r/VietTalk

r/VietTalk

User's avatar
Discover more from r/VietTalk
The vietnamese philosopher.
Over 7,000 subscribers
Already have an account? Sign in

Nepal - Giọt nước tràn ly

Con vua thì lại làm vua, Con sãi ở chùa thì quét lá đa. Bao giờ dân nổi can qua, Con vua thất thế lại ra quét chùa.

Bocchi981's avatar
Bocchi981
Sep 15, 2025

Nơi nào có áp bức, Nơi đó có đấu tranh

Đó là chân lý bao đời nay của giai cấp bị trị luôn bị hà hiếp bởi lũ thống trị lúc nào cũng muốn đè đầu vặt cổ người dân ra bã để làm giàu trên nước mắt của họ.

Khi nỗi căm hờn đạt đến đỉnh điểm khi tận mắt chứng kiến lũ elite ăn chơi xa hoa trên đầu trên cổ trong khi bản thân chẳng có gì để mất ngoài xiềng xích và gông cùm, cách mạng sẽ nổ ra và lật đổ trật tự bóc lột của bọn chúng.

Nó giống như định luật 3 của Newton trong xã hội học: cứ có một lực (áp bức) tác động xuống, thì tự khắc sẽ sinh ra một phản lực (đấu tranh) bật ngược trở lại.

"Áp bức" trong lăng kính Mác-xít không chỉ là sự đối xử tàn tệ. Nó là một hệ thống mà ở đó, giai cấp thống trị (bọn chủ đất, chủ nhà máy, tư bản, hay liên minh tài phiệt-chính trị gia) sống bằng cách vắt kiệt giá trị thặng dư từ sức lao động của giai cấp bị trị (nông dân, công nhân, người làm thuê). Sự áp bức này là bản chất của một xã hội có giai cấp.

"Đấu tranh" do đó không phải là một lựa chọn đạo đức hay một hành động anh hùng đơn lẻ. Nó là một phản ứng tất yếu của giai cấp bị trị khi họ nhận ra mình đang bị bóc lột. Sự đấu tranh đó là động cơ của lịch sử. Nó có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất như đình công, đòi tăng lương, và khi mâu thuẫn giai cấp lên đến đỉnh điểm không thể dung hòa, nó sẽ bùng nổ thành cách mạng lật đổ toàn bộ trật tự cũ.

Cái bọn tự xưng mình là "yêu nước, yêu đảng" sau vụ Nepal này tao nhận ra chúng nó hoàn toàn ngu dốt, mù tịt về chủ nghĩa Mác-xít lẫn đấu tranh giai cấp, bạo lực cách mạng.

Chúng nó chỉ biết nghe vài kênh Youtube đỏ rực nhưng dốt đặc cán mai ru ngủ mấy cái từ nghe-có-vẻ-thông-minh như "cách mạng màu", "bravo 1 2", "bạo loạn lật đổ", "diễn biến hoà bình" chính là tự thừa nhận việc đần độn, lười biếng nhưng thích ngồi ở ngai cao phán xét một dân tộc đứng lên đốt trụi sự bất công diễn ra hơn hàng chục năm nay trong khi tụi nó chỉ biết dè bỉu và sợ hãi.

Tao hỏi "cách mạng màu lập chính quyền phương Tây" chỗ nào? Bọn nó mù hay gì mà không nhìn ra cái bản đồ địa lý Nepal thể hiện rõ ràng rằng: đây là địa bàn của Trung Quốc và Ấn Độ tranh giành ảnh hưởng.

Nepal's Geopolitics: Instability and Dominance of External Powers |  Ratopati | No.1 Nepali News Portal

Tù nhân địa lý

Quốc gia này không có biển (landlocked) bị kẹt cứng bởi hai gã khổng lồ tỷ dân là Trung Quốc ở phía Bắc và Ấn Độ ở ba mặt còn lại.

Mọi hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu của Nepal ra thế giới đều phải đi nhờ một trong hai người láng giềng này biến Nepal trở thành một con tin trên bàn cờ địa chính trị.

Ấn Độ với đường biên giới bằng phẳng và văn hoá Hindu gần gũi đã nắm giữ toàn bộ huyết mạch kinh tế.

Mặc dù có nhiều điểm qua lại, quyền lực thực sự của Ấn Độ tập trung ở một vài cửa khẩu chính, nơi phần lớn hàng hóa xuất nhập khẩu của Nepal đi qua. Trong số này, cửa khẩu quan trọng nhất, mang tính sống còn và cũng là nơi Ấn Độ thường dùng để siết cổ Nepal nhất chính là cặp cửa khẩu Raxaul (phía Ấn Độ) - Birgunj (phía Nepal).

Nepal - India Border Crossing At Birganj And Raxaul - Lost With Purpose

Cửa khẩu Birgunj được coi là "cửa ngõ vào Nepal", xử lý khoảng 60-70% tổng lượng hàng hóa thương mại của cả nước, bao gồm tất cả các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, gas nấu ăn, thuốc men, lương thực và nguyên vật liệu công nghiệp. Bất kỳ sự gián đoạn nào ở đây cũng đủ sức làm tê liệt cả nền kinh tế Nepal chỉ trong vài ngày.

Ngoài Birgunj, còn có các cửa khẩu quan trọng khác như Sunauli-Bhairahawa, Panitanki-Kakarbhitta, và Jogbani-Biratnagar, nhưng không có cái nào có tầm quan trọng chiến lược bằng Birgunj.

Năm 2015 khi Nepal ban hành hiến pháp mới mà Ấn Độ cho rằng đã phân biệt đối xử và làm giảm quyền lợi của cộng đồng người Madhesi thân Ấn ở vùng Terai, một cuộc phong tỏa "không chính thức" đã diễn ra.

Ấn Độ không bao giờ tuyên bố chính thức là họ đóng biên giới. Thay vào đó, họ viện cớ "tình hình an ninh bất ổn" do các cuộc biểu tình của người Madhesi để làm chậm quá trình thông quan một cách có hệ thống, đặc biệt là tại cửa khẩu Birgunj.

Cuộc phong tỏa kéo dài hơn bốn tháng, đẩy Nepal vào một cuộc khủng hoảng nhân đạo tồi tệ.

Xăng dầu cạn kiệt, các phương tiện giao thông phải xếp hàng dài nhiều cây số, bệnh viện thiếu thuốc men, người dân không có gas để nấu ăn, và toàn bộ nền kinh tế đình trệ. Cuộc phong tỏa này đã khắc sâu vào tâm trí người dân Nepal về sự mong manh của nền độc lập kinh tế và sự nguy hiểm của việc quá phụ thuộc vào người láng giềng khổng lồ.

Trước đó, vào năm 1989, Ấn Độ cũng đã áp đặt một cuộc phong tỏa kinh tế kéo dài hơn một năm đối với Nepal sau những bất đồng về các hiệp ước thương mại và việc Nepal mua vũ khí từ Trung Quốc. Cuộc phong tỏa này cũng gây ra những hậu quả kinh tế nặng nề tương tự.

Bất kỳ chính phủ nào được dựng lên ở Kathmandu mà có mùi quá thân phương Tây sẽ chết ngạt trong vòng một nốt nhạc.

Chỉ cần Ấn Độ nó siết biên giới, ngừng cung cấp xăng dầu và hàng hóa trong một tuần, là chính phủ đó sụp ngay.

Hoặc chỉ cần Trung Quốc gây áp lực về an ninh biên giới Tây Tạng, là không một lãnh đạo Nepal nào dám ngồi yên.

Quyền lực thực sự ở đây nằm trong tay New Delhi và Bắc Kinh, không phải Washington hay Brussels.

Phương Tây có thể có ảnh hưởng thông qua các NGO, viện trợ, nhưng để giật dây một cuộc cách mạng lật đổ cả một chế độ?

Đó là chuyện ảo tưởng.

Phía Bắc Nepal giáp với Tây Tạng thuộc Trung Quốc là dãy Himalaya hùng vĩ, cực kỳ hiểm trở tạo ra tiềm năng du lịch leo núi khổng lồ nhưng cũng là bức tường thành tự nhiên cô lập Nepal với người khổng lồ phương Bắc. Trong khi ở giữa là vùng đồi núi (Pahad) - nơi phần lớn dân cư sinh sống lại bị chia cắt bởi các thung lũng sâu và sông ngòi khiến việc xây dựng đường xá kết nối các vùng miền với nhau cực kỳ tốn kém và khó khăn gây áp lực lên chính quyền trung ương.

Ở phía nam Nepal là dãy đồng bằng Terai màu mỡ - vựa lúa của cả đất nước sống dựa vào nông nghiệp cũng là nơi tập trung của Hành lang công nghiệp Birgunj-Pathlaiya.

Birgunj-Pathlaiya Industrial Corridor Faces Severe Power Cuts | News Detail  | ShareHub

Dọc theo tuyến đường nối từ cửa khẩu này sâu vào trong đất liền là một chuỗi các nhà máy, xí nghiệp san sát nhau. Đây là nơi sản xuất đủ thứ, từ dệt may, da giày, dược phẩm, thực phẩm chế biến (như bánh kẹo, nước giải khát), cho đến các ngành công nghiệp nặng như thép, xi măng.

Hầu hết các tập đoàn lớn của Nepal, kể cả Chaudhary Group, đều có các cơ sở sản xuất lớn đặt tại đây. Vị trí chiến lược của nó cho phép các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận cảng biển Kolkata của Ấn Độ để giao thương với thế giới.

Một trung tâm công nghiệp lớn thứ hai nằm ở phía đông Terai, đó là thành phố Biratnagar và các khu vực lân cận. Nơi này có lịch sử công nghiệp lâu đời nhất Nepal, khởi đầu với các nhà máy đay (jute mills) từ thời xưa. Ngày nay, nó vẫn là một trung tâm quan trọng cho các ngành công nghiệp dựa vào nông nghiệp như nhà máy đường, chế biến lương thực, cùng với các ngành sản xuất khác như hóa chất và nhựa.

Chính phủ Nepal cũng đã thành lập Khu kinh tế đặc biệt (SEZ) đầu tiên của cả nước tại Bhairahawa, với hy vọng thu hút đầu tư và thúc đẩy xuất khẩu, dù hiệu quả vẫn còn là một dấu hỏi lớn.

Món quà lớn nhất mà địa lý ban tặng cho Nepal là tiềm năng thủy điện. Với địa hình dốc và hệ thống sông ngòi dày đặc chảy từ Himalaya xuống, Nepal có tiềm năng thủy điện thuộc hàng lớn nhất thế giới. Nếu khai thác được, nó có thể thay đổi hoàn toàn bộ mặt kinh tế đất nước. Tuy nhiên, do bất ổn chính trị và tham nhũng, tiềm năng này vẫn chỉ nằm trên giấy.

Ngược lại, lời nguyền lớn nhất là sự dễ bị tổn thương trước thiên tai. Nằm trên một vành đai địa chấn hoạt động mạnh, Nepal thường xuyên phải hứng chịu các trận động đất kinh hoàng. Địa hình dốc cũng khiến nước này luôn phải đối mặt với nguy cơ lở đất và lũ quét vào mùa mưa.

Địa lý của Nepal tạo ra một nghịch lý:

một đất nước có tiềm năng tài nguyên to lớn nhưng lại bị mắc kẹt trong sự cô lập và chia cắt, khiến cho việc phát triển trở thành một thách thức khổng lồ.

As Kathmandu plays host to guests from south and north, concerns grow over  geopolitical games

Ván cờ địa chính trị Ấn-Trung

Ấn Độ

Đối với hai kẻ khổng lồ, Nepal không chỉ là một nước láng giềng nhỏ bé mà còn là cái vùng đệm chiến lược (strategic buffer), một cái bàn đạp để gia tăng ảnh hưởng, và một lằn ranh an ninh không thể để rơi vào tay đối thủ.

Ấn Độ xem Nepal như một phần "sân sau" gây ảnh hưởng lên khu vực đến mức gọi mối quan hệ này là "Roti-Beti ka Rishta" (quan hệ bánh mì và con gái), ý nói về sự gắn kết văn hóa, tôn giáo (cùng đạo Hindu) và hôn nhân qua lại giữa người dân hai nước.

Một đường biên giới mở, dài hàng ngàn cây số ở Nepal như thế với bất kỳ sự bất ổn nào hay tệ hơn là phiến quân nổi dậy chống lại lợi ích của New Delhi đều bị coi là mối đe doạ đối với vùng đồng bằng sông Hằng đông dân và trù phú của Ấn Độ.

Nepal News | Nepal's First Online News Portal

Vì vậy, trong suốt nhiều thập kỷ, mục tiêu của Ấn Độ là duy trì một Nepal ổn định, thân thiện và nằm trong quỹ đạo ảnh hưởng của mình, coi đây là một vùng đệm tự nhiên chống lại Trung Quốc.

Nhưng cái trớ trêu và cũng là bi kịch nằm ở chỗ này: chính cái nỗ lực kiểm soát Nepal một cách tuyệt đối của Ấn Độ lại thường xuyên là nguyên nhân chính gây ra sự bất ổn và nuôi dưỡng tinh thần chống Ấn Độ ở Nepal.

Cái cuộc phong tỏa biên giới năm 2015 là một ví dụ kinh điển.
Ấn Độ muốn ép chính phủ Nepal phải thay đổi hiến pháp theo hướng có lợi cho mình, nhưng kết quả là nó đã tạo ra một cuộc khủng hoảng nhân đạo.

Hành động đó đã đẩy cả một thế hệ người Nepal, kể cả những người vốn dĩ không có ác cảm, nhìn về phía Trung Quốc như một lối thoát tiềm năng. Nó đã chứng minh cho người Nepal thấy rằng sự phụ thuộc vào Ấn Độ là một con dao hai lưỡi, và "tình anh em" có thể biến thành sự trừng phạt bất cứ lúc nào.

Không một quốc gia nào, dù nhỏ yếu đến mấy, thích bị đối xử như một thằng em, một cái sân sau.

Sự bảo bọc quá mức của Ấn Độ, dù có thể xuất phát từ lợi ích an ninh chính đáng, lại thường bị người dân và giới chính trị gia Nepal cảm nhận như là sự kiêu ngạo, áp đặt và xem thường chủ quyền của họ.

Điều này tạo ra một mảnh đất màu mỡ cho các chính trị gia theo chủ nghĩa dân tộc ở Nepal khai thác, họ chỉ cần hô hào bài Trung và chống Ấn là có thể kiếm được phiếu bầu.

Thế nên mới có cái vòng luẩn quẩn: Ấn Độ càng cố siết chặt vòng tay để giữ Nepal trong quỹ đạo của mình, thì Nepal lại càng cố vùng vẫy để thoát ra

Và chính cái sự vùng vẫy đó lại khiến Ấn Độ càng phải siết chặt hơn. Đó là một ván cờ mà Ấn Độ luôn ở thế thượng phong về mặt quyền lực cứng, nhưng không bao giờ thực sự chiến thắng được trái tim và khối óc của người Nepal.

Trung Quốc

Đối với Bắc Kinh tầm quan trọng của Nepal lại nằm ở một góc nhìn khác.
Nepal có một đường biên giới dài với khu tự trị Tây Tạng - cũng là một trong những điểm nóng mà Trung Nam Hải luôn luôn phải dè chừng kể từ khi Mao Trạch Đông thâu tóm vào Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa từ năm 1951.

Kathmandu, Beijing deny Nepali opposition's landgrab accusations | News |  Al Jazeera

Sau cuộc nổi dậy năm 1959, Đạt Lai Lạt Ma và hàng chục ngàn người Tây Tạng đã chạy trốn sang Ấn Độ, và con đường tẩu thoát chính của họ là băng qua Nepal. Kể từ đó, Nepal trở thành một trạm trung chuyển và là nơi có một cộng đồng người Tây Tạng lưu vong lớn. Điều này biến Nepal thành một điểm nóng tiềm tàng trong mắt các nhà lãnh đạo ở Trung Nam Hải.

Trung Quốc luôn lo sợ rằng các thế lực thù địch, đặc biệt là Mỹ và Ấn Độ, sẽ lợi dụng cộng đồng này và sự bất ổn chính trị ở Nepal để tài trợ, kích động các hoạt động ly khai, gây rối ở Tây Tạng. Một Nepal yếu kém, tham nhũng và dễ bị phương Tây gây ảnh hưởng chính là một lỗ hổng an ninh khổng lồ ngay sườn phía tây nam của Trung Quốc. Họ không thể chấp nhận rủi ro có một "căn cứ" chống Trung Quốc được hình thành ngay sát nách Tây Tạng.

Vì vậy, chính sách của Trung Quốc đối với Nepal có hai mặt rất rõ ràng.

"Củ cà rốt" chính là hàng tỷ đôla được rót vào các dự án hạ tầng giao thông đường sá, sân bay, nhà máy thủy điện nhằm trói chặt chính phủ Nepal vào quỹ đạo BRI - Vành đai và con đường của Bắc Kinh. Đồng thời từng bước phá vỡ thế bao vây của Ấn Độ và trói chặt Nepal gần hơn vào trong vòng ảnh hưởng của mình.

Sân bay quốc tế Pokhara

Pokhara Airport caught in geopolitical and corruption crossfire -  OnlineKhabar English News

Dự án nổi bật và tai tiếng nhất chính là Sân bay quốc tế Pokhara. Đây là sân bay quốc tế thứ ba của Nepal được xây dựng bằng một khoản vay ưu đãi trị giá 216 triệu USD từ Eximbank - Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc và cũng do công ty nhà nước China CAMC Engineering Co., Ltd., viết tắt là CAMCE xây dựng.
Nó là một công ty con thuộc một tập đoàn nhà nước khổng lồ khác của Trung Quốc là Tập đoàn Công nghiệp Máy móc Quốc gia Trung Quốc (SINOMACH).

Về cơ bản, trong cái phi vụ này, Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc ((中国进出口银行 - Eximbank) là thằng bơm tiền cho vay, còn CAMCE là thằng tổng thầu được chỉ định để thi công, thực hiện toàn bộ dự án từ A đến Z.

Đây là một mô hình quen thuộc của Trung Quốc:

Dùng ngân hàng nhà nước để cấp vốn cho một dự án ở nước ngoài, rồi chỉ định một công ty xây dựng nhà nước khác vào thực hiện, đảm bảo tiền lại chảy về túi của các doanh nghiệp Trung Quốc.

Cái bi kịch của sân bay này nằm ở chỗ nó được xây dựng dựa trên những tính toán chính trị hơn là nhu cầu kinh tế thực tế.

Chính phủ Nepal, đặc biệt là dưới thời của những phe phái thân Trung Quốc, đã bất chấp các báo cáo nghiên cứu khả thi cảnh báo rằng dự án này không hiệu quả về mặt tài chính. Họ vẫn quyết tâm vay tiền của Trung Quốc để xây cho bằng được, biến nó thành một biểu tượng cho "tình hữu nghị" và sự hợp tác với phương bắc.

Nhưng khi khánh thành xong, thực tế phũ phàng đã hiện ra.

Gần như không có một hãng hàng không quốc tế nào mặn mà với việc mở đường bay thẳng tới Pokhara.

Các hãng bay Ấn Độ thì từ chối bay vì lý do an toàn địa hình và cả những toan tính địa chính trị.

Các hãng bay khác thì cho rằng nhu cầu không đủ lớn để duy trì một đường bay có lãi.

Kết quả là cái sân bay mới coóng, trị giá hơn 200 triệu đô la, chủ yếu chỉ phục vụ các chuyến bay nội địa vốn đã được sân bay cũ xử lý tốt.

Nó trở thành một công trình hoành tráng nhưng rỗng ruột, không tạo ra đủ doanh thu để trả lãi cho khoản vay, chứ đừng nói đến trả vốn.

Gánh nặng nợ nần bắt đầu siết lại. Chính phủ Nepal bây giờ phải lấy tiền từ ngân sách nhà nước, tức là tiền thuế của dân, để trả nợ cho một dự án không hiệu quả. Đây chính là bản chất của "bẫy nợ": một quốc gia bị buộc phải hy sinh các nguồn lực công cộng khác để gánh một khoản nợ cho một dự án hạ tầng hoành tráng nhưng không sinh lời, khiến họ ngày càng phụ thuộc vào chủ nợ.

Cuối cùng bê bối tham nhũng nổ ra.

Cơ quan đứng ra điều tra vụ này là Ủy ban Điều tra Lạm dụng Thẩm quyền (Commission for the Investigation of Abuse of Authority - CIAA). Đây là cơ quan chống tham nhũng tối cao và độc lập của Nepal, có quyền điều tra bất kỳ quan chức chính phủ nào bị nghi ngờ lạm dụng chức vụ để trục lợi.

