp ưu tú, ăn no mặc ấm trong khi dân thường bới rác.
Mỗi lần lên tivi, Chávez lại ký sắc lệnh tăng lương tối thiểu 20%, 30%. Dân vỗ tay rầm rầm. Nhưng đây là cái bẫy “Vòng xoáy Lương - Giá” (Wage-Price Spiral).
Chính phủ in tiền trả lương tăng thêm.
Dân cầm tiền đó đi mua hàng.
Hàng hóa khan hiếm (do sản xuất trong nước chết), tiền thì nhiều -> Giá cả tăng vọt.
Giá tăng làm tiền lương vừa tăng xong lại không đủ sống.
Dân lại đòi tăng lương. Chávez lại in tiền tăng tiếp.
Kết quả là con số trên bảng lương thì tăng, nhưng Sức mua thực tế (Purchasing Power) thì giảm thê thảm. Một bà nội trợ năm 2009 cầm 100 đồng mua được con gà, năm 2012 cầm 200 đồng (đã tăng lương) chỉ mua được cái cánh gà.
Bộ máy công chức nhà nước và nhân viên tập đoàn dầu khí PDVSA bị đặt trong tình trạng báo động đỏ. Họ bị ép phải tham gia các cuộc mít tinh, phải mặc áo đỏ đi diễu hành. Ai không đi hoặc tỏ thái độ lừng khừng sẽ bị quy là "phản cách mạng" và có nguy cơ mất việc.
Trên truyền thông, Chávez vẽ ra một viễn cảnh tận thế. Lão gào lên:
"Nếu phe đối lập thắng (tức là không cho lão sửa hiến pháp), chúng nó sẽ tư nhân hóa y tế, chúng nó sẽ đuổi các bác sĩ Cuba về nước, chúng nó sẽ lấy lại đất đai".
Lão đánh đồng lá phiếu "CÓ" (SÍ) với sự tồn vong của chính mạng sống người dân. Khẩu hiệu tranh cử của lão đơn giản đến mức tàn nhẫn: "Chávez là Nhân dân". Bỏ phiếu chống lại Chávez là tự sát.
Kết quả: Chávez thắng với 54% phiếu bầu. Hiến pháp được sửa (Tu chính án số 1). Cái “lồng vàng” 1999 bị phá vỡ. Từ giây phút đó, Venezuela chính thức chuyển từ một nền dân chủ què quặt sang một chế độ Độc tài Cá nhân (Personalist Dictatorship). Chávez trở thành “Ứng cử viên vĩnh cửu” (El Candidato Eterno). Không ai còn bàn về người kế nhiệm nữa, cho đến khi thần chết (bệnh ung thư) gõ cửa và buộc Chávez phải đối mặt với cái hạn mức thời gian mà Hiến pháp trần gian không thể sửa đổi được.
Cũng trong năm này, cuộc khủng hoảng điện lực bắt đầu lộ rõ bộ mặt thật. Đập Guri cạn nước, và các nhà máy nhiệt điện cũ nát không chạy nổi. Do nhiều năm không bảo trì và hạn hán, các đập thủy điện cạn nước. Venezuela – nước giàu năng lượng nhất khu vực – lại bị mất điện luân phiên. Chávez đổ tại ...hoặc tại Ông Trời (hiện tượng El Niño) và một lý do nực cười nhất lịch sử nhân loại: Tại con Kỳ nhông (Iguana).
Chávez hoảng hốt ký sắc lệnh “Tình trạng khẩn cấp điện lực”. Hắn chi hàng chục tỷ USD để mua gấp các nhà máy nhiệt điện (chạy bằng gas/diesel) để bù đắp. Đây là cơ hội vàng cho bọn kền kền Boligarchs kiếm.
Một nhóm thanh niên trẻ măng, con nhà giàu, không có chút kinh nghiệm nào về điện lực, đứng đầu là Alejandro Betancourt, đã lập ra công ty Derwick Associates. Nhờ quan hệ thân hữu (lại quả cực đậm cho quan chức sân trước), Derwick trúng thầu hàng loạt hợp đồng tỷ đô để xây nhà máy điện.
Thủ đoạn của chúng là sang Mỹ, sang Tanzania, tìm mua lại những tuabin nhiệt điện cũ nát, rỉ sét, thải loại với giá sắt vụn.
Sau đó chúng sơn phết lại, khai khống là “hàng mới công nghệ cao” rồi bán cho chính phủ Venezuela với giá cắt cổ.
Các nhà máy nhiệt điện này lắp xong thì... không chạy được, hoặc chạy vài hôm là nổ. Hàng tỷ đô la tiền ngân sách bốc hơi vào túi đám Derwick (hiện đám này đang sống xa hoa ở Tây Ban Nha và Mỹ), còn dân Venezuela thì vẫn sống trong cảnh cúp điện triền miên.
2010: Cơn điên "Expropiese" và Bóng tối bao trùm
Năm 2010, khi tình trạng mất điện trở nên không thể kiểm soát, chính quyền Chávez (cụ thể là Bộ trưởng Điện lực) đã lên tivi giải thích nghiêm túc rằng: Những vụ nổ trạm biến áp là do “lũ kỳ nhông chui vào gặm dây điện”. Câu chuyện “Kỳ nhông ăn điện” đã trở thành trò cười cay đắng nhất cho sự bất lực của một chế độ.
Nhưng cái cớ khốn nạn nhất mà Chávez đưa ra là Đổ lỗi cho Nạn nhân. Hắn bảo dân Venezuela mất điện là do... dân sống sướng quá, xài điện hoang phí quá, mang tư tưởng “tiêu dùng tư bản”. Hắn lên tivi dạy dân cách tắm tiết kiệm:
“Tại sao các người phải hát hò trong nhà tắm? Ba phút là đủ tắm rồi. Tắm lâu hơn là tội ác với cách mạng”.
Hắn gọi đó là “Vòi sen Cộng sản” (Communist Shower). Một tổng thống ngồi trên mỏ dầu lớn nhất thế giới đi dạy dân cách tắm trong 3 phút để tiết kiệm điện, trong khi dinh thự của hắn thì sáng đèn 24/7.
Cái cơn điên “Expropiese” như đã nói rồi khi tên độc tài này tịch thu hàng loạt công ty, ngân hàng như Banco Federal với vụ Pudreval rồi.
Năm 2010 kết thúc bằng một cú lừa ngoạn mục về Dân chủ Lập pháp. Sau 5 năm tẩy chay Quốc hội (sai lầm năm 2005), phe đối lập quyết tâm quay lại trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 9/2010. Họ đoàn kết lại thành khối MUD. Kết quả lá phiếu thực tế: Phe đối lập (MUD) giành được 52% tổng số phiếu bầu phổ thông.
Phe Chávez (PSUV) chỉ được 48%.
Về lý thuyết, phe đối lập phải nắm đa số ghế, đúng không? Sai bét.
Nhờ vào kỹ thuật "Gerrymandering" (Vẽ lại bản đồ bầu cử) cực kỳ trắng trợn mà Hội đồng Bầu cử (CNE - đệ tử của Chávez) đã thực hiện trước đó, những khu vực đông dân ủng hộ phe đối lập bị chia nhỏ, dồn phiếu, trong khi những vùng nông thôn ít dân ủng hộ Chávez lại được chia nhiều ghế hơn. Kết quả cuối cùng: Dù thua về số phiếu phổ thông, nhưng đảng của Chávez vẫn chiếm 98 ghế, còn phe đối lập chỉ được 65 ghế. Chávez vẫn nắm quyền kiểm soát Quốc hội.
Nhưng Chávez vẫn chưa yên tâm. Lão sợ rằng 65 nghị sĩ đối lập kia sẽ vào Quốc hội và gây khó dễ, cản trở việc lão ban hành luật.
Thế là vào tháng 12/2010, chỉ vài tuần trước khi Quốc hội mới nhậm chức, Chávez đã ép cái Quốc hội cũ (đang sắp hết nhiệm kỳ và toàn người của Chávez) thông qua một đạo luật “Ủy quyền” (Enabling Law) mới. Đạo luật này cho phép Chávez tự mình ban hành luật trong vòng 18 tháng tiếp theo. Nghĩa là:
“Tụi bay (phe đối lập) cứ việc vào Quốc hội ngồi cho đủ mâm đủ bát, cứ việc cãi nhau thoải mái. Còn tao, tao đã cầm sẵn tờ giấy cho phép tao không cần hỏi ý kiến tụi bay trong 1 năm rưỡi tới rồi”.
Chávez đã biến chiến thắng vất vả của phe đối lập thành vô nghĩa ngay từ trước khi tiếng còi khai cuộc vang lên. Năm 2010 khép lại với sự thật trần trụi: Không còn thể chế nào, không còn luật pháp nào cản được Chávez nữa. Chỉ có một thứ duy nhất bắt đầu nhen nhóm có thể cản được lão, đó là tế bào ung thư đang âm thầm phát triển trong cơ thể lão mà thôi.
2011: Căn bệnh bí ẩn và Luật khủng bố tiểu thương
Trong chuyến công du Cuba rầm rộ vào tháng 6 năm 2011 mồm vẫn gang thép chửi Mỹ như hát hay. Đùng một cái, Chávez biến mất. Chính phủ do hắn kiểm soát lên tiếng trấn an rằng bị "đau đầu gối" rồi lại bảo "áp xe vùng chậu". Tin đồn bắt đầu xì xào về việc Chávez đã chết ở Cuba, rồi bất ngờ xuất hiện trên truyền hình từ Havana, gầy rộc đi, đọc một bài diễn văn dài thừa nhận: "Tôi đã được phẫu thuật lấy khối u ung thư". Các bác sĩ Cuba – những người duy nhất mà Chávez tin tưởng (vì lão sợ bác sĩ Venezuela bị CIA mua chuộc hoặc phe đối lập đầu độc) – đã lôi ra từ vùng xương chậu của lão một khối u to bằng quả bóng chày. Kể từ đó sự hoang tưởng của Chávez lên đỉnh điểm khi sẵn sàng giao phó mạng sống của mình hoàn toàn cho anh em nhà Castro. Cuba trở thành cái bệnh viện riêng của lão.
Mọi thông tin về loại ung thư (đến nay vẫn chưa ai biết chính xác là ung thư gì, nghi là Sarcoma cơ hoặc ung thư đại trực tràng di căn), giai đoạn bệnh, phác đồ điều trị... đều chỉ có Fidel, Raúl Castro và vài người thân tín nhất biết. Ngay cả Phó Tổng thống Maduro hay Bộ trưởng Ramírez ở nhà cũng mù tịt, chỉ biết ngồi xem tivi đợi lệnh.
Bộ máy tuyên truyền lập tức đổi tổng giọng từ "Patria, Socialismo o Muerte" (Tổ quốc, Xã hội chủ nghĩa hay là Chết) bị xóa bỏ vì nghe xui xẻo quá, thay bằng "Viviremos y Venceremos" (Chúng ta sẽ sống và sẽ chiến thắng).
Chávez biến căn bệnh của mình thành một công cụ tranh cử. Hắn khóc, hôn lên thánh giá, cầu xin Chúa cho thêm thời gian để "phục vụ người nghèo". Cảm xúc của đám đông lại bị thao túng cực độ. Dân chúng khóc theo và quên béng đi chuyện siêu thị không có giấy vệ sinh hay chuyện mất điện.
Để mị dân rằng mọi thứ vẫn ổn, hắn tung ra chương trình “Misión Gran Vivienda Venezuela” (Đại sứ mệnh Nhà ở), Chávez xây hàng triệu căn nhà (bằng vật liệu nhập khẩu từ Trung Quốc vì các nhà máy xi măng/thép trong nước như Sidor/CEMEX đã nát bét sau khi bị tịch thu).
Đây là một chương trình xây dựng khổng lồ, nhưng không dựa vào năng lực của các công ty xây dựng trong nước (vì bọn này bị xiết nợ chết hết rồi). Chávez ký hợp đồng với các công ty xây dựng của Nga, Trung Quốc, Belarus và Iran. Những khu chung cư này được xây thần tốc, chất lượng thấp, nhưng được sơn màu sắc sặc sỡ và quan trọng nhất: Được phát miễn phí. Nhưng có một cái giá ngầm: "Ngôi nhà này là của Cách mạng cho mày. Mày phải bầu cho Chávez. Nếu phe đối lập lên, chúng nó sẽ lấy lại nhà". Sứ mệnh Nhà ở này trở thành công cụ bắt giữ con tin hiệu quả nhất. Hàng triệu người nghèo nhận nhà, và họ buộc phải trở thành lá chắn sống bảo vệ chế độ vì sợ mất chỗ chui ra chui vào.
Tháng 11, Chávez ban hành cái gọi là "Luật Giá Công bằng và Chi phí" (Law on Fair Costs and Prices). Hắn lập ra một cơ quan mật vụ kinh tế tên là INDEPABIS (sau này là SUNDDE). Bọn này hoạt động như một đội quân cướp ngày có giấy phép. Chúng nó xông vào siêu thị, cửa hàng tạp hóa, chĩa súng vào đầu chủ tiệm và phán:
"Cái tivi này mày bán 10 đồng là đắt, tao quyết định giá công bằng là 2 đồng. Bán ngay, không tao tịch thu và bỏ tù mày vì tội đầu cơ".
Vấn đề nằm ở chỗ cái "Giá công bằng" mà Chávez áp đặt nó thấp hơn cả giá vốn nhập hàng. Chủ tiệm nhập cái tivi mất 5 đồng (theo giá chợ đen), bị bắt bán 2 đồng (theo giá niêm yết nhà nước). Bán là lỗ chổng vó, là phá sản.Không ai ngu mà đi nhập hàng về để bị cướp cả. Các kệ hàng trống trơn. Siêu thị biến thành những cái nhà kho lạnh lẽo, bụi bặm.
Cái hình ảnh biểu tượng nhục nhã nhất cho sự thất bại của nền kinh tế dầu mỏ vĩ đại này chính là Cơn khủng hoảng giấy vệ sinh. Vào năm 2013, Venezuela - quốc gia có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới - không sản xuất và không nhập khẩu nổi giấy vệ sinh. Chính phủ phải chiếm đóng nhà máy sản xuất giấy vệ sinh Manpa để “đảm bảo nguồn cung”, nhưng càng quản lý ngu + tham nhũng đục khoét thì càng thiếu. Người dân phải xếp hàng 4-5 tiếng đồng hồ, cãi nhau, thậm chí đánh nhau vỡ đầu chỉ để mua được một cuộn giấy chùi đít. Chávez đổ lỗi là do phe đối lập “ăn nhiều hơn bình thường” để phá hoại cách mạng (tao không đùa đâu, họ nói thế thật).
Khi hàng hóa biến mất khỏi siêu thị (nơi bán giá niêm yết), nó chạy đi đâu? Nó chạy ra Chợ đen (Black Market) với giá cắt cổ. Một tầng lớp trung gian mới ra đời gọi là Bachaqueros (những con kiến). Đây là những người thất nghiệp, chuyên nghề xếp hàng từ 3 giờ sáng tại các siêu thị nhà nước để mua vét hàng giá rẻ (gạo, sữa, bỉm) rồi đem ra vỉa hè bán lại với giá gấp 10, gấp 20 lần. Nền kinh tế Venezuela bị chia đôi:
Nền kinh tế ảo: Giá rẻ như cho nhưng không có hàng để mua.
Nền kinh tế thật (Chợ đen): Có hàng nhưng giá trên trời, lạm phát phi mã.
Để có thêm trong khi giá dầu đang lao dốc và tiền mặt trở thành giấy vụn vì in quá nhiều. Chávez gom hết 211 tấn vàng của cả quốc gia đang nằm ở hấm chứa của BoE (Bank of England) ở London về vì đéo muốn bị kiểm toán (Audit Trail) làm lộ ra chi tiêu từ của công về túi riêng. Vì mọi thỏi vàng "chuẩn" (Good Delivery) đều gắn với số số seri, có giấy tờ kiểm định. Khi mày muốn bán hay cầm cố (swap) số vàng đó để lấy Đô la, mày phải làm qua hệ thống ngân hàng quốc tế. Giao dịch đó sẽ được ghi nhận trong cán cân thanh toán, báo cáo lên IMF (Quỹ Tiền tệ Quốc tế). Tức là: Thế giới biết dòng tiền đó đi đâu về đâu. Mày không thể bán chui 10 tấn vàng để mua vũ khí lậu hay bỏ túi riêng mà không để lại dấu vết trên hệ thống tài chính toàn cầu.
BoE lúc này chỉ đóng vai trò nơi lưu ký (custodian) theo nguyên tắc "Vàng của mày, mày thích lấy thì tao trả, miễn là mày trả phí kho bãi và phí vận chuyển". Lúc này vàng được chuyển về mà không bị ăn cướp như thời của Maduro năm 2019.
Để thực hiện chiến dịch logistics khổng lồ và tốn kém ngu người này, cuối năm 2011 đến đầu năm 2012, Chávez đã phải thuê các chuyến bay đặc biệt (được đồn là máy bay Nga) và các đoàn xe bọc thép rầm rộ để chở 160 tấn vàng (trong tổng số 211 tấn dự trữ nước ngoài, phần còn lại vẫn để ở nước ngoài để thanh toán) từ Châu Âu về Caracas. Chi phí vận chuyển và bảo hiểm lên tới hàng chục triệu USD.
Đến khi cầm được vàng về hầm Ngân hàng Trung ương Venezuela (BCV) ở Caracas, hắn biến nó thành "Vàng đen" (theo nghĩa bóng). Không còn ai kiểm toán nữa. Hắn có thể bốc 5 tấn vàng lên máy bay, chở sang Thổ Nhĩ Kỳ hay Iran đổi lấy tiền mặt hay thực phẩm, rồi giấu nhẹm đi không báo cáo vào ngân sách.
Vì Venezuela khát Đô la (do giá dầu biến động và nhập khẩu quá nhiều), bắt đầu giờ trò Gold Swap (Hoán đổi vàng). Venezuela gửi vàng cho các ngân hàng lớn (như Citibank, Deutsche Bank) làm tài sản thế chấp để vay tiền mặt Đô la. Nếu đến hạn không trả được tiền, ngân hàng sẽ tịch thu vàng. Vì vàng đã mang về Caracas rồi, nên mỗi lần muốn cầm cố, lại phải... chở ngược vàng ra nước ngoài hoặc dùng số vàng ít ỏi còn lại ở nước ngoài để thế chấp.
Số liệu từ Hội đồng Vàng Thế giới (World Gold Council) và dữ liệu của chính BCV (dù hay giấu nhưng vẫn lòi ra) cho thấy sự sụt giảm kinh hoàng:
Năm 2011 (Lúc bắt đầu mang về): Dự trữ vàng đạt đỉnh khoảng 365 - 370 tấn. (Khoảng 21 tỷ USD).
Năm 2014 (Sau khi Chávez chết, bắt đầu khủng hoảng): Số lượng vàng bắt đầu giảm mạnh do các hợp đồng Swap với Citibank bị đáo hạn mà không có tiền chuộc -> Mất vàng.
Năm 2015: Còn khoảng 270 tấn.
Năm 2018: Chỉ còn khoảng 160 tấn. (Mất hơn một nửa so với 2011).
Năm 2023: Ước tính chỉ còn khoảng 60-70 tấn.
Từ 310 tấn sụp xuống còn 70 tấn vậy 300 tấn vàng đã đi đâu? Một phần bị các ngân hàng phương Tây (Citibank, Deutsche Bank) tịch thu do Venezuela vỡ nợ các khoản vay Swap (khoảng năm 2015-2017).
Một phần lớn khác (thời Maduro 2018-2020) được chở bằng máy bay tư nhân sang Thổ Nhĩ Kỳ, UAE và Uganda để bán chui lấy tiền mặt (Euro) về trả lương cho quân đội và mua thực phẩm CLAP, bất chấp lệnh cấm vận.
Năm 2011 là năm chuẩn bị cho "bữa tiệc chia tay". Chávez gom hết vàng về, vay thêm nợ, khởi động máy in tiền, và xây nhà miễn phí để chuẩn bị cho canh bạc tất tay vào năm bầu cử 2012. Hắn biết mình không còn nhiều thời gian, nên hắn đốt cháy tương lai của đất nước để mua lấy hào quang hiện tại.
2012: Bữa tiệc tàn trên miệng vực thẳm
Cái chết của Chávez
Lúc này các bác sĩ đã cảnh báo: "Ngài cần nghỉ ngơi, hóa trị đang giết chết ngài, nếu ngài đi vận động tranh cử, ngài sẽ chết sớm". Nhưng Chávez, với cái tôi to hơn cả vũ trụ, đã chọn cái chết trên sân khấu còn hơn là sống thọ trong sau tấm rèm.
Hắn chơi tất tay như con bạc liều lĩnh không còn cái gì để mất bước vào cuộc đua Tổng thống năm 2012 đối đầu với Henrique Capriles (một đối thủ trẻ trung, năng động). Chávez phải dùng liều lượng Steroid (thuốc tăng lực kháng viêm) cực mạnh để giữ cho mình có thể đứng vững và nói chuyện. Tác dụng phụ của Steroid làm mặt lão sưng vù lên, tròn ủng như cái bánh bao (Moon face), nhưng lại giúp có những cơn hưng phấn giả tạo rót vào cơn khát dân túy của đám đông Chavismo mặc áo đỏ.
Nhờ "Misión Gran Vivienda" (Đại sứ mệnh Nhà ở) với tốc độ xây nhà và bàn giao chìa khóa đạt mức điên rồ. Chávez lên tivi mỗi tuần, tay cầm chìa khóa, tay ôm những bà mẹ nghèo khóc nức nở, trao tặng căn hộ chung cư miễn phí ngay trên sóng truyền hình. Hàng trăm nghìn người nhận nhà trở thành con tin của chế độ. Họ bị buộc phải treo ảnh Chávez trong phòng khách và đi mít tinh mỗi khi được gọi, vì nỗi sợ bị đuổi ra khỏi nhà luôn lơ lửng trên đầu.
Về mặt tiền mặt, Chávez bơm tiền ra thị trường như nước lũ. Hắn tăng lương tối thiểu 32% ngay trước thềm bầu cử, bất chấp lạm phát. Hắn mở rộng danh sách nhận lương hưu cho cả những người chưa bao giờ đóng bảo hiểm xã hội (Misión Amor Mayor. Người dân cảm thấy túi tiền rủng rỉnh chưa từng thấy. Lượng hàng hóa nhập khẩu năm 2012 đạt mức kỷ lục 59 tỷ USD (trong khi năng lực thực tế chỉ chịu được 30 tỷ). Siêu thị đầy ắp hàng hóa nhập khẩu, từ thịt bò Brazil đến sữa bột New Zealand. Dân chúng say sưa trong bữa tiệc tiêu dùng, không hề biết rằng họ đang ăn chính thịt của mình.
Ngày 4 tháng 10 năm 2012 được gọi là "Cordonazo de San Francisco", tại đại lộ Bolívar ở Caracas. Trời mưa tầm tã. Chávez, dù đang kiệt quệ, vẫn đứng dưới mưa, không che dù, cầm micro gào thét trước hàng trăm ngàn người hâm mộ. Nước mưa hòa lẫn nước mắt (và có thể là cả mồ hôi lạnh của cơn đau). Hình ảnh đó cực kỳ bi tráng.
Dân chúng nhìn thấy một vị "Tử vì đạo", một người đang đốt cháy chút sinh mệnh cuối cùng vì họ. Họ khóc và bỏ phiếu cho lão. Nhưng đó là chiến thắng của một xác chết biết đi. Ngay sau khi thắng cử, đã gục ngã hoàn toàn.
Chávez thắng cử nhiệm kỳ 3 với 55% phiếu bầu. Cái giá phải trả cho “bữa tiệc chia tay” năm 2012 này là sự sụp đổ ngay lập tức vào năm 2013. Thâm hụt ngân sách 17% GDP nghĩa là nhà nước tiêu 100 đồng nhưng chỉ kiếm được 83 đồng (số liệu thực tế còn tệ hơn vì tính cả các khoản chi ngoài ngân sách).
Ngày 8 tháng 12 năm 2012, Chávez xuất hiện trên truyền hình lần cuối cùng. Đây là giây phút định mệnh gọi là "Vầng trăng của Maisanta". Hắn ngồi đó, chân đứng không nổi, mặt sưng húp, giọng yếu ớt nhưng kiên quyết như cách đã làm suốt cuộc đời. Lần đầu tiên, Chávez thừa nhận mình có thể không qua khỏi. Và quan trọng nhất, lão chỉ tay vào gã đàn ông to béo, ria mép rậm rạp ngồi bên cạnh – Nicolás Maduro – và nói:
“Nếu có chuyện gì xảy ra... các bạn hãy bầu cho Nicolás Maduro... Hãy bầu cho anh ấy. Đó là mệnh lệnh của tôi. Mệnh lệnh tuyệt đối (Plena como la luna llena)”.