Cuộc điều tra của CIAA tập trung vào mấy cáo buộc chính cực kỳ nghiêm trọng.

Thứ nhất là việc chi phí xây dựng bị đội lên một cách vô lý.

Các chuyên gia và truyền thông đã chỉ ra rằng, với số tiền 216 triệu USD, chi phí xây dựng sân bay Pokhara cao hơn đáng kể so với một sân bay có quy mô tương tự gần đó là Gautam Buddha International Airport (cũng ở Nepal, do Ngân hàng Phát triển Châu Á tài trợ), mặc dù điều kiện thi công không khác biệt nhiều.

Sự chênh lệch này làm dấy lên nghi ngờ rằng một phần lớn của khoản vay đã không được dùng cho việc xây dựng, mà đã bị "rút ruột" thông qua việc kê khống giá vật liệu, thiết bị và các chi phí khác.

Thứ hai là những khuất tất trong quá trình trao thầu và quản lý dự án.

Hợp đồng xây dựng được trao cho công ty CAMCE của Trung Quốc mà không thông qua một quy trình đấu thầu cạnh tranh, minh bạch theo tiêu chuẩn quốc tế. Thay vào đó, nó là một phần của thỏa thuận vay vốn, về cơ bản là "tiền của ai thì người đó thi công". Điều này tạo ra một môi trường thiếu giám sát, nơi nhà thầu và các quan chức địa phương có thể dễ dàng bắt tay nhau để lờ đi các tiêu chuẩn kỹ thuật, nghiệm thu các hạng mục kém chất lượng và chia chác phần chênh lệch.

Các cáo buộc này nhắm thẳng vào một mạng lưới lợi ích chằng chịt, bao gồm các chính trị gia cấp cao trong các chính phủ tiền nhiệm đã phê duyệt và thúc đẩy dự án này, đặc biệt là những người thuộc các phe phái thân Trung Quốc.

Bên cạnh đó là một loạt các quan chức trong Cơ quan Hàng không Dân dụng Nepal (CAAN), những người trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý và giám sát dự án.

Và dĩ nhiên, không thể thiếu các doanh nghiệp địa phương làm nhà thầu phụ, nhà cung cấp vật liệu, những kẻ đã thông đồng với nhà thầu chính Trung Quốc để thổi phồng chi phí.

Về cơ bản, đây là một phi vụ làm ăn béo bở, nơi các chính trị gia dùng quyền lực chính trị để phê duyệt một dự án có vấn đề, các quan chức thì nhắm mắt làm ngơ để nhận lại quả, còn các doanh nghiệp thì trực tiếp tham gia vào việc rút ruột công trình, bỏ lại gánh nặng nợ nần cho cả một quốc gia.

Việc mở một cuộc điều tra để xoa dịu dư luận là một chuyện, còn việc thực sự khởi tố và tống một thằng tai to mặt lớn vào tù lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.

Tính đến thời điểm hiện tại, mặc dù cuộc điều tra của Ủy ban Điều tra Lạm dụng Thẩm quyền (CIAA) đã được tiến hành rầm rộ trên mặt báo, nhưng chưa có một vụ khởi tố chính thức nào nhắm vào các nhân vật chóp bu, những kẻ chủ mưu thực sự đứng sau vụ bê bối này.

Đây là một kịch bản quen thuộc ở Nepal. Khi áp lực dư luận lên quá cao, CIAA sẽ vào cuộc để "làm đúng quy trình". Bọn họ sẽ thu thập tài liệu, triệu tập một vài người để lấy lời khai. Nhưng quá trình này thường diễn ra cực kỳ chậm chạp, và hay bị tắc nghẽn bởi sự can thiệp chính trị.

Những kẻ bị nhắm đến trong vụ này là những chính trị gia cấp cao và các quan chức có quyền lực, những người có đủ ảnh hưởng để gây áp lực lên chính cơ quan điều tra.

Bọn chúng sẽ dùng mọi mối quan hệ để làm chậm hoặc chệch hướng cuộc điều tra. Kịch bản dễ xảy ra nhất là chúng nó sẽ tóm vài con tép riu, vài thằng quan chức cấp phòng ban hay kỹ sư quèn nào đó để làm vật tế thần, rồi báo cáo cho dân chúng là "đã xử lý nghiêm minh".

Còn những kẻ chủ mưu thực sự, những bộ trưởng, những lãnh đạo đã ký duyệt dự án này và bỏ túi những khoản lại quả khổng lồ, thì gần như chắc chắn vẫn đang nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Trong một hệ thống mà quyền lực chính trị và quyền lực tài phiệt đã hòa vào làm một, việc một cơ quan nhà nước có thể thực sự "chặt cành sâu" ở cấp cao nhất là một điều gần như không tưởng.

Vì vậy, câu trả lời là: có điều tra, nhưng chưa có khởi tố nào ra hồn cả.

There is no question of Nepal choosing a side

Chọn ông chủ New Delhi hay Bắc Kinh?

Từ địa chính trị vùng đệm thế này bọn tinh hoa Nepal chỉ trung thành với lợi ích của chính mình chỉ khi nào ông chủ thực sự trao món hời lợi ích.

Đối với phe thân Ấn Độ có lực lượng nòng cốt là đảng Nepali Congress (NC) hay còn còn gọi là đảng Quốc Đại cực kỳ thân Ấn.

President of the Nepali Congress Girija Prasad Koirala waves to... News  Photo - Getty Images

Các lãnh đạo của NC gia tộc Koirala trước đây hay Sher Bahadur Deuba sau này đều có xu hướng duy trì một mối quan hệ đặc biệt với New Delhi. Bên cạnh đó, cộng đồng người Madhesi ở vùng đồng bằng Terai, với các đảng phái riêng của họ, cũng tự nhiên ngả về phía Ấn Độ do sự tương đồng về văn hóa, ngôn ngữ và các mối quan hệ huyết thống xuyên biên giới

Về mặt kinh tế, hầu hết các tập đoàn tài phiệt lâu đời, những kẻ giàu lên nhờ hoạt động thương mại và nhập khẩu qua các cửa khẩu phía nam, đều có mạng lưới lợi ích chằng chịt với Ấn Độ. Chúng nó hiểu rằng chọc giận Ấn Độ đồng nghĩa với việc tự bóp nghẹt con đường làm ăn của chính mình.

Còn phe thân Trung Quốc mới bắt đầu trỗi dậy mạnh mẽ trong khoảng hơn một thập kỷ trở lại đây với các dự án BRI (Vành đai và con đường) với lực lượng đi đầu trong việc ve vãn ông chủ Bắc Kinh chính là các Đảng phái Cộng Sản Mao-xít đặc biệt là CPN-UML - Communist Party of Nepal (Unified Marxist–Leninist) dịch ra tiếng việt là Đảng Cộng sản Nepal (Thống nhất Marxist-Leninist).

Nepal's UML Communist Party Withdraws Support for Ruling Prachanda  Government

Mặc dù mang tên "Cộng sản" và theo tư tưởng "Marxist-Leninist", nhưng mày đừng nhầm lẫn chung phe với khối XHCN như Việt Nam-Trung Quốc. Trong thực tế chính trị, bọn này hoạt động như một đảng xã hội dân chủ trong khuôn khổ đa đảng, chứ không phải là một đảng cộng sản độc tài theo kiểu cũ. Bọn chúng tham gia bầu cử, thành lập chính phủ liên minh và vận hành trong hệ thống dân chủ nghị trường.

Cái chữ "Thống nhất" (Unified) trong tên của nó là để chỉ lịch sử hình thành của đảng này, vốn là sự hợp nhất của hai đảng cộng sản nhỏ hơn vào năm 1991.

Nhân vật lãnh đạo CPN-UML chính là tay thủ tướng K.P. Sharma Oli vừa mới từ chức sau cuộc biểu tình/bạo loạn vào đầu tháng 9.

Oli được biết đến là một người theo chủ nghĩa dân tộc, thường xuyên sử dụng "lá bài Trung Quốc" để đối trọng lại sự ảnh hưởng của Ấn Độ.

Chính trong thời kỳ ông ta làm thủ tướng, các thỏa thuận về quá cảnh và các dự án hạ tầng lớn với Trung Quốc đã được thúc đẩy mạnh mẽ.

Phe CPN (Maoist Centre) của Prachanda, dù trong quá khứ từng có quan hệ phức tạp với Ấn Độ, cũng ngày càng xích lại gần Bắc Kinh để tìm kiếm sự ủng hộ và các nguồn lực kinh tế. Một bộ phận giới tinh hoa kinh doanh mới nổi, đặc biệt là những kẻ tham gia vào các lĩnh vực xây dựng, hạ tầng và công nghệ, cũng nhìn thấy cơ hội béo bở từ các khoản đầu tư và các gói thầu của Trung Quốc.

Còn phe thân phương Tây nói thẳng ra là chả có tý ảnh hưởng gì trong cuộc đấu đá quyền lực hằng ngày. Phần lớn đến từ các lĩnh vực xã hội dân sự, nhân quyền và các tổ chức phi chính phủ (NGO).

Ảnh hưởng của họ chủ yếu đến từ các nước như Mỹ, Anh và Liên minh châu Âu thông qua các khoản viện trợ phát triển, các chương trình hỗ trợ dân chủ và các suất học bổng.

Một bộ phận trí thức, nhà hoạt động xã hội và các chính trị gia trẻ, cấp tiến, những người được đào tạo ở phương Tây, thường có xu hướng ủng hộ các giá trị dân chủ tự do và hay lên tiếng chỉ trích cả sự can thiệp của Ấn Độ lẫn các dự án thiếu minh bạch của Trung Quốc. Tuy nhiên, do không có một đảng phái chính trị lớn nào làm đại diện, phe này thường yếu thế hơn trong việc định hình chính sách quốc gia so với hai phe thân Ấn và thân Tàu.

Sự trớ trêu là không một chính trị gia hay đảng phái nào ở Nepal chỉ ngả về một phía duy nhất.

Bọn chúng liên tục thay đổi đồng minh và điều chỉnh chính sách đối ngoại tùy thuộc vào việc phe nào đang cầm quyền và ai đưa ra lời đề nghị hấp dẫn hơn. Sự giằng co giữa ba thế lực bên ngoài này chính là một trong những yếu tố chính khiến cho nền chính trị Nepal luôn ở trong tình trạng bất ổn và bị giật dây.

Xã hội Nepal - bức tranh chắp vá phức tạp

Đất nước này có hơn 125 nhóm dân tộc và 123 ngôn ngữ khác nhau, phân mảnh không chỉ là về văn hoá mà còn là hệ thống phân chia đẳng cấp bị định hình và siết chặt bởi hai yếu tố: Địa lý và Hindu giáo.

Về mặt địa lý, Nepal bị chia cắt làm ba vành đai chính chạy từ đông sang tây.

Vùng núi cao Himalaya ở phía bắc là nơi sinh sống của các nhóm dân tộc có nguồn gốc Tạng-Miến như Sherpa (nổi tiếng với nghề dẫn đường leo núi) và Bhotia. Họ có văn hóa và tôn giáo gần gũi với Phật giáo Tây Tạng.

Vùng đồi núi trung tâm (Pahad) là khu vực đông dân nhất và cũng là trung tâm quyền lực chính trị. Đây là nơi sinh sống của các nhóm đẳng cấp cao trong hệ thống Hindu như Bahun (Bà-la-môn) và Chhetri (Sát-đế-lỵ), những người nói tiếng Nepal và nắm giữ phần lớn quyền lực chính trị, quân sự và hành chính của đất nước.

Xen kẽ với họ là rất nhiều các nhóm dân tộc bản địa (được gọi chung là Janajati) như Newar (cư dân bản địa của thung lũng Kathmandu, nổi tiếng về nghệ thuật và thương mại), Magar, Gurung, Rai, và Limbu (những nhóm nổi tiếng về sự dũng cảm và thường gia nhập quân đội Gorkha).

Cuối cùng là vùng đồng bằng Terai ở phía nam, giáp với Ấn Độ. Đây là vựa lúa của Nepal, là nơi sinh sống của người Madhesi, những người có văn hóa, ngôn ngữ và quan hệ họ hàng gần gũi với người dân ở bên kia biên giới Ấn Độ.

Nhưng yếu tố chia cắt xã hội một cách tàn bạo nhất chính là hệ thống đẳng cấp Hindu được du nhập và áp đặt lên trên tấm thảm dân tộc đa dạng này. Hệ thống này đặt những người Bahun và Chhetri ở trên đỉnh của kim tự tháp xã hội.

Các nhóm dân tộc bản địa Janajati thì bị xếp vào các đẳng cấp thấp hơn.

Và ở dưới đáy cùng của xã hội là những người Dalit (tiện dân), những người bị coi là "ô uế" và phải chịu đựng sự kỳ thị, phân biệt đối xử cùng cực trong mọi mặt của đời sống, từ việc không được vào đền chùa, không được dùng chung nguồn nước cho đến việc bị hạn chế trong cơ hội việc làm và giáo dục.

Sự phân mảnh này không chỉ tồn tại trên giấy tờ, nó ăn sâu vào trong đời sống chính trị và xã hội.

Quyền lực và của cải tập trung gần như toàn bộ vào tay các nhóm đẳng cấp cao ở vùng đồi núi, đặc biệt là Bahun và Chhetri.

Ngược lại, người Madhesi ở đồng bằng Terai và các nhóm dân tộc bản địa Janajati luôn cảm thấy mình bị gạt ra ngoài lề, bị phân biệt đối xử và không có tiếng nói tương xứng trong chính quyền.

Người Dalit thì phải chịu cảnh cùng khổ nhất. Chính sự bất bình đẳng mang tính hệ thống dựa trên sắc tộc và đẳng cấp này là một trong những nguyên nhân chính châm ngòi cho cuộc nội chiến, khi phe Maoist đã khai thác triệt để sự phẫn nộ của các cộng đồng bị áp bức này để tuyển mộ quân lính và xây dựng lực lượng.

Cho đến tận ngày nay, dù hiến pháp đã cấm phân biệt đối xử, những lằn ranh vô hình về dân tộc và đẳng cấp vẫn chi phối sâu sắc xã hội Nepal.

Lịch sử biến loạn của Nepal

Trước khi hiểu được vì sao có cuộc biểu tình ở năm 2025, các bất công và áp bức của một thằng trẻ Gen Z ở Nepal hãy nhìn xa hơn về thời điểm lập quốc.

Trong suốt thời kỳ thực dân khi người Anh thuộc địa hoá Ấn Độ thì nepal vẫn giữ được chủ quyền của mình sau một cuộc chiến vào thế kỷ 19, dù phải chấp nhận làm một quốc gia bảo hộ và có một đại diện của Anh ở thủ đô. Lịch sử hiện đại của Nepal không phải là cuộc đấu tranh chống lại thực dân, mà là một chuỗi nội chiến và đấu đá quyền lực không hồi kết giữa các phe phái trong nước.

Cột mốc cho lịch sử hiện đại là vào năm 1951 khi chế độ nhiếp chính của dòng họ Rana sụp đổ.

Trong suốt 100 năm, Nepal bị cai trị bởi các thủ tướng cha truyền con nối của gia tộc Rana trong khi các vị vua Shah chỉ là bù nhìn giống như vua Lê-Chúa Trịnh.

Cái cuộc cách mạng năm 1951 lật đổ nhà Rana không chỉ là một cuộc nổi dậy đơn thuần, nó còn có một bàn tay đạo diễn cực kỳ quan trọng từ bên ngoài: Ấn Độ.

Lúc bấy giờ, Ấn Độ vừa mới độc lập và Thủ tướng Nehru không ưa gì chế độ Rana độc tài và biệt lập, lo sợ sự bất ổn ở Nepal có thể lan sang biên giới của mình.

Khi Vua Tribhuvan chạy trốn khỏi sự kìm kẹp của nhà Rana và sang tị nạn ở New Delhi, Ấn Độ đã chớp lấy cơ hội. Họ vừa cho nhà vua nơi ẩn náu, vừa hậu thuẫn cho các lãnh đạo của đảng Nepali Congress đang lưu vong, và cuối cùng đóng vai trò trung gian ép các bên ngồi vào bàn đàm phán.

Kết quả là một thỏa thuận lai căng được gọi là "Thỏa hiệp Delhi": Vua Tribhuvan được phục hồi ngôi vị, nhưng phải chấp nhận một chính phủ liên hiệp bao gồm cả đại diện của nhà Rana cũ và đảng Nepali Congress. Chính cái sự thỏa hiệp chắp vá này đã gieo mầm cho sự hỗn loạn và tranh giành quyền lực suốt thập kỷ tiếp theo.

Thập niên 1950 là một chuỗi ngày bất ổn, nơi nhà vua, tàn dư của phe Rana và các đảng phái chính trị non trẻ liên tục đấu đá nhau.

Vua Tribhuvan chết năm 1955, con trai ông ta là Mahendra lên ngôi. Mahendra là một kẻ có tham vọng quyền lực và cực kỳ căm ghét hệ thống dân chủ nghị trường, cho rằng nó chỉ đẻ ra tham nhũng và chia rẽ. Lão vua này chỉ chờ thời cơ.

Cơ hội đến sau cuộc tổng tuyển cử đầu tiên và duy nhất của giai đoạn này vào năm 1959, khi đảng Nepali Congress của lãnh đạo B.P. Koirala giành chiến thắng vang dội. Chỉ hơn một năm sau, vào tháng 12 năm 1960, Vua Mahendra đã thực hiện một cuộc đảo chính hoàng gia.
Lấy cớ chính phủ dân cử tham nhũng, bất tài và đe dọa an ninh quốc gia, lão ta đã điều quân đội ra bắt giữ Thủ tướng Koirala cùng toàn bộ nội các, giải tán quốc hội và đình chỉ hiến pháp.

Ngay sau đó, Mahendra thiết lập hệ thống "Panchayat", một chế độ độc tài được khoác một cái áo mỹ miều là "nền dân chủ không đảng phái phù hợp với truyền thống Nepal".

History of social movements in Nepal: Political events from Panchayat to  republic that inspired social changes - OnlineKhabar English News

Về bản chất, đây là một hệ thống kim tự tháp gồm các hội đồng (panchayat) từ cấp làng xã lên đến quốc hội (Rastriya Panchayat). Nhưng toàn bộ cấu trúc này chỉ là bù nhìn, vì mọi quyền lực thực sự đều nằm trong tay nhà vua.

Nhà vua có quyền bổ nhiệm thủ tướng, giải tán nội các, phủ quyết mọi luật lệ và là tổng tư lệnh tối cao của quân đội. Chế độ Panchayat đã cấm tiệt mọi hoạt động chính trị đảng phái, kiểm duyệt báo chí gắt gao, và dùng một thứ chủ nghĩa dân tộc dựa trên Hindu giáo và ngôn ngữ Nepal để đàn áp sự đa dạng văn hóa của các dân tộc khác.

Nó đã đẩy Nepal vào 30 năm kìm kẹp của chế độ quân chủ chuyên chế.

Các đảng phái chính trị lẫn lãnh đạo như Thủ tướng dân cử B.P. Koirala, bị tống vào tù trong nhiều năm trời mà không cần xét xử. Bất kỳ ai dám tụ tập, hội họp hay chỉ trích nhà vua đều có thể bị bắt giữ.

Trong khi cái gọi là "Quốc hội Panchayat" chỉ là một cái loa phường, một sân khấu kịch được dựng lên để tạo ảo giác về sự tham gia của người dân. Các đại biểu được "bầu" lên thông qua một hệ thống gián tiếp, thiếu minh bạch và bị kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo chỉ những kẻ trung thành với hoàng gia mới có thể lọt vào.

Sự áp bức của chế độ Panchayat không chỉ dừng lại ở chính trị, nó còn đâm sâu vào cả văn hóa và bản sắc của các dân tộc. Chế độ này đã thực thi một chính sách mang tên "Một quốc gia, một ngôn ngữ, một trang phục".

"Một ngôn ngữ" ở đây chính là tiếng Nepal (Khas Kura), ngôn ngữ của tầng lớp Bahun-Chhetri cầm quyền. Các ngôn ngữ của hàng trăm dân tộc khác bị gạt ra ngoài lề, không được sử dụng trong trường học và các cơ quan hành chính.

"Một quốc gia" được định hình dựa trên bản sắc của đạo Hindu và văn hóa của vùng đồi núi trung tâm. Các tôn giáo khác như Phật giáo và tín ngưỡng bản địa của các dân tộc Janajati bị xem nhẹ.

Đây là một chiến dịch đồng hóa văn hóa cưỡng bức, nhằm xóa bỏ sự đa dạng phong phú của Nepal để tạo ra một quốc gia đơn nhất, dễ bề cai trị, dưới sự thống trị tuyệt đối của tầng lớp tinh hoa nói tiếng Nepal và theo đạo Hindu. Đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số, đây là một sự sỉ nhục, tước đi di sản và bản sắc của tổ tiên họ.

Dưới chiêu bài "phát triển", chế độ Panchayat đã tạo ra một hệ thống kinh tế trì trệ và chỉ làm giàu cho một nhóm nhỏ xung quanh cung điện.

Quyền lực kinh tế tập trung hết vào tay hoàng gia và một tầng lớp quan lại, quý tộc thân cận.
Các nguồn lực của đất nước, các giấy phép kinh doanh béo bở, và các khoản viện trợ nước ngoài đều được phân chia cho các phe nhóm này.

Trong khi đó, đại đa số người dân, đặc biệt là ở nông thôn, vẫn chìm trong đói nghèo và lạc hậu. Đất đai vẫn nằm trong tay địa chủ, và không có một cuộc cải cách kinh tế thực sự nào được thực hiện để cải thiện đời sống cho họ. Sự bất mãn về kinh tế và cảm giác bị bỏ rơi này chính là mảnh đất màu mỡ đã nuôi dưỡng cho cuộc nổi dậy của phe Maoist sau này.

Để duy trì sự cai trị, chế độ Panchayat đã dựa vào một bộ máy an ninh và mật vụ tàn bạo. Bất kỳ tiếng nói bất đồng nào cũng bị dập tắt không thương tiếc. Các nhà hoạt động sinh viên, nhà báo, trí thức dám lên tiếng chỉ trích đều phải đối mặt với nguy cơ bị bắt giữ, tra tấn hoặc "mất tích". Một không khí sợ hãi bao trùm cả xã hội, nơi người dân không dám tin tưởng lẫn nhau và không dám bàn luận về chính trị. Chính nỗi sợ hãi này, được duy trì trong suốt 30 năm, đã kìm hãm sự phát triển của xã hội dân sự và để lại những vết sẹo tâm lý sâu sắc cho nhiều thế hệ người Nepal.

Đến năm 1990, sự bất mãn của người dân đã lên đến đỉnh điểm dẫn đến cuộc nổi dậy quần chúng rộng khắc được gọi là "Jana Andolan I" (Phong trào Nhân dân lần thứ nhất). Trước sức ép của hàng triệu người biểu tình, vua Birendra (con trai vua Mahendra) buộc phải nhượng bộ, chấm dứt hệ thống Panchayat và tái lập nền dân chủ đa đảng.

Nepal News | Nepal's First Online News Portal

Tuy nhiên, thập niên 1990, thay vì là một kỷ nguyên vàng của dân chủ, lại là một giai đoạn hỗn loạn của các chính phủ liên minh yếu ớt, tham nhũng và đấu đá phe phái không ngừng.

Chính sự thất bại của nền dân chủ non trẻ này đã tạo ra mảnh đất màu mỡ cho một lực lượng cực đoan hơn.

Năm 1996, đám cộng cộng sản theo chủ nghĩa Mao Trạch Đông chính thức thành lập nên Đảng Cộng sản Nepal (Maoist) từ lực lượng nổi dậy cực đoan được hình thành từ các thành phần cấp tiến trong phong trào cộng sản Nepal.

Bọn chúng là ai? Đó là những những nhà trí thức, nhà hoạt động và nông dân - những người đã hoàn toàn đánh mất niềm tin vào con đường dân chủ nghị trường sau năm 1990.

Dưới sự lãnh đạo của những kẻ như Prachanda và Baburam Bhattarai, chúng tin rằng hệ thống chính trị hiện tại, với chế độ quân chủ và cấu trúc xã hội đẳng cấp Hindu, là gốc rễ của mọi sự bất công và nghèo đói.

Vì vậy, chúng chủ trương đi theo con đường bạo lực cách mạng của Mao, phát động một cuộc "chiến tranh nhân dân" từ nông thôn để bao vây thành thị, mục tiêu cuối cùng là lật đổ nhà vua và thiết lập một nhà nước cộng hòa cộng sản.

Nepalese Civil War - Wikipedia

Trung Quốc vào thời điểm Đặng Tiểu Bình mở cửa và cải cách không hề liên quan gì tới cái đám tự gọi mình là "Mao-xít" này và cũng không nhận được bất kỳ sự hỗ trợ chính thức nào từ chính phủ Trung Quốc.

Bắc Kinh coi phiến quân Maoist Nepal như một mối phiền toái, tàn dư của quá khứ cực đoan có thể gây bất ổn cho khu vực Tây Á láng giềng trong khi họ đang bước vào con đường "chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc" của Đặng Tiểu Bình, từ bỏ việc xuất khẩu cách mạng và ưu tiên quan hệ nhà nước ổn định.

Thậm chí, Trung Quốc còn duy trì quan hệ thân thiện với hoàng gia Nepal và coi đó là chính phủ hợp pháp. Mối liên hệ duy nhất chỉ dừng lại ở mặt ý thức hệ vay mượn từ thời Cách mạng Văn hóa, chứ không phải là sự hỗ trợ về vật chất hay quân sự.

Bây giờ quay lại với bối cảnh năm 1990, khi chế độ Panchayat sụp đổ, hai thế lực chính là đảng Nepali Congress (NC) và đảng CPN-UML (vừa mới thành lập) bắt đầu nổi lên và lao vào cuộc đấu đá quyền lực.

Thay vì hợp tác với nhau để xây dựng thể chế dân chủ non trẻ thì bọn này coi chính trị như trò chơi có tổng bằng không: hoặc là tao thắng, hoặc là mày thắng.

Bất kỳ thành công nào của chính phủ đối lập đều bị coi là một thất bại của phe mình. Sự đối đầu cực đoan này đã làm tê liệt hoàn toàn quốc hội và biến nó thành một đấu trường cho những âm mưu lật đổ và những lời chỉ trích hằn học, thay vì là nơi để xây dựng luật pháp.

Bi kịch nằm ở chỗ không một cuộc bầu cử nào trong thập niên 90 tạo ra được một đảng chiếm đa số tuyệt đối. Điều này buộc các đảng lớn phải đi tìm kiếm sự ủng hộ từ các đảng nhỏ hơn, đặc biệt là đảng Rastriya Prajatantra (RPP) của phe bảo hoàng cũ, để thành lập chính phủ liên minh.

Bọn đảng nhỏ này, nhận thấy vai trò "kẻ buôn vua" (kingmaker) của mình, đã không ngần ngại bán rẻ sự ủng hộ cho bên nào trả giá cao hơn. "Cái giá" ở đây chính là những chiếc ghế bộ trưởng béo bở, những chức vụ bổng lộc và những đặc quyền kinh tế.

Điều này đã đẻ ra một hiện tượng "chính phủ cửa quay", nơi các chính phủ được thành lập rồi lại sụp đổ với tốc độ chóng mặt chỉ trong vài tháng.

Một thủ tướng vừa lên nắm quyền đã phải ngay lập tức lo đối phó với những âm mưu lật đổ từ chính các đồng minh của mình.

Để mua chuộc lòng trung thành của các nghị sĩ và các đảng liên minh, tham nhũng đã bùng nổ đến mức trơ trẽn. Cả xã hội Nepal lúc đó đã phải dùng một thuật ngữ mới là "văn hóa Pajero" để mô tả tầng lớp chính trị gia mới nổi này. Bọn chúng vơ vét ngân sách nhà nước và nhận hối lộ để mua những chiếc xe Mitsubishi Pajero đắt tiền, một biểu tượng xa hoa của quyền lực và sự tham nhũng, diễu qua những con đường lầy lội và những đám dân nghèo đói ở Kathmandu.

Trong khi các chính trị gia đang mải mê với trò chơi vương quyền và làm giàu ở thủ đô, thì người dân ở các vùng nông thôn, những người đã hy sinh cho cuộc cách mạng 1990, lại hoàn toàn bị bỏ rơi.

Cuộc sống của họ không có gì thay đổi, vẫn đói nghèo, vẫn bị áp bức bởi địa chủ và một bộ máy hành chính quan liêu. Niềm hy vọng và sự hân hoan của năm 1990 đã nhanh chóng biến thành sự thất vọng và phẫn nộ tột độ. Họ cảm thấy bị phản bội.

Chính cái sự thất bại toàn diện của nền dân chủ này đã tạo ra một khoảng trống quyền lực và ý thức hệ khổng lồ. Và phe Maoist đã nhảy vào khoảng trống đó.

Bọn chúng đi đến các làng quê nghèo khó, chỉ tay về phía Kathmandu và nói với người dân rằng:

"Hãy nhìn đi, cái gọi là dân chủ nghị trường chỉ là một trò lừa bịp của bọn địa chủ và tư sản. Chúng nó chỉ thay nhau vơ vét. Con đường duy nhất để có công bằng thực sự là đi theo chúng tôi, dùng bạo lực cách mạng để đập tan cái chế độ thối nát này".

Lời kêu gọi của chúng, trong bối cảnh đó, đã trở nên cực kỳ thuyết phục. Sự tham nhũng và bất tài của các chính phủ dân chủ ở Kathmandu chính là công cụ tuyển quân hiệu quả nhất cho đội quân nổi dậy của Prachanda.

Trước khi chính thức nổ súng, vào đầu tháng 2 năm 1996, một lãnh đạo cấp cao của phe Maoist là Baburam Bhattarai đã thay mặt đảng của mình trình lên chính phủ của Thủ tướng Sher Bahadur Deuba một bản yêu sách gồm 40 điểm. Bản yêu sách này bao gồm những đòi hỏi cực kỳ cấp tiến và mang tính lật đổ, chẳng hạn như:

  • chấm dứt chế độ quân chủ,

  • viết lại hiến pháp bởi một quốc hội lập hiến do dân bầu ra,

  • hủy bỏ các hiệp ước bất bình đẳng với Ấn Độ,

  • quốc hữu hóa tài sản của "giai cấp tư sản quan liêu và phong kiến",

  • giải quyết các vấn đề về đất đai, quốc tịch

  • và trao quyền cho các dân tộc thiểu số.

Bọn họ đã ra một tối hậu thư, tuyên bố rằng nếu chính phủ không có những bước đi tích cực để đáp ứng các yêu sách này, họ sẽ buộc phải phát động một cuộc đấu tranh vũ trang.

Chính phủ của Thủ tướng Sher Bahadur Deuba lúc đó, vốn đang mải mê với các cuộc đấu đá phe phái và tranh giành quyền lực trong liên minh, đã gần như phớt lờ bản yêu sách này. Bọn họ coi phe Maoist chỉ là một nhóm cực đoan nhỏ, không có khả năng gây ra một mối đe dọa thực sự và cũng không có ý định đàm phán nghiêm túc với những đòi hỏi "điên rồ" như vậy.

Khi thời hạn chót trôi qua mà không có hồi âm, phe Maoist đã thực hiện đúng lời đe dọa của mình. Vào ngày 13 tháng 2 năm 1996, bọn họ chính thức phát động "Chiến tranh Nhân dân" bằng cách tấn công đồng loạt vào các đồn cảnh sát hẻo lánh ở một số huyện, trong đó có Rolpa, Rukum và Sindhuli.

What's next for Nepal's democracy after deadly protests topple government?  | The Independent

Và thế là cuộc nội chiến đẫm máu kéo dài suốt một thập kỷ nổ ra kéo hơn 17.000 người thiệt mạng bắt đầu.

Từ năm 1996-2001 thì chỉ là một cuộc xung đột ở cường độ thấp diễn ra chủ yếu ở các vùng nông thôn hẻo lánh, đặc biệt là các huyện phía Tây Nepal như Rolpa và Rukum - "căn cứ địa" của phe Maosist.

Chiến lược của phe này giống chủ yếu là chiến tranh du kích cổ điể: tấn công đồn cảnh sát bị cô lập để cướp vũ khí và nhu yếu phẩm, ám sát các quan chức địa phương và những người bị đấu tố coi là "tay sai của chế độ", và xây dựng một "chính quyền nhân dân" song song. Mục tiêu của chúng không phải là đối đầu trực diện với quân đội, mà là dần dần ăn mòn quyền lực của nhà nước từ các vùng nông thôn.

Bọn này tuỳ cách nhìn nhận mày có thể xem chúng là phiến quân khủng bố hoặc quân cách mạng thì đó là cách mày chọn.

Nguồn tài chính cũng đến từ việc "đánh thuế" và tống tiền ngay trên lãnh thổ chúng kiểm soát. Ở các vùng nông thôn rộng lớn, chúng thiết lập một chính quyền song song và buộc người dân, từ nông dân cho đến chủ doanh nghiệp nhỏ, phải nộp một khoản "thuế cách mạng". Ai không tuân theo sẽ bị coi là kẻ thù và phải đối mặt với hậu quả thảm khốc.

Ngoài ra, chúng còn thường xuyên cướp ngân hàng ở các thị trấn nhỏ, tấn công các đoàn xe chở tiền và chiếm đoạt tài sản của những người bị chúng coi là "địa chủ" hay "phong kiến". Về vũ khí, ban đầu chúng chủ yếu cướp được từ các đồn cảnh sát bị tấn công, sau đó tự chế tạo các loại vũ khí thô sơ và mua lậu một lượng lớn từ các chợ đen vũ khí ở Ấn Độ.

Còn tuyên truyền thì khỏi nói, phe cộng sản lúc nào cũng là bậc thầy trong việc khai thác những bất mãn trong xã hội.

Thứ nhất là cam kết xoá bỏ hệ thống đẳng cấp Hindu hà khắc - một lời hứa đầy hấp dẫn với hàng triệu người thuộc tầng lớp "hạ tiện" (Dalit) và các nhóm dân tộc thiểu số bị gạt ra ngoài lề xã hội.

Thứ hai là hứa hẹn một cuộc cải cách ruộng đất triệt để - lấy đất địa chủ chia cho dân nghèo, đánh trúng ước ngàn đời của tầng lớp bần cùng. Cái này kết quả ở Việt Nam, Trung Quốc diễn ra thế nào thì mày biết rồi đó.

Cuối cùng là phơi bày và lên án sự tham nhũng, bất tài và đấu đá quyền lực của chính phủ ở kathmandu.

Từ ba lời hứa tuyên truyền này và xây dựng hình ảnh lực lượng trong sạch, kỷ luật và chiến đầu vì người nghèo đối lập hoàn toàn với một chính quyền thối nát, chúng đã thành công trong việc tuyển mộ hàng ngàn thanh niên nam nữ, những người cảm thấy bị phản bội và không còn gì để mất trở thành một thế lực lớn trên bàn cờ chính trị Nepal.

Về phía chính phủ ở Kathmandu, bọn chúng đã phạm một sai lầm chết người là coi thường mối đe dọa. Các chính phủ liên minh yếu ớt và mải mê đấu đá phe phái đã xem cuộc nổi dậy của phe Maoist chỉ là một "vấn đề an ninh trật tự" do một nhóm khủng bố nhỏ gây ra. Bọn họ chỉ điều động lực lượng cảnh sát, vốn được trang bị thô sơ, huấn luyện kém và tinh thần chiến đấu thấp, để đối phó.

Kết quả là cảnh sát đã bị đánh cho tơi tả, nhiều đồn bốt bị san phẳng, và phe Maoist ngày càng mở rộng được vùng kiểm soát của mình. Quân đội quốc gia, lực lượng thiện chiến hơn nhiều, phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.

Giữa lúc cuộc nội chiến đang diễn ra ác liệt thì một bi kịch kinh hoàng đã xảy ra vào năm 2001.

Vụ thảm sát hoàng gia Nepal

150 Nepal Royal Massacre Stock Photos, High-Res Pictures, and Images -  Getty Images

Thái tử Dipendra đã xả súng giết chết Vua Birendra cùng gần như toàn bộ gia đình hoàng tộc rồi tự sát. Em trai của vua Birendra là Gyanendra lên ngôi. Khác với người anh có tư tưởng cải cách, Gyanendra là một kẻ độc tài.

Ngay lập tức, Vua Gyanendra ban bố tình trạng khẩn cấp và lần đầu tiên, huy động Quân đội Hoàng gia Nepal vào cuộc chiến một cách toàn diện.

Cuộc nội chiến lúc này mới thực sự biến thành một cuộc chiến tranh toàn diện và tàn khốc. Quân đội, với trang bị tốt hơn và được huấn luyện bài bản, đã tiến hành các chiến dịch càn quét quy mô lớn vào các căn cứ địa của phe Maoist.

Ngược lại, phe Maoist cũng không còn là một nhóm du kích nhỏ lẻ, họ đã phát triển thành một đội quân thực thụ, có khả năng thực hiện các cuộc tấn công lớn vào cả các doanh trại quân đội và các trung tâm đầu não của huyện.

Đây là giai đoạn đẫm máu nhất của cuộc chiến, khi cả hai bên đều tiến hành các hành động tàn bạo. Quân đội thì bị cáo buộc tra tấn, thủ tiêu ngoài vòng pháp luật, trong khi phe Maoist thì khủng bố dân thường và cưỡng bức tòng quân. Kết quả của giai đoạn này là một sự bế tắc đẫm máu: quân đội kiểm soát được các thành phố và thị trấn, còn phe Maoist thì làm chủ gần như toàn bộ các vùng nông thôn rộng lớn.

Quá mệt mỏi với sự bất lực của các chính trị gia và tình hình chiến sự bế tắc, Vua Gyanendra đã đánh một canh bạc cuối cùng.

Vào tháng 2 năm 2005, ông ta thực hiện một cuộc đảo chính, giải tán chính phủ, bắt giữ các nhà lãnh đạo chính trị và thâu tóm toàn bộ quyền lực. Lão vua tin rằng chỉ có chế độ quân chủ chuyên chế mới đủ sức mạnh để dẹp tan quân nổi dậy.

Nhưng đây lại chính là hành động tự sát về mặt chính trị. Việc thâu tóm quyền lực của nhà vua đã tạo ra một kẻ thù chung cho hai lực lượng vốn không đội trời chung: các đảng phái chính trị dân chủ và phiến quân Maoist. Lần đầu tiên, bọn họ đã tìm thấy tiếng nói chung và bắt tay với nhau để chống lại nhà vua.

Sự hợp tác này đã dẫn đến Phong trào Nhân dân lần thứ hai vào tháng 4 năm 2006. Hàng triệu người đã đổ ra đường phố biểu tình, làm tê liệt hoàn toàn đất nước.

Trước sức ép không thể chống đỡ từ người dân, sự phản kháng trong nội bộ và áp lực quốc tế, Vua Gyanendra buộc phải đầu hàng sau 19 ngày. Ông ta khôi phục lại quốc hội.

Ngay lập tức, chính phủ mới và phe Maoist đã tiến hành đàm phán và ký kết Hiệp định Hòa bình Toàn diện vào tháng 11 năm 2006.

Cuộc chiến không kết thúc bằng một trận đánh cuối cùng trên chiến trường, mà bằng sức mạnh của quần chúng trên đường phố, chính thức khép lại một thập kỷ nội chiến tàn khốc.

Năm 2008, Nepal đã bầu ra một Quốc hội Lập hiến đầu tiên với nhiệm vụ chính là soạn thảo hiến pháp trong vòng hai năm. Phe Maoist, với chiến thắng bất ngờ, trở thành đảng lớn nhất.

Tuy nhiên, sự lạc quan ban đầu nhanh chóng tan biến. Các đảng phái chính trị, thay vì hợp tác, lại sa lầy vào những cuộc tranh cãi không hồi kết về những vấn đề cốt lõi nhất định hình nên đất nước.

Điểm gây tranh cãi lớn nhất và cũng là nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại là vấn đề chủ nghĩa liên bang.

Phe Maoist và các đảng của người Madhesi và Janajati (dân tộc bản địa) muốn phân chia đất nước thành các bang dựa trên bản sắc dân tộc và ngôn ngữ. Họ cho rằng đây là cách duy nhất để sửa chữa những bất công lịch sử do nhà nước trung ương của tầng lớp Bahun-Chhetri áp đặt.

Ngược lại, hai đảng lớn là Nepali Congress và CPN-UML lại kịch liệt phản đối, lo sợ rằng việc thành lập các bang dựa trên sắc tộc sẽ châm ngòi cho chủ nghĩa ly khai và làm tan rã đất nước.

Ngoài ra, họ cũng không thể thống nhất được về hình thức chính phủ: nên theo chế độ tổng thống (do phe Maoist ủng hộ) hay chế độ thủ tướng nghị viện (do Nepali Congress và UML ủng hộ).