Trong bất kỳ chế độ độc tài nào, việc chọn người kế vị không phải là chọn người "tài đức vẹn toàn" như trong sách giáo khoa đâu. Đó là một bài toán sinh tồn (Survival Math) cực kỳ tàn khốc: Chọn thằng nào đủ ngu để nghe lời mình (hoặc nghe lời đàn anh bảo kê), nhưng phải đủ mạnh để không bị thằng khác ăn thịt ngay lập tức.
Trong tất cả đám tùy tùng trung thành của mình chỉ có 3 kẻ đủ được liệt kê vào danh sách kế vị “ngai vàng” mà Chávez để lại.
Ứng cử viên số 1 sáng giá nhất là Diosdado Cabello - bạn chiến đấu từ thửa hàn vi, cùng tham gia đảo chính năm 1992 với Chávez. Cabello kiểm soát mạng lưới tình báo quân sự, cảnh sát mật, và có uy quyền tuyệt đối với đám tướng lĩnh. Để Cabello không lật mình, Chávez đã giao cho Cabello và phe cánh quân đội (nhóm Militares) quyền kiểm soát các "ngành kinh doanh không khói" béo bở nhất: Cảng biển, biên giới và phân phối thực phẩm. Từ đây, cái gọi là "Băng đảng Những mặt trời" (Cartel de los Soles) ra đời tạo nên cái cớ để Trump tiến hành bắt cóc Maduro năm 2026. Người ta đồn rằng các tướng lĩnh Venezuela dưới trướng Cabello tham gia buôn lậu ma túy từ Colombia sang Mỹ và châu Âu. Chávez nhắm mắt làm ngơ (thậm chí bật đèn xanh) cho tướng lĩnh làm giàu từ ma túy và tham nhũng để đổi lấy lòng trung thành tuyệt đối. "Mày cho tao súng, tao cho mày tiền bẩn".
Nhưng Cabello quá nguy hiểm, quá thông minh, quá độc lập và mang tư tư tưởng dân tộc cực đoan. Quan trọng nhất, Cuba ghét Cabello. Anh em nhà Castro sợ rằng nếu Cabello lên, lão sẽ cắt viện trợ dầu cho Cuba và không nghe lời Havana. Ngoài ra, mặt lão nhìn rất "ác", dân chúng sợ chứ không yêu, khó mà thắng cử.
Ứng cử viên thứ 2 là Rafael Ramírez - Kỹ sư dầu khí, cánh tay phải về kinh tế của Chávez. Trong suốt thời gian Chávez trị vì, Ramírez làm Chủ tịch PDVSA (Tập đoàn dầu khí quốc gia) kiêm Bộ trưởng Năng lượng suốt hơn một thập kỷ. Tức là hắn ta nắm chìa khóa két sắt quốc gia và được phép biến PDVSA thành sân sau của mình. Ramírez nhét hàng ngàn người thân, bạn bè vào làm việc, ký các hợp đồng khống, rửa tiền hàng tỷ đô la (sau này khi Ramírez thất sủng và chạy sang châu Âu, chính Maduro mới lôi ra các vụ tham nhũng tỷ đô của hắn). Chávez cho phép Ramírez ăn cắp, miễn là Ramírez vẫn bơm tiền đều đặn cho các chương trình xã hội (Misiones) để Chávez mua phiếu.
Nhưng vì là một gã kỹ trị (Technocrat) khô khan, chán ngắt. Không biết diễn thuyết, không biết mị dân đưa lên làm tổng thống thì dân nghèo ngủ gục hết chỉ thích hợp làm quản gia giữ tiền chứ không làm vua được.
Ứng cử viên thứ 3 là Adán Chávez - anh trai ruột của Hugo Chávez, người thầy đầu tiên dạy tư tưởng Marx cho Hugo. Nhưng vì quá già, quá giáo điều và thiếu cá tính; một ông giáo sư già hơn là một lãnh tụ. Hơn nữa, gia đình trị (Nepotism) quá lộ liễu sẽ khiến đám tướng lĩnh và dân chúng ngứa mắt.
Và người chiến thắng lại là một thằng tài xế xe buýt, trình độ học vấn lẹt đẹt, ngoại hình cục mịch? Tiểu sử của hắn ta có nhiều vấn đề tao sẽ trình bày ở đoạn sau nhưng lý do quan trọng nhất là: nghe lời Havana. Anh em nhà Castro muốn Maduro lên để đảm bảo dòng dầu miễn phí từ Venezuela sang Cuba không bị cắt. Những ngày cuối đời, Chávez nằm trên giường bệnh ở Havana, xung quanh toàn là bác sĩ và mật vụ Cuba. Fidel và Raúl Castro đã rỉ tai Chávez:
"Hãy chọn Maduro. Cabello là một thằng tướng cướp khó dạy bảo. Ramírez là thằng con buôn. Chỉ có Maduro là người của chúng ta, nó sẽ đảm bảo di sản của chú em và đảm bảo dòng dầu chảy về Cuba".
Chávez, trong cơn mê sảng và sự sùng bái Fidel, đã gật đầu
Sau cái chỉ tay đó, Chávez bay sang Cuba và không bao giờ còn ai nhìn thấy lão sống bằng xương bằng thịt nữa. Suốt 3 tháng đầu năm 2013 là một màn kịch “Thật giả lẫn lộn”. Chính phủ liên tục đưa tin: “Tổng thống đang hồi phục”, “Tổng thống đã ký sắc lệnh từ giường bệnh”. Họ thậm chí còn photoshop một bức ảnh Chávez nằm đọc báo Granma (báo Đảng Cuba) cười tươi với hai con gái để lừa dân.
Ngày 5 tháng 3 năm 2013, Nicolás Maduro lên tivi, mặt buồn rười rượi, thông báo:
"Tư lệnh vĩnh cửu (Commandate) đã về với Chúa lúc 4:25 chiều tại bệnh viện quân Y Caracas"
Nhưng đến tận bây giờ, không ai tin vào cái giờ đó cả. Các nguồn tin tình báo và cả cựu vệ sĩ của Chávez (Leamsy Salazar) sau này tiết lộ rằng: Chávez thực ra đã chết não vì nhiễm trùng hô hấp nặng và chết dần chết mòn trong đau đớn tột cùng từ tận tháng 12/2012 hoặc tháng 1/2013 tại Cuba. Cái xác được duy trì bằng máy móc chỉ để cầm cự qua ngày tuyên thệ nhậm chức (tháng 1).
Khi thấy không thể kéo dài hơn nữa và Maduro đã nắm đủ quyền lực, họ mới quyết định “rút ống thở” và chở cái xác về Venezuela để công bố vào một giờ đẹp. Tại sao phải chọn ngày giờ? Để tạo ra cú sốc tâm lý tối đa ngay trước thềm cuộc bầu cử mới (bắt buộc phải tổ chức trong vòng 30 ngày sau khi Tổng thống chết).
Chiếc quan tài của Chávez được đưa đi diễu hành suốt 7 tiếng đồng hồ từ Bệnh viện Quân y về Học viện Quân sự. Hàng triệu người mặc áo đỏ đứng chật kín đường phố Caracas. Họ khóc, họ gào thét, ngất xỉu. Không phải vì nỗi buồn, mà là sự Hysteria (Loạn thần tập thể). Tâm lý dân nghèo lúc đó với họ, Chávez không phải là Tổng thống, hắn là Cha, là Chúa cứu thế. Hắn chết đi, họ cảm thấy như bị bỏ rơi, bơ vơ, sợ hãi rằng “bọn tư bản” sẽ quay lại cướp mất cái tủ lạnh, cái nhà mà Chávez vừa cho. Chính cái nỗi sợ hãi đó là thứ mà Maduro cần để thắng cử.
Nhìn vào danh sách khách VIP đến dự đám tang, mày sẽ thấy ngay vị thế của Venezuela lúc đó. Không có mấy lãnh đạo phương Tây (Mỹ chỉ gửi phái đoàn ngoại giao cấp thấp). Thay vào đó là một dàn “Hảo hán” chống Mỹ:
Mahmoud Ahmadinejad (Iran): Ông này khóc nức nở, hôn lên quan tài Chávez như cha chết. (Hình ảnh này gây tranh cãi lớn ở Iran vì Hồi giáo cấm chạm vào người chết không phải ruột thịt, nhưng Ahmadinejad kệ).
Alexander Lukashenko (Belarus): Khóc sướt mướt.
Raúl Castro (Cuba): Người thầy, người anh cả, và là người giật dây đằng sau.
Sean Penn và Oliver Stone: Mấy ông đạo diễn Hollywood cánh tả ngây thơ cũng có mặt.
Maduro tuyên bố:
“Se ha decidido preparar el cuerpo del Comandante Presidente, embalsamarlo, para que quede abierto eternamente... así como está Ho Chi Minh, así như está Lenin, así như está Mao Tse-tung.”
("Chúng ta sẽ ướp xác Tư lệnh vĩnh cửu giống như Lenin, Hồ Chí Minh hay Mao Trạch Đông. Ông ấy sẽ nằm trong lồng kính mãi mãi để nhân dân chiêm ngưỡng".)
Họ mời các chuyên gia ướp xác giỏi nhất từ Nga và Đức sang. Nhưng các chuyên gia Nga sau khi xem xác đã lắc đầu quầy quậy:
"Muộn quá rồi. Các ông đã để cái xác này phân hủy quá lâu trong cái nóng nhiệt đới (hoặc do vận chuyển kém từ Cuba về). Nội tạng đã hỏng hết, không ướp được nữa đâu, trừ khi làm tượng sáp".
Đây là một sự cố bi hài: Ngay cả việc biến lãnh tụ thành bất tử cũng thất bại vì sự quản lý yếu kém. Cuối cùng, họ chôn hắn trong một cỗ quan tài bằng đá cẩm thạch đen tại “Bảo tàng Cách mạng” (thực ra là một doanh trại quân đội cũ trên đồi 23 de Enero).
Ngay trong đám tang, Nicolás Maduro đã thực hiện một hành động mang tính biểu tượng cực mạnh. Hắn cầm bản Hiến pháp nhỏ màu xanh (bảo bối của Chávez), giơ lên trước quan tài và thề:
“Tôi thề trước linh hồn của ngài, hỡi Tư lệnh tối cao, tôi sẽ tiếp tục con đường của ngài, bảo vệ người nghèo và chống lại đế quốc”.
Nicolás Maduro biết mình không có sức hút (Charisma) nên phải biến mình thành "Con trai của Chávez" (Hijo de Chávez). Trong suốt chiến dịch tranh cử sau đó, Maduro thậm chí còn kể chuyện hoang đường rằng: "Chávez đã hóa thành một con chim nhỏ (pajarito), bay đến đậu lên vai tôi và hót líu lo ban phước".
Đám tang này đã giúp Maduro thắng cử vào tháng 4 năm 2013 với tỷ lệ suýt soát (50.6% so với 49.1% của Henrique Capriles - phe đối lập cáo buộc gian lận). Chávez chết, để lại cho Maduro cái ghế Tổng thống và một đất nước đang cháy rực. Bữa tiệc dầu mỏ kết thúc. Ánh đèn sân khấu tắt. Và bây giờ, Kỷ nguyên Bóng tối của Maduro chính thức bắt đầu.
Triều đại của Nicolás Maduro (2013-2026)
Tại sao Maduro giành được ngôi báu?
Nếu đi tra wikipedia thì sẽ chỉ thấy một bài tiểu sử bình thường:
Xuất thân dân lao động làm tài xế xe buýt
Trung thành với Chavez và leo lên từng nấc thang: Nghị sĩ, Chủ tịch quốc hội, Ngoại trưởng
Trở thành tổng thống Venezuela năm 2013 khiến dân chúng phải bới rác mà ăn.
Bị Trump bắt cóc dẫn về Mỹ vì tội dính líu tới băng đảng ma túy.
Nó quá đơn giản và ngây thơ khi mày nghĩ Maduro chỉ là gã lái xe buýt tình cờ gặp thời. Đầu tiên hãy dẹp ngay cái suy nghĩ Maduro là thằng bé lang thang cơ nhỡ sống trong khu ổ chuột rách nát đi.
Đúng là hắn sinh ra và lớn lên ở khu El Valle và Los Chaguaramos tại Caracas, đây là khu vực của tầng lớp lao động bình dân (working-class), chứ không phải là những khu ổ chuột (barrios) tồi tàn, vô pháp vô thiên nhất Venezuela đâu. Bố của Maduro, ông Nicolás Maduro García, là một lãnh đạo công đoàn có số má và là thành viên của phong trào cánh tả Movimiento Electoral del Pueblo (MEP). Tức là Maduro là "con nhà nòi" (red diaper baby) học chính trị thực tiễn, đấu tranh giai cấp, cách tổ chức bãi công và hò hét khẩu hiệu ngay từ bàn ăn của gia đình rồi.
Về chuyện học hành, nói thẳng ra là thảm họa nếu xét theo tiêu chuẩn bằng cấp, nhưng lại là thiên tài nếu xét theo tiêu chuẩn "kẻ quấy rối chuyên nghiệp". Maduro học trung học tại trường Liceo José Ávalos, nhưng hắn chả quan tâm gì tới điểm số.
Thay vì ngồi giải toán hay học văn, hắn dành toàn bộ thời gian tuổi trẻ làm trùm sò trong hội học sinh (student union). Năm 1978, khi mới là thằng nhóc chưa đầy 20 tuổi, đã bị đuổi học vì cầm đầu các vụ bãi khóa và biểu tình quậy phá. Lúc này, Maduro để tóc dài, chơi guitar bass trong một ban nhạc rock tên là Enigma – một hình ảnh rất "ngầu" để thu hút đám thanh niên bất mãn.
Bước ngoặt biến thằng nhóc chơi rock thành con sói chính trị chính là khi hắn gia nhập Liga Socialista (Liên đoàn Xã hội chủ nghĩa). Đây không phải là câu lạc bộ thơ văn, mà là một tổ chức cực tả có tư tưởng Maoist và Marxist rất gắt gao. Tại đây, Maduro không làm vai trò trí thức tranh cãi về đấu tranh giai cấp, hắn đóng vai "cơ bắp" (enforcer) nhờ chiều cao vượt trội (gần 1m90) và ngoại hình to lớn, hắn thường làm nhiệm vụ vệ sĩ cho các lãnh đạo phong trào, trong đó có José Vicente Rangel (người sau này làm Phó Tổng thống cho Chávez).
Chính trong môi trường Liga Socialista này, Maduro đã được "chấm" để đưa sang Cuba đào tạo vào khoảng năm 1986-1987 tại trường Escuela de Formación Política Ñico López.
Môn học quan trọng nhất ở Havana mà Maduro được đào tạo thường mày sẽ nghĩ chắc ba cái môn Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Triết học Mác-Lênin vô thưởng vô phạt lên giảng đường toàn ngủ gật nhưng đéo phải. Ở trường Ñico López, giáo trình được thiết kế bởi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, với sự giám sát chặt chẽ của cơ quan tình báo G2. Thứ được đầu tư nhiều thời lượng giảng dạy nhất là kỹ thuật "Chiến tranh Chính trị" (Political Warfare) và Tình báo Nhân dân: cách tổ chức mạng lưới chỉ điểm, phát hiện kẻ phản bội trong hàng ngũ và sử dụng thông tin để thao túng đám đông.
Trong suốt một năm trời ăn tập ở Havana, Maduro không chỉ học, mà còn bị theo dõi 24/7. Các giảng viên và mật vụ Cuba đánh giá từng học viên dựa trên mức độ phục tùng, chứ không phải chỉ số IQ. Họ đánh giá Maduro là mẫu người "lý tưởng" cho vai trò tay sai: không quá thông minh đến mức có tham vọng lật đổ thầy, không có cái tôi quá lớn như đám tri thức cánh tả nhưng lại sùng bái cá nhân cuồng nhiệt đối với Fidel Castro. Đám G2 đã nhồi vào đầu Maduro tư tưởng rằng Havana mới là "thánh địa Mecca" của cách mạng Mỹ Latinh, và lợi ích của Venezuela phải gắn liền với sự sinh tồn của Cuba. Khi rời trường, Maduro không còn là một người Venezuela yêu nước đơn thuần nữa, hắn đã trở thành một người lính của "cuộc cách mạng xuyên biên giới" do Cuba cầm trịch.
Hắn được quy hoạch để trở thành "người gác đền" (gatekeeper), đảm bảo rằng bất cứ ai lên nắm quyền ở Venezuela (sau này là Chávez) đều không được đi chệch khỏi quỹ đạo của Cuba
Sau khi trở về Cuba, Maduro xin vào làm tài xế xe buýt cho hệ thống Metro de Caracas vào năm 1991 nhằm xâm nhập vào giai cấp công nhân để xây dựng lực lượng cho Liga Socialista (Liên đoàn Xã hội chủ nghĩa). Với kỹ năng tổ chức đã học ở Cuba và kinh nghiệm quậy phá thời trung học, hắn nhanh chóng leo lên làm chủ tịch công đoàn của hệ thống tàu điện ngầm. Vị trí "tài xế xe buýt" chính là vỏ bọc hoàn hảo, là bệ phóng để hắn có trong tay hàng ngàn lá phiếu và sức mạnh của đám đông công nhân khi Chávez cần đến.
Năm 1992, khi Chávez bị tống giam tại nhà tù Yare, đám sĩ quan quân đội bắt đầu tan tác hoặc án binh bất động. Phong trào Bolivarian (MBR-200) như rắn mất đầu. Các tướng lĩnh đồng chí của Chávez kẻ thì bị bắt, kẻ thì trốn chui trốn lủi, kẻ thì bắt đầu toan tính ly khai để tự cứu mình. Không ai muốn dây dưa với tên "tội phạm phản quốc" Hugo Chávez cả.
Lúc này, Maduro cùng với người tình (sau này là vợ) Cilia Flores xuất hiện như vị cứu tin. Flores là một luật sư sừng sỏ, gai góc và cực kỳ am hiểu luật lệ của giới cầm quyền. Vì vậy mụ đứng ra lãnh đạo nhóm pháp lý bảo vệ Chávez, biến phiên tòa xét xử thành cái sân khấu chính trị để Chávez tỏa sáng. Với tư cách luật sư biện hộ, Flores có "thẻ bài miễn tử" để ra vào nhà tù thăm nuôi hợp pháp mà không ai cấm cản được. Cilia chính là người đã dắt tay Nicolás Maduro vào buồng giam giới thiệu với Chávez. Nếu không có Cilia mở cửa, gã tài xế Maduro cả đời cũng không được bén mảng đến gần vị thiếu tá Chávez đâu.
Maduro thời điểm này không có tư duy chiến lược như Cilia, cũng chẳng có khí chất anh hùng như Chávez, nhưng hắn có một thứ quý giá hơn vàng trong thời loạn: Cặp chân không biết mỏi và cái miệng biết truyền tin.
Trong khi Chávez bị cô lập bốn bức tường, Maduro trở thành "Internet chạy bằng cơm" của lão. Hắn nhận những mảnh giấy viết tay nguệch ngoạc của Chávez – thứ mà đám tín đồ coi như "thánh chỉ" – rồi giấu trong người mang ra ngoài. Maduro lặn lội xuống các khu phố nghèo, gặp gỡ các nhóm công đoàn, các tổ chức ngầm, đọc to những lời kêu gọi của Chávez, biến một gã tù nhân thất bại thành một huyền thoại sống tử vì đạo. Hắn làm việc này miệt mài, bất chấp nguy hiểm, và hoàn toàn miễn phí.
Chávez - một kẻ ái kỷ, hoang tưởng, luôn sợ bị lãng quên và sợ bị đâm sau lưng. Trong tù, cảm giác bất lực rất kinh khủng. Mỗi lần Maduro và Cilia đến thăm, mang theo tin tức, đồ ăn, và những lời tụng ca từ bên ngoài, họ như mang "bình oxy" đến cho Chávez thở. Maduro cực khôn khéo ở chỗ hắn luôn biết cách hạ mình. Hắn không bao giờ tranh luận với Chávez về chiến lược quân sự (vì hắn dốt đặc khoản này), hắn chỉ gật đầu và ghi chép. Điều này vuốt ve cái tôi khổng lồ của Chávez. Chávez bắt đầu gọi Maduro là "Cậu bé" của mình, một đệ tử chân truyền không bao giờ biết cãi lại.
Trong khi các sĩ quan khác (như Francisco Arias Cárdenas) khi vào thăm thường hay bàn luận, phản biện hoặc thể hiện cái tôi ngang hàng, thì Maduro chỉ có một tư thế: Quỳ gối nhận lệnh. Sự khác biệt đó đã khắc sâu vào não Chávez rằng:
"Đây là con chó trung thành nhất mà ta có"
Nhờ công sức quên mình bỏ ra, Maduro xây dựng được một mạng lưới dân sự (civilian base) trung thành chờ ngày Chávez ra tù. Những ai không chịu đi qua "cửa" của Maduro và Cilia để tiếp cận Chávez đều bị gạt ra rìa. Dần dần, cặp đôi này trở thành người gác cổng (gatekeepers) quyền lực nhất. Họ kiểm soát ai được gặp, ai được nghe lời Chávez. Vô hình trung, họ nắm quyền sinh sát về mặt thông tin - tài nguyên quan trọng nhất trong sân chơi quyền lực.
Chính trong giai đoạn này, Chávez nhận ra một chân lý: Tướng lĩnh có thể phản bội vì tham vọng soán ngôi, nhưng một gã tài xế như Maduro thì không có cơ sở gì để tạo phản. Maduro hoàn toàn phụ thuộc vào ánh hào quang của Chávez để tồn tại, và đó là loại lòng trung thành an toàn nhất.
Khi Chávez ra tù năm 1994, ông ta không còn tin tưởng tuyệt đối vào cánh quân sự cũ nữa, mà bắt đầu chuyển trọng tâm sang xây dựng một đảng phái chính trị đại chúng (sau này là MVR và PSUV), dựa trên nền tảng nhân sự mà Maduro đã gom nhặt trong suốt 2 năm Chávez ngồi tù. Có thể nói, chính quyền dân sự của Venezuela sau này thực chất là "đội quân của Maduro" được khoác lên cái áo choàng của Chávez.
Năm 1999 khi Chávez mới lên năm 1999, Hiến pháp cũ 1961 chưa bị sửa và phe đối lập vẫn còn mạnh. Chávez chưa thể muốn làm gì thì làm. Maduro được ném vào Quốc hội lập hiến (Constituent Assembly) năm 1999 không phải để đóng góp trí tuệ pháp lý—vì một thằng vai u bắp thịt làm gì có. Nhờ thân hình cao to 1m9, giọng ồm ồm và cực kỳ hung hăng khi cần thiết nên được làm với vai trò một con "chó ngao" canh cửa.
Trong các phiên họp, mỗi khi phe đối lập định mở miệng chỉ trích Chávez, Maduro là thằng đứng lên dùng ngôn ngữ đường phố để át giọng, chửi bới, thậm chí đe dọa vũ lực để bịt miệng đối thủ. Hắn biến Quốc hội từ một nơi nghị sự thành một cái chợ vỡ, nơi mà lý lẽ của kẻ mạnh (phe Chavista) luôn thắng thế. Vai trò này quan trọng cực kỳ vì nó làm nản lòng phe đối lập, khiến họ cảm thấy bất lực và dần dần rút lui.
Chávez có cái tật là hay lên đài truyền hình (chương trình Aló Presidente), nói huyên thuyên suốt 8 tiếng đồng hồ, hứng lên là tuyên bố "tịch thu cái này", "quốc hữu hóa cái kia" mà chẳng cần căn cứ pháp luật nào. Nếu để nguyên như thế, quốc tế nó kiện cho sập tiệm. Lúc này, Maduro ở Quốc hội (với sự tư vấn pháp lý của Cilia) sẽ ngay lập tức soạn thảo các dự luật để "hợp thức hóa" những tuyên bố đó.
Ví dụ, Chávez chửi bọn tư bản dầu khí, Maduro lập tức đẩy nhanh Luật Hydrocarbons mới để tăng thuế và quyền kiểm soát nhà nước. Hắn làm việc này nhanh gọn, không thèm qua các quy trình thẩm định rườm rà, miễn sao sáng mai Chávez thức dậy đã thấy ý muốn của mình thành luật. Một thiên tài trong việc biến sự điên rồ của cá nhân bạo chúa trở thành ý chí chung của cả quốc gia.
Từ 2005-2006 Maduro lên nắm chức Chủ tịch Quốc hội. Vì phe đối lập đã tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội năm 2005, khiến cho Quốc hội Venezuela lúc đó 100% là người của Chávez. Maduro ngồi ghế chủ tịch như một ông vua không ngai trong một cái nghị trường không có tiếng nói phản biện. Hắn đã tận dụng triệt để cơ hội này để thông qua cái gọi là "Luật Ủy quyền" (Enabling Act - Ley Habilitante). Đây chính là con dao găm mà Maduro trao tận tay cho Chávez. Cái luật này cho phép Tổng thống ban hành sắc lệnh có giá trị như luật trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quân sự mà không cần Quốc hội thông qua nữa.