Sau bốn năm gia hạn hết lần này đến lần khác mà vẫn không đi đến đâu, Quốc hội Lập hiến đầu tiên đã bị giải tán vào năm 2012 trong sự thất bại cay đắng, bỏ lại một khoảng trống chính trị khổng lồ.

Sau một năm khủng hoảng, Nepal bầu ra một Quốc hội Lập hiến thứ hai vào năm 2013. Lần này, cán cân quyền lực đã thay đổi: hai đảng cũ là Nepali Congress và UML chiếm đa số, còn phe Maoist suy yếu đáng kể. Quá trình soạn thảo vẫn diễn ra ì ạch.

More Than 3,200 Dead in Nepal Quake

Bước ngoặt xảy ra sau trận động đất kinh hoàng năm 2015. Thảm họa này đã tạo ra một áp lực chính trị khổng lồ, buộc các đảng lớn phải gạt bỏ bất đồng để nhanh chóng thông qua một bản hiến pháp, với lý do là để tạo ra sự ổn định chính trị cần thiết cho công cuộc tái thiết.

Trong một nỗ lực vội vã, ba đảng lớn đã bắt tay nhau, đưa ra một bản dự thảo hiến pháp thỏa hiệp mà không có sự đồng thuận của các đảng đại diện cho người Madhesi và Tharu ở vùng đồng bằng Terai.

Bản hiến pháp này đã bị người Madhesi và Tharu coi là một sự phản bội. Họ cho rằng nó đã không giải quyết được các yêu cầu của họ về đại diện chính trị tương xứng và quyền tự trị, thậm chí còn tước đi một số quyền lợi mà họ đã có trước đây. Ngay lập tức, các cuộc biểu tình dữ dội đã nổ ra trên khắp vùng đồng bằng Terai.

Bất chấp bạo lực và hàng chục người thiệt mạng trong các cuộc đụng độ với cảnh sát, ba đảng lớn vẫn quyết tâm thông qua hiến pháp bằng được.

Ngày 20 tháng 9 năm 2015, Hiến pháp mới của Nepal chính thức được ban hành trong một bối cảnh kỳ lạ: pháo hoa được bắn lên ở thủ đô Kathmandu, trong khi ở phía nam đất nước, người dân đang đốt chính bản hiến pháp đó và chìm trong khói lửa của bạo loạn. Chính sự ra đời đầy chia rẽ này đã châm ngòi cho cuộc phong tỏa biên giới của Ấn Độ và để lại những vết sẹo chính trị sâu sắc cho đến tận ngày nay.

Cái hiến pháp năm 2015, thay vì là liều thuốc chữa bệnh, lại trở thành bản thiết kế cho một cái nhà thương điên chính trị. Nó đã tạo ra một cái sân chơi hoàn hảo cho một cuộc khủng hoảng triền miên, nơi chiếc ghế thủ tướng trở thành một món đồ chơi được chuyền tay nhau với tốc độ chóng mặt.

Nepal parliamentarians prioritise populism than anything else, and it's  costing democracy - OnlineKhabar English News

Nguyên nhân cốt lõi nằm ngay trong cái hệ thống bầu cử mà bản hiến pháp này tạo ra. Nó là một hệ thống hỗn hợp, vừa bầu trực tiếp theo khu vực, vừa bầu theo tỷ lệ đảng phái.

Kết quả của cái hệ thống phức tạp này là gần như không thể có một đảng phái nào giành được đa số tuyệt đối trong quốc hội để tự mình đứng ra lập chính phủ.

Mày hiểu chứ? Cái luật chơi ngay từ đầu đã được thiết lập để không ai có thể thắng một mình.

Điều này đã đẩy ba con cá mập lớn nhất trong cái ao chính trị Nepal là đảng Nepali Congress (NC), CPN-UML và CPN (Maoist Centre) vào một trò chơi vương quyền bất tận.

Vì không ai đủ mạnh, chúng nó buộc phải liên minh với nhau để thành lập chính phủ. Nhưng đây không phải là những liên minh dựa trên nguyên tắc hay ý thức hệ, mà là những cuộc hôn nhân tạm bợ được xây dựng trên sự nghi kỵ và lòng tham.

Cái kịch bản nó diễn ra lặp đi lặp lại như một cuốn phim dở tệ thế này:

Đảng A và đảng B sẽ bắt tay nhau để loại bỏ đảng C. Chúng nó sẽ ký một "thỏa thuận quý ông", thường là chia nhau nhiệm kỳ thủ tướng, ví dụ như thằng lãnh đạo đảng A sẽ làm thủ tướng hai năm rưỡi đầu, rồi đến lượt thằng lãnh đạo đảng B làm nốt phần còn lại.

Nhưng ngay khi thằng thủ tướng đầu tiên vừa mới ấm chỗ, nó sẽ ngay lập tức tìm cách củng cố quyền lực và loại bỏ ảnh hưởng của phe đồng minh.

Thằng đồng minh, thấy mình sắp bị chơi xỏ và cũng thèm khát quyền lực, sẽ bắt đầu đi đêm với chính cái đảng C mà chúng nó vừa lật đổ hôm qua. Một liên minh ma quỷ mới được hình thành, một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm được tiến hành, và chính phủ sụp đổ.

Rồi một chính phủ mới lại được dựng lên với một sự kết hợp khác của ba con cá mập đó, và cái vòng luẩn quẩn lại bắt đầu.

Prachanda (Maoist) có thể liên minh với Oli (UML) hôm nay, nhưng ngày mai sẵn sàng đâm sau lưng Oli để bắt tay với Deuba (NC). Thậm chí, hai đảng cộng sản UML và Maoist đã từng hợp nhất thành một đảng duy nhất, nhưng chỉ vài năm sau lại tan rã vì không chia chác được quyền lực.

Chính cái trò chơi chính trị vô nguyên tắc và vị kỷ này, được tạo điều kiện bởi một bản hiến pháp không hoàn hảo, đã biến nền dân chủ nghị trường của Nepal thành một gánh xiếc.

Không một chính phủ nào tồn tại đủ lâu để thực hiện bất kỳ một chính sách dài hạn nào.
Các bộ trưởng thay đổi xoành xoạch, các dự án phát triển bị đình trệ, và tham nhũng thì càng có cơ hội nở rộ vì thằng nào cũng biết mình chỉ có một thời gian ngắn ngủi trên ghế để vơ vét.

Đó chính là lý do vì sao trong một thập kỷ, Nepal đã có mười mấy đời thủ tướng, nhưng đất nước thì vẫn dậm chân tại chỗ.

Ngay sau khi hiến pháp mới được ban hành, gánh xiếc bắt đầu.

Sushil Koirala của đảng Nepali Congress đang tại vị thì mất ghế, và K.P. Sharma Oli của đảng CPN-UML lên thay vào tháng 10 năm 2015. Oli lên nắm quyền trong bối cảnh cuộc phong tỏa biên giới của Ấn Độ, và lão ta đã tận dụng điều này để khơi dậy chủ nghĩa dân tộc, ký các thỏa thuận với Trung Quốc. Nhưng liên minh của Oli với phe Maoist của Prachanda không kéo dài được lâu.

Đến tháng 8 năm 2016, Prachanda (Maoist) lật kèo, rút khỏi liên minh, khiến chính phủ của Oli sụp đổ. Ngay sau đó, Prachanda bắt tay với kẻ thù cũ là đảng Nepali Congress để tự mình ngồi vào ghế thủ tướng. Bọn họ thỏa thuận sẽ chia nhau quyền lực, Prachanda làm thủ tướng trước rồi sẽ nhường lại cho Sher Bahadur Deuba của Nepali Congress.

Đúng như thỏa thuận, đến tháng 6 năm 2017, Prachanda từ chức và Sher Bahadur Deuba (Nepali Congress) lên làm thủ tướng. Deuba tại vị cho đến khi cuộc tổng tuyển cử mới được tổ chức.

Cuộc bầu cử cuối năm 2017 chứng kiến một cú sốc: hai đảng cộng sản CPN-UML của Oli và CPN (Maoist Centre) của Prachanda quyết định hợp nhất, tạo ra một liên minh cộng sản hùng mạnh và giành chiến thắng vang dội. K.P. Sharma Oli một lần nữa quay lại ghế thủ tướng vào tháng 2 năm 2018 với một thế đa số gần như tuyệt đối, hứa hẹn một kỷ nguyên ổn định kéo dài 5 năm.

Nhưng "ổn định" là một từ không có trong từ điển chính trị Nepal. Cuộc hôn nhân giữa Oli và Prachanda nhanh chóng rạn nứt vì tranh giành quyền lực trong nội bộ đảng cộng sản thống nhất.

Sau nhiều năm đấu đá nội bộ, đến tháng 7 năm 2021, Tòa án Tối cao đã can thiệp, phán quyết việc Oli giải tán quốc hội là vi hiến và chỉ định Sher Bahadur Deuba (Nepali Congress) làm thủ tướng một lần nữa, dù đảng của ông ta chỉ là thiểu số.

Deuba lại phải lãnh đạo một chính phủ liên minh chắp vá. Đến cuộc bầu cử cuối năm 2022, không đảng nào chiếm đa số. Deuba đang cố gắng thành lập chính phủ thì vào phút chót, Prachanda (Maoist) lại lật kèo một lần nữa, chạy sang bắt tay với chính kẻ thù cũ là Oli (UML) để được làm thủ tướng vào tháng 12 năm 2022.

Nhưng chỉ vài tháng sau, Prachanda lại đâm sau lưng Oli, quay lại liên minh với Deuba (Nepali Congress) để giữ ghế. Vòng lặp phản bội này tiếp tục cho đến tháng 7 năm 2024, khi chính phủ của Prachanda sụp đổ, và K.P. Sharma Oli lại một lần nữa được bổ nhiệm làm thủ tướng.

Và cuối cùng, chính phủ của Oli đã bị lật đổ bởi cơn thịnh nộ của Gen Z vào tháng 9 năm 2025.

Nepal's Prime Minister Resigns Amid Protects - MitKat Advisory Services Pvt  Ltd

Trong 10 năm, nước này có 8 lần thay đổi thủ tướng, với chỉ 3 cái tên quen thuộc là Oli, Prachanda và Deuba liên tục hoán đổi vị trí cho nhau như một trò chơi con nít.

Vậy mày thấy cái độ bất tài vô dụng của lũ chính phủ Nepal chưa?

Đứa nào kêu biểu tình/bạo loạn làm cả nước xuống hố chứ tao thì chỉ thấy chính bọn Elite này đã đào sẵn mồ chôn cho một quốc gia chỉ vì đấu đá quyền lực rồi.

Chính vì sự bất ổn chính trị triền miên trong 10 năm này là gốc rễ của nạn thất nghiệp lên đến 10,71% (World Bank -2024).

Nhưng ngay cả con số chính thức này cũng chưa phản ánh hết thực tế, vì nó không tính đến hàng triệu người đang làm các công việc bán thời gian, bấp bênh hoặc đã phải bỏ xứ ra đi vì không tìm nổi việc làm ở quê nhà. Tỷ lệ thất nghiệp ở thanh niên còn cao hơn nhiều, ở mức trên 20%.

Thử nhìn đi mỗi lần thay chính phủ là một lần chính sách bị đảo lộn tạo ra môi trường đầu tư cực kỳ rủi ro. Không một nhà đầu tư nước ngoài nào lại đổ một đống tiền vào nơi luật chơi bị thay đổi chóng mặt chỉ trong một đêm.

Đừng đổ lỗi cho đám Gen Z làm vốn đầu tư bỏ chạy. Bọn chúng chỉ là những người nổi điên sau cùng. Chính tầng lớp tinh hoa đã đuổi nhà đầu tư đi từ lâu rồi bằng một thứ "thuế" vô hình nhưng cực kỳ chết chóc, đó là "chi phí bất ổn".

Unemployed to get Rs 22,417 per annum - The Himalayan Times - Nepal's No.1  English Daily Newspaper | Nepal News, Latest Politics, Business, World,  Sports, Entertainment, Travel, Life Style News

Đối với nhà đầu tư nước ngoài, mỗi một dự án ở Nepal đều phải cộng thêm cái chi phí rủi ro này. Nó là cái rủi ro ngày mai chính phủ đổi chủ, hợp đồng của mày bị hủy, luật thuế thay đổi 180 độ, hay một thằng "nepo kid" nào đó nhảy vào đòi chia chác. Khi mà lợi nhuận tiềm năng không đủ để bù đắp cho những rủi ro điên rồ này, không một nhà đầu tư tỉnh táo nào lại dại dột ném tiền của mình vào một cái sòng bạc chính trị như vậy

Còn bọn doanh nghiệp trong nước? Chúng nó cũng khôn vãi lồn ra. Dại gì đi xây một cái nhà máy mất 10 năm mới hoàn vốn trong khi chính phủ thì thay xoành xoạch mỗi năm.

Thay vào đó, chúng nó sẽ lao vào những ngành ăn xổi ở thì: buôn lậu, nhập khẩu độc quyền, đầu cơ đất đai, hay chạy chọt để trúng một gói thầu của chính phủ.

Lợi nhuận nhanh, rủi ro thấp, và quan trọng là rút được tiền mặt ngay lập tức trước khi chính phủ mới lên và luật chơi thay đổi. Chính cái môi trường "làm ăn chộp giật" này đã giết chết sự phát triển bền vững và không tạo ra được những công việc ổn định, chất lượng cao.

Các quy định không chỉ phức tạp mà còn cố tình được để cho mập mờ, tạo cơ hội cho quan chức nhũng nhiễu, đòi hối lộ. Để xin được một cái giấy phép, doanh nghiệp có khi phải chạy vạy qua hàng chục cửa, mỗi cửa lại phải "làm luật". Cái "thuế tham nhũng" vô hình này khiến chi phí khởi nghiệp và vận hành doanh nghiệp bị đội lên rất cao, làm nản lòng bất cứ ai muốn làm ăn chân chính.

Về chuyện siết tín dụng, nó là hệ quả tất yếu. Các ngân hàng trong một môi trường rủi ro như vậy cũng không dám cho vay đối với các dự án mới hay các doanh nghiệp nhỏ. Họ thà cho các tập đoàn lớn, có "bảo kê" vay còn an toàn hơn. Điều này khiến các doanh nghiệp nhỏ và vừa, những con ong chăm chỉ tạo việc làm, luôn trong tình trạng đói vốn và không thể lớn được.

Hệ thống giáo dục tạo ra hàng loạt cử nhân nhưng những kỹ năng họ học được lại không phù hợp với nhu cầu của một thị trường lao động vốn đã teo tóp. Kết quả là tạo ra một đội quân thất nghiệp có bằng cấp, càng làm tăng thêm sự phẫn nộ và bất mãn trong xã hội.

Từ sự bất ổn đó, nó đẻ ra một thứ còn tệ hơn.

Nền kinh tế bị thao túng bởi liên minh chính trị - tài phiệt.

Bọn chính trị gia, vì luôn phải sống trong tình trạng đấu đá và chuẩn bị cho cuộc bầu cử tiếp theo, cần một nguồn tiền khổng lồ để mua chuộc lòng trung thành và tài trợ cho các chiến dịch.

Contractors with deep pockets are wading into electoral politics

Tiền này từ đâu ra? Từ các tập đoàn tài phiệt.

Đổi lại, bọn tài phiệt khi bơm tiền cho chính trị gia sẽ nhận được cái gì? Chúng nó sẽ nhận được sự bảo kê chính trị.

Chúng nó sẽ được trao cho những hợp đồng xây dựng hạ tầng béo bở mà không cần đấu thầu. Chúng nó sẽ được cấp giấy phép độc quyền để nhập khẩu xăng dầu, xi măng, hay kinh doanh viễn thông. Chúng nó có thể lobby để các chính sách thuế được viết theo hướng có lợi cho mình, bóp chết các đối thủ cạnh tranh nhỏ hơn.

Sự bất ổn chính là tấm bình phong hoàn hảo cho sự cấu kết này. Khi chính phủ thay đổi xoành xoạch, không ai có thể bị quy trách nhiệm cho các quyết định dài hạn.

Các dự án tham nhũng được ký vội vàng trước khi một chính phủ sụp đổ, và chính phủ mới lên lại có thể đổ lỗi cho người tiền nhiệm. Trong cái mớ hỗn loạn đó, chỉ có liên minh chính trị - tài phiệt là kẻ duy nhất hưởng lợi.

Chúng nó không cần một đất nước phát triển, chúng nó cần một đất nước hỗn loạn vừa đủ để chúng nó có thể tiếp tục làm giàu từ sự hỗn loạn đó. Đây chính là thứ đã biến nền kinh tế Nepal thành một nền kinh tế bị bắt giữ, nơi của cải không được tạo ra từ sự sáng tạo mà được phân chia trong các cuộc đi đêm giữa quyền lực và tiền bạc.

Trùm cuối và cũng là bộ mặt nổi tiếng nhất chính là Chaudhary Group (CG), được cai trị bởi Binod Chaudhary, tỷ phú đô la duy nhất của Nepal. Đế chế này nó khổng lồ đến mức gần như là một chính phủ kinh tế song song, từ gói mì Wai Wai quốc dân, ngân hàng Nabil Bank quyền lực, cho đến xi măng, khách sạn, đồ điện tử. Gần như lĩnh vực nào béo bở là có mặt của CG.

Bên cạnh CG là những gia tộc tài phiệt sừng sỏ khác. Khetan Group là một tay chơi lớn trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bảo hiểm, có ảnh hưởng sâu rộng đến dòng chảy tiền tệ của đất nước.

Vaidya's Organization of Industries & Trading Houses (VOITH) thì gần như độc quyền mảng nhập khẩu ô tô và máy móc công nghiệp, kiểm soát một phần quan trọng trong lĩnh vực giao thông và xây dựng.

Jyoti Group thì mạnh về sản xuất công nghiệp như thép và dệt may, là một trong những đế chế công nghiệp lâu đời.

Bọn này không hoạt động riêng lẻ mà là một mạng lưới lợi ích chằng chịt, liên kết với nhau qua các cuộc hôn nhân, các ghế trong hội đồng quản trị và quan trọng nhất là các phi làm ăn, các khoản lại quả với giới chính trị gia. Quyền lực của chúng không chỉ đến từ tiền, mà đến từ khả năng bẻ cong luật pháp và thao túng chính sách để phục vụ cho đế chế của mình.

Đất nước dù có nghèo đói, điện đóm chập chờ, đường tồi tàn đi chăng nữa thì lũ tinh hoa tài phiệt vẫn luôn là đám hưởng món lợi kếch xù nhất bấp chấp người dân đang gồng gánh mưu sinh từng ngày.

Nền kinh tế Nepal thực chất đang sống lay lắc dựa trên ba cái chân kiềng chính, nhưng không có cái nào là vững chắc cả.

Đầu tiên và quan trọng nhất là tiền kiều hối.

Đây là dòng tiền mà hàng triệu người trẻ Nepal phải bỏ xứ đi làm cu li ở Malaysia, Trung Đông, Ấn Độ gửi về. Dòng tiền này chiếm một tỷ trọng khổng lồ, khoảng 25% GDP của cả nước.

Đất nước này đang chạy sống bằng mồ hôi và nước mắt của những người trẻ không tìm thấy tương lai ở quê nhà.Đây là một biểu hiện của sự thất bại kinh tế chứ không phải thành công. Cả hệ thống đang sống ký sinh trên sức lao động của thế hệ trẻ bị đẩy ra nước ngoài.

Nepal News | Nepal's First Online News Portal

Về mặt hợp pháp, chính phủ Nepal thông qua Cục Xuất khẩu Lao động (Department of Foreign Employment) cấp hàng trăm ngàn giấy phép lao động mỗi năm.

Con số này dao động, nhưng trong những năm gần đây, nó thường ở mức 600,000 đến 800,000 giấy phép mới mỗi năm.

Đây là những người đi theo con đường chính ngạch, chủ yếu đến các nước vùng Vịnh như Qatar, Saudi Arabia, UAE, và Malaysia để làm các công việc chân tay trong ngành xây dựng và dịch vụ. Tính cả những người đã đi từ các năm trước và vẫn còn đang làm việc, con số người Nepal lao động hợp pháp ở các nước này có thể lên tới 3 đến 4 triệu người.

Nhưng con số đó chưa là gì so với lượng người đi bất hợp pháp hoặc bán chính thức, đặc biệt là sang Ấn Độ.

Vì hiệp ước hòa bình và hữu nghị năm 1950, hai nước có một đường biên giới mở, người dân có thể tự do qua lại làm việc mà không cần hộ chiếu hay giấy phép lao động. Đây là một dòng di cư khổng lồ gần như không được ghi nhận trong các thống kê xuất khẩu lao động chính thức. Các ước tính cho rằng có ít nhất 3 đến 4 triệu người Nepal khác đang sống và làm việc ở Ấn Độ, làm đủ thứ nghề từ bảo vệ, công nhân nhà máy, phục vụ nhà hàng cho đến nông nghiệp.

Ngoài Ấn Độ, còn có hàng trăm ngàn người khác đi theo các đường dây bất hợp pháp đến Malaysia hoặc các nước khác, thường là do bị lừa bởi các công ty môi giới ma hoặc để tránh các chi phí cắt cổ của con đường hợp pháp.

Vậy cộng hết lại, cả hợp pháp, bán hợp pháp ở Ấn Độ và bất hợp pháp, tổng số người Nepal đang bán sức lao động ở nước ngoài có thể dễ dàng lên tới 7 đến 8 triệu người. Giờ mày hãy đặt con số đó cạnh dân số của Nepal chỉ khoảng 30 triệu người. Điều đó có nghĩa là gần một phần tư dân số của đất nước này đang phải sống tha hương để kiếm ăn.

Nếu chỉ tính những người đàn ông trong độ tuổi lao động, tỷ lệ này còn khủng khiếp hơn nữa.

Trên giấy tờ, chính phủ Nepal có một chính sách rất nhân văn gọi là "Free Visa, Free Ticket" (Thị thực Miễn phí, Vé máy bay Miễn phí) áp dụng cho các thị trường lao động lớn như Malaysia và các nước vùng Vịnh. Theo cái chính sách này, toàn bộ chi phí làm visa và mua vé máy bay sẽ do thằng chủ lao động ở nước ngoài chi trả. Người lao động chỉ phải trả một khoản phí dịch vụ tối đa cho công ty môi giới (manpower agency) là 10,000 Rupee Nepal (khoảng 75 USD). Thậm chí, trong hiệp định với Malaysia, con số này còn được quảng cáo là "chi phí bằng không".

Nhưng đó là chuyện cổ tích. Thực tế phũ phàng là không một người lao động nào có thể đi được với cái giá đó. Để có được một suất đi làm, một người lao động phải trả cho bọn công ty môi giới và mạng lưới cò mồi của chúng một khoản tiền cao hơn gấp 10 đến 20 lần so với quy định.

Con số trung bình mà một người lao động phải trả thường rơi vào khoảng 100,000 đến 120,000 Rupee (khoảng 750 - 900 USD). Đối với những công việc được cho là "ngon" hơn ở Malaysia, con số này có thể bị đội lên đến 200,000 hoặc thậm chí 350,000 Rupee (khoảng 1,500 - 2,600 USD).

Bọn môi giới lách luật bằng đủ mọi chiêu trò. Chúng nó sẽ thu tiền thật, nhưng chỉ viết hóa đơn cho mày đúng 10,000 Rupee theo luật. Chúng nó sẽ bắt mày quay video nói rằng "tôi chỉ trả 10,000 Rupee" như một bằng chứng để đối phó với chính quyền. Nếu mày không chịu trả thêm, suất của mày sẽ được bán cho thằng khác.

Một thằng thanh niên nông thôn Nepal lấy đâu ra cả ngàn đô la để trả? Câu trả lời là vay nợ.

Chúng nó phải bán đi mảnh đất cuối cùng của gia đình, bán vàng của mẹ, hoặc đi vay nặng lãi. Các khoản vay chính thức từ ngân hàng cho người đi xuất khẩu lao động có lãi suất cực cao, có thể lên đến 15% hoặc hơn một năm. Nhưng nhiều người thậm chí không tiếp cận được ngân hàng, phải tìm đến các chủ nợ tư nhân ở địa phương, nơi lãi suất còn cắt cổ hơn nữa.

Thử làm một bài toán đơn giản: một thằng vay 120,000 Rupee để có một công việc ở Malaysia với mức lương cơ bản khoảng 42,000 Rupee/tháng. Sau khi trừ chi phí ăn ở, nó phải gửi gần hết tiền về nhà để trả nợ. Phải mất ít nhất 4-5 tháng làm việc cật lực nó mới trả xong nợ gốc, chưa tính lãi. Suốt nửa năm đầu tiên ở xứ người, nó không phải là đang làm cho mình, mà là đang làm không công cho bọn môi giới và chủ nợ. Đó chính là bản chất của nô lệ thời hiện đại.

Educated and qualified, but no job for us - The Himalayan Times - Nepal's  No.1 English Daily Newspaper | Nepal News, Latest Politics, Business,  World, Sports, Entertainment, Travel, Life Style News

Để mày thấy rõ sức ép của thế hệ trẻ nó lớn cỡ nào, thì phải nhìn vào nhân khẩu học. Nepal là một quốc gia cực kỳ trẻ. Nếu tính nhóm tuổi từ 16 đến 40, bọn họ chiếm một tỷ lệ khổng lồ, khoảng 40-42% trong tổng dân số 30 triệu người của Nepal. Điều này có nghĩa là có khoảng 12 triệu người trẻ đang ở trong độ tuổi sung sức nhất, khao khát có việc làm và một tương lai tử tế.

Nó tạo ra một thứ gọi là "bùng nổ dân số trẻ" (youth bulge), nghĩa là mỗi năm có cả một đội quân hàng trăm ngàn người mới bước vào tuổi lao động, tạo ra một áp lực việc làm kinh khủng lên một nền kinh tế vốn đã què quặt.

Vì là nhóm dân số đông nhất trong độ tuổi lao động, một cách tự nhiên, họ cũng chiếm phần lớn trong lực lượng lao động của cả nước. Ước tính, thế hệ trẻ này chiếm đến hơn 60% tổng số người đang có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm. Nói cách khác, họ chính là đôi vai đang gánh cả nền kinh tế ọp ẹp này, từ những người làm nông, công nhân trong các nhà máy ở Terai cho đến hàng triệu người đang gửi tiền kiều hối về từ nước ngoài.

Và đây mới là con số bi kịch nhất: trong khi chiếm đa số trong lực lượng lao động, họ lại chiếm một tỷ lệ còn lớn hơn nhiều trong tổng số người thất nghiệp. Như tao đã nói, tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước là khoảng 11%, nhưng tỷ lệ thất nghiệp trong giới trẻ cao gấp đôi, ở mức trên 20%. Điều này có nghĩa là trong tổng số những người đang không có việc làm ở Nepal, có đến 70-80% là người trẻ.

Mày hiểu ý nghĩa của con số này không? Nó có nghĩa là thất nghiệp ở Nepal về cơ bản là vấn đề của người trẻ.

Cái hệ thống này không chỉ thất bại trong việc tạo ra việc làm, mà nó đang thất bại một cách có hệ thống đối với chính cái thế hệ lẽ ra phải là tương lai của đất nước. Khi mày có gần một nửa dân số là người trẻ, họ chiếm phần lớn lực lượng lao động, nhưng cũng chiếm gần hết số người thất nghiệp, thì mày không cần phải là một nhà khoa học chính trị cũng có thể thấy rằng mày đang ngồi trên một quả bom hẹn giờ.

Cuộc nổi dậy năm 2025 không phải là một sự kiện ngẫu nhiên, nó là một vụ nổ nhân khẩu học được châm ngòi bởi sự tuyệt vọng về kinh tế.

Nó không còn là một hiện tượng kinh tế, nó là một cuộc di cư thời hiện đại của cả một dân tộc bị đẩy ra khỏi quê hương bởi chính sự thối nát và bất tài của tầng lớp cai trị.

FROM THE FIELD: Supporting Nepal's migrants, as overseas work dries up | UN  News

Những người trẻ này bán máu, bán sức lao động để gửi kiều hối về nước này phải lao động như nô lệ thời hiện đại để giữ cho gia đình mình có tiền gạo ngày mai.

Khi đến nơi, đặc biệt là ở các nước vùng Vịnh và Malaysia, người lao động Nepal thường xuyên phải đối mặt với một thực tế tàn khốc.

Đầu tiên là trò tráo hợp đồng. Hợp đồng họ ký ở Nepal với mức lương hứa hẹn thường bị vứt vào sọt rác, thay vào đó là một bản hợp đồng mới bằng tiếng Ả Rập hoặc tiếng Anh mà họ không hiểu, với mức lương thấp hơn và điều kiện làm việc khắc nghiệt hơn.

Tiếp theo là ăn chặn lương. Đây là chuyện xảy ra như cơm bữa. Chủ lao động sẽ tìm đủ mọi cớ để trừ tiền của họ: trừ tiền ăn ở, trừ tiền đồng phục, trừ tiền "phí gia hạn visa"... dù những khoản này lẽ ra chủ phải lo. Chuyện trả lương chậm, nợ lương hàng tháng trời cũng rất phổ biến, đẩy người lao động vào cảnh không có tiền để gửi về nhà trả nợ.

Nepali migrant workers risk their lives in Europe - myRepublica - The New  York Times Partner, Latest news of Nepal in English, Latest News Articles |  Republica

Một trong những hành vi tàn độc và phổ biến nhất là tịch thu hộ chiếu. Ngay khi đến nơi, chủ lao động sẽ thu giữ hộ chiếu của người lao động, một hành vi bất hợp pháp nhưng lại được dung túng. Mất hộ chiếu, người lao động bị biến thành một tù nhân, không thể tự ý bỏ việc, không thể chuyển sang chủ khác tốt hơn, và cũng không thể tự mình về nước. Họ hoàn toàn bị lệ thuộc vào lòng thương hại của thằng chủ.

Cuối cùng là điều kiện làm việc và sinh hoạt như địa ngục. Họ phải làm việc 12-14 tiếng một ngày, 6-7 ngày một tuần trên các công trường xây dựng dưới cái nóng thiêu đốt của sa mạc, nhưng lại phải chen chúc trong những khu nhà ở tập thể bẩn thỉu, thiếu vệ sinh và an toàn.

Sau khi đã bị chủ vắt kiệt sức và ăn chặn, cái phần tiền còm cõi còn lại tiếp tục bị xén bớt trên đường gửi về nhà.

Nếu đi qua kênh chính thức như ngân hàng hay các dịch vụ chuyển tiền (Western Union, MoneyGram), họ sẽ mất tiền hai lần. Lần thứ nhất là cái phí chuyển tiền thấy được ngay. Lần thứ hai và cũng là khoản mất mát lớn hơn, là tỷ giá hối đoái. Bọn cung cấp dịch vụ luôn áp một tỷ giá thấp hơn nhiều so với tỷ giá thực tế.

Ví dụ, nếu tỷ giá thị trường là 1 đô la ăn 130 Rupee, bọn chúng có thể chỉ trả cho gia đình mày 128 Rupee. Với mỗi đô la, mày mất 2 Rupee. Nghe có vẻ nhỏ, nhưng nhân với hàng tỷ đô la kiều hối mỗi năm, nó là một con số khổng lồ bị bọn trung gian tài chính này lặng lẽ bỏ túi.

Nếu đi qua kênh chợ đen (hệ thống Hundi), tuy phí có vẻ rẻ hơn và tỷ giá tốt hơn, nhưng rủi ro thì cao hơn vạn lần. Vì đây là hệ thống dựa trên lòng tin và bất hợp pháp, nếu thằng môi giới Hundi ôm tiền của mày bỏ trốn, mày sẽ mất trắng và không có một cơ sở pháp lý nào để đi kiện cáo. Mày chỉ có thể ngậm đắng nuốt cay.

Người lao động trẻ Nepal bị kẹt giữa đôi dòng nước. Ở nhà thì thất nghiệp, bị bóc lột rẻ mạt nhưng khi sang xứ người cũng gặp tình trạng tương tự và những đồng tiền mồ hôi nước mắt gửi về tiếp tục bị xà xẻo trên đường.

Thứ hai là du lịch - màu mỡ nhưng mong manh nhất nền kinh tế

Ngành du lịch Nepal là một cỗ máy hút đô la nhiều tầng lớp, nơi mỗi một du khách nước ngoài đều bị "vặt lông" một cách có hệ thống từ lúc đặt chân xuống sân bay cho đến lúc rời đi.

Đầu tiên và béo bở nhất là tiền bán giấy phép (permits). Đây là khoản tiền tươi mà chính phủ bỏ túi trực tiếp.

Bất kỳ ai muốn leo lên một đỉnh núi cao trên 6,500 mét đều phải mua giấy phép. Riêng cái giấy phép để được leo lên đỉnh Everest đã có giá 11,000 USD cho một người nước ngoài.

Everest Base Camp Trek - 13 Things to Know for Your Trip in 2025

Mày muốn đi trekking ở các khu vực như Annapurna hay Everest Base Camp? Mày cũng phải mua giấy phép vào vườn quốc gia và thẻ đăng ký trekker (TIMS card), tốn thêm vài chục đô la nữa.
Đây là nguồn thu ngoại tệ cực lớn và gần như không tốn chi phí gì cho nhà nước.

Tiếp theo là tiền từ các gói dịch vụ trọn gói do các công ty trekking và thám hiểm ở Kathmandu bán ra. Đây là khoản tiền lớn nhất mà du khách chi trả.

Một gói trekking đến Everest Base Camp có thể dao động từ 1,500 đến 5,000 USD, bao gồm vé máy bay nội địa khứ hồi đến sân bay nguy hiểm nhất thế giới Lukla, tiền thuê người dẫn đường (guide), người khuân vác (porter), tiền ăn ở trong các quán trà (teahouse) dọc đường.

Còn đối với một chuyến thám hiểm chinh phục đỉnh Everest thực thụ, cái giá là trên trời, từ 40,000 đến hơn 100,000 USD cho một người, bao gồm tất cả mọi thứ từ giấy phép, hướng dẫn viên Sherpa chuyên nghiệp, bình oxy, cho đến đầu bếp ở trại nền.

Cuối cùng là chi tiêu lặt vặt ở các thành phố. Du khách tiêu tiền ở các khách sạn tại Kathmandu và Pokhara, ăn uống trong các nhà hàng, mua sắm đồ lưu niệm, và đặc biệt là chi tiền cho các trò mạo hiểm khác như dù lượn, chèo thuyền vượt thác. Dòng tiền này nuôi sống cả một hệ sinh thái dịch vụ ở các đô thị.

Trước khi các cuộc khủng hoảng như đại dịch hay bất ổn chính trị xảy ra, ngành du lịch là một con gà đẻ trứng vàng.

Mỗi năm, nó mang về cho Nepal hàng trăm triệu đô la Mỹ, có những năm đỉnh điểm trước dịch, con số này lên tới hơn 800 triệu USD. Nó đóng góp một phần đáng kể vào GDP, thường dao động từ 6% đến 8% (tính cả các tác động gián tiếp). Quan trọng hơn, nó tạo ra công ăn việc làm cho gần cả triệu người, từ những ông chủ công ty du lịch giàu sụ, phi công, nhân viên khách sạn cho đến những người bán hàng rong.

Hệ thống này vận hành như một kim tự tháp. Trên đỉnh là chính phủ (hưởng lợi từ tiền giấy phép) và khoảng một chục công ty thám hiểm lớn ở Kathmandu. Bọn này hớt gần hết phần váng béo bở nhất từ các gói dịch vụ đắt tiền. Tầng giữa là các hãng hàng không nội địa, các chủ khách sạn, chủ nhà hàng và các cửa hàng bán đồ leo núi.

Và ở dưới đáy của kim tự tháp này là những người hùng thầm lặng và cũng là những người bị bóc lột nhiều nhất: những người dẫn đường (guide) và đặc biệt là những người khuân vác (porter). Bọn họ là những người vác những kiện hàng nặng 30-40kg trên lưng, đi qua những con đường hiểm trở nhất, đối mặt với nguy hiểm và thời tiết khắc nghiệt chỉ để kiếm vài chục đô la mỗi ngày.

Phần lớn lợi nhuận khổng lồ của ngành du lịch mạo hiểm được xây dựng trên chính sức lao động rẻ mạt của họ.

Chính vì vậy, dù ngành du lịch mang lại ngoại tệ cho quốc gia, sự phân phối lợi nhuận bên trong nó cũng bất bình đẳng không kém gì các ngành kinh tế khác.

Thứ ba là nông nghiệp manh mún và lạc hậu

Cái dải đồng bằng Terai ở phía nam chính là trái tim nông nghiệp của Nepal. Nhờ đất đai màu mỡ do phù sa bồi đắp và khí hậu cận nhiệt đới, đây là nơi duy nhất có thể canh tác quy mô lớn.

Cây trồng quan trọng nhất và chiếm phần lớn diện tích ở đây chính là lúa nước. Ngoài ra còn có lúa mì và ngô.

Về cơ bản, vựa lúa Terai sản xuất ra phần lớn lương thực để nuôi sống cả nước, từ các thành phố lớn cho đến những vùng đồi núi thiếu thốn hơn.

Bên cạnh lương thực, Terai còn là nơi trồng các loại cây công nghiệp và cây hoa màu quan trọng như mía (để sản xuất đường), đay (jute), thuốc lá, và các loại hạt có dầu như cải dầu. Nông nghiệp ở đây mang tính thương mại cao hơn so với các vùng khác.

Khi đi lên vùng đồi núi trung tâm, nơi phần lớn dân cư sinh sống, nông nghiệp trở thành một cuộc chiến chống lại trọng lực. Đây là nơi mày sẽ thấy hình ảnh kinh điển của Nepal: những thửa ruộng bậc thang được người dân chạm khắc kỳ công vào sườn núi qua nhiều thế hệ.

Poverty in India and Nepal | ServLife

Do đất đai dốc và manh mún, máy móc gần như không thể sử dụng, mọi thứ đều dựa vào sức người và sức trâu bò. Các loại cây lương thực chính ở đây là ngô và kê (millet) ở những nơi cao và khô hơn, còn lúa nước thì được trồng ở những thung lũng thấp và có đủ nước tưới.

Tuy nhiên, vùng đồi núi này cũng là nơi trồng các loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao. Khoai tây được trồng rất phổ biến. Các sườn đồi ở phía đông Nepal, như ở vùng Ilam, nổi tiếng với những đồn điền chè xanh mướt. Ngoài ra, Nepal còn là một trong những nước xuất khẩu gừng và đặc biệt là thảo quả đen (black cardamom) lớn nhất thế giới, một loại gia vị đắt tiền được trồng nhiều ở vùng này.

Ở vùng núi cao Himalaya nơi đất đai cằn cỗi và khí hậu khắc nghiệt, trồng trọt không còn là hoạt động kinh tế chính, mà là một cuộc chiến sinh tồn. Hoạt động nông nghiệp chủ yếu ở đây là chăn nuôi du mục. Biểu tượng của vùng này là con bò Tây Tạng (yak), loài vật to lớn, lông dài có thể chịu được lạnh giá. Người dân nuôi yak để lấy sữa (làm bơ và phô mai), lấy lông làm len và dùng chúng để thồ hàng trên những con đường mòn cheo leo. Ngoài ra còn có cừu và dê núi.

Việc trồng trọt chỉ diễn ra ở một vài thung lũng nhỏ và ở độ cao thấp hơn. Người dân chỉ có thể trồng được những loại cây cực kỳ khỏe, chịu được lạnh tốt như khoai tây, lúa mạch, và kiều mạch (buckwheat). Nông nghiệp ở đây hoàn toàn là tự cung tự cấp, sản phẩm làm ra chỉ đủ để giúp họ tồn tại qua mùa đông dài.

Cái nền nông nghiệp manh mún này, dù là nơi cưu mang phần lớn dân số, lại đóng góp một phần giá trị kinh tế ngày càng teo tóp và trở thành một cái bẫy đói nghèo cho chính thế hệ trẻ.

Về những con số, mỗi năm, toàn bộ ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản của Nepal tạo ra giá trị tương đương khoảng 21-24% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

Với GDP của Nepal loanh quanh mức 40-45 tỷ đô la Mỹ, thì mày có thể hiểu là cả cái ngành nông nghiệp khổng lồ này chỉ "kiếm" được khoảng 9 đến 10 tỷ đô la một năm. Con số này cực kỳ thấp nếu so với việc nó đang gánh trên vai hơn 60% lực lượng lao động của cả nước.

Inequalities - Nepal

Đây chính là nghịch lý chết người: hơn một nửa dân số làm việc cật lực để tạo ra chưa tới một phần tư của cải cho đất nước.

Đối với nguồn nhân lực trẻ, nông nghiệp là một câu chuyện còn bi đát hơn.