Mày thấy sự trớ trêu không? Maduro dùng quyền lực của Quốc hội để... tự thiến quyền lực của Quốc hội, trao toàn bộ quyền sinh sát cho Chávez. Hành động này chính là tấm giấy chứng nhận lòng trung thành tuyệt đối:
"Anh trao em quyền lực, em dùng nó để biến anh thành Hoàng đế, còn em xin làm thái giám gác cửa"
Chính trong hai năm làm Chủ tịch Quốc hội này, Maduro cũng đã chặn đứng mọi nỗ lực điều tra tham nhũng nhắm vào chính quyền. Bất cứ hồ sơ nào tố cáo quan chức Chavista ăn chặn tiền dầu khí, tiền xây dựng, đều bị "ngâm tôm" hoặc bác bỏ ngay từ vòng gửi xe dưới quyền điều hành của hắn. Hắn tạo ra một vùng cấm (impunity zone) cho phe cánh của mình lộng hành. Chávez nhìn thấy ở Maduro không chỉ là sự vâng lời, mà là sự "hiệu quả tàn nhẫn".
Chávez cần một gã không có cái tôi chính trị riêng, một gã sẵn sàng biến Quốc hội thành cái máy chỉ để đóng dấu và vỗ tay. Maduro đã hoàn thành xuất sắc vai diễn đó. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ "giết chết dân chủ nghị trường" này, hắn mới được thưởng công bằng ghế Ngoại trưởng vào năm 2006, bước ra sân khấu thế giới.
Tại sao Chávez lại giao bộ mặt quốc gia cho một gã không biết tiếng Anh, không có bằng cấp ngoại giao? Nhờ được đào tạo ở Havana, Cuba đã dạy hắn cách xây dựng các mối quan hệ dựa trên ý thức hệ thay vì lợi ích quốc gia thông thường. Hắn học cách bắt tay với Iran, Nga, và các nhóm du kích cánh tả, tạo thành một mạng lưới bảo vệ chế độ khỏi áp lực của phương Tây. Trong thời gian học, Maduro đã được giới thiệu vào cái vòng tròn “tinh hoa đỏ” của Mỹ Latinh, kết thân với những nhân vật sau này sẽ nắm quyền ở các nước khác.
Nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất của Ngoại trưởng Maduro trong giai đoạn này là vận hành cái máy ATM mang tên PetroCaribe. Nhờ giá dầu cao (có lúc hơn 100 USD/thùng), tiền chảy vào o Venezuela như nước lũ. Chávez giao cho Maduro nhiệm vụ đi khắp vùng Caribbean và Trung Mỹ, dùng dầu giá rẻ để mua phiếu bầu tại các tổ chức quốc tế như OAS (Tổ chức các quốc gia châu Mỹ). Maduro không cần kỹ năng thuyết phục, hắn chỉ cần đưa ra hợp đồng:
"Mày ủng hộ tao chửi Mỹ, tao bán dầu chịu cho mày trả trong 25 năm với lãi suất 1%".
Với cái kiểu ngoại giao "tiền đập vào mặt" này, Maduro đã biến các quốc gia nhỏ bé thành chư hầu, tạo ra một bức tường chắn ngoại giao khiến Mỹ không thể cô lập được Venezuela trong suốt một thập kỷ. Khi mày có tiền, mày không cần nói tiếng Anh, bọn nó sẽ tự học tiếng Tây Ban Nha để xin xỏ mày.
Dưới thời Maduro làm Ngoại trưởng, mối quan hệ giữa Venezuela và Iran nồng ấm một cách bất thường. Hắn và Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad ôm nhau như anh em ruột.
Đỉnh điểm của sự mờ ám là chuyến bay khét tiếng của hãng Conviasa bay thẳng từ Caracas đến Tehran và Damascus. Người ta gọi nó là "Aeroterror" vì chuyến bay này không chở khách du lịch, mà chở đặc vụ, tiền mặt, và theo nhiều nguồn tin tình báo, là cả ma túy và nguyên liệu hạt nhân. Maduro là người đứng ra bảo kê cho tuyến đường này, giúp Iran lách các lệnh trừng phạt của phương Tây thông qua cửa ngõ Venezuela.
Hắn chứng minh cho Chávez thấy hắn không ngán Mỹ, sẵn sàng bắt tay với bất cứ ai, kể cả quỷ dữ, miễn là kẻ đó chống lại Washington. Đây là lúc Maduro xây dựng được mạng lưới quan hệ cá nhân với các tay trùm ở Trung Đông và Nga, những kẻ sau này sẽ giúp hắn trụ lại khi Venezuela vỡ nợ.
Trong những năm cuối đời của Chávez, khi căn bệnh ung thư trở nặng, Bộ Ngoại giao của Maduro thực chất đã chuyển trụ sở về Havana. Một ngoại trưởng mà dành thời gian ở Cuba còn nhiều hơn ở nước mình. Maduro là người duy nhất được phép tiếp cận Chávez khi ông ta đang điều trị bí mật. Hắn đóng vai trò là cái ống lọc thông tin: lọc tin xấu từ Venezuela không cho Chávez biết để ông ta yên tâm chữa bệnh, và lọc chỉ đạo của Chávez (thực chất là đã qua sự biên tập của anh em nhà Castro) để truyền về nước. Chính trong giai đoạn này, Fidel và Raúl Castro đã "huấn luyện cấp tốc" cho Maduro về cách giữ ghế. Họ chỉ cho hắn thấy:
"Nhìn xem, Chávez sắp chết rồi. Nếu mày không nắm lấy cơ hội này, bọn tướng lĩnh sẽ xé xác mày".
Sự phụ thuộc của Maduro vào bộ máy tình báo và an ninh của Cuba để bảo vệ bí mật quốc gia (tình trạng sức khỏe Chávez) đã biến hắn thành con tin vĩnh viễn của Havana.
Đêm 14/4/2013 đó là đêm mà hồn vía của cả bộ sậu cầm quyền Venezuela bay lên mây hết. Theo kịch bản mà Havana và Caracas đã soạn sẵn, đây phải là một lễ đăng quang (coronation) rực rỡ. Hugo Chávez vừa chết, xác còn chưa lạnh, dân tình đang khóc như mưa, thì theo lẽ thường, Maduro – kẻ được Chávez chỉ tay chọn – phải thắng áp đảo với tỷ lệ 70-80% nhờ vào "phiếu bầu cảm thương" (sympathy vote).
Nhưng đời không như mơ, thực tế là Maduro suýt chút nữa đã ngã sấp mặt ngay tại cửa thiên đường, và hệ thống đã phải kích hoạt mọi thủ đoạn bẩn thỉu nhất vào những giờ chót để cứu "Thái tử" khỏi cảnh thất nghiệp.
Họ tưởng chỉ cần bật cái băng ghi âm giọng nói của Chávez là dân sẽ tự động bỏ phiếu cho Maduro. Nhưng họ quên mất rằng Maduro không phải là Chávez. Chávez có cái uy (charisma) khủng khiếp, còn Maduro thì nhạt nhẽo và vụng về.
Trong chiến dịch tranh cử, Maduro kể chuyện con chim nhỏ (little bird) bay đến hót và hắn tin đó là linh hồn Chávez hiện về. Dân chúng, kể cả những người Chavista trung thành nhất, nghe xong cũng phải ngao ngán vì độ hoang đường và thiếu nghiêm túc của gã tài xế này. Thay vì một làn sóng ủng hộ, Maduro phải đối mặt với một Henrique Capriles trẻ trung, năng động và đánh trúng vào nỗi đau kinh tế đang bắt đầu nhen nhóm. Đến chiều ngày bầu cử, các con số thăm dò nội bộ (exit polls) đã báo động đỏ: Capriles đang dẫn trước hoặc ngang ngửa.
Lúc này, "bàn tay ma thuật" mới bắt đầu can thiệp Chiêu bài bẩn thỉu và lộ liễu được tung ra chính là "Bỏ phiếu hộ" (Assisted Voting). Theo luật, chỉ người tàn tật hoặc mù lòa mới được nhờ người đi cùng vào buồng phiếu. Nhưng trong ngày hôm đó, tại các khu vực nghèo do phe chính phủ kiểm soát, hàng ngàn người khỏe mạnh bình thường đã bị ép phải đi vào buồng phiếu cùng với một "cán bộ hướng dẫn" của đảng cầm quyền (PSUV).
Thằng cán bộ này đứng kè kè bên cạnh để đảm bảo người dân bấm đúng vào nút chọn Maduro. Đây không phải là gian lận lén lút, mà là cưỡng bức công khai. Mày thử tưởng tượng xem, mày là một bà già sống nhờ trợ cấp, có thằng xăm trổ đứng cạnh nhìn chằm chằm vào tay mày thì mày có dám bầu cho phe đối lập không? Hệ thống chính trị PSSUV đã dùng nỗi sợ để vắt ra từng lá phiếu một
Chưa hết, khi thấy tình hình nguy cấp vào buổi chiều muộn, Hội đồng Bầu cử Quốc gia (CNE) – vốn là sân sau của Maduro – đã chơi chiêu "câu giờ chiến thuật". Mặc dù luật quy định các điểm bỏ phiếu phải đóng cửa lúc 6 giờ chiều, nhưng CNE lại ra lệnh mở cửa thêm, đặc biệt là ở những khu vực mà họ biết mình có thể huy động thêm phiếu.
Chiến dịch Operación Remate (Operation Finish Off) được kích hoạt. Các đội quân xe máy (colectivos) được tung đi khắp các ngõ ngách, lôi cổ những người chưa đi bầu, dồn lên xe tải và chở thẳng đến điểm bỏ phiếu. Những điểm bỏ phiếu này lúc đó đã vắng tanh, không còn giám sát viên quốc tế hay phe đối lập, trở thành những "hộp đen" nơi mà số phiếu có thể được nhồi thêm tùy thích. Chính cái khoảng thời gian "bù giờ" mờ ám này là lúc cán cân bị bẻ cong một cách thô bạo nhất
Đỉnh điểm của sự trơ trẽn là màn công bố kết quả. Khi khoảng cách giữa hai bên chỉ còn là sợi tóc (Maduro 50.61% và Capriles 49.12% – chênh nhau chưa đến 2%), phe đối lập đã yêu cầu kiểm lại toàn bộ phiếu bầu giấy (paper receipts) để đối chiếu với máy điện tử. Mày biết đấy, máy thì có thể chỉnh phần mềm, nhưng phiếu giấy trong thùng thì khó chối cãi hơn nếu kiểm đếm trực tiếp.
Tibisay Lucena, chủ tịch CNE và là một bề tôi trung thành của chế độ, đã ngay lập tức tuyên bố kết quả là "không thể đảo ngược" (irreversible) và phong chức cho Maduro ngay trong đêm. Bà ta từ chối thẳng thừng yêu cầu kiểm toán toàn diện (full audit), chỉ đồng ý kiểm tra xác suất vớ vẩn để bịt miệng dư luận. Hành động vội vã đóng hòm kết quả này chính là bằng chứng rõ nhất cho thấy họ sợ nếu mở thùng phiếu ra, sự thật sẽ phơi bày là Maduro đã thua.
Di sản nát bét của Hugo Chávez
Maduro không phải là người tạo ra quả bom đánh sập nền kinh tế Venezuela khiến dân chúng phải cầm cả bao tải tiền đi mua giấy vệ sinh nhưng Hijo de Chávez (Con trai của Chávez) là thằng ngốc đã rút chốt quả bom mà Chávez để lại đúng lúc nó sắp nổ.
Di sản của Chávez thực chất là một "cú lừa thế kỷ". Chávez đã tiêu xài hoang phí trong suốt hơn một thập kỷ giá dầu cao ngất ngưởng, phá nát nền sản xuất trong nước bằng việc quốc hữu hóa vô tội vạ, khiến Venezuela từ một quốc gia tự sản xuất được lương thực trở thành một kẻ nghiện nhập khẩu nặng đô.
Khi Chávez chết năm 2013, hắn ta để lại cho Maduro một con tàu hào nhoáng bên ngoài nhưng bộ máy bên trong đã rỉ sét hoàn toàn, và xui xẻo thay cho Maduro, đúng lúc hắn lên cầm lái thì "biển động" – tức là giá dầu sập sàn.
Khi Maduro mới lên, giá dầu vẫn còn neo ở mức hơn 100 USD/thùng, hắn vẫn còn tiền để múa may. Nhưng đến giữa năm 2014, giá dầu bắt đầu lao dốc không phanh, từ hơn 100 USD xuống còn dưới 40 USD vào năm 2015-2016. Vì sao?
Đầu tiên, phải nói đến kẻ phá bĩnh cuộc chơi: Sự bùng nổ của dầu đá phiến Mỹ. Mày cứ tưởng tượng thế giới dầu mỏ đang yên bình chia chác thị phần, ông nào cũng rung đùi hưởng lợi, thì đùng một cái, Mỹ lôi ra con bài tẩy mang tên “nứt vỡ thủy lực” (fracking) và “khoan ngang”.
Trước đây, Mỹ là con nghiện nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới, đi đâu cũng phải nhìn mặt Ả Rập, nhưng công nghệ mới này cho phép bọn nó hút dầu từ những tảng đá sâu dưới lòng đất mà trước giờ ai cũng nghĩ là vô dụng. Mỹ từ kẻ đi mua dầu bỗng chốc biến thành kẻ bán dầu, bơm ra thị trường hàng triệu thùng mỗi ngày. Việc này làm đảo lộn hoàn toàn trật tự cung cầu: cái chợ đang khan hàng bỗng nhiên ngập tràn dầu, mà hàng nhiều thì dĩ nhiên giá phải rẻ như cho. Đây là cú tát đầu tiên vào mặt những nước sống bám vào dầu mỏ như Venezuela.
Thông thường, khi giá dầu giảm do dư cung, OPEC sẽ họp lại và bảo nhau "vặn nhỏ vòi lại" để khan hàng, đẩy giá lên. Nhưng vào cái cuộc họp tháng 11 năm 2014 ở Vienna, Saudi Arabia đã chơi một canh bạc tất tay. Bọn họ cay cú đám người Mỹ dám cướp miếng cơm, nên thay vì cắt giảm, Saudi ra lệnh cho OPEC giữ nguyên, thậm chí tăng sản lượng.
Mục tiêu của Saudi rất tàn nhẫn: Họ muốn dìm giá dầu xuống thấp đến mức các công ty dầu đá phiến của Mỹ (vốn có chi phí khai thác cao) phải lỗ chổng vó và phá sản. Saudi chấp nhận "chịu đau" giảm thu nhập trong ngắn hạn để triệt hạ đối thủ cạnh tranh dài hạn.
Chưa dừng lại ở đó, cái xui của Maduro là xui tận mạng khi nhu cầu toàn cầu cũng lăn ra ốm. Trung Quốc, cái “động cơ vĩnh cửu” từng nuốt chửng mọi giọt dầu để xây nhà máy và cầu đường, bỗng nhiên giảm tốc. Kinh tế Trung Quốc bước vào giai đoạn “bình thường mới”, tăng trưởng chậm lại, khiến nhu cầu năng lượng tụt dốc. Châu Âu thì vật vã với khủng hoảng nợ công. Nguồn cung thì đang ồ ạt đổ ra từ cả Mỹ lẫn Ả Rập, trong khi thằng mua to nhất là Trung Quốc thì lắc đầu “tao no rồi”. Hàng ế đầy chợ, người bán thì đông, người mua thì ít, giá dầu không sập mới là chuyện lạ.
Dầu mỏ trên thế giới được niêm yết bằng USD. Khi kinh tế Mỹ hồi phục (nhờ chính dầu đá phiến đó), đồng USD tăng giá vùn vụt so với các tiền tệ khác. Điều này làm cho dầu mỏ trở nên đắt đỏ hơn đối với các quốc gia cần dùng USD để nhập khẩu hàng hóa, khiến nhu cầu càng teo tóp lại. Nó tạo ra một vòng luẩn quẩn ép giá dầu không ngóc đầu lên nổi.
Với một quốc gia mà 96% nguồn thu ngoại tệ đến từ bán dầu như Venezuela, thì đây là bản án tử hình. Chávez đã phạm sai lầm chết người là không tích lũy quỹ dự phòng (Sovereign Wealth Fund) khi giàu có, mà tiêu sạch bách vào các chương trình trợ cấp xã hội để mua phiếu bầu.
Khi kho bạc rỗng tuếch, nếu hắn chọn thắt lưng buộc bụng (austerity), tức là cắt giảm trợ cấp, cắt giảm chương trình nhà ở, y tế miễn phí... thì chính cái đám đông nghèo khổ từng bầu cho hắn sẽ quay lại treo cổ hắn ngay. Chavismo được xây dựng dựa trên "hợp đồng xã hội":
Tao cho mày bánh mì miễn phí, mày cho tao quyền lực. Cắt bánh mì là cắt quyền lực.
Vì thế, Maduro buộc phải chọn cách in tiền. Hắn ra lệnh cho Ngân hàng Trung ương Venezuela (BCV) – lúc này đã mất hoàn toàn tính độc lập – in ra hàng tấn tiền giấy Bolivar để lấp vào lỗ hổng ngân sách khổng lồ. Hắn gọi đây là "tài chính sáng tạo", nhưng thực chất là hắn đang pha loãng bát cháo của người dân. Mỗi tờ tiền in thêm là một lần hắn móc túi của người dân một cách vô hình, vì giá trị đồng tiền trong túi họ bốc hơi ngay lập tức.
Hàng hóa thì không có (do không có đô la nhập khẩu), mà tiền giấy thì ngập tràn đường phố. Quy luật cung cầu cơ bản đã tát thẳng vào mặt chế độ: Tiền nhiều hơn hàng thì giá cả sẽ bay lên trời. Đây chính là khởi đầu của siêu lạm phát (hyperinflation). Đồng tiền mất giá nhanh đến mức người ta không thèm đếm nữa mà đem cân ký. Việc mang cả bao tải tiền đi mua một vỉ trứng hay một cuộn giấy vệ sinh không phải là chuyện tiếu lâm, mà là thực tế đau thương hàng ngày. Có thời điểm, lạm phát lên tới hàng triệu phần trăm, biến tờ tiền Bolivar thành giấy lộn đúng nghĩa đen, rẻ hơn cả giấy in ra nó. Để giữ cho cái túi tiền ngoại tệ đang ngày một vơi dần không bị cháy ví, Maduro siết chặt “Kiểm soát giá cả” (Price Controls) và “Kiểm soát ngoại tệ” đến mức điên rồ.
Đầu tiên là việc ban hành “Luật Giá Công bằng” (Law of Fair Prices), ép các chủ cửa hàng, siêu thị phải bán hàng hóa thấp hơn giá vốn nhập vào để “bảo vệ người nghèo”. Mày thử nghĩ xem, thằng nào ngu mà đi nhập hàng giá 10 đồng rồi bị ép bán giá 5 đồng?
Kết quả là các doanh nghiệp tư nhân đóng cửa hàng loạt hoặc ngừng nhập hàng. Các kệ siêu thị trống trơn, không còn sữa, không còn thuốc men, không còn gì cả. Maduro đã biến một cuộc khủng hoảng tài chính thành một cuộc khủng hoảng nhân đạo. Thay vì thừa nhận sai lầm, hắn đổ lỗi cho “chiến tranh kinh tế” (economic war) do Mỹ và bọn tư sản gây ra, rồi xua quân đội đi tịch thu hàng hóa của tiểu thương, gọi họ là Dakazo. Hành động cướp bóc được hợp pháp hóa này chỉ khiến tình trạng khan hiếm càng trầm trọng hơn.
Thứ hai thông qua hệ thống tỷ giá hối đoái cố định (như CADIVI, sau này là CENCOEX) đã tạo ra một “máy tham nhũng” khổng lồ.
Nhà nước quy định tỷ giá chính thức cực thấp, ví dụ 10 Bolivar đổi 1 USD (để nhập hàng thiết yếu). Nhưng ngoài chợ đen, do tiền in ra quá nhiều và khan hiếm đô la, tỷ giá thực tế là 10.000 Bolivar đổi 1 USD.
Maduro cấp giấy phép cho phe cánh thân cận (đặc biệt là tướng lĩnh quân đội để mua lòng trung thành) được mua USD theo giá nhà nước (10 ăn 1). Bọn này lấy mớ giấy lộn Bolivar vừa in ra, đổi lấy USD giá rẻ, rồi quay ra chợ đen bán lại với giá 10.000 ăn 1. Lợi nhuận là 100.000% ngay trong một đêm!
Chúng nó không cần sản xuất, không cần kinh doanh, chỉ cần "xoay vòng vốn" (round-tripping) kiểu này là giàu nứt đố đổ vách. Chính vì thế, bọn cầm quyền thích lạm phát, thích chênh lệch tỷ giá, vì đó là nguồn lợi nhuận khổng lồ của chúng. In tiền là để phục vụ trò chơi này, chứ không phải để cứu kinh tế.
Trong khi dân chúng đói khổ lục thùng rác kiếm ăn, thì tầng lớp tinh hoa mới (Boligarchs) giàu lên nứt đố đổ vách nhờ chênh lệch tỷ giá. Di sản của Chávez cộng hưởng với sự bất tài và tham lam của Maduro đã biến Venezuela – “Saudi Arabia của Nam Mỹ” – thành một quốc gia thây ma (zombie state).
Hậu quả là một nền kinh tế quái thai ra đời. Tiền Bolivar mất giá nhanh đến mức các máy in tiền nước ngoài (mà Venezuela thuê để in tiền) cũng không in kịp tốc độ trượt giá.
Dân chúng rơi vào cảnh bi hài: đi ăn nhà hàng phải trả tiền trước khi ăn, vì ăn xong giá có thể đã tăng lên rồi. Người ta không đếm tiền nữa mà cân ký. Các cửa hàng từ chối nhận tiền mặt vì đếm quá lâu, máy đếm tiền cháy máy liên tục. Đây là lúc hình ảnh “mua vỉ trứng bằng bao tải tiền” xuất hiện trên khắp mặt báo thế giới.
Maduro cố chữa cháy bằng cách... đổi tiền (redenomination), xóa bớt số 0 đi. Năm 2018, hắn xóa 5 số 0, đổi tên đồng tiền thành “Bolivar Soberano”. Năm 2021, xóa tiếp 6 số 0 nữa. Tổng cộng hắn đã xóa 14 số 0 khỏi đồng tiền trong chưa đầy 15 năm, một kỷ lục vô tiền khoáng hậu, nhưng bản chất giá trị thì vẫn là con số 0 tròn trĩnh.
Cái vòng xoáy in tiền này đã giết chết hoàn toàn tầng lớp trung lưu và lao động. Lương tháng của một giáo sư đại học hay bác sĩ rớt xuống còn tương đương 2-3 USD/tháng, không đủ mua một khay thịt gà. Người dân Venezuela bắt đầu sụt cân tập thể, tạo ra khái niệm mỉa mai là "Chế độ ăn kiêng Maduro" (The Maduro Diet), nơi trung bình mỗi người dân mất đi 11kg trọng lượng cơ thể vào năm 2017 vì thiếu ăn. Trong khi đó, nhóm tinh hoa cầm quyền, nhờ trò buôn đô la, vẫn sống xa hoa, tiệc tùng và bụng phệ.
Vụ thanh trừng Rafael Ramírez
Rafael Ramírez dưới thời thời Chávez, gã này là "Sa hoàng dầu mỏ" đúng nghĩa, vừa là Chủ tịch PDVSA, vừa là Bộ trưởng Năng lượng, nắm trong tay 95% nguồn thu ngoại tệ của quốc gia.
Ramírez chính là cái máy ATM sống của Chávez, chi tiền cho mọi thứ từ nhà ở xã hội đến mua chuộc đồng minh quốc tế. Khi Chávez chết, Ramírez nắm giữ quyền lực tài chính lớn hơn cả Maduro. Với bản tính đa nghi của mình, Maduro hiểu rằng nếu không chặt cái vòi bạch tuộc này, sớm muộn gì Ramírez cũng sẽ dùng tiền đó để mua quân đội và lật đổ hắn. Vì thế, chiến dịch "nhổ cỏ tận gốc" bắt đầu không phải bằng súng đạn, mà bằng một cú lừa ngoại giao kinh điển mang tên "Điệu hổ ly sơn"
Cũng vào năm 2014 như vừa nói giá dầu bắt đầu chao đảo, Maduro bằng mọi giá phải kiểm soát cho bằng được cái ví tiền lớn nhất Venezuela. Hắn cách chức Ramírez khỏi ghế Chủ tịch PDVSA và Bộ trưởng, nhưng lại "thăng chức" cho hắn làm Đại sứ Venezuela tại Liên Hợp Quốc ở New York. Đẩy Ramírez sang Mỹ, vừa mang tiếng là trọng dụng, nhưng thực chất là cắt đứt hắn khỏi mạng lưới chân rết và nguồn tiền đen ở quê nhà. Ramírez ngây thơ (hoặc không còn lựa chọn) đã cắn câu, xách vali đi New York, để lại cái "trống rỗng" quyền lực ở PDVSA cho Maduro trám người vào. Một khi "hổ" đã rời núi, Maduro bắt đầu cho đàn chó săn ập vào xâu xé hang ổ cũ.
Maduro đã thay thế các kỹ sư và chuyên gia kỹ trị bằng những tướng lĩnh quân đội trung thành nhưng dốt đặc cán mai về dầu khí. Điển hình là việc bổ nhiệm Thiếu tướng Manuel Quevedo – một tướng Vệ binh Quốc gia chưa từng nhìn thấy giàn khoan bao giờ – làm Chủ tịch PDVSA vào cuối năm 2017. Nhiệm vụ của Quevedo không phải là bơm dầu, mà là bơm tiền cho quân đội để giữ lòng trung thành. Dưới thời đám tướng lĩnh này, PDVSA bị biến thành trại lính: nhân viên bị ép đi diễu binh thay vì bảo trì máy móc, các quy trình an toàn bị vứt sọt rác, và nạn ăn cắp vặt hoành hành từ cái bóng đèn đến thùng dầu. Các giàn khoan rỉ sét, nổ tung hoặc ngừng hoạt động vì thiếu linh kiện thay thế. Sản lượng dầu của Venezuela rơi tự do từ gần 3 triệu thùng/ngày xuống còn vỏn vẹn 400.000 - 700.000 thùng/ngày, đưa một gã khổng lồ năng lượng về thời kỳ đồ đá
Ma Túy và Khủng bố
Tạo sao Mỹ lại chỉ cấm vận Venezuela khi Maduro cầm quyền?
Vì nhân quyền? Tự do, dân chủ ? Trả đũa vụ Chavez tịch tài sản của Exxon, Chervon năm 2010?
Không vì cái nào hết. Hãy nhớ lại tư duy “Đế quốc kinh tế” kiều Mỹ mà tao nói ở phần 2. Trước khi bắt đầu can thiệp nội bộ, xâm lược, viện trợ cho bất kỳ quốc gia nào, các think tank vẽ đường chiến lược sẽ làm một cái bảng cân đối kế toán gồm hai cột “ĐƯỢC” và “MẤT”. Tuỳ vào các yếu tố nào được thêm vào nếu “ĐƯỢC” > “MẤT” thì sẽ bắt đầu.
Vì vậy việc đổ quân vào xâm lược, viện trợ quân sự lẫn dân sự cho một chính phủ bù nhìn được dựng lên bởi bàn tay Washington quá đắt so với chỉ cần bơm một ít sự ủng hộ bằng quân sự nhỏ giọt, một ít viện trợ kinh tế đổi lại một chính quyền sẵn sàng “bán” cái Mỹ cần là đủ.
Cái văn mẫu “Tại Mỹ cấm vận nên dân tao mới đói” mà chính quyền Maduro hay rêu rao là xạo lồn . Venezuela đã đói rã họng, lạm phát đã phi mã, và dân đã bới rác ăn từ năm 2014-2015 rồi, trong khi cái lệnh cấm vận dầu mỏ thực sự (Sectoral Sanctions) mãi đến năm 2019 Mỹ mới tung ra.
Vậy tại sao Mỹ lại “nhịn” lâu thế và cái gì là giọt nước tràn ly khiến nó quyết định bóp nghẹt ống thở dầu mỏ của Venezuela?
Đó không phải vì ghét Chủ nghĩa Xã hội (Mỹ vẫn làm ăn với Việt Nam, Trung Quốc ầm ầm đấy thôi), mà là vì tiền, ma túy và khủng bố.
Suốt thời Chávez, dù chửi Tổng thống Bush là “Con quỷ”, chửi Mỹ là đế quốc hôi hám, nhưng ngày nào Venezuela cũng xuất khẩu 500.000 thùng dầu sang Mỹ. Và Mỹ ngày nào cũng trả tiền mặt sòng phẳng. Vì các nhà máy lọc dầu ở Vịnh Mexico (Mỹ) được thiết kế đặc biệt để xử lý loại dầu siêu nặng của Venezuela. Hai thằng ghét nhau về chính trị nhưng lại là “bạn tình” không thể thiếu trên giường kinh tế. Mỹ không muốn cấm vận dầu vì sợ giá xăng trong nước tăng, còn Venezuela cần tiền mặt của Mỹ để nhập khẩu thức ăn.
Tuy nhiên trong vụ đột kích của Quân đội Colombia (được Mỹ hỗ trợ) tấn công bất ngờ vào căn cứ phiến quân FARC ngày 1 tháng 3 năm 2008 đã tiêu diệt Raúl Reyes, nhân vật số hai của nhóm phiến quân cùng với một “kho báu” dữ liệu gồm ba chiếc máy tính xách tay, ổ cứng và thẻ nhớ.
Bên trong những chiếc máy tính đó là những bằng chứng kinh khủng về sự cấu kết (collusion) giữa chính quyền Chávez và FARC. Một trong những thông tin gây sốc nhất là các tài liệu ghi chép về khoản tiền 300 triệu USD mà Chávez hứa cấp cho FARC để mua súng đạn, tên lửa vác vai và duy trì hoạt động nhằm lật đổ chính phủ Colombia. Đổi lại, FARC được phép sử dụng lãnh thổ Venezuela làm “vùng an toàn” (Safe Haven) để tập kết cocaine trước khi xuất sang Mỹ và Châu Âu.
Chávez lúc này đang thời kỳ hoàng kim hiện lên như một nhà lãnh đạo đầy mị lực, sẵn sàng đối đầu trực diện với “đế quốc” Mỹ và được nhiều quốc gia nghèo trong khu vực coi là một vị cứu tinh nhờ chính sách ngoại giao dầu mỏ (petro-diplomacy). Thậm chí còn được mời làm trung gian hòa giải giữa chính phủ Colombia và quân nổi dậy FARC để giải cứu con tin, một vai trò giúp hắn xây dựng hình ảnh một nhà hòa bình khu vực đầy quyền lực.
Sau khi Raúl Reyes bị tiêu diệt, Chávez phản ứng gay gắt cho rằng đây là một màn kịch rẻ tiền do Colombia và Mỹ dựng lên để bôi nhọ lão. Hắn gọi những bằng chứng đó là “a comic book of lies” (một cuốn truyện tranh đầy những lời dối trá) và khẳng định rằng Venezuela chẳng có liên hệ gì với đám phiến quân nổi loạn.
Tuy nhiên, khi Interpol (INTERPOL) vào cuộc để giám định kỹ thuật, họ đã tát thẳng vào mặt Chávez bằng một báo cáo dày cộp khẳng định rằng các tệp tin này hoàn toàn nguyên bản, không hề bị chỉnh sửa hay tạo giả sau khi bị thu giữ.
Trong đống email hé lộ những “cánh tay phải” của Hugo Chávez nhúng chàm trong phi vụ này toàn những cái tên cộm cán những ông trùm trong bộ máy an ninh và tình báo của Venezuela, những kẻ trực tiếp điều hành đường dây liên lạc ngầm với quân phỉ FARC.
1. Hugo Carvajal, biệt danh là “El Pollo” (Con Gà), lúc đó là người đứng đầu cơ quan tình báo quân đội (DIM). Theo những tài liệu được Interpol xác thực, Carvajal chính là đầu mối then chốt trong việc hỗ trợ tài chính và vũ khí cho các lãnh đạo FARC như Manuel Marulanda.
“El Pollo” không chỉ dừng lại ở việc bảo kê, mà còn bị cáo buộc trực tiếp tham gia vào các hoạt động vận chuyển ma túy để lấy kinh phí nuôi quân. Năm 2008, Bộ Tài chính Mỹ đã đưa tên này vào danh sách đen vì tội “supporting the FARC” (hỗ trợ FARC) và sau này hắn đã phải đối mặt với lệnh dẫn độ sang Mỹ để trả giá cho những phi vụ làm ăn bẩn thỉu của mình.
2. Ramón Rodríguez Chacín, người từng giữ chức Bộ trưởng Nội vụ và được coi là “ambassador of Chávez to the FARC” (đại sứ của Chávez tại FARC)
Trong các email từ laptop của Reyes, Chacín hiện lên như một kẻ môi giới chuyên nghiệp. Hắn bị phát hiện là người đã cấp hộ chiếu giả, tài liệu định danh và tạo dựng các khu vực trú ẩn an toàn (sanctuaries) cho phiến quân FARC trên lãnh thổ Venezuela.
Không chỉ vậy, Chacín còn thảo luận về việc tuồn vũ khí và cung cấp hỗ trợ y tế cho các tay súng FARC mỗi khi chúng bị quân đội Colombia truy quét gắt gao. Thực chất, Chacín chính là người thực thi chiến lược biến FARC thành một “shadow militia” (lực lượng dân quân bóng tối) để bảo vệ chế độ của Chávez từ xa.
3. Henry Rangel Silva, cựu giám đốc cơ quan cảnh sát mật (DISIP) và sau này còn leo lên đến chức Bộ trưởng Quốc phòng. Rangel Silva bị phanh phui là có mối quan hệ cực kỳ mật thiết với các chỉ huy quân sự của FARC để điều phối các hoạt động tác chiến và huấn luyện.
Các email cho thấy một sự trao đổi lợi ích kinh tởm: FARC giúp huấn luyện các nhóm dân quân đô thị cho Venezuela về kỹ thuật chiến tranh du kích, đổi lại, chính quyền Chávez sẽ bơm tiền và vũ khí để FARC tiếp tục phá hoại Colombia.
Hệ thống này được thiết kế để những kẻ như Carvajal, Chacín và Rangel Silva vận hành một “liên minh tội phạm” (criminal alliance) núp bóng lý tưởng chính trị mà thế giới bắt đầu gọi tên Cártel de los Soles (Băng đảng Những mặt trời). Vì phù hiệu cấp tướng của Venezuela là hình mặt trời (thay vì ngôi sao).
Chávez biết rằng để giữ ghế, hắn cần quân đội. Nhưng tiền dầu mỏ không phải lúc nào cũng đủ để chia cho hàng trăm ông tướng tham lam. Hắn cần một nguồn tiền đen khác. Và hắn đã bật đèn xanh cho quân đội “làm thêm giờ”.
Quân đội Venezuela (GNB) thay vì canh gác biên giới để chống buôn lậu, thì lại mở cửa biên giới để các đoàn xe chở cocaine của FARC đi vào Venezuela an toàn.
Cocaine được tập kết tại các sân bay quân sự hoặc sân bay quốc tế Maiquetía (Caracas). Dưới sự giám sát của các tướng lĩnh, ma túy được chất lên máy bay tư nhân hoặc máy bay thương mại bay thẳng sang Honduras, Mexico hoặc Tây Phi, rồi từ đó vào Mỹ/Âu.
Tiền bán ma túy quay trở lại Venezuela, được rửa sạch thông qua PDVSA hoặc hệ thống tỷ giá hối đoái CADIVI mà tao kể ở trên.
Hình tượng “người hùng giải phóng” của Chávez bị xé nát và thay bằng hình ảnh một “kẻ bảo trợ nhà nước cho khủng bố” (state sponsor of terrorism). Đoán xem ai là người dán cái nhãn này lên Venezuela? Đúng, lại là nước Mỹ.
Đừng nói chuyện đạo đức ở đây. Đối với tầng lớp cai trị chúng rất thừa thãi, như món đồ chơi có thể tuỳ nghi ý thích mà công nhận “tốt”, “xấu”, “hợp pháp”, “hữu ích”, “khuyến khích”, “có hại” ,”gây nguy hiểm”. Đạo đức đối với những kẻ cầm quyền thực chất chỉ là một cái “bình phong” (smokescreen) để che đậy các toan tính về quyền lực và lợi ích kinh tế.
Tại sao thuốc lá giết hàng triệu người hay rượu bia phá nát bao nhiêu gia đình vẫn được bán công khai, trong khi ma túy và các băng đảng như Cártel de los Soles (Băng đảng Những mặt trời) lại bị săn đuổi đến cùng?
Câu trả lời không nằm ở “độ độc hại” của chất gây nghiện, mà nằm ở việc “ai là kẻ cầm lái” và cái “trật tự” mà chúng đe dọa.
Lý do đầu tiên và quan trọng nhất là “Monopoly on violence” (Độc quyền sử dụng bạo lực).
Một nhà nước được coi là tồn tại khi nó nắm giữ độc quyền về vũ lực trong lãnh thổ của mình.
Đám Big Corp ngành thuốc lá hay rượu bia có thể lùa gà, có thể lobby nhưng chúng không xây dựng quân đội riêng, không đi ám sát thẩm phán hay đánh chiếm đồn cảnh sát.
Ngược lại, những tổ chức như Cártel de los Soles — vốn là các tướng lĩnh cao cấp trong quân đội Venezuela — hay phiến quân FARC, chúng sở hữu súng ống, tên lửa và các đội quân tinh nhuệ. Khi ma túy được vận hành bởi một bộ máy chính trị-quân sự, nó không còn là vấn đề tệ nạn xã hội nữa, mà là một “existential threat” (mối đe dọa sinh tồn) đối với chủ quyền của các quốc gia khác và trật tự khu vực mà Mỹ đang duy trì.
Washington D.C không sợ dân chúng nghiện ngập phê ma tuý mà bị ám ảnh bởi nỗi sợ một quốc gia Nam Mỹ trong sân sau của mình trở thành một “Narco-state” (Quốc gia ma túy), nơi mà luật pháp quốc tế bị thay thế bằng luật rừng của các bố già.
Rượu, bia, hay thuốc lá, dù có hại đến đâu, vẫn nằm trong hệ thống thuế khóa và ngân hàng mà Mỹ và các tổ chức quốc tế kiểm soát. Dòng tiền từ các ngành này minh bạch (ở mức độ nào đó) và quan trọng là nó chảy qua hệ thống SWIFT, nơi Mỹ có thể quan sát và đóng băng bất cứ lúc nào.
Trong khi đó, dòng tiền từ ma túy của Cártel de los Soles và FARC là dòng tiền đen hoàn toàn, chảy qua các mạng lưới rửa tiền phức tạp, tiền mặt và các kênh ngầm. Dòng tiền này được dùng để tài trợ cho các phong trào lật đổ, mua chuộc chính trị gia và nuôi dưỡng các lực lượng chống Mỹ tại Mỹ Latin. Khi tiền ma túy trở thành “nhiên liệu” cho các cuộc cách mạng chống lại lợi ích của Mỹ, nó đã chạm vào “vảy ngược” của siêu cường.
Ngành công nghiệp rượu bia hay thuốc lá không tạo ra dòng người tị nạn khổng lồ hay làm sụp đổ các chính phủ đồng minh. Nhưng ma túy và bạo lực băng đảng thì có. Sự bành trướng của Cártel de los Soles dưới sự bảo kê của chính quyền Maduro (và trước đó là Chávez) đã biến Venezuela thành một trạm trung chuyển ma túy khổng lồ sang Mỹ và Châu Âu, đồng thời gây ra cuộc khủng hoảng di cư làm bất ổn cả khu vực.
Đối với Mỹ, việc săn đuổi những kẻ này là cách để bảo vệ “hàng rào an ninh” của mình. Họ dán cái nhãn “khủng bố” hay “tội phạm ma túy” lên đầu các quan chức Venezuela không phải vì họ quan tâm đến lá phổi hay hệ thần kinh của người nghiện, mà vì đó là công cụ pháp lý mạnh nhất để đóng băng tài sản, phát lệnh truy nã quốc tế và triệt hạ nguồn tài chính của một chế độ thù địch.
“Morality is a tool of the powerful” (Đạo đức là công cụ của kẻ mạnh). Mỹ có thể chấp nhận một công ty dược phẩm gây ra đại dịch nghiện thuốc giảm đau (opioid crisis) ngay trong lòng nước Mỹ vì chúng đóng thuế và tuân thủ luật chơi của hệ thống. Nhưng Mỹ sẽ không bao giờ chấp nhận một nhóm tướng lĩnh nước ngoài dùng tiền ma túy để thách thức quyền lực của họ. Cái “trật tự” mà các băng đảng này đe dọa chính là trật tự dựa trên luật lệ (rules-based order) do Mỹ thiết lập, nơi mà mọi dòng tiền và mọi nguồn lực vũ trang phải được kiểm soát bởi các thực thể chính trị “hợp pháp” theo tiêu chuẩn phương Tây. Cártel de los Soles không chỉ bán ma túy, chúng đang bán một thứ nguy hiểm hơn: đó là sự hỗn loạn có hệ thống nhằm lật đổ ảnh hưởng của Mỹ tại Tây bán cầu.
Bản chất của cuộc chiến chống khủng bố lẫn các Cartel Ma tuý được khơi mào từ thời tổng thống Reagan, không phải vì lo lắng dân chúng nghiện ngập, xã hội bất ổn hay bất cứ lý do cao cả nào thốt ra từ mồm các chính trị gia tả lẫn hữu, chỉ là một nỗi sợ ám ảnh mất kiểm soát quyền lực mà thôi.
Nhưng tại sao với bằng chứng rành rành ra đó tại sao Mỹ không đập ngay tại trận ngay luôn?
Tại sao Bush và sau đó là Obama nhiệm kỳ đầu vẫn “nhịn”?
Lý do cũng tại một chữ: “Dầu”. Thời điểm này Mỹ chưa bùng nổ dầu đá phiến (Shale Oil). Các nhà máy lọc dầu khổng lồ ở bờ Vịnh Mexico (như của Chevron, Valero, và chính Citgo) được thiết kế đặc biệt để “ăn” loại dầu siêu nặng của Venezuela. Nếu cắt nguồn cung này đột ngột, giá xăng ở Mỹ sẽ tăng vọt, và không tổng thống Mỹ nào muốn dân chửi vì giá xăng cả.
Ngược lại, Chávez dù chửi Mỹ là quỷ, nhưng hắn cần tiền mặt (Cash flow). Bán dầu cho Trung Quốc thì bị trừ nợ (như tao đã kể vụ Fondo Chino), bán cho Cuba/Nicaragua thì là cho không hoặc đổi lấy bác sĩ/đậu đen. Chỉ có bán cho Mỹ là nhận được tiền tươi thóc thật ngay lập tức.
Thế nên, trong suốt giai đoạn này, hai bên thiết lập một quy tắc ngầm: Chửi nhau trên tivi thoải mái, trục xuất đại sứ cũng được, nhưng dòng dầu (và dòng tiền) không được phép ngừng chảy.
Tháng 9 năm 2008, Bộ Tài chính Mỹ (U.S. Department of the Treasury), áp dụng Đạo luật Kingpin (Foreign Narcotics Kingpin Designation Act) lên ba nhân vật quyền lực nhất trong bộ máy an ninh của Chávez đã dính líu tới đám FARC:
Hugo Carvajal (trùm tình báo quân đội)
Henry Rangel Silva (trùm cảnh sát mật)
Ramón Rodríguez Chacín (cựu Bộ trưởng Nội vụ).
Ba tên này bị dán cái nhãn “narco-terrorist” (khủng bố ma túy) lên đầu, nằm ngay trong danh sách đen của OFAC (Cơ quan Kiểm soát Tài sản Nước ngoài) tức là toàn bộ tài sản của những kẻ này trong hệ thống tài chính Mỹ bị đóng băng ngay lập tức, và quan trọng hơn, bất kỳ ai hay tổ chức nào trên thế giới dám giao dịch với họ đều có nguy cơ bị Mỹ trừng phạt lây.
Đòn này nhắm vào đám tướng lĩnh, quan chức Venezuela mồm thì chửi “Đế quốc Mỹ hôi hám”, nhưng tiền tham nhũng được thì lại... đem sang Mỹ cất.
• Chúng nó mua biệt thự ở Miami.
• Chúng nó mở tài khoản ở Delaware.
• Chúng nó cho con cái đi học ở Boston.
• Chúng nó đi nghỉ mát ở Disney World.
Điều này đã biến các quan chức cao cấp của Venezuela thành những “kẻ hủi” (pariahs) trong hệ thống tài chính toàn cầu. Mỹ đã khéo léo biến một tranh chấp chính trị thành một vụ án hình sự xuyên quốc gia, khiến cho việc ủng hộ Chávez trở nên “đắt đỏ” và đầy rủi ro đối với các ngân hàng và tập đoàn quốc tế.
Chávez lúc đó cay cú đến mức đã đuổi cổ Đại sứ Mỹ Patrick Duddy để trả đũa, nhưng thực chất đó chỉ là một màn “lên gân” yếu ớt để che đậy sự hoảng loạn.
Nhưng chửi thì cứ chửi còn dầu bán về tới các nhà máy Exxon, Chervon ven vịnh Mexico vẫn tiền trao cháo múc lấy đôla đổi dầu bình thường.
Mỹ chọn cách trừng phạt cá nhân lẻ tẻ (như đóng băng tài sản vài ông tướng dính ma túy) thay vì cấm vận toàn diện nền kinh tế.
Có điều khi sang nhiệm kỳ thứ 2 của Obama + Trump lên nắm quyền 2017 thì mọi chuyện bắt đầu khác đi.
Vì Mỹ lúc này có thừa mứa dầu nhờ cuộc cách mạng Dầu đá phiến (Fracking) tại Mỹ. Đến năm 2014, Mỹ trở thành nước sản xuất dầu hàng đầu thế giới. Mỹ không còn quá khát dầu của Venezuela nữa. Vị thế đàm phán thay đổi hẳn. Mỹ nắm đằng chuôi.
Nhưng có một nghịch lý mới ra đời: nước Mỹ không thể lọc dầu đá phiến để sử dụng mà bắt buộc phải nhập dầu từ Mỹ và Venezuela để các nhà máy hoạt động.
Dầu mỏ không phải loại nào cũng giống nhau.
• Dầu Đá phiến Mỹ (US Shale Oil): Đây là loại dầu Ngọt, Nhẹ (Light Sweet Crude). Nó lỏng như nước, màu sáng, ít lưu huỳnh. Mày cứ tưởng tượng nó như rượu Vodka tinh khiết vậy. Loại này cực tốt, dễ lọc thành xăng, nhưng giá bán lại cao.
• Dầu Venezuela: Như tao đã nói, đây là dầu Chua, Nặng (Heavy Sour Crude). Nó đặc quánh như nhựa đường hoặc mật rỉ, đen sì, hôi rình mùi lưu huỳnh và đầy kim loại nặng. Mày cứ tưởng tượng nó là thứ nước cống rãnh bẩn thỉu.
Hệ thống các nhà máy lọc dầu khổng lồ của Mỹ nằm dọc bờ biển Vịnh Mexico (Texas, Louisiana) – nơi được coi là “trái tim lọc dầu” của thế giới – đã được xây dựng và nâng cấp từ những năm 1980-1990.
Thời đó, dầu Mỹ đang cạn kiệt. Big Oil nghĩ rằng tương lai thế giới sẽ chỉ toàn dầu nặng, bẩn và rẻ tiền từ Trung Đông và Venezuela.
Các tập đoàn như Chevron, Valero, Citgo đã đổ hàng chục tỷ đô la để xây dựng những “cỗ máy tiêu hóa” cực kỳ phức tạp (gọi là Cokers và Hydrocrackers). Những cỗ máy này được thiết kế chuyên biệt để “nhai” loại dầu nặng, bẩn thỉu, bẻ gãy các phân tử nặng trịch đó để biến thành xăng.
Bây giờ, khi Mỹ đột nhiên tìm ra dầu đá phiến (dầu nhẹ), họ gặp rắc rối to:
Mày không thể đổ dầu nhẹ vào một nhà máy được thiết kế để chạy dầu nặng.
Nó giống như việc mày mua một cái máy xay đá tảng khổng lồ, rồi mày ném... bông gòn vào đó. Cái máy sẽ chạy không hiệu quả, thậm chí hỏng hóc, và quan trọng nhất là LỖ VỐN.
Dầu Venezuela là dầu bẩn, khó bán, nên giá cực rẻ (thường bán chiết khấu thấp hơn giá thị trường 10-15 USD/thùng). Các nhà máy Mỹ (như Citgo, Valero) mua thứ “rác” rẻ tiền này về. Nhờ công nghệ xịn sò đã đầu tư, họ lọc nó thành xăng và dầu diesel chất lượng cao. Sau đó họ bán xăng với giá thị trường quốc tế.
=> Mua nguyên liệu giá rẻ bèo + Công nghệ xịn = Lãi khủng.
Ngược lại, nếu họ dùng dầu đá phiến của Mỹ (WTI):
• Giá dầu WTI đắt hơn (vì nó sạch, ai cũng mua được).
• Mua nguyên liệu đắt => Lọc ra xăng => Lãi mỏng dính.
Thế nên mới có cái nghịch lý: Mỹ XUẤT KHẨU dầu đá phiến (dầu nhẹ) của mình sang châu Á và châu Âu (cho những nước có nhà máy lọc dầu đơn giản), rồi lại dùng tiền đó NHẬP KHẨU dầu nặng từ Venezuela về để chạy các nhà máy ở Vịnh Mexico. Đó là bài toán tối ưu hóa lợi nhuận tư bản thuần túy.
Mày sẽ hỏi: “Thiếu gì thằng bán dầu nặng? Canada cũng có, Ả Rập cũng có, sao cứ phải đâm đầu vào Venezuela?”