Ở các vùng nông thôn, phần lớn thanh niên không có lựa chọn nào khác ngoài việc nối nghiệp cha anh, bám lấy mảnh ruộng nhỏ. Vì vậy, một tỷ lệ rất lớn, có thể lên tới hơn 50% lao động trẻ ở nông thôn, đang làm việc trong ngành nông nghiệp. Nhưng đây không phải là một sự lựa chọn, mà là một sự bế tắc.
Công việc này không mang lại thu nhập ổn định, không có tương lai và bị coi là biểu tượng của sự thất bại. Đó là lý do vì sao mục tiêu hàng đầu của hầu hết thanh niên nông thôn là thoát khỏi nông nghiệp bằng mọi giá, mà con đường khả dĩ nhất chính là đi xuất khẩu lao động.

Vậy tại sao nó lại thảm hại đến vậy?

Nguyên nhân đầu tiên là sự manh mún về đất đai. Ruộng đất ở Nepal bị chia nhỏ qua nhiều thế hệ, khiến cho phần lớn các hộ gia đình chỉ sở hữu những mảnh ruộng siêu nhỏ, dưới 1 hecta. Với quy mô như vậy, việc áp dụng máy móc hay kỹ thuật canh tác hiện đại là bất khả thi, chỉ có thể làm thủ công nên năng suất cực thấp.

Thứ hai là sự phụ thuộc vào thiên nhiên một cách tuyệt đối. Hơn 60% diện tích đất nông nghiệp của Nepal không có hệ thống thủy lợi, hoàn toàn trông chờ vào nước mưa từ những trận mưa gió mùa (monsoon). Nếu mùa mưa đến muộn, đến sớm, hoặc mưa quá nhiều hay quá ít, thì cả mùa màng coi như mất trắng. Biến đổi khí hậu đang làm cho tình hình này ngày càng tồi tệ.

Thứ ba là sự thiếu hụt đầu tư và công nghệ. Người nông dân bị mắc kẹt trong một vòng luẩn quẩn: vì nghèo nên họ không có tiền để mua hạt giống tốt, phân bón hay máy móc. Và vì không có những thứ đó, họ không thể cải thiện năng suất để thoát nghèo. Họ cũng rất khó tiếp cận các khoản vay ngân hàng.

Cuối cùng, hạ tầng yếu kém đã bóp chết người nông dân. Đường sá không có, họ không thể vận chuyển sản phẩm của mình ra chợ một cách nhanh chóng. Họ bị bọn thương lái ép giá một cách tàn nhẫn ngay tại ruộng. Sản phẩm làm ra bị hư hỏng, thất thoát rất nhiều vì không có kho lạnh hay cơ sở bảo quản. Chính những yếu tố này đã xiềng xích nền nông nghiệp Nepal trong một tình trạng lạc hậu và kiệt quệ, biến nó thành một gánh nặng thay vì là động lực phát triển.

Sự bóc lột vì danh nghĩa cao cả

Bọn cầm quyền dù ở bất kỳ đâu sẽ luôn sử dụng những cái jargon cao đẹp như là "lý tưởng cao đẹp" như "ổn định quốc gia", "phát triển kinh tế", "bảo vệ truyền thống dân tộc", để biện minh cho những hành động áp bức và bất công của mình.

Perhaps the most significant moral characteristic of a...

Reinhold Niebuhr, trong tác phẩm kinh điển "Moral Man and Immoral Society" (Con người Đạo đức và Xã hội Vô đạo đức) đã nói về luận điểm này trong phần giới thiệu như sau:

"Individual men may be moral in the sense that they are able to consider interests other than their own in determining problems of conduct, and are capable, on occasion, of preferring the advantages of others to their own. ... But all these achievements are more difficult, if not impossible, for human societies and social groups. In every human group there is less reason to guide and to check impulse, less capacity for self-transcendence, less ability to comprehend the needs of others and therefore more unrestrained egoism than the individuals, who compose the group, reveal in their personal relationships."

Dịch sang tiếng Việt là:

"Từng cá nhân riêng lẻ có thể có đạo đức, theo nghĩa là họ có khả năng nghĩ đến lợi ích của người khác ngoài bản thân mình, và đôi khi, có thể đặt quyền lợi của người khác lên trên quyền lợi của mình. ... Nhưng tất cả những điều này đều khó hơn, nếu không muốn nói là không thể, đối với các xã hội và các nhóm người. Trong bất kỳ một tập thể nào, luôn có ít lý trí hơn để kìm hãm bản năng, ít khả năng vượt qua cái tôi hơn, ít khả năng thấu hiểu nhu cầu của người khác hơn, và do đó, có một sự ích kỷ không kiềm chế được, lớn hơn nhiều so với những gì mà chính những cá nhân trong tập thể đó thể hiện trong các mối quan hệ cá nhân của họ."

Niebuhr cho rằng một ủy ban, một giai cấp hay một quốc gia sẽ luôn hành xử một cách ngu xuẩn, tàn bạo và ích kỷ hơn bất kỳ một cá nhân nào trong đó.

Từ luận điểm trên, Niebuhr chỉ ra cách các nhóm cầm quyền sử dụng "lý trí" để biện hộ cho sự bất công:

"Since inequalities of privilege are greater than could possibly be defended rationally, the intelligence of privileged groups is usually applied to the task of inventing specious proofs for the theory that universal values spring from, and that general interests are served by, the special privileges which they hold."

("Bởi vì sự bất bình đẳng về đặc quyền luôn lớn đến mức không thể nào biện minh một cách hợp lý được, trí thông minh của các nhóm có đặc quyền thường được dùng vào nhiệm vụ phát minh ra những bằng chứng ngụy biện cho cái lý thuyết rằng các giá trị phổ quát được sinh ra từ, và lợi ích chung được phục vụ bởi, chính những đặc quyền mà chúng đang nắm giữ.")

Bọn chúng không chỉ đơn giản là bất công, chúng còn dùng cả bộ máy trí tuệ của mình để đẻ ra những lý thuyết nghe có vẻ cao siêu nhằm thuyết phục tất cả mọi người, và cả chính chúng, rằng sự bất công đó thực ra là cần thiết và tốt đẹp. Đây là đỉnh cao của sự đạo đức giả.

Và điều đáng sợ nhất là, sau một thời gian, chính chúng nó cũng bắt đầu tin vào những lời dối trá mà mình tạo ra, tin rằng sự giàu có của mình là "phần thưởng xứng đáng" và sự cai trị của mình là "vì lợi ích chung".

Karl Marx trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức" nói rằng:

"The ideas of the ruling class are in every epoch the ruling ideas, i.e. the class which is the ruling material force of society, is at the same time its ruling intellectual force."

Nói thẳng ra là: "Tư tưởng của giai cấp thống trị, trong mọi thời đại, chính là tư tưởng thống trị".

Nghĩa là, cái giai cấp nào đang nắm trong tay sức mạnh vật chất (tiền bạc, quân đội, nhà nước), thì nó cũng sẽ nắm luôn sức mạnh tinh thần.

Nó sẽ dùng trường học, nhà thờ, truyền thông... để nhồi vào đầu đám bị trị rằng trật tự hiện tại là tự nhiên, là đúng đắn, là đạo đức.

Bất công không phải là bất công, mà là "sự sắp đặt của số phận" hay "cái giá của sự ổn định".

Sự nghèo đói không phải do bị bóc lột, mà là do "lười biếng" hoặc "không đủ năng lực".

Cái mày thấy ở Nepal với bọn nepo kid chính là một ví dụ hoàn hảo.

Tầng lớp tinh hoa đó không chỉ ăn cắp tiền, chúng nó còn cố gắng xây dựng một hệ tư tưởng rằng sự giàu có của chúng là kết quả của tài năng và sự ưu việt, trong khi sự khốn khổ của người dân là một lẽ tự nhiên.

Nepo Kid: Biểu tượng cho sự xa hoa vô độ

Theo quy định của Nepal, mức lương chính thức của bọn quan chức cấp cao thực ra khá là khiêm tốn nếu so với lối sống của chúng.

Một thằng thủ tướng nhận lương cơ bản khoảng 100,000 Rupee Nepal một tháng (tương đương khoảng 750 USD).

Bộ trưởng thì được tầm 72,000 Rupee (khoảng 540 USD), còn nghị sĩ quốc hội thì khoảng 66,000 Rupee (khoảng 500 USD).

Tất nhiên, đây chỉ là lương cứng. Bọn nó còn có đủ thứ phụ cấp, từ tiền xăng xe, nhà ở, điện thoại cho đến tiền họp hành, cộng vào cũng được một khoản kha khá.

Nhưng giờ mày hãy nhìn sang người dân lao động bình thường. Thu nhập bình quân đầu người của cả nước chỉ khoảng 1,400 đô la MỘT NĂM.

Tức là mỗi tháng, một người dân trung bình chỉ kiếm được hơn 115 đô, tương đương khoảng 15,000 Rupee.

Một cái phòng trọ tồi tàn, bé tí ở Kathmandu, chỉ đủ kê một cái giường và nấu ăn trong góc, cũng ngốn của mày ít nhất 6,000 Rupee. Đây là chi phí không thể tránh khỏi. Xong. Mày chỉ còn 9,000 Rupee cho 30 ngày tiếp theo.

Ăn uống tằn tiện hết mức, chủ yếu là cơm với canh đậu (dal bhat), rau cỏ rẻ tiền, thịt thà là thứ xa xỉ chỉ dám ăn một hai lần trong tháng. Với mức giá thực phẩm ở thành phố, một tháng cũng bay của mày ít nhất 5,000 Rupee nữa. Giờ trong túi mày còn đúng 4,000 Rupee.

Giờ đến các chi phí thiết yếu khác. Mày phải có gas để nấu ăn, mỗi bình gas (LPG) dùng được hơn tháng giá khoảng 1,800 Rupee. Tiền điện, nước, nạp cái card điện thoại rẻ nhất để liên lạc, lặt vặt cũng bay thêm 1,000 Rupee nữa. Tiền đi lại bằng xe bus công cộng, nếu phải đi làm hàng ngày, cũng ngốn thêm tối thiểu 1,200 Rupee.

Giờ cộng lại nhé: 1,800 (gas) + 1,000 (điện, nước, đt) + 1,200 (đi lại) = 4,000 Rupee.

Kết quả: 15,000 (thu nhập) - 6,000 (nhà) - 5,000 (ăn) - 4,000 (chi phí khác) = 0 Rupee.

Bài toán này mới chỉ tính cho một người sống sót ở mức tối thiểu, chưa có một đồng nào cho các khoản sau:

  • Y tế: Ốm một trận nhẹ, mua vài viên thuốc là âm tiền. Ốm nặng vào viện thì chỉ có nước đi vay nặng lãi hoặc nằm chờ chết.

  • Giáo dục: Nếu mày có con, tiền học phí, sách vở, đồng phục cho nó lấy đâu ra?

  • Phát sinh: Ma chay, cưới hỏi, về quê thăm gia đình... tất cả đều là những khoản chi không thể tránh trong xã hội Nepal.

  • Quần áo, vật dụng cá nhân: Mày không thể mặc một bộ đồ cả năm.

  • Tiết kiệm: Con số không tròn trĩnh. Không có một đồng nào để dành cho tương lai hay phòng khi có biến.

  • Giải trí: Khái niệm này không tồn tại.

Lương tháng của một thằng nghị sĩ đã cao gấp bốn lần thu nhập của một người dân, nhưng cái đó vẫn chưa phải là điều lố bịch nhất.

Sự lố bịch nằm ở chỗ này: với cái mức lương chính thức đó, kể cả cộng hết các khoản phụ cấp, thì làm thế đéo nào một ông bộ trưởng có thể cho con đi du học ở Anh, Mỹ với học phí 50,000 đô một năm?

Làm sao chúng nó có tiền mua những chiếc Land Cruiser giá cả trăm ngàn đô?

Tiền đâu ra để con gái chúng nó xách túi Hermes, đeo đồng hồ Rolex và tổ chức những bữa tiệc sinh nhật mà chi phí bằng cả chục năm lao động của một người dân?

Câu trả lời chỉ có một: cái mức lương đó chỉ là tiền tiêu vặt.

Nguồn thu nhập chính của chúng nó đến từ tham nhũng, từ những khoản lại quả trong các gói thầu, từ việc bảo kê cho các tập đoàn sân sau, từ việc buôn quan bán chức.

Cái chênh lệch không tưởng giữa thu nhập hợp pháp và mức sống thực tế chính là bằng chứng rõ ràng nhất cho quy mô của nạn tham nhũng.

Lũ nepo kid không chỉ đơn thuần là những đứa trẻ hư hỏng khoe của. Chúng nó chính là bằng chứng sống, là cái hóa đơn biết đi, phơi bày tội ác của cha mẹ chúng. Lối sống kệch cỡm của chúng nó chính là sự xác nhận cho những gì người dân đã luôn nghi ngờ: đất nước này không nghèo, chỉ là tiền của đất nước đã bị một nhóm nhỏ ăn cắp hết.

Và đó chính là lý do vì sao dân chúng, đặc biệt là Gen Z, nó điên lên như vậy.

Giọt nước tràn ly: Khi mâu thuẫn không còn đường nào cứu chữa khỏi sự mục nát hệ thống

Cái câu chuyện này nó không bắt đầu từ một kế hoạch bí mật nào cả, mà nó bắt nguồn từ chính sự ngạo mạn và ngu xuẩn của đám 'nepo kid' khi chúng nó tự mình khoe khoang cuộc sống vương giả lên mạng xã hội.

@nanewsnp“Nepo Babies” TikTok Trend in Nepal Goes Viral, Spotlighting Privilege and Lavish Lifestyles of Influential Families A viral TikTok trend in Nepal known as “Nepo Babies” is drawing widespread attention for exposing the luxurious lifestyles of children from powerful and political families. Many creators behind the trend suggest that such lifestyles stand in sharp contrast to the daily struggles of ordinary citizens, who contribute to the nation through taxes. The videos often present side-by-side comparisons, using satire and commentary to question how privilege and influence are enjoyed by a few while many Nepalese continue to face economic hardships. Supporters argue the trend reflects growing frustration among youth over corruption, nepotism, and misuse of resources. However, critics caution that while the videos highlight important issues of public accountability, they can blur the lines between political critique and personal attacks on individuals who are not themselves in public office. Legal experts warn that such content should be handled carefully to avoid potential defamation claims. Despite the controversy, the “Nepo Babies” trend has gone viral, becoming a powerful expression of public sentiment against inequality and the unchecked privileges associated with political power in Nepal. #nanewsnp #nepalnews #nepobabies #trend #tiktok
Tiktok failed to load.

Enable 3rd party cookies or use another browser

Mọi chuyện bắt đầu âm ỉ khi những đứa con của các chính trị gia hàng đầu, bộ trưởng, quan chức cấp cao bắt đầu dùng TikTok và Instagram như một sân khấu để diễu võ dương oai. Chúng nó đăng ảnh mình ngồi trên những chiếc siêu xe đắt tiền, khoe những chiếc đồng hồ hiệu có giá bằng cả gia tài, xách những chiếc túi Hermes, và check-in ở những khu nghỉ dưỡng sang trọng ở Dubai hay châu Âu.

Trong khi đó, bạn bè đồng trang lứa của chúng, những người dân Nepal bình thường, đang phải vật lộn với cảnh thất nghiệp hoặc bán mồ hôi ở các công trường xây dựng Trung Đông.

Ban đầu chỉ là vài người dùng chú ý và bình luận mỉa mai. Nhưng sau đó, người ta bắt đầu làm một việc cực kỳ đơn giản mà hiệu quả: họ lấy video, hình ảnh của đám nepo kid và ghép nối chúng với hình ảnh của những người lao động Nepal khổ cực.

Một video có thể cắt cảnh một 'cô chiêu' khui sâm panh trong một bữa tiệc, ngay sau đó là cảnh một người mẹ ở nông thôn đang nấu ăn bằng củi. Một bức ảnh có thể đặt cạnh nhau chiếc xe Land Cruiser của một 'cậu ấm' và chiếc xe bus ọp ẹp chở đầy người lao động.

Dưới những bài đăng đó là những câu hỏi xoáy thẳng vào tim đen: "Tiền ở đâu ra?", "Lương của cha mày bao nhiêu?", "Đây là cuộc sống mà chúng mày xây dựng trên mồ hôi của chúng tao à?".

Cái hashtag #NepoKid ra đời và trở thành một cơn bão, tập hợp tất cả những nội dung này lại một chỗ. Nó biến sự phẫn nộ cá nhân thành một chiến dịch vạch mặt tập thể.

Bọn chính phủ bắt đầu hoảng loạn vì chúng nó hoàn toàn mất kiểm soát câu chuyện. Chúng nó không thể xóa hết, không thể bịt miệng hết hàng ngàn tài khoản đang chia sẻ. Uy tín của chúng bị xé nát từng ngày, không phải bởi một thế lực chính trị đối lập, mà bởi chính con cái của chúng và những người dân bình thường.

Sự phẫn nộ đã biến thành một làn sóng chế giễu khổng lồ, và chúng nó không biết phải làm gì.

Thế là vào ngày 4 tháng 9 năm 2025, chính phủ Nepal ra lệnh chặn 26 mạng xã hội, bao gồm cả mấy thằng trùm như Facebook, X, YouTube. Cái lý do trên giấy tờ mà bọn nó đưa ra là vì mấy công ty này không chịu đăng ký theo luật mới, một cái luật được đẻ ra để chính phủ có thể vặt lông chúng nó bằng các loại thuế dịch vụ kỹ thuật số và thuế VAT. Bọn nó muốn tăng thu ngân sách.

Nhưng đó chỉ là cái cớ. Ai cũng thừa biết nguyên nhân thật sự là vì bọn chính phủ đang cay cú, nhột tận óc vì cái chiến dịch "Nepo Kid" trên mạng xã hội. Dân nó đang rần rần vạch mặt con cái của lũ lãnh đạo, phơi bày lối sống xa hoa, đặc quyền đặc lợi của chúng nó.

Mọi chuyện bắt đầu vào ngày 8 tháng 9. Hàng chục ngàn người, chủ yếu là Gen Z, kéo ra đường ở Kathmandu, ban đầu do một tổ chức NGO tên Hami Nepal kêu gọi biểu tình ôn hòa để phản đối lệnh cấm mạng xã hội.

Nhưng khi có thằng ném đá vào camera an ninh, cảnh sát được dịp xả đạn. Bọn nó chơi tới bến: hơi cay, vòi rồng, đạn cao su, rồi cả đạn thật. Máu đổ.

Dân nó điên lên, không còn là biểu tình ôn hòa nữa, chúng nó tìm cách xông vào tòa nhà quốc hội. Tối đến, chính phủ sợ quá vội vàng gỡ lệnh cấm mạng xã hội, thằng Bộ trưởng Nội vụ từ chức và ban bố lệnh giới nghiêm ở nhiều thành phố lớn. Nhưng đã quá muộn. Dân nó không còn đòi internet nữa, nó đòi lật đổ cả cái chính phủ thối nát đã nã đạn vào dân. Ngày đầu tiên kết thúc với hơn 50 mạng người nằm xuống.

Ngày hôm sau là ngày tận thế của chế độ cũ. Thủ tướng K.P. Sharma Oli thấy tình hình không ổn, ra lệnh cho bộ trưởng của mình không được từ chức, nhưng chính lão thì tuyên bố từ chức rồi chạy thẳng vào doanh trại quân đội trốn.

Dân nó điên lên đốt sạch. Tòa nhà quốc hội, Tòa án Tối cao, dinh tổng thống, nhà thủ tướng, trụ sở các đảng phái chính trị... không thứ gì thoát.

Nhà của hàng loạt chính trị gia, từ cựu thủ tướng Deuba đến Prachanda, đều bị biến thành đuốc sống.

Trong cơn say máu, đám đông Gen Z nhắm vào khách sạn Hilton vì một tin đồn được lan truyền rằng Jaybir Deuba, con trai của cựu thủ tướng Sher Bahadur Deuba, là một nhà đầu tư lớn trong dự án này. Đối với chúng nó, Hilton không chỉ là một cái khách sạn. Nó là biểu tượng của tầng lớp nepo kid, là hiện thân của sự giàu có xa hoa mà chúng nó căm ghét, được cho là xây dựng trên tiền tham nhũng. Nó là một cái gai trong mắt, một sự sỉ nhục đối với sự nghèo đói của họ.

Phía khách sạn đã cố gắng dùng loa phóng thanh để giải thích, bác bỏ thông tin này, nhưng trong một đám đông đang điên loạn thì lý lẽ là vô nghĩa. Người biểu tình đã tràn vào, đuổi khách và nhân viên ra ngoài, rồi phóng hỏa thiêu rụi tòa nhà từ bên trong.

Hành động này là một thảm họa kinh tế và xã hội, một ví dụ điển hình cho thấy sự phẫn nộ khi không được dẫn dắt bởi lý trí có thể phản tác dụng như thế nào.

Một công trình trị giá gần 100 triệu đô bị thiêu rụi. Quan trọng hơn, hơn 800 nhân viên làm việc trực tiếp và khoảng 2,500 người làm gián tiếp (cung cấp thực phẩm, giặt là, vận chuyển...) đều mất việc chỉ sau một đêm. Hàng ngàn gia đình mất đi nguồn sống.

Và cái giá cuối cùng còn đắt hơn nữa. Chính phủ Nepal sau này sẽ phải đối mặt với khoản bồi thường cho tập đoàn Hilton có thể lên tới hơn 250 triệu đô la. Tiền đó lấy từ đâu ra? Từ tiền thuế của chính những người dân Nepal, những người vừa mới lật đổ chế độ cũ.

Có thằng bộ trưởng tài chính còn bị lột truồng đuổi xuống sông. Nhà tù khắp nơi bị phá, tù nhân chạy toán loạn.

Sân bay bị đóng cửa để chặn đường bọn quan chức chuồn. Trong lúc hỗn loạn, một ủy ban công nhân được thành lập, đòi những thứ cực đoan như giải tán quốc hội và vũ trang cho nhân dân.

Cuối ngày, quân đội tuyên bố tiếp quản để vãn hồi trật tự. Ván cờ đã được lật.

Vì sao quân đội để mặc chính phủ bị lật đổ?

Cách quân đội chọn không can thiệp ở đây theo tao thấy nó là một dạng hình thức can thiệp cực kỳ tinh vi. Chúng nó không lật đổ chính phủ bằng xe tăng, chúng nó chỉ đơn giản là đứng im và để cho chính phủ tự sụp đổ.

Có tin đồn tin đồn rằng chính tư lệnh quân đội Ashok Raj Sigdel đã "khuyên" Thủ tướng Oli nên từ chức là một chi tiết chí mạng. Nếu đúng, thì đó không phải là hành động của một quân đội trung lập, mà là hành động của một kẻ đang định đoạt ván cờ.

Khi cảnh sát, lực lượng trung thành với chính phủ, đã hoàn toàn thất bại trong việc dẹp loạn và chỉ làm cho tình hình tồi tệ hơn, quân đội đã nhận ra rằng chế độ của Oli đã hết hạn sử dụng.

Việc cố gắng bảo vệ một chính phủ đã mất hết lòng dân sẽ chỉ kéo cả quân đội xuống vũng bùn và tự biến mình thành kẻ thù của nhân dân.

Bằng cách đứng ngoài cuộc đàn áp ban đầu và chỉ bước vào để "vãn hồi trật tự" sau khi chính phủ đã sụp đổ, quân đội đã khôn khéo tự định vị mình là người cứu quốc, là lực lượng duy nhất có thể đảm bảo sự ổn định.

Quân đội Nepal vừa mới bước ra từ một cuộc nội chiến 10 năm đẫm máu. Bọn tướng lĩnh hiểu hơn ai hết cái giá phải trả khi quân đội chĩa súng vào chính người dân của mình. Nó sẽ tạo ra sự chia rẽ không thể hàn gắn trong nội bộ, phá hủy tinh thần quân đội và châm ngòi cho một cuộc xung đột còn lớn hơn. Việc nã đạn vào một đám đông Gen Z ở thủ đô sẽ là một hành động tự sát về mặt chính trị và quân sự.

Thêm vào đó là lợi ích kinh tế. Quân đội Nepal không chỉ sống bằng ngân sách quốc phòng. Bọn họ có một cỗ máy in tiền riêng gọi là Quỹ Phúc lợi Quân đội (Army Welfare Fund), quản lý một khối tài sản khổng lồ.

Bọn họ là một trong những tay chơi bất động sản và xây dựng lớn nhất nước. Chúng nó thầu các dự án làm đường cao tốc chiến lược, xây cầu, và sở hữu những quỹ đất vàng ở các vị trí đắc địa. Chúng nó điều hành một mạng lưới các trường học, cao đẳng y khoa và bệnh viện lớn, phục vụ không chỉ cho quân nhân mà còn cho cả dân thường và thu phí rất cao.

Bệnh viện quân đội là một trong những bệnh viện hiện đại và đắt đỏ nhất nước. Chúng nó còn sở hữu các trạm xăng, các nhà máy nước đóng chai, và cả các công ty cho thuê thiết bị xây dựng hạng nặng.

Về bản chất, quân đội Nepal là một tập đoàn tài phiệt quân sự, một đế chế kinh tế hoạt động song song và đôi khi còn hiệu quả hơn cả bộ máy nhà nước.

Khi cuộc bạo loạn nổ ra và có nguy cơ biến thành một cuộc nội chiến toàn diện, đế chế kinh tế của quân đội đang đứng trước nguy cơ bị thiêu rụi.

Một đất nước hỗn loạn hoàn toàn thì không có trường học nào có thể thu học phí, không có bệnh viện nào có thể hoạt động, và không có dự án xây dựng nào có thể tiếp tục. Việc chống lưng cho một chế độ sắp chết của Oli đồng nghĩa với việc tự đốt nhà mình.

Vì vậy, hành động "bỏ rơi" Oli chính là một quyết định kinh doanh khôn ngoan: cắt lỗ để bảo toàn tài sản.

Nhưng nó không chỉ là phòng thủ. Bằng cách bước ra với vai trò "người cứu quốc" và trở thành thế lực định đoạt ván cờ chính trị, quân đội đã tự đặt mình vào vị trí quyền lực nhất trong giai đoạn tái thiết đất nước. Điều này có nghĩa là gì? Có nghĩa là trong chính phủ lâm thời và cả các chính phủ tương lai, quân đội sẽ có tiếng nói quyết định trong việc phân chia các gói thầu tái thiết béo bở.

Ai sẽ được xây lại những tòa nhà bị đốt?

Ai sẽ được nhận các hợp đồng an ninh mới? Rất có thể chính là các công ty của quân đội hoặc các đối tác thân hữu của họ. Bằng cách hy sinh một thằng chính trị gia, chúng nó đã đảm bảo cho mình một suất ăn chia lớn hơn nhiều trong tương lai. Đó là một nước cờ kinh tế cực kỳ cao tay.

Ngoài ra để thực hiện trấn áp bằng bạo lực mày bắt buộc phải điều quân xuống nhưng vấn đề là nó cực kỳ khó khăn và nguy hiểm, không phải là chuyện "dễ dàng" điều quân như trên sa bàn đâu. Quyết định điều quân từ các quân khu khác về Kathmandu để đàn áp dân chúng chẳng khác nào châm ngòi cho một cuộc nội chiến toàn diện.

Một đất nước bị chia cắt bởi những dãy núi cao và những thung lũng sâu, nơi mạng lưới đường sá vốn đã tồi tàn và thiếu thốn.

Việc di chuyển một đơn vị quân đội lớn với đầy đủ khí tài, đạn dược qua những con đường đèo hiểm trở đó đã là một thách thức lớn trong thời bình.

Còn trong bối cảnh một cuộc cách mạng, khi người dân trên cả nước đang sục sôi, thì những tuyến đường bộ chính nối các vùng với thủ đô có thể dễ dàng bị người dân địa phương chặn lại hoặc phá hủy. Mày không thể điều một đoàn xe tăng hay xe tải quân sự đi hàng trăm cây số qua lãnh thổ thù địch. Nó sẽ mất rất nhiều thời gian, và trong thời gian đó, phong trào phản kháng ở thủ đô đã có đủ thời gian để củng cố.

Thứ hai, và nguy hiểm hơn, là vấn đề chính trị và sắc tộc. Quân đội Nepal không phải là một khối đồng nhất. Binh lính được tuyển mộ từ khắp các vùng miền, từ các nhóm dân tộc khác nhau.

Mày nghĩ một thằng tướng ở quân khu phía đông, nơi có nhiều người Rai và Limbu, có dễ dàng ra lệnh cho lính của mình, cũng là người Rai và Limbu, đi về Kathmandu để bắn vào những người biểu tình Janajati khác không?

Hay một đơn vị ở đồng bằng Terai có sẵn sàng đi đàn áp chính những người Madhesi không?

Quân đội Nepal không phải là một đội quân lính đánh thuê. Binh lính cũng chính là con em của người dân. Rất nhiều người lính ở Kathmandu có anh em, họ hàng, bạn bè đang ở trong đám đông biểu tình. Việc ra lệnh cho họ nã đạn vào người thân của mình là một mệnh lệnh cực kỳ nguy hiểm, có thể dẫn đến binh biến ngay lập tức.

Sợi dây liên kết xã hội và gia đình đó chính là rào cản cuối cùng ngăn cản một cuộc thảm sát.

Hành động điều quân từ vùng này đi đàn áp vùng khác chính là cách nhanh nhất để châm ngòi cho sự binh biến và ly khai. Các chỉ huy quân khu địa phương có thể từ chối tuân lệnh trung ương, hoặc thậm chí tuyên bố tự trị để "bảo vệ" người dân của họ. Nó sẽ biến một cuộc nổi dậy ở thủ đô thành một cuộc nội chiến trên cả nước, nơi quân đội đánh lẫn nhau, một kịch bản mà không một vị tướng tỉnh táo nào muốn thấy.

Cuối cùng, giới tướng lĩnh chóp bu ở Kathmandu cũng không ngu. Chúng nó biết rằng ra một mệnh lệnh như vậy là một canh bạc "được ăn cả, ngã về không". Nếu đàn áp thành công, chúng nó có thể trở thành những kẻ độc tài quân sự. Nhưng nếu thất bại, nếu quân đội bị chia rẽ và đất nước rơi vào nội chiến, chúng nó sẽ mất tất cả.

So với việc đứng im, để cho một thằng chính trị gia hết thời sụp đổ, và sau đó bước ra với tư cách là "người cứu quốc" để vãn hồi trật tự và định đoạt ván cờ chính trị, thì lựa chọn thứ hai rõ ràng là an toàn và khôn ngoan hơn nhiều. Chúng nó đã chọn bảo vệ sự tồn tại của quân đội và nhà nước, thay vì bảo vệ một chế độ đã mục rữa.

Sáng hôm sau tức ngày 10 tháng 9, lính tràn ra đường. Cuộc bạo loạn lắng xuống, quân đội bắt đầu bắt giữ những kẻ hôi của, đốt phá.

Có một cảnh khá lạ là một nhóm người biểu tình quay lại dọn dẹp đường phố gần tòa nhà quốc hội mà họ vừa đốt hôm qua.

Ngay trong video cũng nói rõ rằng dù biểu tình, bạo loạn là thế nhưng hầu hết chỉ có trụ sở, cơ quan công quyền như cảnh sát, toà quốc hội và các dinh thự bị thiệt hại còn lại nhà cửa người dân bán buôn không hề hấn gì. Đường sá sau khi giới nghiêm vắng vẻ rất có trật tự và thậm chí chả có chuyện gì khi anh Vlogger này đi qua chốt của quân đội.

Nhưng cuộc chiến thật sự lúc này lại diễn ra trên mạng. Dân nó, chủ yếu là Gen Z, lập một server trên Discord, tự biến nó thành "Quốc hội Nhân dân online" với hơn 145,000 thành viên, và tổ chức bỏ phiếu chọn lãnh đạo lâm thời. Cái tên được chọn là bà cựu Chánh án Sushila Karki. Cùng lúc đó, số tù nhân vượt ngục được thống kê lên tới hơn 13,500 người trên cả nước.

Sáng ngày 11, một cuộc họp lịch sử diễn ra tại sở chỉ huy quân đội. Tổng thống và tư lệnh quân đội phải ngồi nói chuyện với đại diện của đám Gen Z. Ván cờ đã ngã ngũ. Đến ngày 12, bà Sushila Karki chính thức tuyên thệ nhậm chức Thủ tướng lâm thời, trở thành nữ thủ tướng đầu tiên trong lịch sử Nepal.

Ngay sau đó, tổng thống giải tán quốc hội và ấn định ngày bầu cử mới vào tháng 3 năm sau. Con số thương vong tiếp tục tăng.

Lệnh giới nghiêm được dỡ bỏ ở Kathmandu vào ngày 13 & 14. Thủ tướng mới Karki bắt đầu đi thăm các nạn nhân trong bệnh viện. Tình hình tạm yên. Nhưng cái giá phải trả là cực đắt.

Con số cuối cùng được cập nhật vào ngày tao viết bài này, 14 tháng 9, là 72 người chết và hơn 2,100 người bị thương. Hành động đầu tiên của chính phủ mới là tuyên bố sẽ bồi thường cho gia đình các nạn nhân, mỗi gia đình 1 triệu Rupee (khoảng 11,330 USD), và nhà nước sẽ lo toàn bộ chi phí cho những người bị thương.

Thế lực thù địch chỗ nào?

Tao không biết mấy thằng content creator tuyên giáo Việt Nam có thực sự theo dõi kỹ lưỡng thông qua các kênh truyền quốc tế như BBC News, Reuters, Al Jazeera, Sky News, không mà toàn nói láo đéo có tý ngượng mồm.

Bằng chứng á? Làm đéo gì có.

Cái luận điệu "thế lực thù địch kích động" là một trong những bài ca cổ xưa và rẻ tiền nhất trong sách giáo khoa của mọi chế độ độc tài và thối nát khi đối mặt với sự phẫn nộ của người dân. Nó không phải là một bản tin, nó là một công cụ tuyên truyền.

Mày phải hiểu mục đích của nó.

Thứ nhất, nó là một cách để tước đi sự chính danh của người biểu tình.

Bằng cách la lên rằng có "thế lực thù địch" đứng sau, bọn cầm quyền muốn nói rằng:

"Sự tức giận của chúng mày là không có thật, nỗi khổ của chúng mày là không đáng kể, chúng mày chỉ là những con rối ngu ngốc bị ngoại bang giật dây mà thôi"

Nó là một nỗ lực nhằm phủ nhận sự thật rằng chính sự cai trị tồi tệ của chúng đã đẩy người dân xuống đường.

Thứ hai, nó là một cái cớ để hợp pháp hóa bạo lực.
Khi mày dán mác cho người biểu tình là "tay sai ngoại bang đang âm mưu lật đổ", mày có thể nã đạn vào họ và tuyên bố rằng đó là hành động "bảo vệ an ninh quốc gia", thay vì phải thừa nhận đó là hành động tàn sát chính công dân của mình.

Và quan trọng nhất, nó là một cách để trốn tránh trách nhiệm. Thay vì phải nhìn vào gương và thừa nhận "Chế độ của chúng ta mục nát quá, chúng ta cai trị ngu dốt và tham lam quá nên dân nó mới nổi điên", chúng nó sẽ chỉ tay ra bên ngoài và la lên "Có kẻ thù đang phá hoại chúng ta!".

Trong vụ Nepal 2025, tất cả các bằng chứng đều cho thấy điều ngược lại. Cuộc nổi dậy này là một sản phẩm 100% "made in Nepal".

  • Ngòi nổ: Là một quyết định ngu xuẩn của chính phủ (cấm mạng xã hội).

  • Thùng thuốc súng: Là những vấn đề nội tại đã tích tụ hàng chục năm (tham nhũng, thất nghiệp, bất công, "nepo kid").

  • Lực lượng: Là đám Gen Z trong nước, những người trực tiếp gánh chịu hậu quả.

  • Diễn biến: Nó hỗn loạn, tự phát và không có lãnh đạo, hoàn toàn không giống với một chiến dịch được tổ chức và tài trợ bài bản từ bên ngoài.

Cho đến tận bây giờ, không có một bằng chứng đáng tin cậy nào được đưa ra cho thấy có một chính phủ nước ngoài hay một tổ chức nào đứng sau dàn dựng và chỉ đạo cuộc nổi dậy này.

Cái gọi là "thế lực thù địch" chỉ là một con ngáo ộp mà chế độ cũ hoặc lũ tuyên giáo tự vẽ ra để che đậy cho sự sụp đổ tất yếu của chính mình.

Cách mạng màu? Bọn mày bị đần độn à

Về mặt lý thuyết, "cách mạng màu" là một thuật ngữ dùng để chỉ một loạt các phong trào diễn ra ở các nước hậu Xô Viết và Balkan vào đầu những năm 2000, như Cách mạng Hoa hồng ở Georgia (2003) hay Cách mạng Cam ở Ukraine (2004). Đặc điểm nhận dạng của nó là:

  1. Bất bạo động (về lý thuyết): Lực lượng chính là các cuộc biểu tình rầm rộ, tuần hành, đình công, bất tuân dân sự, chứ không phải đấu tranh vũ trang.

  2. Có biểu tượng: Thường lấy một màu sắc hoặc một loài hoa làm biểu tượng chung (hoa hồng, màu cam, hoa tulip...).

  3. Yếu tố "nước ngoài": Đây là điểm cốt lõi và gây tranh cãi nhất. Các cuộc cách mạng này thường bị cáo buộc là có sự hậu thuẫn, tài trợ và "đào tạo" từ phương Tây, đặc biệt là Mỹ, thông qua các tổ chức phi chính phủ (NGO) như National Endowment for Democracy (NED) hay USAID.

Tuy nhiên, ngày nay, các chế độ độc tài từ Nga, Trung Quốc cho đến Việt Nam đã biến cái thuật ngữ này thành một vũ khí tuyên truyền.

Bọn họ dùng cái mác "cách mạng màu" để dán vào bất kỳ cuộc biểu tình nào của người dân, dù là tự phát, để ngay lập tức phủ nhận tính chính danh của nó.

Khi bọn họ la lên "cách mạng màu", chúng nó đang ngầm nói rằng:

"Đây không phải là sự phẫn nộ của người dân, đây là âm mưu của CIA, là do bọn phản động ở nước ngoài giật dây để lật đổ chúng ta".

Áp cái mác "cách mạng màu" vào vụ Nepal là một hành động vừa lười biếng vừa ngu dốt, vì nó trật lất gần hết các đặc điểm nhận dạng: nó cực kỳ bạo lực, nó không có một tổ chức lãnh đạo rõ ràng, và quan trọng nhất, không có bằng chứng nào về sự giật dây của phương Tây trong một sân chơi vốn chỉ dành cho Ấn Độ và Trung Quốc.

Còn cái "Bạo loạn lật đổ" (Violent Overthrow) một cái nhãn dán còn nặng đô hơn, thường được dùng để hình sự hóa những người biểu tình.

"Bạo loạn lật đổ" mô tả một hành động sử dụng bạo lực có tổ chức hoặc tự phát với mục tiêu rõ ràng là lật đổ chính quyền hiện tại. Đối với một chính phủ, đây là cái mác tối thượng để biện minh cho mọi hành động đàn áp tàn bạo nhất.

Chỉ cần một viên gạch được ném đi, hay một cái hàng rào bị xô đổ, chúng nó có thể la lên "Đây là bạo loạn lật đổ!" và coi đó là giấy phép để dùng đạn thật, xe tăng, và bắt bớ hàng loạt. Nó biến những người dân đang đòi hỏi quyền lợi thành những kẻ khủng bố, những kẻ thù của nhà nước.

Nhưng từ góc nhìn của người dân bị dồn vào chân tường, cái mà nhà nước gọi là "bạo loạn lật đổ" thì họ gọi là "bạo lực cách mạng".

Khi mọi con đường đối thoại ôn hòa đã bị bịt kín, khi chính nhà nước dùng bạo lực để đàn áp những yêu sách chính đáng, thì bạo lực không phải là thứ họ lựa chọn, mà là thứ ngôn ngữ duy nhất mà chế độ bất tài, mất tín nhiệm chịu lắng nghe.

Cái vụ ở Nepal chính là một ví dụ điển hình. Nó không bắt đầu như một cuộc "bạo loạn lật đổ". Nó bắt đầu như một cuộc biểu tình. Nó chỉ biến thành bạo loạn sau khi cảnh sát nã đạn vào dân. Hành động đốt phá của dân chúng là câu trả lời cho bạo lực của nhà nước.

Vì vậy, việc sử dụng thuật ngữ nào ("bạo loạn lật đổ" hay "bạo lực cách mạng") phụ thuộc hoàn toàn vào việc mày đứng ở phía nào của nòng súng.

Từ góc độ Mác-xít, đây chính xác là bạo lực cách mạng, là khoảnh khắc mà mâu thuẫn giai cấp không thể dung hòa được nữa và phải giải quyết bằng bạo lực.

Cái lý lẽ đổ lỗi cho người biểu tình cũng chính là một công cụ của giai cấp thống trị để bảo vệ trật tự áp bức của nó.