• Canada: Canada có cát dầu (Oil Sands) cũng nặng và bẩn y hệt Venezuela. Nhưng vấn đề là Vận chuyển. Muốn đưa dầu từ Canada xuống Texas phải đi qua đường ống (Keystone XL). Mà cái đường ống này thì bị biểu tình, bị chính trị cản trở suốt bao năm (mãi sau này mới thông). Chở bằng tàu hỏa thì đắt lòi kèn.
• Ả Rập Xê Út: Cũng có dầu nặng trung bình. Nhưng chở một tàu dầu từ Trung Đông sang Mỹ mất 45 ngày. Chi phí vận chuyển cao, rủi ro eo biển Hormuz bị chặn.
• Venezuela: Đây là “người tình trăm năm”. Chở dầu từ Venezuela sang Texas chỉ mất 4-5 ngày. Tàu cứ chạy vèo cái là tới. Chi phí vận chuyển rẻ như cho.
Mỹ không cần “chiếm” Venezuela để cướp dầu về dùng theo kiểu ăn cướp thô thiển. Mỹ cần một chính phủ ở Caracas thân thiện và ổn định, để đảm bảo dòng chảy dầu nặng giá rẻ này không bị gián đoạn.
Khi Maduro lên nắm quyền và bắt đầu dở chứng (lúc thì dọa cắt dầu, lúc thì quản lý kém làm sản lượng sụt giảm, lúc thì đem dầu đi gán nợ cho Trung Quốc), các nhà máy lọc dầu ở Mỹ (như Valero, Chevron) khóc thét vì đói nguyên liệu “đầu vào”.
Giờ thì đói “dầu” nhưng để giữ cái bản mặt đạo đức của cảnh sát thế giới, Washington D.C cần một cái nghe có vẻ “hợp lý” để mị dân Mỹ hòng đoạt lấy kho dầu lớn nhất về tay mình. Xui rủi thay, Maduro tự huỷ tạo cái cớ “tự do dân chủ”, “nhân quyền” cho Hoa Kỳ tạo đà cấm vận bóp chết con gà để trứng vàng PVDSA.
La Salida (Biểu tình lớn)
Sau khi bê bối bầu cử năm 2013 kết thúc, Maduro lên nắm làm tổng thống nhưng phe đối lập mặc dù chỉ chiếm thiểu số ở cấp quốc gia nhưng vì dân nhà giàu, giới trí thức, tầng lớp tri thức vốn sống tập trung ở các thành phố lớn ghét Chávez như chó nên đám này vẫn được một số ghế ở cấp địa phương.
Nhà trắng trong nhiệm kỳ thứ 2 của Oabama bắt đầu dòm ngó tới giếng dầu của Venezuela tìm ra được 1 con rối bù nhìn cực kỳ hoàn hảo về mặt lý lịch theo tiêu chuẩn của đám DEM: Leopoldo López.
Tên này là cháu họ xa của Simón Bolívar (thông qua chị gái Juana Bolívar) cũng là cháu đời thứ 5 (great-great-great grandson) của vị Tổng thống đầu tiên của Venezuela Cristóbal Mendoza. Nói chung là thuộc dòng dõi trâm anh thế kiệt. Gia đình nằm trong nhóm siêu giàu với bố là doanh nhân, mẹ nắm trùm tập đoàn truyền thông Cisnerros. Một kẻ đại diện hoàn hảo cho toàn bộ tầng lớp tinh hoa tài phiệt đang căm ghét Chávez và người kế vị Maduro.
Tay này với nền tảng hậu thuẫn của gia đình được đưa đi học ở Kenyon College (bang Ohio) nơi nổi tiếng đào tạo ra đám tinh hoa da trắng bảo thủ. Sau đó học lên cao học ở Harvard Kennedy School (HKS) - cái nôi đẻ ra các lãnh đạo thân Mỹ. Không chỉ được học kiến thức về kinh tế vĩ mô, López còn học bài bản về Kỹ thuật thay đổi chế độ” (Regime Change Mechanics).
Chính trong thời gian ở Mỹ, López đã thiết lập mạng lưới quan hệ với các “Think Tank” của Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ. Hắn là bạn thân của những nhân vật chóp bu trong giới hoạch định chính sách Mỹ Latinh. Washington D.C nhìn thấy ở hắn một gã nói tiếng Anh như gió, hiểu luật chơi của phố Wall, và quan trọng nhất: Căm thù Cộng sản tận xương tủy.
Sau khi về nước, López tham chính được bầu làm Thị trưởng ở Chacao - quận giàu nhất thủ đô Caracas.
Sự khác biệt giữa López và Henrique Capriles (người suýt thắng năm 2013) nằm ở độ “gấu”. Capriles chủ trương ôn hòa, đấu tranh qua lá phiếu, còn López thì coi đó là ngây thơ. López nhìn thấy Maduro gian lận năm 2013 và bảo: “Chơi đẹp với bọn này không được đâu. Phải lật cái bàn này lên”.
Để tổ chức biểu tình quy mô lớn (La Salida), nuôi quân, in ấn tài liệu, López cần núi tiền. Tiền này không phải do Obama trực tiếp đưa tay dúi vào túi (làm thế thì lộ quá). Nó đi đường vòng qua các tổ chức NGO (Phi chính phủ). Hai cái vòi rồng bơm tiền chính là NED (National Endowment for Democracy - Quỹ Quốc gia vì Dân chủ) và USAID.
Ngay từ năm 2002 (trước khi Chávez chết), Mỹ đã bơm tiền cho các đảng đối lập thông qua IRI (International Republican Institute - Viện Cộng hòa Quốc tế). Đảng Primero Justicia (cũ) của López là thằng nhận viện trợ khủng nhất.
Sau khi López tách ra lập đảng riêng là Voluntad Popular (Ý chí Dân nguyện), dòng tiền này lại chảy về đó. Voluntad Popular được kết nạp vào Quốc tế Xã hội chủ nghĩa (Socialist International) để che mắt, nhưng thực chất cương lĩnh của nó là cực hữu và tân tự do.
Báo chí điều tra đã phanh phui việc IRI từng tài trợ cho López các chuyến đi sang Washington để “huấn luyện chiến lược”. Mỹ dạy hắn cách tổ chức đám đông, cách dùng mạng xã hội để kích động, và cách biến mình thành “nạn nhân” trước truyền thông quốc tế
Tháng 2 năm 2014, López phát động phong trào “La Salida” (Lối thoát). Mục tiêu của hắn không úp mở gì cả: Kêu gọi dân xuống đường bạo động, chiếm đóng các ngả đường, dựng rào chắn (guarimbas) đốt lốp xe, ném bom xăng, làm tê liệt đất nước để ép Maduro phải từ chức ngay lập tức. López hô hào:
“Cuộc chiến trên đường phố sẽ không dừng lại cho đến khi cái chính phủ này sụp đổ”.
López, với cái đầu lạnh của dân Harvard, thừa hiểu rằng nếu chỉ đứng hò hét khẩu hiệu thì Maduro sẽ lờ đi. Muốn Nhà Trắng và CNN chú ý, phải có máu chảy. Và thế là chiến thuật Guarimbas (Rào chắn bạo loạn) ra đời.
Đám thanh niên sinh viên (được López kích động) không chỉ chặn đường. Chúng nó biến các khu phố nhà giàu (như Chacao) thành pháo đài. Chúng chặt cây, đốt lốp xe, đổ rác, và nguy hiểm nhất là căng dây thép ngang đường (gọi là guayas) để “bẫy” đám Colectivos (nhóm vũ trang dân sự đi xe máy từ thời Chávez)
Đã có những người lính Vệ binh Quốc gia hoặc dân thường đi xe máy bị những sợi dây thép vô hình này cứa cổ tử vong ngay tại chỗ. Đây là chiến tranh du kích đô thị, và López chấp nhận chơi bài “ác” để ép Maduro phải ra tay tàn bạo.
Và Maduro, với bản tính cục súc bị dồn vào chân tường. Một thằng yếu thế đang bị nghi ngờ năng lực vì mới lên thay cái ghế Chávez để lại được có 1 năm thì cái hành động kêu gọi của López chả khác gì lời khiêu chiến, Maduro sợ quân đội thấy phản ứng yếu ớt sẽ lật đổ mình như những thằng độc tài Nam Mỹ khác. Hoặc chính đám Chavistas thấy quá nhu nhược trước đám biểu tình bạo loạn cũng sẽ bỏ rơi chọn những ứng cử viên khác lên thay.
Maduro quyết định dùng Bàn tay sắt (Mano Dura) để “lấy số” với quân đội. Hắn thả xích cho lực lượng Vệ binh Quốc gia (GNB) và đám dân quân vũ trang (Colectivos) đi xe máy tràn vào các khu phố.
Kết quả là 43 người chết, hàng trăm người bị thương và hàng ngàn bị bắt. Máu của cả hai phe (sinh viên đối lập và cả người ủng hộ chính phủ) đã đổ xuống.
Nhưng với López, đây là “chi phí cần thiết” (Calculated Cost). Mục tiêu của hắn đã đạt được: Hình ảnh Venezuela chìm trong biển lửa tràn ngập trên New York Times, Washington Post. Maduro hiện lên như một tên đồ tể khát máu giết hại sinh viên.
Ngày 18 tháng 2 năm 2014. Biết mình đã có lệnh bắt giữ, López không trốn chui trốn lủi. Hắn dàn dựng một màn đầu hàng mang tính biểu tượng, một kịch bản mà các đạo diễn Hollywood cũng phải ngả mũ bái phục.
Tại quảng trường Plaza Brión, giữa biển người áo trắng, López xuất hiện như một đấng cứu thế. Hắn leo lên tượng đài José Martí (một biểu tượng tự do khác), cầm loa, nói những lời trăng trối chính trị đầy hào sảng:
“Nếu việc tôi đi tù có thể đánh thức người dân Venezuela, thì sự hy sinh này là xứng đáng”.
Sau đó, hắn bước xuống, ôm hôn cô vợ xinh đẹp Lilian Tintori (khoảnh khắc này được chụp lại và trở thành poster tuyên truyền suốt nhiều năm sau), rồi giơ hai tay ra cho lính Vệ binh Quốc gia còng lại. Hắn ngẩng cao đầu, mặt không biến sắc, bước lên xe bọc thép đi thẳng vào nhà tù quân sự Ramo Verde.
Ramo Verde là một nhà tù quân sự nằm chênh vênh trên núi cao, sương mù bao phủ quanh năm, lạnh thấu xương. Maduro nhốt López vào một cái xà lim biệt lập (isolation cell) ở tháp cao nhất, tách biệt hoàn toàn với thế giới loài người.
Chiến thuật ở đây là “Tra tấn trắng” (White Torture). Chúng không cần đánh đập hắn mỗi ngày để để lại vết thương, mà chúng đánh vào não.
López bị giam cầm 23 tiếng một ngày trong bốn bức tường chật hẹp, không sách báo, không internet, không được nói chuyện với ai. Có những đêm, lính canh xông vào lục soát lúc 3 giờ sáng, lật tung đồ đạc, tịch thu những ghi chép cá nhân của hắn chỉ để hắn không bao giờ được ngủ yên.
Thậm chí, vợ hắn là Lilian Tintori khi vào thăm nuôi còn bị lột trần truồng để “khám xét” nhằm làm nhục cả gia đình hắn. Mục tiêu của Maduro là biến “Hoàng tử” López thành một phế nhân điên loạn, bị cô lập và lãng quên.
Trong khi thủ lĩnh đang mục xương trên núi, thì dưới đường phố, cuộc tàn sát diễn ra theo kịch bản “Búa và Đe”. Cái “Đe” là lực lượng Vệ binh Quốc gia (GNB) với áo giáp, xe bọc thép và hơi cay. Còn cái “Búa” chính là đám Colectivos – những đội quân xe máy bịt mặt, mặc thường phục nhưng được trang bị súng ngắn.
Khi người biểu tình dựng chướng ngại vật (guarimbas) để chặn đường, GNB sẽ bắn hơi cay và đạn nhựa (perdigones) để giải tán đám đông. Chúng cố tình bắn thẳng vào mặt và mắt người biểu tình ở cự ly gần làm hàng trăm sinh viên bị mù mắt hoặc biến dạng khuôn mặt vì loại đạn nhựa chết tiệt này.
Khi đám đông chạy tán loạn vào các ngõ hẻm để trốn chạy khỏi GNB, đám Colecvitos lượn lờ trong các con hẻm rút súng đạn thật ra bắn vào đám đông hoang và bắt cóc những sinh viên cầm lôi đi thủ tiêu mất tịch không ai biết còn sống hay đã chết. Cái giá của việc chống lại Maduro là không cần biết ai là tội phạm, ai là cảnh sát chỉ cần biết kẻ nào cũng có súng và sẵn sàng giết mày.
Các guarimbas (chướng ngại vật) ban đầu là để bảo vệ người biểu tình, nhưng sau đó quân đội đã bao vây các khu phố này, cắt điện, cắt nước, chặn xe chở thực phẩm.
Người dân trong các khu vực chống đối bị cô lập, đói khát và sống trong sợ hãi vì tiếng súng nổ hàng đêm. Những bà nội trợ ban đầu ủng hộ sinh viên, sau vài tuần không đi chợ được, con cái không đi học được, bắt đầu mệt mỏi và quay sang trách móc phe đối lập là “làm loạn”.
Maduro đã thành công trong việc “chia để trị”, biến cuộc đấu tranh dân chủ thành một sự phiền toái cho cuộc sống hàng ngày. Dân tình bắt đầu rút lui vì họ cần phải đi làm kiếm ăn, cái bụng đói đã đánh bại lý tưởng.
Phe đối lập trong lúc López ngồi tù, qua sức mạnh hùng hồn của truyền thông quốc tế, hắn trở thành biểu tượng “Mandela của Mỹ Latinh” được coi như lãnh tụ tối cao của phe đối lập. Nhưng chính trong nội bộ lại có sự rạn nứt.
Henrique Capriles và những người thuộc phe ôn hòa ở ngoài lại tỏ ra ngập ngừng, nhìn López bằng con mắt khinh bỉ pha lẫn sợ hãi. Họ cho rằng López là một gã mị dân nguy hiểm, sẵn sàng nướng quân (sinh viên) để đổi lấy hào quang cá nhân. Họ bảo:
“Thằng điên đó nghĩ nó là Bolívar tái thế, nó muốn làm loạn để Mỹ can thiệp, chứ nó đếch quan tâm gì đến việc xây dựng đất nước”.
Họ sợ bạo lực leo thang sẽ cho Maduro cái cớ để thiết quân luật toàn diện.
Trong khi vợ López ở bên ngoài đi khắp thế giới (gặp Tổng thống Trump, gặp Giáo hoàng) để kể về nỗi oan ức của chồng.
Sự thiếu thống nhất này khiến đám đông mất phương hướng. Sinh viên cảm thấy bị bỏ rơi, cảm thấy máu mình đổ ra vô ích khi các lãnh đạo cãi nhau. Đến tháng 5/2014, La Salida chính thức xẹp lép. Maduro đã thắng, nhưng là một chiến thắng trên đống xác người. Hắn đã chứng minh cho thế giới thấy:
“Tao sẵn sàng bắn vào dân tao để giữ ghế, đứa nào ngon thì nhào vô”.
Mỹ cực kỳ hài lòng. Họ đã có một con bài tẩy hoàn hảo: Một tù nhân lương tâm đẹp trai, trí thức, đang bị “bọn cộng sản độc tài” giam cầm. Không có lý do gì tốt hơn thế để Mỹ siết chặt các lệnh trừng phạt và cô lập Maduro trên trường quốc tế.
Tháng 12/2014, Obama ký “Đạo luật Bảo vệ Nhân quyền và Xã hội Dân sự Venezuela 2014” và sắc lệnh hành pháp số 13692 đầu năm 2015 nhắm vào 7 quan chức chóp bu của chế độ - những kẻ trực tiếp ra lệnh đàn áp biểu tình:
Mày nghĩ Obama khóc thương cho 43 sinh viên chết à? Không hề. Năm đó Mỹ vẫn đang mua dầu của Venezuela ầm ầm.
Theo EIA, lượng dầu thô mà Mỹ nhập khẩu từ Venezuela trong giai đoạn “căng thẳng nhân quyền” 2014-2015 như sau:
Năm 2014 (Năm xảy ra La Salida): Mỹ nhập trung bình 733.000 thùng/ngày.
Tổng cả năm Mỹ mua khoảng 267 triệu thùng.
Năm 2015 (Năm Obama ký Sắc lệnh 13692): Mỹ nhập trung bình 780.000 thùng/ngày.
Năm 2015, sau khi ký lệnh trừng phạt, Mỹ thậm chí còn MUA NHIỀU HƠN năm 2014.
Dầu chảy qua thì tiền chảy lại. Đây là số tiền mặt mà các công ty Mỹ (Chevron, Valero, Citgo, Phillips 66) đã chuyển thẳng vào tài khoản của PDVSA (tức là vào túi Maduro) trong 2 năm đó:
Năm 2014: Với giá dầu trung bình khoảng 85-90 USD/thùng (đầu năm cao, cuối năm giảm), Mỹ đã trả cho Venezuela khoảng 25 - 30 Tỷ USD.
Năm 2015: Dù giá dầu giảm mạnh (xuống ~45-50 USD), nhưng với lượng mua khổng lồ, Mỹ vẫn bơm cho Maduro khoảng 10 - 12 Tỷ USD tiền mặt.
Obama phong tỏa tài sản cá nhân của 7 thằng tướng (như Antonio Benavides Torres, Gustavo González López...). Tài sản bọn này ở Mỹ cùng lắm là vài chục triệu đô la (muỗi đốt inox). Nhưng cùng lúc đó, Mỹ bơm hàng chục tỷ đô la tiền mua dầu cho ông chủ của 7 thằng đó (Maduro) để hắn có tiền trả lương cho quân đội, mua hơi cay và đạn cao su về đàn áp tiếp.
Lệnh trừng phạt chỉ là đòn tình báo (Intelligence) kinh điển của CIA và DEA. Mỹ biết đám tướng lĩnh này giàu nứt đố đổ vách, tài sản hàng trăm triệu đô la giấu ở Mỹ, Panama, Thụy Sĩ. Mục đích của việc đóng băng tài sản cá nhân là để đưa bọn tướng này vào thế “Chó cùng dứt giậu”:
Mỹ: “Alo, Tướng X. Tài khoản 50 triệu đô của mày ở Miami bị khóa rồi nhé. Mày muốn lấy lại tiền để về hưu an nhàn không? Hay muốn mất trắng?”
Tướng X: “Tao phải làm gì?”
Mỹ: “Đưa cho tao thông tin mật về Maduro, về đường dây ma túy, về liên hệ với Iran/Hezbollah. Hoặc tốt hơn là mày đào tẩu sang Mỹ làm nhân chứng, tao sẽ thả tiền cho mày”.
Leamsy Salazar (cận vệ thân tín của Chávez và sau đó là của Diosdado Cabello) sau khi bị Mỹ “bóp” tài chính và đe dọa, Salazar đã đào tẩu sang Mỹ năm 2015, cung cấp toàn bộ sơ đồ buôn ma túy của chế độ để đổi lấy quyền tị nạn và bảo vệ tài sản.
Vậy đó, trừng phạt là để tuyển mộ điệp viên, ép bọn tướng phản bội chủ để cứu tiền, chứ nhân quyền cái quái gì?
Cơn sốt "Vàng Máu" (Blood Gold)
Bước sang năm 2015, vì OECD cắt giảm sản lượng + Mỹ ngập trong dầu đá phiến nên giá dầu rơi tự do xuống còn 35$/thùng. Như tao nói, cái “di sản Chávez” bắt đầu lộ nguyên hình “Hội chứng Hà Lan” (Dutch Disease). Cả đất nước không sản xuất được cái gì, nhập khẩu từ cái kim sợi chỉ đến hạt gạo đén khi giá dầu lao dốc thì khoản tiền 96% ngoại tệ để mua giấy vệ sinh, thuốc men, thức ăn, phụ tùng máy móc bốc hơi.
Maduro phản ứng tệ hại đến mức lên tivi gào thét về một cuộc “Chiến tranh kinh tế” (Guerra Económica) trong tưởng tượng để đổ lỗi cho các chủ siêu thị găm hàng, Mỹ phong tỏa (lúc này chưa cấm vận dầu). Hắn ra lệnh bắt bớ các chủ tiệm tạp hóa, tịch thu hàng hóa để phân phát miễn khí thậm chí còn nghĩ ra trò hề lắp máy quét vân tay tại các siêu thị để hạn chế mỗi người dân chỉ được mua định lượng nhất định, biến cả đất nước thành một trại tập trung khổng lồ, hàng ngàn người đứng xếp hàng chỉ để nhận được bánh mì và sữa khiến tình hình đã loạn càng thêm loạn.
Nhưng nhờ chữ ký trừng phạt của Obama, Maduro nhanh tay thành “món quà trời cho” để bảo vệ cái ghế đang lung lay của mình. Để ban hành sắc lệnh trừng phạt theo luật Mỹ, Obama buộc phải dùng cụm từ tiêu chuẩn:
“Tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc gia đối với mối đe dọa bất thường và đặc biệt đối với an ninh quốc gia và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ”.
Đây là ngôn ngữ hành chính bắt buộc (bureaucratic boilerplate), nhưng Maduro đã cắt cúp cụm từ “Mối đe dọa an ninh quốc gia” (National Security Threat) để lu loa lên rằng:
“Nhìn đi! Đế quốc Mỹ sắp đem quân xâm lược chúng ta! Obama coi Venezuela là kẻ thù!”.
Maduro lập tức khởi động cỗ máy tuyên truyền khổng lồ với chiến dịch mang tên “Obama, hãy hủy bỏ sắc lệnh ngay” (Obama, repeal the executive order now). Hắn bắt toàn bộ bộ máy công chức, học sinh, sinh viên, công nhân nhà máy, binh lính phải đi ký tên vào một bản kiến nghị thư gửi Nhà Trắng. Mục tiêu của hắn là thu thập 10 triệu chữ ký. Mày đi siêu thị mua gạo? Ký tên trước đã. Mày đi làm giấy tờ? Ký tên đi rồi tính. Hắn biến việc ký tên thành thước đo lòng yêu nước. Ai không ký là Việt gian, à nhầm, là tay sai đế quốc.
Cứ mỗi đợt lên sóng tv, Maduro lại mặc đồng phục chỉ tay vào bản đồ và gào lên:
“Thủy quân lục chiến Mỹ đang tập trung ở bờ biển! Chúng sắp đổ bộ để cướp dầu của chúng ta! Chúng ta phải chuẩn bị cho chiến tranh nhân dân!”.
Hắn tổ chức các cuộc tập trận rầm rộ, đưa xe tăng ra đường, phát súng cho dân quân. Dân chúng đang đói, đang xếp hàng mua giấy vệ sinh, tự nhiên bị cuốn vào một nỗi sợ hãi hiện sinh lớn hơn: Sợ bị xâm lược. Tâm lý đám đông chuyển từ “Tại sao tao đói?” sang “Làm sao để bảo vệ Tổ quốc?”. Những tiếng nói chỉ trích về kinh tế bị dìm chết trong tiếng hô vang khẩu hiệu chống Mỹ. Phe đối lập bị đẩy vào thế kẹt: Nếu họ ủng hộ lệnh trừng phạt của Mỹ, họ sẽ bị quy là “kẻ phản quốc” mời giặc vào nhà. Nếu họ phản đối Mỹ, họ lại đi ngược lại lợi ích của chính mình.
Có điều đến cuộc bầu cử Quốc hội vào tháng 12/2015; lần đầu tiên trong lịch sử kể từ năm 1999 phe đối lập liên minh MUD (Mesa de la Unidad Democrática - Bàn tròn Thống nhất Dân chủ) chiến thắng áp đảo với 2/3 ghế trong quốc hội.
Đám này chỉ là một nồi lẩu thập cẩm hỗn loạn đầy đủ mọi thành phần từ cánh tả, trung dung đến cánh hữu, ghét nhau như chó với mèo nhưng với tình hình kinh tế sụp đổ thì cũng phải sẵn sàng bắt tay để tiêu diệt kẻ thù chung là Maduro.
Đảng Primero Justicia (Công lý Trên hết) của Henrique Capriles, đảng Voluntad Popular (Ý chí Nhân dân) của Leopoldo López (lúc này đang ngồi tù nên vợ hắn và các phó tướng điều hành), và đảng già cỗi Acción Democrática của cáo già Henry Ramos Allu trong cuộc họp chung đã chịu chấp nhận gạt bỏ cái tôi cá nhân sang một bên để đưa ra một danh sách ứng cử viên thống nhất trong từng khu vực vốn đã bị phe Chavista xé lẻ bằng trò Gerrymandering (vẽ lại khu vực bầu cử) dồn phiếu đấm thẳng mặt vào đảng cầm quyền PSSUV.
Theo tính toán của Chávez và Maduro, một lá phiếu ở vùng quê hẻo lánh - nơi trình độ dân trí thấp, phụ thuộc vào trợ cấp từ chính quyền Caracas có giá trị gấp 3-4 lần các quận trung tâm ở thủ đô. Nhưng đúng thời điểm 2015 lạm phát tăng 180%, các kệ siêu thị trống trơn, những người nông dân từng trung thành với Chávez phải xếp hàng đói rã họng 8 tiếng chỉ để mua bột ngô trở nên tức giận hơn bao giờ hết.
Đã thế Maduro bị coi là thằng phá hoại di sản của “Thánh” Chávez. Dân nghèo chỉ yêu vị Commandate tiền nhiệm chứ thực sự căm ghét thằng tài xế xe buýt. Hàng triệu người từng mặc áo đỏ, từng khóc khi Chávez chết, đã quyết định quay xe. Họ không bỏ phiếu cho MUD vì họ thích chủ nghĩa tư bản, họ bỏ phiếu cho MUD để tát vào mặt Maduro một cái cho tỉnh ra. Khẩu hiệu ngầm trong giới khu ổ chuột lúc đó là: “Maduro không phải là Chávez”. Việc Maduro cứ lải nhải đổ lỗi cho “chiến tranh kinh tế” trong khi dân không có giấy vệ sinh để xài đã trở thành một trò hề xúc phạm trí tuệ người dân.
Maduro trước bầu cử cố gắng mua chuộc phiếu bằng việc phát hàng ngàn máy tính bảng (tablet), tivi, tủ lạnh Haier của Trung Quốc bằng tiền vay nợ như tao đã nói thông qua chương trình. Mi Casa Bien Equipada. Hắn còn dọa dẫm rằng nếu phe đối lập thắng, họ sẽ cắt hết trợ cấp xã hội, sẽ tăng tiền học phí của con em dân lao động lên và huy động toàn bộ bộ máy PDVSA để chở người đi biểu tình. Nhưng cho không một cái tủ lạnh mới để làm gì không có điện và thức ăn? Sự bất mãn đã vượt qua điểm giới hạn (tipping point). Dân chúng cầm quà của Maduro, cười cảm ơn, rồi đi vào buồng phiếu gạch tên phe đối lập.
Phe đối lập tuy chỉ giành được khoảng 56% phiếu phổ thông nhưng nhờ cái hệ thống bầu cử kỳ dị được thiết kế để giúp PSUV luôn giành chiến thắng đã quay ngược nòng súng lại giúp MUD chiếm được tới 112 trên 167 ghế (tức 67% số ghế - Đa số siêu đẳng). Với 2/3 số ghế này, MUD về lý thuyết có quyền sa thải Phó Tổng thống, thay đổi Hiến pháp và bổ nhiệm lại Tòa án Tối cao.
Theo Hiến pháp Venezuela, Quốc hội nắm cái “túi tiền”. Mọi khoản ngân sách quốc gia, mọi hợp đồng vay nợ nước ngoài, và quan trọng nhất là việc giám sát Tập đoàn Dầu khí PDVSA đều phải qua Quốc hội phê duyệt. Khi phe đối lập nắm quyền kiểm soát Quốc hội vào cuối năm 2015, họ tuyên bố sẽ mở hồ sơ điều tra tham nhũng ở PDVSA và chặn mọi khoản vay vô lý của Maduro. Điều này đồng nghĩa với việc Maduro bị “khóa van tiền”. Hắn không thể rút ruột ngân sách một cách hợp pháp được nữa vì bị Quốc hội soi từng đồng.
Đứng trước nguy cơ bị bóp nghẹt dòng tiền và nỗi sợ hãi bị phe quân đội-an ninh lật đổ mình, Maduro buộc phải tìm một “cái ví đen” nằm ngoài sự kiểm soát của pháp luật và Hiến pháp. Hắn cần một nguồn tiền mà Quốc hội không thể sờ tới, không thể kiểm toán, và không cần báo cáo.
Đột nhiên trong Cung điện Miraflores, Maduro nhìn lên bản đồ về phía Nam đất nước, nơi có những cánh rừng Amazon bạt ngàn rộng hơn cả Bồ Đào Nha chiếm đến 12% lãnh thổ quốc gia. Nơi này quá giàu tài nguyên để đào tận gốc trốc tận rễ mọi thứ có thể bán được: vàng, kim cương, coltan (nguyên liệu làm điện thoại). Ý tưởng về Arco Minero del Orinoco (Vành đai Khoáng sản) ra đời như một giải pháp cứu cánh cái ghế đang rung lắc dữ dội của Maduro. Thay vì mở công ty khai thác, đấu thầu đàng hoàng thì hắn ta dâng toàn bộ vùng đất này cho băng đảng Cártel de los Soles (Băng đảng Những mặt trời) gồm những tướng lĩnh tham nhũng và bọn tội phạm ma túy, đào vàng vào đào xúc bán múc cánh rừng nguyên thủy này.
Tháng 1/2016, Maduro dùng Tòa án Tối cao (TSJ) – vốn là sân sau của hắn - tước quyền 3 nghị sĩ đối lập rồi tuyên bố bố Quốc hội bị “coi thường pháp luật” (in contempt / desacato). Kể từ đó, Tòa án Tối cao cho phép Maduro tự cai trị bằng các “Sắc lệnh Khẩn cấp Kinh tế” mà không cần thông qua Quốc hội.
Maduro tự ký sắc lệnh thành lập Vùng Arco Minero nhưng thực ra đang ký tờ séc trắng cho giới tướng lĩnh quân đội tự ý điền số tiền tham lam muốn có được thông qua thành lập một công ty quân đội có tên là CAMIMPEG (Công ty Quân đội về Công nghiệp Mỏ, Dầu và Khí) vào tháng 2/2016. Một cách để mua chuộc lòng trung thành điển hình khi không còn đôla để trả lương cao mà quay sang bảo:
Tao không còn tiền nhiều nữa nhưng có cái mỏ vàng này tha hồ mà xuống tự kiếm ăn
Nhờ Cuộc khủng hoảng biên giới tháng 8/2015 với Colombia, Maduro đột ngột đóng cửa biên giới, trục xuất hàng ngàn người người Colombia và tuyên bố tình trạng khẩn cấp ở các bang biên giới (nơi có mỏ vàng). Lý do bề mặt là “chống buôn lậu”, nhưng thực chất đây là đợt quân sự hóa vùng biên giới để dọn đường cho các hoạt động ngầm. Việc đóng cửa biên giới giúp quân đội Venezuela kiểm soát độc quyền các luồng hàng hóa ra vào.
Quân đội Venezuela thay vì bảo vệ biên giới, đã chuyển sang làm bảo kê cho các mỏ vàng. Các chốt kiểm soát quân sự mọc lên như nấm, không phải để bắt tội phạm, mà để thu tô thuế từ bất cứ ai ra vào khu vực mỏ.
Vì đám này lười biếng cũng như không biết đào vàng nên chúng cần đến nhân công và những kẻ đốc công dưới hầm lò. Maduro và đám tướng lĩnh đã mời gọi các nhóm du kích Colombia (như ELN và tàn quân FARC) và các băng đảng tội phạm trong nước (gọi là Sindicatos hay Pranatos) vào làm “nhà thầu phụ”. Quân đội đứng vòng ngoài thu tiền phế, còn bọn ELN và Sindicatos đứng vòng trong, dùng súng AK để ép dân nghèo, trẻ em và người bản địa xuống đào đất tìm vàng.
Tại sao lại là ELN? Vì bọn này có kỷ luật sắt và kinh nghiệm quản lý vùng chiến sự tốt hơn đám băng đảng tự phát. Quân đội Venezuela thậm chí còn cung cấp vũ khí và tình báo để ELN tiêu diệt các băng nhóm đối lập, thiết lập một trật tự ngầm tàn bạo để dòng vàng chảy ổn định. Các vụ thảm sát như vụ Tumeremo năm 2016, nơi hàng chục thợ mỏ bị giết và ném xuống hố chôn tập thể, chính là kết quả của những cuộc tranh giành lãnh địa này dưới sự làm ngơ (hoặc tiếp tay) của quân đội
Rừng Amazon bị cạo trọc, các dòng sông nhiễm thủy ngân khiến người dân bản địa bị ngộ độc và chết dần chết mòn. Bệnh sốt rét bùng phát dữ dội từ các hố khai thác đọng nước và lan ra cả châu lục.
Quy trình “rửa vàng” để biến thành ngoại tệ nuôi chế độ diễn ra cực kỳ tinh vi. Vàng sau khi được đãi bằng thủy ngân độc hại (phá hủy hoàn toàn hệ sinh thái sông nước) sẽ được quân đội thu gom và chở về Caracas bằng máy bay trực thăng.
Từ đây, Ngân hàng Trung ương Venezuela (BCV) sẽ đóng dấu, biến số vàng máu này thành vàng dự trữ quốc gia, hoặc bán chui ra nước ngoài.
Do bị Mỹ cấm vận, Maduro không thể bán vàng qua các kênh chính thống London hay New York. Hắn thiết lập một “con đường tơ lụa vàng” (Gold Rote) sang Thổ Nhĩ Kỳ và UAE (Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất).
Trong vụ bê bối “Vàng đổi Thức ăn” với Thổ Nhĩ Kỳ năm 2018 đã làm bại lộ một cầu hàng không bí mật được thiết lập giữa hai thủ đô Caracas và Istanbul. Những chuyến bay tư nhân và cả của hãng hàng không quốc gia Conviasa cất cánh trong đêm mang theo hàng tấn vàng thỏi được đúc thô sơ từ các mỏ Arco Minero.
Điểm đến của chúng là các nhà máy tinh chế vàng ở Thổ Nhĩ kỳ, điển hình là công ty Sardes chỉ mới được thành lập vài tháng với số vốn 1 triệu USD nhưng lại thực hiện giao dịch bất thường 1 tỷ USD vàng từ Venezuela. Nhiệm vụ của Sardes là nấu chảy số vàng bẩn, đúc lại thành vàng thỏi tiêu chuẩn quốc tế (Bulion) để xóa sạch dấu vết nguồn gốc, biến vàng lậu thành vàng sạch có thể giao dịch trên thị trường thế giới.
Sau khi vàng được bán thành tiền (thường là Euro để né lệnh trừng phạt bằng USD của Mỹ), số tiền đó không được chuyển khoản về ngân hàng Venezuela một cách minh bạch.
Một phần lớn được dùng để mua cái gọi là hộp cứu trợ CLAP” (Comités Locales de Abastecimiento y Producción). Alex Saab – một doanh nhân người Colombia, cánh tay hòm chìa khóa của Maduro - nhận tiền từ việc bán vàng, sau đó đi lùng sục khắp Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ để mua các loại thực phẩm rẻ tiền nhất, quá hạn sử dụng, hoặc không đạt chuẩn dinh dưỡng. Hắn mua sữa bột nhưng thực chất là bột đá vôi pha hương liệu, mua đậu đen cứng như đá, mua mỳ gói kém chất lượng với giá rẻ mạt như cho. Nhưng khi xuất hóa đơn về cho chính phủ Venezuela, hắn kê khống giá lên gấp 10, gấp 20 lần. Sự chênh lệch khổng lồ giữa “vàng thật” và “thức ăn giả” chính là khoản lợi nhuận siêu ngạch chảy vào túi riêng của Maduro và đám tướng lĩnh.
Những hộp thức ăn này không được phát miễn phí hoàn toàn, mà được dùng như một công cụ tống tiền chính trị (political blackmail). Ai có thẻ đảng, ai đi bầu cho Maduro, ai không tham gia biểu tình mới được nhận hộp. Người dân Venezuela lúc đó đang chết đói, họ không có lựa chọn nào khác ngoài việc nuốt nhục, cầm cái hộp chứa đầy bột sữa giả đó về cho con uống để cầm hơi. Các xét nghiệm hóa học từ Đại học Trung tâm Venezuela và cả các phòng lab ở Mexico sau này đã chứng minh rằng loại sữa bột trong hộp CLAP này có hàm lượng dinh dưỡng gần như bằng không, trẻ con uống vào chỉ bị tiêu chảy và suy dinh dưỡng nặng hơn. Maduro đã đổi vàng ròng của đất nước lấy rác rưởi để nhét vào mồm dân chúng, vừa kiểm soát cái dạ dày của họ, vừa kiếm lời từ sự thống khổ đó.
Phần tiền mặt còn lại sau khi trừ đi chi phí mua đồ ăn được chuyển ngược về Caracas trong các chuyến bay bí mật ước tính khoản vài trăm triệu Euro tiền mặt đóng trong các pallet gỗ rồi chở thẳng về căn cú quân sự như Fuerte Tiuna. Tại đây, Maduro dùng nó để trả lương, thưởng nóng cho đám tướng lĩnh chóp bu, những kẻ nắm giữ xe tăng và súng đạn. Trong một nền kinh tế mà đồng nội tệ đã thành giấy lộn, thì một xấp Euro tươi là thứ duy nhất đảm bảo lòng trung thành. Các tướng lĩnh nhận tiền, ngậm miệng ăn tiền, và tiếp tục nhắm mắt làm ngơ cho Maduro phá nát đất nước. Đó là lý do tại sao dù dân có biểu tình rợp trời, quân đội vẫn không bao giờ quay súng: Vì cái dòng tiền từ “Vàng đổi Thức ăn” này chưa bao giờ bị cắt.
Từ vàng máu đến ma túy, con đường làm ăn của chế độ này chưa dừng lại. Tuy Venezuela không trồng nhiều cây cocain nhưng lại nằm cạnh tam giác Andes cung cấp nguồn cung ma túy nhiều nhất thế giới: Colombia (chiếm 61% sản lượng toàn cầu năm 2024), Peru (26%) và Bolivia (13%).
Đám Cartel de los Soles được dung dưỡng từ thời Chávez vẫn tồn tại tiếp tục mở toang biên giới để hàng trắng từ Colombia chảy sang rồi dùng sân bay quốc tế Maiquetía (Simón Bolívar) ở Caracas chở sang Mỹ và châu Âu tiêu thụ. Lực lượng chịu trách nhiệm canh gác biên giới và sân bay chính là Guardia Nacional Bolivariana (Vệ binh Quốc gia) – nòng cốt của băng đảng này.
Ngay tại sân bay Maiquetía, hàng trắng được đóng thành từng kiện hàng lớn dán nhãn “ngoại giao” hoặc hàng hóa ưu tiên rồi được chính xe của Guardia Nacional Bolivariana chở thẳng ra đường băng, bốc lên máy bay thương mại hoặc máy bay tư nhân trước mũi hàng nghìn hành khách.
Khi một chiếc máy bay chở đầy ma túy cất cánh từ căn cứ không quân hoặc sân bay quốc tế, chính rada quân sự sẽ được lệnh “tắt điện” hoặc quay đi chỗ khác trong vài tiếng đồng hồ.
Trong vụ bê bối năm 2013, một chuyến bay của Air France hạ cánh xuống Paris từ Caracas mang theo 1,3 tấn cocaine (trị giá hơn 270 triệu USD) được xếp gọn gàng trong 31 cái vali sặc sỡ mà không hề có tên hành khách.
Làm sao 1,3 tấn hàng lọt qua được máy soi, chó nghiệp vụ và hải quan nếu không phải là cả cái sân bay đó đã được lệnh “nhắm mắt làm ngơ”? Vụ đó làm lộ ra rằng sân bay Maiquetía thực chất là trạm trung chuyển ma túy an toàn nhất thế giới dưới sự bảo trợ của chính phủ Caracas.
Ngay sau khi vụ việc vỡ lở ở Pháp (cảnh sát Pháp đã bắt giữ 6 người liên quan đến mafia Ý ‘Ndrangheta), Maduro ở nhà buộc phải diễn vai “người bị hại”. Hắn gào lên rằng đây là âm mưu bôi nhọ. Nhưng dưới áp lực quốc tế, chính quyền Venezuela phải bắt giữ khoảng 20 người. Những kẻ bị bắt toàn là tép riu: một vài nhân viên bốc xếp hành lý, một trung tá quèn phụ trách an ninh sân bay, và vài nhân viên hãng Air France.
Còn những “Ông trùm Mặt trời” (các tướng lĩnh cao cấp chỉ đạo GNB) thì sao? Vẫn bình chân như vại, thậm chí còn được thăng chức.
Trong vụ “Narco-Nephews” (Những đứa cháu buôn ma túy) năm 2015, hai đứa cháu ruột của vợ Maduro tên là Efraín Campo Flores và Franqui Francisco Flores đã bị DEA (Cơ quan phòng chống ma túy Mỹ) tóm sống tại Haiti khi đang cố gắng chốt deal vận chuyển 800kg cocaine vào Mỹ. Trong các đoạn băng ghi âm, hai thằng công tử bột này khoe khoang rằng chúng nó có thể sử dụng nhà chứa máy bay riêng của Tổng thống (Presidential Hangar) tại sân bay Maiquetía để xuất hàng thoải mái mà không ai dám kiểm tra. Chúng nó khẳng định tiền bán ma túy là để tài trợ cho chiến dịch tranh cử của bà dì Cilia.
Vì đám tướng lĩnh đã dính chàm, sóng giàu nứt vách nên chúng lúc nào cũng sợ hãi việc tài sản bị tịch thu, đóng băng tài sản ở các ngân hàng New York, London và bị dẫn độ trong cái áo tù màu cam nên chúng sẽ bảo vệ chế độ Maduro đến chết bấp chấp chĩa nòng súng vào người dân không một tấc sắt trong tay.
Cartel de los Soles biến Venezuela thành một “Narco-state” (Nhà nước ma túy) đúng nghĩa. Ở đây, Bộ trưởng Nội vụ quản lý đường dây buôn lậu, tướng quân đội điều hành vận tải, và sân bay quốc tế là kho hàng riêng. Chúng còn không sợ pháp luật khi chính mình đã nắm trong tay cây búa công lý. Kể từ năm 2016-2017, nước Mỹ dưới nhiệm kỳ đầu tiên của Trump đéo còn nhân nhượng cho Narco-state nữa bắt đầu can thiệp với danh nghĩa “bảo vệ tự do dân chủ và nhân quyền”.
Mỹ áp lệnh trừng phạt dầu mỏ (2016-2018)
Phe đối lập sau khi thắng lớn chiếm 2/3 quốc hội bắt đầu lôi điều 233 hiến pháp mà Chávez ra để chơi đòn “Trưng cầu dân ý bãi nhiệm” (Recall Referendum):
Nếu Tổng thống bị bãi nhiệm qua trưng cầu dân ý trong 4 năm đầu của nhiệm kỳ (tức là trước ngày 10/1/2017), thì bắt buộc phải tổ chức một cuộc bầu cử Tổng thống mới trong vòng 30 ngày
Lúc đó, với tỷ lệ ủng hộ chỉ còn khoảng 20%, Maduro chắc chắn sẽ thua đứt đuôi và phe đối lập sẽ lên nắm quyền ngay lập tức. Nhưng, nếu việc bãi nhiệm diễn ra trong 2 năm cuối của nhiệm kỳ (tức là sau ngày 10/1/2017), thì Tổng thống bị phế truất nhưng Phó Tổng thống sẽ lên thay thế cho đến hết nhiệm kỳ. Mà Phó Tổng thống là ai? Là đệ tử ruột do Maduro bổ nhiệm (lúc đó là Aristóbulo Istúriz, sau này là Tareck El Aissami). Nghĩa là dù dân có bỏ phiếu đuổi cổ Maduro, thì ghế Tổng thống vẫn thuộc về đảng PSUV, vẫn là bình mới rượu cũ, chế độ vẫn y nguyên.
Phe đối lập lại tưởng Maduro sẽ chơi đúng luật, thu thập được 2 triệu chữ ký chỉ trong vài ngày, khí thế hừng hực. Tibisay Lucena – bà trùm Hội đồng Bầu cử (CNE) biết thừa cái hạn chót ngày ngày 10 tháng 1 năm 2017 đã cố tình chơi câu giờ bắt dân đi lăn tay xác nhận lại i (quy trình revalidation), rồi soi từng nét chữ ký. Mục đích duy nhất là kéo dài thời gian qua cái mốc trên.
Đến tháng 10/2016 phe đối lập vẫn kiên trì bám đuổi mục phế truất Maduro, Tibisay Lucena chơi lật bàn hủy bỏ toàn bộ quy trình kiểm phiếu với lý do gian lận chữ ký ở vài bang lẻ tẻ: chặn đứng nguy cơ bầu cử sớm, đẩy phe đối lập vào thế đã rồi.
Để phản ứng lại việc gian lận bầu cử trắng trợn, ngày 1/9/2016 phe đối lập tổ chức cuộc biểu tình “Toma de Caracas” (Chiếm lấy Caracas) với hơn 1 triệu người đổ về thủ đô với khí ngút trời, sẵn sàng lật đổ chế độ ngay lập tức. Maduro run sợ, quân đội dao động. Nhưng thay vì ra lệnh cho đám đông tiến về dinh Miraflores để gây sức ép tối đa buộc CNE phải nhả ra cái lịch trưng cầu dân ý, thì lãnh đạo MUD lại... giải tán đám đông và kêu gọi “đối thoại”.
Maduro mời Vatican và Giáo hoàng Francis vào làm trung gian hòa giải. Phe đối lập vì muốn giữ hình ảnh “dân chủ, hòa bình” trước quốc tế nên đã đồng ý ngồi vào bàn đàm phán, tạm dừng biểu tình để thể hiện thiện chí. Chính trong lúc phe đối lập đang uống cà phê với các sứ giả Vatican, thì Tòa án và CNE của Maduro ở cửa sau đã âm thầm ký lệnh khai tử cuộc trưng cầu dân ý
Khi phe đối lập nhận ra mình bị lừa thì đã quá muộn: Đám đông 1 triệu người đã về nhà, lửa nhiệt huyết đã tắt, và cơ hội lật đổ hợp pháp cuối cùng đã trôi qua kẽ tay. Người dân nhận ra rằng: Ký tên cũng vô ích, biểu tình ôn hòa cũng vô ích, và Hiến pháp chỉ là tờ giấy lộn trong tay kẻ cầm súng.
Nhận thấy nếu để phe đối lập còn ngồi trên quốc hội ngày nào, mình còn bị trói tay, săm soi các khoản thu chi mờ ám cho đám tướng lĩnh tham nhũng, Maduro quyết định biến Venezuela từ một thể chế lai căng (hybrid regime) thành một chế độ độc tài toàn trị.
Nhờ chiêu bài “Khinh thường Tòa án” (Desacato) năm 2015 mà Tòa án Tối cao (TSJ) đã vô hiệu hóá mọi văn bản, mọi đạo luật do Quốc hội thông qua khiến cho các nghị sĩ đi làm, đi họp, gõ búa nhưng văn bản ban hành không ai trong hệ thống hành pháp chịu thi hành. Maduro biết thừa mình không lật lại chiêu của Chávez khi lập ra “Hội đồng lập hiến” năm 1999 vì mức ủng hộ chỉ còn 30%. Hắn tự kích kích hoạt Điều 348 Hiến pháp theo cách hiểu méo mó của hắn, tuyên bố:
“Tao quyết định lập Hội đồng lập hiến (ANC), tụi bay chỉ việc đi bầu người thôi”.
Maduro tạo ra cái gọi là “Bầu cử theo khu vực và theo ngành nghề” (Sectoral voting). Thay vì bầu trực tiếp p, hắn chia cử tri thành các nhóm: Nông dân, Sinh viên, Công nhân, Hưu trí... nhưng các hội nhóm này đều đã bị kiểm soát bởi hệ thống đảng trị PSUV. Mày muốn bầu ở nhóm “Công nhân”, mày phải là thành viên công đoàn nhà nước. Cách chia ghế này đảm bảo phe đối lập không có cửa chen chân vào.
Cuộc bầu cử cho cái Quốc hội Lập hiến này vào tháng 7/2017 là một trò hề trơ trẽn nhất lịch sử bầu cử thế giới. Không có quan sát viên quốc tế, phe đối lập tẩy chay.
Chính công ty Smartmatic (công ty cung cấp máy bỏ phiếu điện tử cho Venezuela suốt từ thời Chávez) đã phải tổ chức họp báo ở London để tố cáo: “Con số cử tri đi bầu đã bị thổi phồng ít nhất 1 triệu người”. Tức là máy báo có 10 người đi bầu, nhưng CNE công bố 20 người. Smartmatic còn phải chạy trốn vì sợ bị trả thù sau khi lên tiếng tố cáo.
Kết quả là 545 thành viên của ANC 2017 100% là người của đảng PSUV, bao gồm cả vợ và con trai Maduro. Nó là một cuộc họp chi bộ đảng mở rộng chứ không phải Quốc hội.
Ngay trong ngày ra đời, ANC chiếm luôn phòng họp chính của tòa nhà quốc hội làm phe đối lập vốn dĩ chiếm đa số bị đuổi sang một phòng họp nhỏ hơn hoặc đi thuê hội trường bên ngoài. Cảnh tượng buồn cười lúc này khi cùng một cùng tòa nhà mà có hai quốc hội. Một cái (ANC) thì toàn người mặc áo đỏ, vỗ tay rầm rập thông qua mọi lệnh của Maduro. Cái kia (AN) thì họp chui lủi, ra nghị quyết lên án nhưng chẳng ai quan tâm. Các nghị sĩ (AN) bị cắt toàn bộ ngân sách không được trả lương, tiền điện, nước giấy mực. Có lúc bị cắt điện phải họp trong bóng tối hoặc bị đám lính lính Vệ binh Quốc gia chặn cửa không cho vào tòa nhà Palacio Federal Legislativo. Thậm chí, đám Colectivos còn được thả vào sân tòa nhà để ném pháo và đánh nghị sĩ máu me be bét.