Vấn đề là, "biểu tình ôn hòa" không phải là một câu thần chú đạo đức, nó là một canh bạc chiến lược. Khi mày xuống đường một cách ôn hòa, mày không thực sự đang nói chuyện với đám cầm quyền, vì bọn nó vốn đéo quan tâm đến đạo đức. Mày đang đặt cược vào ba thứ:

  1. Mày đặt cược rằng mày có thể làm lung lay sự trung thành của một bộ phận trong chế độ, đặc biệt là lực lượng an ninh và quân đội. Mục tiêu của biểu tình ôn hòa là tạo ra một cảnh tượng: những người dân tay không đối mặt với súng đạn, để đến một lúc nào đó, những người lính, người cảnh sát cũng là con em của nhân dân, sẽ phải tự hỏi "Tại sao ta lại phải nã đạn vào đồng bào của mình?". Nếu mày thành công, quân đội sẽ chĩa súng ngược lại hoặc đứng im, và chế độ sẽ sụp đổ.

  2. Mày đặt cược vào sự tồn tại của một "khán giả" có quyền lực, có thể là cộng đồng quốc tế, hoặc các phe phái khác trong nội bộ. Mày dùng chính sự đàn áp của chế độ để làm bằng chứng, để kêu gọi sự can thiệp, trừng phạt, gây áp lực từ bên ngoài hoặc tạo ra sự chia rẽ trong nội bộ tầng lớp tinh hoa.

  3. Mày đặt cược rằng chế độ sẽ tính toán và thấy rằng cái giá phải trả cho việc đàn áp (bất ổn kinh tế, trừng phạt quốc tế, nội bộ tan rã) còn lớn hơn cái giá của việc nhượng bộ mày.

Nhưng khi mày đối mặt với một chế độ độc tài toàn trị, một khối quyền lực thống nhất từ trên xuống dưới, không có phe phái, không sợ áp lực quốc tế, và sẵn sàng giết dân mình để giữ ghế, thì cả ba cửa cược trên đều đóng sập lại. Lúc này, "biểu tình ôn hòa" không còn là một chiến lược, nó là một hành động tự sát.

Khi đó, bạo lực không còn là một lựa chọn, nó trở thành câu trả lời duy nhất. Nó là sự thừa nhận rằng đối thoại đã chết. Nó là hành động dùng chính thứ ngôn ngữ mà chế độ hiểu được để nói chuyện với nó. Mày không thể dùng lý lẽ để thuyết phục một kẻ đang chĩa súng vào đầu mày. Mày chỉ có thể chống trả.

Cái vụ Nepal là một ví dụ hoàn hảo. Bọn Gen Z đã bắt đầu một cách ôn hòa. Và câu trả lời chúng nó nhận được là đạn thật.

Chính hành động của nhà nước đã dạy cho người biểu tình rằng "ôn hòa" sẽ không đi đến đâu cả. Bạo lực của cảnh sát đã đẻ ra bạo lực của quần chúng.

Việc đốt phá các dinh thự quyền lực không phải là hành động phá hoại đơn thuần, nó là một thông điệp chính trị:

"Nếu chúng mày dùng bạo lực để cai trị, chúng tao sẽ dùng bạo lực để lật đổ".

Cho nên, câu hỏi không phải là "làm sao để biểu tình ôn hòa thành công?".

Câu hỏi đúng phải là "Mày đang đối mặt với một chế độ như thế nào?".

Nếu chế độ đó còn một chút liêm sỉ, còn biết tính toán thiệt hơn, thì ôn hòa còn có cơ hội.

Còn nếu mày đối mặt với một con quái vật chỉ biết đến bạo lực, thì việc đòi hỏi người dân phải ôn hòa chẳng khác nào kêu một con cừu hãy đối thoại một cách lịch sự với một con sói đang nhe nanh.

Bài học từ Nepal cho các nhà cầm quyền

Đó chính là liệu hồn mà cai trị cho tốt, phân phát miếng bánh cho đồng đều, hạn chế việc khoe khang quyền lực và của cải.

Chúng nó còn ngồi được trên cái ghế uy quyền đó bởi vì cái hệ thống đấy dựa trên một niềm tin về sự ổn định.

"Hợp đồng xã hội" (Social Contract) không thành văn mà giai cấp bị trị im lặng chấp nhận sự bất công ở mức độ nào đó đổi lại là sự ổn định, an ninh và một cơ hội tối thiểu để sống và hy vọng vào tương lai.

Họ có thể không nhớ tên thằng thủ tướng, vì thằng thủ tướng chỉ là một cái bánh răng trong cỗ máy. Họ đặt niềm tin vào cả cỗ máy

Người ta không "tin" vào cái hợp đồng xã hội đó theo kiểu tín ngưỡng. Người ta chấp nhận nó vì một phép tính cực kỳ tàn nhẫn và bản năng: phép tính giữa nỗi đau và nỗi sợ.

Cái "ổn định", dù nó là một sự ổn định trong bất công, nó vẫn mang lại một thứ: sự có thể đoán trước được. Mày biết rằng ngày mai mày sẽ phải làm việc quần quật, sẽ bị sếp chửi, sẽ bị quan chức hành, nhưng mày cũng gần như chắc chắn rằng tối mày vẫn sẽ có một mái nhà để chui vào và một bữa cơm, dù đạm bạc, để ăn. Mày biết luật chơi, dù luật chơi đó là một trò bịp.

Còn việc "đứng lên" thì sao? Nó là một sự không thể đoán trước được. Nó là hỗn loạn

Everything you need to know about the Nepal protests - ABC Asia

Khi mày đứng lên, mày không chỉ có nguy cơ mất việc, mất nhà, mà còn có nguy cơ mất cả mạng sống. Mày không chỉ đổi máu và nước mắt của mày, mà có thể là cả của gia đình mày. Nỗi sợ về sự hỗn loạn, nỗi sợ mất đi cái chút ít ỏi mà mình đang có, thường lớn hơn nỗi đau của sự bất công hàng ngày. Cái hệ thống nó không cai trị bằng niềm tin, nó cai trị bằng nỗi sợ đó. Nó cho mày vừa đủ để mày có thứ để mất.

Thêm vào đó là sự bào mòn hy vọng. Hệ thống nó không bóp chết mày ngay lập tức. Nó cho mày những tia hy vọng le lói để mày bám vào: hy vọng con cái sẽ học giỏi hơn, hy vọng trúng một tờ vé số, hy vọng một ngày nào đó sếp sẽ cất nhắc. Chính những tia hy vọng nhỏ nhoi này là cái van xả áp hiệu quả nhất, nó khiến người ta chấp nhận thực tại khốn khổ để theo đuổi một tương lai có thể không bao giờ tới.

Ngồi yên hay đứng lên không phải là sự lựa chọn giữa "hay" và "dở", mà là sự lựa chọn giữa sống sót và liều mạng.

Ngồi yên là một chiến lược sinh tồn. Đó là khi người ta tính toán và thấy rằng cái giá phải trả cho việc nổi dậy còn cao hơn cái giá của việc tiếp tục chịu đựng. Nó không phải là hèn nhát, nó là thực tế. Mày không thể đòi hỏi một người cha đang phải nuôi con nhỏ hãy đi đối đầu với súng đạn, khi mà sự hy sinh của anh ta có thể đẩy cả gia đình vào cảnh chết đói.

Đứng lên chỉ xảy ra khi cái phép tính kia bị đảo ngược. Nó xảy ra khi nỗi đau của việc tiếp tục sống trong áp bức trở nên lớn hơn cả nỗi sợ cái chết. Nó xảy ra khi hệ thống không chỉ lấy đi tương lai của mày, mà còn lấy đi cả nhân phẩm và con đường sống cuối cùng của mày, như cái cách chính phủ Nepal đã làm khi cấm mạng xã hội. Khi người ta không còn gì để mất, thì "sự ổn định" không còn ý nghĩa gì nữa. Lúc đó, việc chấp nhận đổi bằng máu và nước mắt không phải là một lựa chọn anh hùng, mà là lựa chọn hợp lý duy nhất còn lại.

Cho nên, câu trả lời nằm ở cái điểm tới hạn. Mỗi xã hội có một điểm tới hạn khác nhau. Chừng nào tầng lớp cai trị còn đủ khôn ngoan để giữ cho nỗi đau của người dân ở dưới mức điểm tới hạn đó, chừng đó cái hợp đồng xã hội giả tạo kia vẫn còn hiệu lực.

Nhưng một khi chúng nó trở nên quá tham lam, quá ngu xuẩn và đẩy nỗi đau đó vượt qua ngưỡng, thì chính chúng nó đã tự tay đốt bỏ cái hợp đồng đó, và mời gọi bạo lực cách mạng đến gõ cửa.

Tầng lớp tinh hoa Nepal đã xé nát cái hợp đồng đó. Chúng nó không chỉ thất bại trong việc mang lại sự ổn định và cơ hội, mà chúng nó còn trơ trẽn phô bày sự phản bội đó qua lối sống của con cái chúng. Chúng nó đã vi phạm hợp đồng một cách trắng trợn và công khai sỉ nhục vào mặt những người dân đang phải nai lưng ra gánh vác cả hệ thống.

Đó là bài học mà mọi chế độ, dù ở Nepal hay ở bất kỳ xó nào trên thế giới, đều phải thuộc lòng, nếu không muốn một ngày đẹp trời phải tháo chạy khỏi cơn thịnh nộ của chính những người mà chúng đã cai trị.

Lật đổ hệ thống rồi sao nữa?

Đó là một câu chuyện khác. Hệ thống này đã mục rữa vì tham nhũng suốt 20 năm nay, nó đã đẩy cả một quốc gia xuống hố vì lòng tham khiến người dân phải đứng lên khi không còn thấy được ngày mai.

Đó là câu hỏi cốt tử của mọi cuộc cách mạng giống như Lenin sau khi lật đổ Sa Hoàng chỉ mới là bước một.

Bước hai, xây dựng một cái gì đó tốt đẹp hơn trên đống tro tàn, mới là bước đi định đoạt số phận của cả một thế hệ.

Sức mạnh của cuộc cách mạng Nepal 2025 nằm ở chỗ nó có một kẻ thù chung rõ ràng. Toàn bộ xã hội, từ thằng sinh viên, thằng công nhân cho đến các phe phái chính trị khác, đều có thể đoàn kết lại vì họ cùng căm ghét chế độ của Oli. Nhưng khi kẻ thù chung đó đã biến mất, sự đoàn kết cũng rất dễ tan vỡ.

Lúc này những làn ranh cũ - tức là lũ người trong hệ thống cầm quyền với những lợi ích nhóm cũ sẽ quay lại.

Cỗ máy quan liêu của một đất nước vừa trải qua biến loạn chính là trở ngại đầu tiên. Nó chính là cái bộ xương, cái hệ thần kinh của một quốc gia. Bà Sushila Karki hay bất kỳ một nhà lãnh đạo mới nào có thể là cái đầu mới, nhưng cái thân và tứ chi vẫn là của con quái vật cũ.

Bà ta không thể đuổi việc toàn bộ công chức, thay hết tướng lĩnh quân đội và cảnh sát, hay sa thải tất cả giáo viên, bác sĩ. Bà ta phải dựa vào chính cái bộ máy đã phục vụ cho chế độ cũ để điều hành đất nước.

Và cái bộ máy này không phải là một công cụ vô tri. Nó có ý chí, có quán tính và có lợi ích riêng của nó.

Nó sẽ chống lại sự thay đổi, không phải bằng súng đạn, mà bằng những cách tinh vi hơn: sự ì trệ, những quy trình thủ tục rườm rà, sự сhống đối ngầm, và việc tuồn thông tin cho các phe phái cũ. Bất kỳ một cải cách nào dù tốt đẹp đến mấy cũng sẽ bị cái bộ máy này làm cho méo mó, biến dạng hoặc chết yểu khi đi qua hàng ngàn tầng nấc quan liêu.

Nhà lãnh đạo mới sẽ nhanh chóng nhận ra rằng mình đang ngồi trên ngai vàng, nhưng lại không thực sự cầm trong tay quyền lực, quyền lực thực sự nằm trong tay hàng triệu bánh răng của cỗ máy đó.

Mạng nhện của các nhóm lợi ích

Quyền lực không sinh ra con số không. Nó cần cả một hệ thống niềm tin và lợi ích gắn bó chặt chẽ với nhau.

Một cuộc cách mạng quần chúng có thể lật đổ một cá nhân, nhưng nó rất khó để phá hủy cả một mạng lưới lợi ích đã ăn sâu bám rễ hàng chục năm.

Ngay sau khi chế độ cũ sụp đổ, các nhóm lợi ích này sẽ không biến mất. Bọn tài phiệt cũ, các gia tộc chính trị, các tướng lĩnh... sẽ không ngồi yên chờ chết. Chúng nó sẽ tìm cách thích nghi. Chúng nó sẽ nhanh chóng tìm đến nhà lãnh đạo mới, chìa ra những cành ô liu, những lời đề nghị hợp tác, những khoản "tài trợ" cho công cuộc tái thiết.

Bà Karki, dù trong sạch đến mấy, cũng sẽ phải đối mặt với một thực tế tàn nhẫn: để điều hành một đất nước đang sụp đổ, bà ta cần tiền, cần sự ổn định, cần chuyên môn.

Và những thứ đó lại đang nằm trong tay chính cái mạng lưới mà bà ta vừa giúp lật đổ.

Bà ta sẽ đứng trước một lựa chọn nghiệt ngã: hoặc là duy trì sự trong sạch tuyệt đối và chấp nhận thất bại trong việc điều hành, hoặc là chấp nhận bắt tay, thỏa hiệp với một vài nhóm lợi ích cũ để có được nguồn lực và sự ủng hộ cần thiết.

Và thường thì các nhà cách mạng sẽ buộc phải chọn vế thứ hai.

Nó không phải là một sự khởi đầu mới, mà chỉ là một cuộc tái sắp xếp quyền lực. Một vài khuôn mặt cũ sẽ biến mất, một vài khuôn mặt mới sẽ xuất hiện, nhưng cấu trúc quyền lực cơ bản, cái liên minh giữa tiền bạc và chính trị, vẫn sẽ tồn tại.

Giai cấp thống trị chỉ thay đổi về mặt nhân sự, chứ không thay đổi về bản chất. Đây là cái mà nhà xã hội học người Ý Vilfredo Pareto gọi là sự "tuần hoàn của giới tinh hoa" (circulation of elites).

Vì vậy, sự thật phũ phàng là, một cuộc cách mạng có thể thay đổi người ngồi trên ghế, nhưng để thay đổi cả cái ghế và cấu trúc của căn phòng nơi cái ghế đó được đặt, lại là một cuộc chiến kéo dài nhiều thế hệ, và thường là một cuộc chiến không có hồi kết.

Nhưng không chỉ là giai cấp elite cũ sẽ bắt đầu quay trở lại mà còn là người Janajati đòi tự trị, các đẳng cấp Hindu giáo lợi dụng để đấu đá quyền lực tranh giành vị thế.

Chính phủ lâm thời của bà Sushila Karki sẽ phải đối mắt với một xã hội không phải có một, mà là có hàng trăm yêu sách khác nhau, thường là mâu thuẫn và triệt tiêu lẫn nhau. Việc đoàn kết để đập phá luôn dễ hơn vạn lần việc đoàn kết để xây dựng.

Người dân xuống đường vì họ đói nghèo và bất công, họ muốn được chia lại "miếng bánh" kinh tế một cách công bằng hơn. Nhưng bi kịch là sau nhiều ngày bạo loạn, nền kinh tế vốn đã què quặt nay lại càng thêm tê liệt, cái bánh đó không chỉ nhỏ đi, mà nó gần như đã rỗng tuếch.

Bà Karki sẽ phải giải quyết bài toán nan giải:

Làm thế nào để vừa đáp ứng được yêu cầu cấp bách của người dân (việc làm, giá cả), vừa phải thực hiện những cải cách kinh tế đau đớn nhưng cần thiết để cứu vãn cả nền kinh tế?

Làm thế nào để lập lại trật tự khi lực lượng cảnh sát cũ đã mất hết uy tín, còn hơn 13,000 tù nhân đang nhởn nhơ ngoài xã hội?

Làm sao để khôi phục sản xuất, mở lại sân bay, và đảm bảo người dân có đủ xăng dầu và lương thực để sống qua ngày?

Bất kỳ một chính sách thắt lưng buộc bụng nào cũng có thể bị coi là một sự phản bội và châm ngòi cho một cuộc biểu tình mới, lần này là chống lại chính những người hùng của ngày hôm qua.

Sự kỳ vọng của đám đông đang say cơn men cách mạng là con dao hai luỡi, nước Pháp dưới triều đại khủng bố của Robespierre là con đường tuyệt đối không được phép lặp lại.

Lật đổ Oli không có nghĩa là lật đổ được vị thế địa lý của Nepal. Cái nhà tù địa chính trị vẫn còn đó. Ấn Độ và Trung Quốc sẽ không ngồi yên. Chúng nó sẽ tìm cách gây ảnh hưởng, lôi kéo chính phủ mới.
Bắc Kinh sẽ chìa ra những hợp đồng Vành đai và Con đường béo bở.
New Delhi sẽ nhắc nhở về sự phụ thuộc vào huyết mạch kinh tế phía nam.

Bà Karki, một người vốn chỉ quen với luật pháp và sự liêm chính, giờ sẽ phải học cách chơi ván cờ địa chính trị với hai con sói già, những kẻ không quan tâm đến dân chủ hay nhân quyền, mà chỉ quan tâm đến lợi ích chiến lược của chúng.

Và đây chính là điểm khác biệt lớn nhất so với Lenin. Lenin, sau khi lật đổ Sa hoàng, có trong tay một Đảng Bolshevik được tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật sắt và một hệ tư tưởng rõ ràng để áp đặt trật tự mới.

Còn cuộc cách mạng của Gen Z ở Nepal thì sao? Nó là một phong trào tự phát, không có lãnh đạo, không có một hệ tư tưởng thống nhất.

Nền kinh tế không chỉ trì trệ, nó đang hấp hối. Kho bạc rỗng tuếch, nợ nần chồng chất, đặc biệt là món nợ từ sân bay Pokhara. Tiền đâu để tái thiết, tiền đâu để tạo việc làm? Bất kỳ khoản viện trợ nào từ nước ngoài cũng sẽ đi kèm với những điều kiện ràng buộc về chính trị, đẩy Nepal vào một vòng luẩn quẩn mới của sự phụ thuộc.

Liệu một phong trào được sinh ra từ sự hỗn loạn có thể tạo ra được trật tự không?

Liệu một thế hệ giỏi đập phá có đủ kiên nhẫn và khôn ngoan để xây dựng lại từ đầu không?

Đó là câu hỏi mà không chỉ Nepal, mà cả thế giới đang phải nín thở chờ xem câu trả lời.

Vậy tương lai của thằng nhóc Gen Z vừa mới xuống đường ra sao? Nó đã giành được một chiến thắng vĩ đại: nó đã giành lại được quyền hy vọng.

Nhưng con đường phía trước của nó và đất nước nó sẽ còn gian nan và đẫm nước mắt hơn nhiều so với cuộc chiến trên đường phố.

Nó đã thắng trong việc lật đổ bạo chúa, nhưng cuộc chiến thực sự để xây dựng một tương lai tử tế chỉ vừa mới bắt đầu.


Subscribe to r/VietTalk

Launched 10 months ago
The vietnamese philosopher.
Minh Ming's avatar
Binh Hg's avatar
Nguyễn Minh Quân's avatar
Tad Dinh's avatar
fillapdesehules's avatar
297 Likes∙
43 Restacks
Vingroup đang ôm đống nợ 805.820 tỷ VND (31 tỷ đôla) làm con tin để ép cả đất nước phải cứu sống nó.
Đây là màn kịch"tay phải mua, tay trái bán" kinh điển, mày không hề bị ngu khi đám Seeder cười cợt, tao sẽ chứng minh cho mày thấy đó là một sự…
Aug 7, 2025 • Bocchi981
Màn kịch bắt cóc Thủ đô để cứu một Chaebol nửa mùa khỏi phá sản: Vinfast, Chỉ thị 20, Vành Đai 1 có gì liên quan với nhau?
Đây là câu chuyện về một con nợ đầm đìa sẵn sàng làm mọi thứ để sống còn kể cả chà đạp lên người dân và mặt mũi chế độ nuôi nó lớn.
Jul 15, 2025 • Bocchi981
VinSpeed "tay không bắt giặc"mà đòi lấy 61,67 tỷ đôla trong 35 năm không lãi và ai phải gánh nợ cho nó?
Đằng sau mỗi gia sản kếch xù là một tội ác - Honoré de Balzac
Aug 19, 2025 • Bocchi981

Ready for more?

© 2026 Bocchi981 · Privacy ∙ Terms ∙ Collection notice
Start your SubstackGet the app
Substack is the home for great culture