Trong suốt 3 năm tồn tại (2017-2020), ANC không viết nổi một dòng hiến pháp nào mới. Mục đích thực sự của nó không phải là “Lập hiến” (viết luật), mà là một cơ quan “Siêu quyền lực” (Supra-constitutional). Maduro tuyên bố ANC đứng trên tất cả: Đứng trên Tổng thống (giả vờ khiêm tốn), đứng trên Tòa án, và quan trọng nhất là đứng trên Quốc hội do dân bầu (ai mà chả biết dân ở đây là Chavista).
Việc đầu tiên ANC làm là thanh trừng kẻ phản bội nguy hiểm nhất: Tổng chưởng lý Luisa Ortega Díaz. Bà này vốn là một Chavista gộc, từng trung thành tuyệt đối với Chávez, nhưng khi thấy Maduro phá nát hiến pháp để lập ra cái ANC quái thai này, bà đã lên tiếng tố cáo là “hủy hoại hiến pháp” . Maduro cay bà này tận xương tủy vì bà nắm giữ quyền khởi tố.
Ngày 5/8/2017, ANC ra nghị quyết sa thải bà Díaz ngay lập tức, phong tỏa tài sản và cấm xuất cảnh. Bà phải trốn chui trốn lủi sang Colombia bằng cano cao tốc để giữ mạng. Việc trảm tướng ngay ngày khai mạc là lời cảnh cáo đanh thép của Maduro gửi tới toàn bộ hệ thống:
“Đến Tổng chưởng lý tao còn trảm được thì tụi nghị sĩ đối lập chúng mày là cái thá gì”
Sau khi giải quyết xong cái gai trong mắt, ANC ra một sắc lệnh tuyên bố ANC có quyền lực tối thượng (plenipotentiary), yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước phải phục tùng. Khi Quốc hội đối lập từ chối phục tùng, ANC liền ban hành luật tước bỏ mọi quyền lập pháp của Quốc hội này.
Chưa hết, nó còn lập ra cái gọi là “Ủy ban Sự thật” (Truth Commission) do bà trùm Delcy Rodríguez (giờ đang là Tổng thống lâm thời sau khi Maduro bị bắt cóc) cầm đầu. Ủy ban này chuyên đi triệu tập các thủ lĩnh biểu tình năm 2017, các nghị sĩ đối lập lên để “điều tra” về trách nhiệm gây ra bạo loạn. Ai bị Ủy ban này gọi tên thì xác định là vào tù hoặc phải chạy vào đại sứ quán xin tị nạn. Nó biến việc làm chính trị đối lập thành tội phạm hình sự khủng bố
Cuối năm 2017, ANC thông qua “Luật Chống Thù hận” (Law Against Hatred) quy định bất cứ ai “kích động thù hận” (một khái niệm mơ hồ do ANC tự định nghĩa) có thể bị tù đến 20 năm.
Mày lên Facebook chửi Maduro? Đi tù.
Mày là nghị sĩ phát biểu chỉ trích chính sách kinh tế? Đi tù.
Các phương tiện truyền thông bị đóng cửa hàng loạt, các đài phát thanh bị rút giấy phép nếu dám phỏng vấn phe đối lập. Nhờ cái luật này, ANC đã tước quyền miễn trừ của hàng loạt nghị sĩ chủ chốt như Freddy Guevara (Phó chủ tịch Quốc hội), Julio Borges (Chủ tịch Quốc hội), ép họ phải sống lưu vong. Nó chặt đứt đầu não của phe đối lập, khiến phong trào như rắn mất đầu, tan tác chim muông
Đoán xem phản ứng của chính quyền Trump lúc này thế nào? Trump ký sắc lệnh trừng phạt tài chính (Executive Order 13808) với tên “Áp đặt các lệnh trừng phạt bổ sung liên quan đến tình hình ở Venezuela”“ nhằm cấm các ngân hàng Mỹ cho chính phủ Venezuela và PDVSA vay tiền mới, cấm giao dịch trái phiếu.
Năm 2016, vì đói tiền quá, Maduro đã làm một việc ngu xuẩn là thế chấp 49,9% cổ phần của Citgo (công ty con của PDVSA) – một mạng lưới lọc dầu và trạm xăng khổng lồ ngay trên đất Mỹ - cho tập đoàn dầu khí Rosneft của Nga để vay 1,5 tỷ USD. Washington D.C nhảy dựng lên vì sợ. Nếu Maduro vỡ nợ (mà chắc chắn là sắp vỡ), Nga sẽ tịch thu số cổ phần này và đường đường chính chính sở hữu cơ sở hạ tầng năng lượng chiến lược ngay trong lòng nước Mỹ.
Ngoại trưởng Mỹ năm 2017 - Rex Tillerson là CEO của ExxonMobil. Và kẻ thù không đội trời chung của Exxon chính là Venezuela. Năm 2007, Chávez đã quốc hữu hóa (cướp trắng) các dự án dầu khí tỷ đô của Exxon tại vành đai Orinoco. Rex Tillerson chưa bao giờ nuốt trôi cục tức này.
Khi lên nắm quyền ngoại giao, lão muốn dùng quyền lực nhà nước để siết cổ PDVSA, ép Venezuela phải nôn tiền bồi thường hoặc sụp đổ để các tập đoàn dầu khí Mỹ có cơ hội quay lại “chia lại bài”. Lệnh trừng phạt tài chính năm 2017 chặn đường tiếp cận vốn của PDVSA chính là đòn thù cá nhân được hợp pháp hóa thành chính sách quốc gia. Nó gửi thông điệp:
“Mày cướp của ông, giờ ông chặn đường sống của mày”
Ngoài ra Marco Rubio - lúc này còn đang là Thượng nghị sĩ bang Florida muốn tái đắc cử đã rỉ tai vào tai Trump:
“Nếu ngài đấm Maduro, ngài sẽ thắng bang Florida”.
Vì Florida là bang chiến trường (swing state) quan trọng nhất, nơi có cộng đồng người Cuba và Venezuela lưu vong cực kỳ đông đảo và căm thù chủ nghĩa xã hội
Còn ở Mỹ Latin “Thủy triều hồng” (Pink Tide - phe cánh tả) đang chết yểu. Năm 2015, Argentina bầu Mauricio Macri (thân Mỹ). Năm 2016, Brazil phế truất Dilma Rousseff và đưa Michel Temer (cánh hữu) lên. Cả châu lục đang xoay trục về phía Mỹ. Washington nhìn thấy cơ hội ngàn năm có một để tái khẳng định Học thuyết Monroe: Quét sạch tàn dư cuối cùng của trục Cuba-Venezuela để biến Mỹ Latinh thành sân sau ngoan ngoãn trở lại.
Trong sắc lệnh có sự khác biệt cần được nhìn nhận rõ ràng giữa “Giao dịch thương mại” (mua dầu) và “Giao dịch tài chính” (vay nợ). Khi Mỹ mua dầu của Venezuela, đó là giao dịch “tiền trao cháo múc”. Tàu dầu cập cảng Texas, công ty Mỹ (như Valero hay Chevron) trả tiền mặt (cash) cho PDVSA. Năm 2017 vẫn chưa bị cấm vì các nhà máy lọc dầu ở vùng vịnh vẫn còn hoạt động. Nếu thiếu dầu Venezuela ngay lập tức các nhà máy Mỹ sẽ thiếu nguyên liệu, giá xăng ở Mỹ sẽ tăng vọt, và Trump sẽ mất phiếu của dân Mỹ trong bầu cử giữa nhiệm kỳ.
Trò Cấm vay nợ mới (No New Debt) là đòn đánh vào tử huyệt của mô hình “giật gấu vá vai” mà Maduro đang chơi. Maduro giống như một con nợ khát nước đang cầm thẻ tín dụng. Đến hạn trả nợ cũ (ví dụ 1 tỷ USD), hắn không có tiền mặt. Cách hắn hay làm là phát hành trái phiếu mới (vay nợ mới) với lãi suất cao cắt cổ để lấy tiền trả cho nợ cũ. Đây gọi là “đảo nợ” (refinancing/rolling over debt). Phố Wall rất thích trò này vì lãi suất trái phiếu Venezuela cao ngất ngưởng. Tháng 5/2017, ngân hàng Goldman Sachs đã mua chui 2,8 tỷ USD trái phiếu PDVSA với giá rẻ mạt (giảm giá 70%) để kiếm lời cắt cổ.
Nhưng lệnh trừng phạt 2017 của Trump đã ra lệnh cấm các ngân hàng và quỹ đầu tư Mỹ mua bất kỳ trái phiếu mới nào của chính phủ Venezuela hoặc PDVSA có kỳ hạn trên 30-90 ngày.
Điều này khiến chính phủ Maduro bị cắt khả năng đảo nợ.Khi nợ cũ đến hạn, hắn không thể vay mới để trả. Hắn buộc phải móc tiền túi (tiền mặt thu được từ bán dầu) ra để trả nợ gốc. Mà tiền mặt thì đang khan hiếm để nhập khẩu thức ăn. Trump đã ép Maduro vào thế kẹt: Hoặc là lấy tiền bán dầu trả nợ cho phố Wall để giữ uy tín tài chính, hoặc là lấy tiền đó mua thức ăn cho dân. Và dĩ nhiên, Maduro đã chọn trả nợ cho tư bản nước ngoài để tránh bị tịch thu tài sản quốc tế, mặc kệ dân trong nước chết đói. Chính lệnh trừng phạt này đã làm cạn kiệt nguồn ngoại tệ dự trữ của Venezuela nhanh khủng khiếp.
Mục đích thực sự của Washington D.C lúc này rất rõ ràng: Họ muốn tạo ra một cuộc vỡ nợ kỹ thuật (technical default) có kiểm soát. Họ biết Maduro không thể trả mãi được. Khi không vay được mới, sớm muộn gì Maduro cũng cạn tiền mặt và vỡ nợ. Khi vỡ nợ, uy tín sụp đổ, các chủ nợ quốc tế sẽ quay lưng, lúc đó chế độ sẽ tự sụp từ bên trong vì không còn tiền nuôi quân đội. Trump chưa muốn dùng “dao mổ trâu” (cấm vận dầu mỏ toàn diện) ngay năm 2017 vì sợ ảnh hưởng kinh tế Mỹ, nên hắn dùng “dây thừng” (cấm vận tài chính) để siết cổ từ từ.
Ngày 2/11/2017, Maduro lên truyền hình, mặt mũi bơ phờ, tuyên bố rằng Venezuela sẽ tiến hành “tái cơ cấu và tái cấp vốn” (restructuring and refinancing) cho toàn bộ khoản nợ nước ngoài khổng lồ (ước tính khoảng 150 tỷ USD). Ngay sau đó, hắn mời các chủ nợ quốc tế đến Caracas dự một cuộc họp vào ngày 13/11.
Các nhà đầu tư từ New York, London bay đến với hy vọng nghe được một kế hoạch trả nợ cụ thể. Nhưng mày biết chuyện gì xảy ra không? Đó là một vở hài kịch.
Maduro và Phó Tổng thống Tareck El Aissami (người đang bị Mỹ truy nã vì ma túy) bước vào phòng, phát biểu 30 phút chửi bới Mỹ, than nghèo kể khổ, rồi... tặng cho mỗi chủ nợ một túi sô-cô-la Venezuela sặc sỡ và mời họ ra về. Không có kế hoạch, không có cam kết, chỉ có sô-cô-la.
Ngay lập tức, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm như S&P và Fitch tuyên bố Venezuela rơi vào trạng thái “Vỡ nợ chọn lọc” (Selective Default) vì đã chậm trả lãi suất quá hạn cho các lô trái phiếu PDVSA và trái phiếu chính phủ.
Maduro chơi rất điếm. Hắn bùng nợ gần như tất cả các loại trái phiếu, TRỪ một loại duy nhất: Trái phiếu PDVSA 2020. Tại sao lô này lại được ưu ái trả tiền đến tận những giây phút cuối cùng? Vì tài sản thế chấp cho lô trái phiếu này chính là 50,1% cổ phần của Citgo (công ty con của PDVSA tại Mỹ). Nếu Maduro bùng nợ lô này, các chủ nợ sẽ ngay lập tức tịch thu Citgo – con bò sữa duy nhất còn lại. Thế nên, trong khi các chủ nợ khác khóc ròng, thì chủ nợ của PDVSA 2020 vẫn nhận được tiền.
Hệ quả của vụ vỡ nợ này là Venezuela bị biến thành một “quốc gia hủi” (pariah state) trên thị trường tài chính. Không ai dám cho vay thêm một xu. Các tàu chở dầu của PDVSA bị các chủ nợ rình rập khắp các cảng biển quốc tế để bắt nợ (giống như vụ tàu dầu bị tịch thu ở vùng biển Caribbean). Vụ vỡ nợ đã kích hoạt hàng loạt vụ kiện tụng quốc tế. Các công ty bị Venezuela cướp tài sản trước đây như ConocoPhillips, Crystallex, và các quỹ đầu cơ (vulture funds) bắt đầu lao vào xâu xé xác chết PDVSA. Họ kiện lên tòa án Mỹ để đòi tịch thu tài sản của Venezuela ở nước ngoài đền bù. Venezuela rơi vào tình trạng “pháp lý zombie”: Chính phủ thì vẫn tồn tại, nhưng tài sản ở nước ngoài thì bị đóng băng hoặc bị chủ nợ săn đuổi gắt gao.
Từ sau 2017, Venezuela đã ngừng trả nợ hoàn toàn (trừ các khoản trả cho Nga và Trung Quốc bằng dầu). Khoản nợ tích lũy cả gốc lẫn lãi phạt giờ đây đã lên tới con số không tưởng, khiến cho bất kỳ chính phủ nào sau này (kể cả phe đối lập có lên nắm quyền) cũng sẽ phải đối mặt với một gánh nặng tài chính không thể giải quyết nổi trong vòng 50 năm tới.
Cú “Giọt nước tràn ly” dẫn đến đòn cấm vận diện rộng diễn ra vào tháng 5 năm 2018. Maduro tổ chức bầu cử Tổng thống sớm. Nhưng thay vì đấu công bằng, hắn cấm các đối thủ mạnh nhất tranh cử, mua phiếu bằng thẻ lương thực, và thao túng kết quả trắng trợn.
Henrique Capriles bị cấm tranh cử vì lý do hành chính vớ vẩn. Leopoldo López thì đang ngồi tù. Các đảng phái lớn bị tước quyền tham gia. Chỉ còn lại Henri Falcón – một cựu Chavista ly khai – đóng vai “quân xanh” cho có vẻ dân chủ.
Trong ngày bầu cử 20/5/2018, ngay sát phòng bỏ phiếu, phe Maduro dựng các lều bạt đỏ, nơi cử tri sau khi bầu xong phải ra đó quét cái “Thẻ Tổ quốc” (Carnet de la Patria) - một vũ khí công nghệ cao mà Maduro đã nhờ tập đoàn ZTE của Trung Quốc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu. Nó chứa mọi thông tin của công dân: địa chỉ, nghề nghiệp, lịch sử bệnh tật, số người trong gia đình, và quan trọng nhất là lịch sử nhận trợ cấp. Maduro đã khôn khéo chuyển đổi toàn bộ hệ thống phúc lợi xã hội sang cái thẻ này.
Mày muốn mua bình gas giá rẻ? Quét thẻ.
Mày muốn nhận thuốc men? Quét thẻ.
Mày muốn nhận hộp thức ăn CLAP để con mày không chết đói? Quét thẻ.
Hắn đã tạo ra một phản xạ Pavlov cho người dân: Thẻ = Sự Sống. Đến ngày bầu cử, hắn chỉ việc thêm một biến số vào phương trình đó: Bầu cử + Quét thẻ = Được ăn. Những người già cả, nghèo đói không đi bầu vì họ yêu Maduro, họ đi bầu vì họ sợ nếu hệ thống máy tính không ghi nhận việc họ có mặt ở hòm phiếu, cái hộp thức ăn tháng sau sẽ bị cắt.
Cái không khí ngày 20/5/2018 đó thực sự là một sự sỉ nhục quốc thể. Các phóng viên quốc tế ghi nhận cảnh tượng bi hài: Các điểm bỏ phiếu vắng như chùa Bà Đanh, nhân viên ngồi ngáp ruồi đuổi muỗi. Tỷ lệ đi bầu thực tế theo quan sát độc lập chỉ khoảng 30% (thấp kỷ lục lịch sử), nhưng CNE của bà trùm Tibisay Lucena lại trơ trẽn công bố con số 46%.
Thậm chí, họ còn kéo dài thời gian bỏ phiếu thêm vài tiếng đồng hồ vào buổi chiều tối để lùa thêm người đi bầu, vi phạm luật bầu cử trắng trợn. Nhưng cái đáng sợ nhất là sự im lặng. Không có ăn mừng, không có pháo hoa thực sự từ lòng dân. Chỉ có sự cam chịu của những người vừa đổi lá phiếu lấy một túi bột ngô và sự giận dữ câm lặng của phần còn lại đất nước đang tẩy chay ở nhà.
Chính cái sự trơ trẽn vượt mọi giới hạn này đã kích hoạt Nhóm Lima (Lima Group). Đây là một liên minh chưa từng có tiền lệ gồm 14 quốc gia châu Mỹ (như Canada, Brazil, Argentina, Colombia, Peru...) được lập ra chỉ với một mục đích: Giải quyết khủng hoảng Venezuela.
Trước đây, các nước Nam Mỹ thường nể nang nhau theo nguyên tắc “không can thiệp nội bộ”. Nhưng nhìn thấy cảnh Maduro dùng thức ăn để cưỡng bức bầu cử, họ không chịu nổi nữa.
Tuyên bố của Nhóm Lima ngay sau ngày 20/5/2018 là một bản án tử hình về mặt ngoại giao: “Chúng tôi không công nhận kết quả này. Nhiệm kỳ mới của ông (bắt đầu từ 10/1/2019) là bất hợp pháp”. Đây chính là cơ sở pháp lý để sau này, khi ngày 10/1/2019 đến, họ đồng loạt rút đại sứ về nước.
Ngày Maduro chính thức làm lễ nhậm chức nhiệm kỳ 2, ngay khoảng khắc Maduro đặt tay lên Hiến pháp thề thốt, Quốc hội (do phe đối lập nắm giữ) tuyên bố: “Ghế Tổng thống đang bị bỏ trống (Power Vacuum / Usurpation)”. Tại sao? Vì cuộc bầu cử 2018 là bất hợp pháp, nên không có ai đắc cử cả.
Dựa vào cái lý luận “ghế trống” này, họ lôi ra Điều 233 của Hiến pháp. Điều này quy định rằng: Khi Tổng thống vắng mặt vĩnh viễn (hoặc chưa nhậm chức được), thì Chủ tịch Quốc hội sẽ tạm quyền làm Tổng thống Lâm thời để tổ chức bầu cử mới trong vòng 30 ngày. Và Chủ tịch Quốc hội lúc đó là ai? Là một chàng trai 35 tuổi, mặt búng ra sữa, tên là Juan Guaidó.
Juan Guaidó lúc đó gần như là con số không tròn trĩnh trong mắt công chúng. Hắn là một kỹ sư từ đảng Voluntad Popular, là đệ tử ruột của Leopoldo López (đang bị quản thúc). Hắn được đẩy lên làm Chủ tịch Quốc hội theo cơ chế xoay tua của các đảng đối lập. Nhưng chính cái sự “vô danh” đó lại là lợi thế: chưa có tì vết, chưa có kẻ thù, và có gương mặt tươi mới đại diện cho hy vọng. Washington và phe đối lập đã chọn hắn làm “Kẻ được chọn” (The Chosen One) để lật đổ Maduro.
Ngày 23/1/2019, hàng triệu người i đổ xuống đường phố Caracas để phản đối Maduro. Giữa biển người đó, Juan Guaidó leo lên một cái bục đơn sơ, giơ tay phải lên trời và tuyên thệ:
“Tôi xin thề đảm nhận quyền hạn của cơ quan hành pháp quốc gia với tư cách là Tổng thống tạm thời (Interim President) của Venezuela”.
Chỉ vài phút sau khi Guaidó dứt lời, Nhà Trắng đăng tweet chính thức: “Tổng thống Donald Trump công nhận Juan Guaidó là Tổng thống Lâm thời của Venezuela”.Nó nhanh đến mức ai cũng hiểu đây là một kịch bản đã được soạn sẵn.
Ngay lập tức, hiệu ứng domino xảy ra: Canada, Brazil, Colombia, Argentina, và sau đó là hàng loạt nước châu Âu (Anh, Pháp, Đức...) đồng loạt lên tiếng công nhận Guaidó. Tổng cộng gần 60 quốc gia coi Guaidó là lãnh đạo hợp pháp. Maduro bị cô lập hoàn toàn về mặt ngoại giao phương Tây.
Maduro phản ứng lại bằng sự giận dữ điên cuồng nhưng cũng đầy toan tính. Hắn cắt đứt quan hệ ngoại giao với Mỹ, đuổi hết nhân viên sứ quán Mỹ về nước trong 72 giờ. Nhưng hắn không dám bắt Guaidó ngay lúc đó. Tại sao? Vì Trump đã cảnh báo: “Nếu mày đụng đến một sợi tóc của Guaidó, hậu quả sẽ khôn lường”. Maduro sợ Mỹ can thiệp quân sự thật, nên hắn để cho Guaidó tự do đi lại, họp báo, diễu hành. Hắn chơi trò “mèo vờn chuột”, chờ cho Guaidó phạm sai lầm và chờ cho ngọn lửa nhiệt huyết của đám đông tàn lụi dần.
Về mặt pháp lý quốc tế, Guaidó nắm quyền kiểm soát các tài sản của Venezuela ở nước ngoài (như công ty Citgo ở Mỹ, kho vàng ở Anh). Nhưng về mặt thực tế trong nước, Maduro vẫn nắm cái quan trọng nhất: Súng. Guaidó có sự ủng hộ của phe đối lập yếu ớt và thế giới phương Tây, nhưng hắn không có quân đội. Hắn là một Tổng thống không có dinh thự (vẫn ở nhà riêng), không có quyền ra lệnh cho cảnh sát, và không thể bổ nhiệm bộ trưởng thực quyền.
Ngày 28/1/2019, Donald Trump quyết định chơi ván bài “tất tay” (all-in) để bóp chết Maduro ngay lập tức, chứ không còn dây dưa vờn chuột nữa. Trước đó, các lệnh trừng phạt chỉ nhắm vào cá nhân hoặc tài chính, nhưng lệnh trừng phạt PDVSA ngày hôm đó chính là đòn cắt đứt động mạch chủ của nền kinh tế Venezuela.
Trump không đơn thuần cấm các công ty Mỹ (như Chevron, Valero) mua dầu của Venezuela. Hắn ra lệnh rằng:
“Tụi bay vẫn được mua dầu, NHƯNG tiền trả dầu đó không được chuyển cho Maduro, mà phải chuyển vào một tài khoản phong tỏa (blocked account) do Mỹ kiểm soát, để dành cho chính phủ lâm thời của Juan Guaidó”.
Nếu Maduro tiếp tục xuất khẩu dầu sang Mỹ, hắn sẽ mất trắng số dầu đó mà không thu về được một xu nào, lại còn biếu tiền cho kẻ thù Guaidó. Vì thế, Maduro buộc phải tự tay cắt đứt dòng dầu sang Mỹ.
Mà mày phải biết, Mỹ là khách hàng duy nhất trả “tiền tươi thóc thật” (cash buyer). Trung Quốc và Nga cũng lấy nhiều dầu, nhưng họ lấy để trừ vào các khoản nợ khổng lồ từ trước. Mất thị trường Mỹ là Maduro mất đi nguồn tiền mặt duy nhất để trả lương cho quân đội và nhập khẩu thức ăn hàng ngày.
Phản ứng của Maduro lúc đó đúng là như gà mắc tóc. Hàng chục tàu chở dầu khổng lồ (VLCC) đang trên đường tới Mỹ phải quay đầu gấp, neo đậu bơ vơ giữa biển Caribbean vì không biết đi đâu. Các kho chứa dầu ở Venezuela đầy ứ ự vì không xuất được hàng, buộc PDVSA phải đóng bớt giếng dầu, khiến sản lượng tụt dốc không phanh. Trong cơn hoảng loạn đó, Maduro đã phải cầu cứu “Đại ca” Putin và “Người anh em” Iran để thiết lập một mạng lưới buôn lậu dầu khí quy mô toàn cầu, biến PDVSA từ một tập đoàn nhà nước thành một tổ chức tội phạm hàng hải.
Igor Sechin, trùm Rosneft (Tập đoàn dầu khí Nga), đã nhảy vào làm trung gian. Rosneft Trading S.A (trụ sở tại Thụy Sĩ) bắt đầu nhận dầu của Venezuela, dán nhãn lại, rồi bán sang Ấn Độ và Trung Quốc. Tiền bán dầu không chạy về Caracas (để tránh bị Mỹ soi), mà chạy vào tài khoản của Nga, sau đó Nga trừ nợ hoặc chuyển tiền mặt về cho Maduro qua các kênh ngầm. Nga trở thành cái phao cứu sinh duy nhất giúp Maduro thở được trong năm 2019, cho đến khi chính Rosneft Trading cũng bị Mỹ trừng phạt vào năm 2020 vì tội tiếp tay.
Để né radar của Mỹ, các tàu chở dầu của Venezuela bắt đầu chơi trò tắt thiết bị định vị AIS (Automatic Identification System). Tàu đang đi bỗng nhiên biến mất trên màn hình theo dõi, lặn mất tăm vài tuần, rồi đột ngột xuất hiện ở bờ biển Trung Quốc hoặc Malaysia. Chúng thực hiện các phi vụ đổi hàng lấy hàng (ship-to-ship transfers). Một tàu mẹ của Iran hoặc một tàu ma không quốc tịch sẽ đợi sẵn ngoài khơi Tây Phi hoặc vùng biển quốc tế, hút dầu từ tàu Venezuela sang, pha trộn với dầu khác để xóa dấu vết hóa học (chemical fingerprint), đổi tên tàu, đổi cờ (thường là cờ Panama, Liberia hoặc Cameroon) rồi mới cập cảng bán. Maduro đã học trọn vẹn bộ kỹ năng trốn lủi này từ Iran – bậc thầy của việc né cấm vận.
Vì các nhà máy lọc dầu ở Venezuela đã rỉ sét và hỏng hóc hết (do thiếu linh kiện Mỹ và thợ giỏi đã bỏ đi), Venezuela – nước có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới – lại không có xăng để chạy xe. Iran đã gửi các tàu chở xăng và dung môi (diluents) sang cứu viện. Đổi lại, Maduro trả cho Iran bằng vàng ròng lấy từ các mỏ máu Arco Minero và tiền mặt vét được từ các phi vụ buôn lậu. Hình ảnh những chiếc tàu chở dầu Iran như Fortune, Forest, Petunia ngang nhiên đi vào vùng biển Venezuela dưới sự hộ tống của tàu chiến và máy bay tiêm kích Su-30 của Maduro là cái tát thẳng vào mặt lệnh cấm vận của Mỹ, tuyên bố rằng liên minh “bị ruồng bỏ” này đã tìm ra cách sinh tồn bên ngoài hệ thống tài chính đô la.
[…. Đoạn này bị cắt vì quá dài không save draft được gồm
“Vua không ngai”
“Vịnh Con Lợn Con” (Bay of Piglets)
Đại dịch COVID-19
De facto Dollarization
May mắn của Maduro
Hiệp định Barbados
Bà đầm thép María Corina Machado
Vụ bắt cóc Maduro 3/1/2026
….
]
Lời kết
Thật ra tao còn nhiều phần nữa về chế độ Maduro nhưng lỡ tay chạm tới giới hạn đăng bài của Substack là 700.000 ký tự nên coi như để tao đăng ở bài khác. Nhưng nhiêu đây chắc là dư sức để tụi mày thấy được cái bức tranh toàn cảnh về vụ bắt cóc Maduro ngày 3/1/2026 của chính quyền Trump rồi đấy.
Từ cái thời Columbus đi tìm hương liệu cho đến cái viễn cảnh Trump năm 2026 đi săn đầu người, bản chất của cuộc chơi chưa bao giờ thay đổi: Nhu cầu tạo ra Thị trường, và Thị trường tạo ra Quái vật.
Tao định nghĩa “thị trường” (market) ở đây là cơn thèm muốn, dục vọng phải được thỏa mãn của một số lượng đủ đông đảo các cá nhân trong xã hội, khi mày đọc kĩ lại bài này lần thứ hai sẽ thấy rằng:
Thèm có mùi thơm, ăn được ngon -> hương liệu
Thèm một thứ nước uống béo bở mà không phạm quy tắc -> cacao
Thèm được tỉnh táo bằng một cảm giác ngọt -> đường hoặc cafe
Thèm được chạy chiếc xe -> xăng dầu
...vvv
Nói chung là sẽ còn rất dài nếu tao cứ liệt kê hết thì mãi không hết. Vậy bản chất của “thị trường” (market) sinh ra từ đâu? “Phân công lao động”, hay tao gọi là sự “Mù lòa có hệ thống”.
Con người là loài động vật có tính xã hội. Từ thửa sơ khai, chúng ta là loài động vật yếu ớt, trần truồng không có lông, không có nanh vuốt. Một cá nhân đơn lẻ gần như là con số không tròn trĩnh trước thiên nhiên. Mày muốn ăn thịt nhưng sợ đi săn một mình sẽ bị hổ vồ, mày muốn có nhà nhưng không đủ sức vác đá. Chính sự sợ hãi cái chết và sự bất lực cá nhân đó đã buộc con người phải tìm đến nhau. Những cuộc “trao đổi” ban đầu chưa phải là buôn bán kiếm lời bằng con gà với con cừu mà là lời hứa cùng tồn tại:
“Tao giỏi đập đá, mày giỏi hái lượm, tao đập đá cho mày làm rìu, mày chia tao ít quả, để cả hai cùng không chết đói”.
Thị trường lúc này sinh ra từ Nỗi sợ chết đói. Nhưng khi xã hội phát triển lên, cái “sự bất toàn” đó không còn nằm ở mức sinh tồn nữa, mà nó chuyển sang mức độ hưởng thụ, và đây là lúc con quái vật thức giấc. Sự phân công lao động càng chi tiết, thì cái “sự mù lòa có hệ thống” càng dày đặc.
Ngày xưa, nếu mày muốn ăn thịt gà, mày phải tự tay nuôi nó, tự tay cắt tiết nó. Mày nhìn thấy con gà giãy chết, mày thấy máu, mày thấy sự sống bị tước đoạt. Lúc đó, mày sẽ trân trọng miếng thịt đó và mày sẽ không giết bừa bãi 100 con gà chỉ để ăn một cái đùi rồi vứt.
Nhưng phân công lao động đã dựng lên một bức tường bê tông giữa mày và cái thực tế ngoài kia.
Bây giờ, mày làm coder, mày gõ phím kiếm tiền. Thằng khác ở lò mổ làm việc cắt tiết. Mày cầm tiền ra siêu thị mua miếng ức gà bọc trong khay xốp trắng tinh, sạch sẽ. Mày hoàn toàn “mù” trước máu me và tiếng kêu của con vật vì đã có người làm thay công việc cắt tiết nó và được trả công. Sự phân công lao động đã cắt đứt sợi dây liên kết cảm xúc giữa người tiêu thụ và nỗi đau của người (hoặc vật) sản xuất. Khi mày không nhìn thấy máu chảy, lương tâm mày sẽ ngủ yên. Đó là lý do mấy thằng CEO ở New York có thể ký lệnh sa thải 10.000 công nhân hay ép trẻ em ở Congo đào Cobalt chỉ bằng một cú click chuột, vì với chúng nó, đó chỉ là “tối ưu hóa chi phí”, chúng nó đâu có ngửi thấy mùi mồ hôi hay nhìn thấy cái lưng gù của thằng phu mỏ.
Nhưng “phân công lao động” lại cần đến một thứ để “định giá”, “định nghĩa” cho cái việc “tao đã thỏa mãn nhu cầu của mày giờ hãy trả công cho tao xứng đáng”, chính là sự ra đời của Tiền. Tao không muốn định nghĩa theo kiểu kinh tế kinh điển “tiền là vật ngang giá” rồi kể ba cái vỏ sò, lông ngỗng, đồng xu kia.
Với tao, tiền không chỉ là phương tiện trao đổi, mà nó là công cụ “trừu tượng hóa” và “tẩy trắng” giá trị. Tiền biến mọi nỗ lực, máu, mồ hôi, thời gian, tài nguyên hữu hạn thành những con số vô hạn và vô cảm. Một giờ mày ngồi điều hòa gõ code trị giá 50 đô, và 100 giờ thằng bé châu Phi đào đất cũng trị giá 50 đô. Tại sao hai hành động trái ngược nhau nhưng lại được quy đổi ra cùng một khung đánh giá? Tiền đã san phẳng hai cái đó làm một, nó xóa nhòa đi cái “sức nặng” của sự khổ sai. Khi mọi thứ quy ra tiền, mày không còn nhìn thấy con người nữa, mày chỉ nhìn thấy giá cả. Mày không thấy thằng Columbus chặt tay người, mày chỉ thấy hắn mang về số vàng trị giá bao nhiêu triệu đô.
Trong tự nhiên, nhu cầu sinh học có giới hạn. Mày chỉ ăn được 3 bát cơm là no, mày không thể ăn 1.000 bát. Mày tích trữ chuối lâu ngày không ăn thì nó sẽ thối rũa. Nhưng tiền thì khác, nó không có mùi vị và không có giới hạn nào để sở hữu. Mày có thể có trong tay 1 tỷ đô, 100 tỷ đô, hay 1.000 tỷ đô. Con số trong tài khoản ngân hàng là vô tận. Chính cái khả năng tích trữ không giới hạn này đã phá vỡ cơ chế “biết đủ” tự nhiên của con người. Nó biến cuộc đời thành một trò chơi điện tử (game) mà mục tiêu không phải là sinh tồn nữa, mà là đua top xem ai có điểm số (số dư tài khoản) cao hơn. Lòng tham nảy sinh vì mày luôn cảm thấy thiếu an toàn trước tương lai, và vì con số của thằng hàng xóm đang cao hơn con số của mày.
Ban đầu người ta làm ra tiền để mua gạo (tiền là phương tiện). Nhưng vì tiền có thể mua được quyền lực, sự trọng vọng, và cả luật pháp, nên họ bắt đầu quay sang sùng bái tiền như một vị thần. Khi tiền trở thành mục đích tối thượng, thì con người, thiên nhiên, đạo đức chỉ còn là phương tiện. Lúc này, “lợi nhuận” trở thành một tôn giáo. Marx nói:
“A certain 10 percent will ensure its employment anywhere; 20 percent will produce eagerness, 50 percent positive audacity; 100 percent will make it ready to trample on all human laws; 300 percent, and there is not a crime which it will not scruple, nor a risk it will not run, even to the chance of its owner being hanged. - Tư bản (Das Kapital), Tập 1.
(“Với lợi nhuận 10%, tư bản sẽ đảm bảo có mặt ở khắp mọi nơi; 20% sẽ tạo ra sự hăm hở; 50% sẽ gây ra sự táo bạo rõ rệt; 100% sẽ khiến nó sẵn sàng chà đạp lên mọi luật lệ của loài người; và với 300%, thì không còn tội ác nào mà nó không dám phạm phải, cũng không có rủi ro nào mà nó không dám đương đầu, ngay cả khi chủ nhân của nó có nguy cơ bị treo cổ.”)
Một quý tộc châu Âu thèm mùi thơm để che đậy mùi hôi thối của cơ thể (dục vọng). Nhưng gã quý tộc đó có dám tự tay cầm gươm đi chém giết thổ dân, có dám tự tay quất roi vào lưng nô lệ da đen để bắt họ hái cacao không? Chắc chắn là không, vì tay gã phải sạch để còn cầm ly rượu vang. Thế là gã dùng tiền (vàng/bạc) để tạo ra một “thị trường”. Gã ném tiền cho Columbus, cho đám thương nhân. Đám này nhận tiền và thay mặt gã làm những việc bẩn thỉu: cướp bóc, giết chóc, nô dịch.
Khi hạt tiêu hay thỏi sô-cô-la về đến bàn tiệc của gã ở Paris hay London, nó đã được “rửa sạch” bằng cơ chế giá cả. Gã quý tộc thưởng thức hương vị ngọt ngào mà không hề cảm thấy tội lỗi, vì gã đâu có giết ai, gã chỉ “mua hàng” thôi mà.
Con người lúc nào cũng trong tình trạng cảm thấy mình luôn “thừa và thiếu”. Nhưng cái bi kịch là chúng ta không bao giờ biết điểm dừng của cái “thiếu”. Cái “thiếu” của con người không phải là một hằng số, mà là một biến số tăng dần theo khả năng cung ứng của thị trường.
Ngày xưa thiếu ăn là khổ, giờ thiếu wifi, thiếu like, thiếu tương tác cũng làm con người ta vật vã như con nghiện thiếu thuốc. Sự phân công lao động đã biến chúng ta thành những kẻ tàn phế chức năng.
Một thằng lập trình viên lương ngàn đô có thể chết đói nếu siêu thị đóng cửa vì nó không biết trồng rau. Một ông trùm dầu mỏ có thể chết khát giữa sa mạc vì không biết tìm mạch nước. Chúng ta càng chuyên môn hóa, chúng ta càng lệ thuộc vào “người khác”. Và càng lệ thuộc, chúng ta càng phải dùng Tiền để duy trì sợi dây kết nối đó.
Khi xã hội càng phức tạp, mày càng không thể tự làm ra mọi thứ mình cần. Mày cần thằng khác làm cho mày. Và khi mày cần nó quá mức, mày sẽ tìm cách kiểm soát nó. Nếu không kiểm soát được bằng tiền, mày sẽ dùng súng.
Đến thế kỷ 20, “Vàng” đổi màu thành “Đen”. Cơn khát ánh sáng và động cơ đốt trong đã biến dầu mỏ thành máu của nền văn minh. Và đây là lúc cái vòng tròn lặp lại một cách tàn nhẫn nhất.
Vụ bắt cóc Maduro năm 2026 thì có khác gì “Cuộc đảo chính Nhựa đường” để lật đổ Castro để cho Gómez lên thay rồi các luật sư Mỹ tự viết ra Luật Dầu khí 1922, dâng hiến tài nguyên quốc gia với thuế suất rẻ mạt. Vẫn là một siêu cường (Mỹ) cần tài nguyên (dầu/sự ổn định), và dùng vũ lực để thay thế một thằng cai trị “khó bảo” (Maduro/Castro) bằng một thằng “biết nghe lời” hoặc ít nhất là dễ kiểm soát hơn.
Dù cho là bất kỳ thằng nào ngồi lên cái ghế ở Caracas đi chăng nữa đừng mơ mộng về việc dân chúng sẽ được ấm no, tự do dân chủ. Bi kịch của “Lời nguyền tài nguyên” và “Luật của kẻ cai trị” ,tao chắc chắc sẽ lặp lại. Khi mày ngồi trên đống dầu, mày không cần thu thuế của dân nữa. Tiền từ dưới đất chui lên, chảy thẳng vào túi mày. Mày dùng tiền đó để mua chuộc quân đội và ban phát nhỏ giọt cho dân nghèo để họ tung hô mày. Mày trở thành một ông bố già ban phát bổng lộc chứ không phải một người quản lý đất nước. Nhưng khi giá dầu sập, hay khi mày bị cấm vận, cái nồi cơm Thạch Sanh đó vỡ tan, và mày lộ nguyên hình là một kẻ bất tài, chỉ biết in tiền gây ra siêu lạm phát.
Vậy nhu cầu mới mà cái xã hội đang thèm khát được thõa mãn là gì? Trí tuệ nhân tạo (AI)
Một kịch bản sẽ lại lặp lại giống như hương liệu, cacao, vàng, dầu bây giờ chính chúng ta đang bị cướp đi thứ tài nguyên Dữ liệu (Data) một cách rẻ mạt rẻ mạt bởi các Big Tech, còng lưng tạo ra dữ liệu miễn phí mỗi ngày để đám tư bản công nghệ làm giàu, tiếp tục cái vòng tròn lặp đi lặp lại không hồi kết của lịch sử loài người.
Bocchi 981
15-29/1/2026
DONATE
Địa chỉ
Mạng:
BNB Smart Chain (BSC) hoặc Etherum đều được do tao xài ví cá nhân EOAEtherum/USDT/USDC (BEP20 hoặc ERC20):
0x4bDaa98D697021e1820501aF8710D65f82eec04bBitcoin:
bc1qeexcm9u43tmm5dwc6q4vk0ggevwk29w8g3k6s3Tại sao tới bây giờ tao bắt đầu mở donate?
“Thằng này giờ thèm tiền rồi đúng không”, sẽ có thằng nghĩ trong đầu thế này để tao thừa nhận luôn cho gọn: Tao là con người, tao cần ăn, tao thèm tiền. Thế thôi, đéo cần úp mở khều donate gì như thằng Youtube Dưa Leo cứ mở mồm ra là đòi tiền “Trân trọng đầu tư tri thức tương lai”.
Viết văn cũng như các loại hình sáng tạo nghệ thuật khác cần phải có sự đam mê, kiên trì mài dũa kỹ năng đặt cái tôi của mình lên tiêu chuẩn khắc khe nhất. Việc tao bắt đầu viết long-form tại vì thấy phê, thấy sướng, thấy đã như nốc liều ma túy đá hạng nặng khi bước vào trạng thái “Flow State” mỗi khi tập trung luồng suy nghĩ rời rạc lại hệ thống hóa nó thành một bài viết hoàn chỉnh. Tao không quan tâm mày có đọc hết hay không miễn tao thấy sướng là được. Nó giống như một thú vui để giữ bản thân khỏi ngồi lướt tiktok ào ào 5h/ngày.
Tất nhiên là vì dựa trên niềm vui, đam mê khi thấy hứng thú mới bắt đầu làm cho đến khi gặp phải tình trạng mà giới trong nghề gọi là “Writer Block” (Bế tắc sáng tác). Tao chỉ viết khi nào có hứng thú.
Nếu viết không ra tiền chỉ để nuôi sở thích, đam mê bản thân thì có thể cầm cự được đến lúc nào? Ai mà biết được.
Thường thì giới văn chương-nghệ thuật đến lúc gặp phải tình trạng này sẽ chia làm 2 cách để kiếm cơm đổ vào mồm:
Tự bẻ gãy ngòi bút của mình để chiều lòng ông chủ cho tiền làm con vẹt. Hầu như bọn báo chí, học thuật, blogger lúc nào cũng dễ dàng bị mua chuộc để xóa bài bất lợi, viết bài được đặt hàng hoặc tấn công đối thủ nhằm kiếm cơm.
Tìm người bảo trợ. Trong quá khứ thì thường là giới quý tộc, tài phiệt sẵn sàng nuôi đám nghệ sỹ lúi húi dưới xưởng vẽ để làm đồ chơi chứng tỏ mình “sành điệu” trong mắt các mối quan hệ xã giao.
Cả hai cách này tao đều có thừa khả năng để làm đến mức đáng sợ. Nếu được tuyển mộ về ban tuyên giáo, tao thừa khả năng để dẫn dắt dư luận, tạo ra học thuyết bảo vệ sự cai trị của Đảng như Vương Hỗ Ninh.
Nếu viết booking doanh nghiệp, tao đủ sức để múa lưỡi cho tụi mày đâm hết tiền vào mấy cái bánh vẽ đến sạt nghiệp. Nhưng tao đéo chọn cách 1 vì tao khinh cái bọn bẻ cong ngòi bút để đổi lấy vài đồng bạc lẻ nhuốm mùi nô lệ. Tao thà nhịn đói chứ không bao giờ chấp nhận để thằng biên tập nào nhét chữ vào mồm hay bắt tao phải khen một cục cứt là thơm chỉ vì nó được mạ vàng.
Còn cách thứ 2, tao cũng đéo có diễm phúc (hoặc xui xẻo) vớ được, vì thời nay đám tài phiệt nó khôn lỏi lắm. Nó nuôi mày thì nó phải xích cổ mày lại để sủa cho lợi ích nhóm của nó, chứ hơi đâu nó bỏ tiền nuôi một thằng chuyên đi bóc trần sự thối nát của chính cái hệ thống đã giúp nó giàu lên.
Vì vậy còn cách thứ 3: chính là tụi mày đang đọc đoạn này.
Trong cái thế giới internet đầy rẫy những nội dung AI Slop nhảm nhí, sự tập trung cao độ cho việc đọc bài dài bị hủy hoại khiến con người ngày một “thối não” (brainrot) thì tao biết bọn mày đang khát được đọc những bài như tao đang làm một Sự thật không bị kiểm duyệt, một cái đầu lạnh không bị mua chuộc và một ngòi bút dám chọc thủng những quả bóng dối trá mà đám truyền thông ngoài kia đang bơm thổi.
Nội việc mày đủ sức đọc đến đây đã có được sự tôn trọng của tao vì chấp nhận được những thứ không mấy dễ chịu được diễn giải qua con mắt của tao. Tao không hứa sẽ viết những gì mày thích nghe (như bọn mị dân), tao chỉ hứa sẽ viết những gì mày CẦN PHẢI BIẾT để sinh tồn trong cái thế giới chó má này. Nếu mày thấy cái giá đó hợp lý, thì quăng tiền vào ví. Nếu không, cứ tiếp tục đọc chùa, tao không oán trách, nhưng đừng mong tao sẽ thỏa hiệp. Không ai mắc nợ ai trong mối quan hệ này.
Tao mà làm biếng, bận kiếm tiền, viết mấy bản thảo triết học không bao giờ được đăng lên thì ngủ đông vài tháng là chuyện bình thường cho tới khi có hứng mở PC lên gõ.
Nhưng vì giờ cảm thấy “mắc nợ” biết đâu tao sẽ lại chăm viết bài đều đều thay vì đi du lịch, chơi game, xem phim thì sao?
Còn cái chuyện về Crypto, tao biết nhiều thằng ở đây cả đời chỉ biết nghe mấy cái tin “Bitcoin tăng/giảm giá lên XXX” hoặc “Sàn crypto lùa X tỷ đôla” nên muốn làm cũng khó bởi vì mày sẽ phải học những khái niệm mới như Ví nóng (Hot Wallet), Ví lạnh (Cold Wallet), Blockchain, Mạng lưới, sàn CEX như binace, okx,...vv Thường thì con người sẽ sợ hãi những điều mình không hiểu, trở nên chần chừ, lưỡng lự trong việc hành động. Mày sẽ bắt đầu thấp thỏm nhìn cái giao diện rối mù với hàng tá nút, thấm thỏp chuyển tiền ngân hàng để mua USDT qua tay một thằng thương lái P2P rồi sau đó lại đi chỗ để gửi, điền địa chỉ ví, chọn đúng mạng BSC,...vvv.
Việc chuyển tiền qua Crypto chính là bài test đầu tiên của tao dành cho tụi mày.
Tao đã hủy bỏ ý định viết bài hướng dẫn cầm tay chỉ việc. Tại sao? Vì nếu đến cái việc tìm hiểu cách tạo ví, cách mua USDT trên Binance - những kỹ năng dễ nhất để bảo vệ tài sản của mày khỏi lạm phát và soát - mà mày còn không tự Google hay hỏi AI được, thì mày không xứng đáng đọc tiếp những bài phân tích sâu hơn của tao.
Đừng mong tao mớm tận miệng. Tao chỉ cho mày cái cần câu (tư duy), còn việc móc mồi và giật cá (kỹ thuật) là việc của mày. Nếu mày vượt qua được cái rào cản lười biếng này để donate, thì chúc mừng, mày đã bước một chân ra khỏi cái trại súc vật rồi đấy.
Chỉ nhận Crypto nhắm làm được thì làm không thì cút đừng có ngồi chờ tao dâng tận mõm bằng tiền fiat quét mã QR cho cái lũ lười biếng đến mức học kỹ năng mới cũng không làm nổi.
"Nhu cầu sinh học của con người" có giới hạn, nhưng "ảo tưởng ham muốn của con người" thì VÔ HẠN, chả trách con người cứ mãi trầm luân trong đau khổ. Lấy cái năng lượng sinh học hữu hạn rồi đuổi theo cái ảo tưởng vô hạn, đi đâu, về đâu để "biết đủ" bây giờ?
"Nỗi sợ là khởi nguồn của quyền lực."
Shakyamuni từng nói:
1. Ai cũng khổ.
2. Khổ đến từ tham, sân, si
- Vì mày (ngu) si, nên mày không biết. Và con người luôn sợ cái nó không biết, vì đấy là BẢN NĂNG.
- Khi đó, mày tham cái dễ chịu, cái thuốc phiện để quên đi nỗi sợ.
- Và vì mày tham cái dễ chịu đó, nên mày sân (hận) cái khiến mày đau đớn, khó chịu.
Hiểu được như vậy, nỗi sợ không còn tác dụng với mày nữa.
Vì mày không chỉ biết, mày đã HIỂU nó.
Và mày hết khổ.
"Con người muốn phục tùng hơn là tự do."
Vậy giờ mày thấy bản thân như thế nào? Tự do? Nô lệ? Nô lệ một cách tự do? Hay là cái kiểu đầu buồi nào đó để mày tiếp tục xàm lồn?
"Mọi nền dân chủ đều dẫn đến độc tài."
Đúng thế. Vậy mày muốn sống trong thế giới dân chủ, hay độc tài, hay độc tài một cách "dân chủ" như Singapore, Nhật Bản? Cái thế giới đó, theo mày, sẽ được tạo ra như thế nào?